1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÀI THU HOẠCH TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT BẢO VỆ BỊ ĐƠN ĐINH THỊ TÁM

13 210 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 56,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ông Chu Khắc Trường và vợ là bà Chu Thị Cúc có 4 người con là Chu Thị Hồng Thanh, Chu Thị Loan, Chu Thị The và Chu Khắc Sinh. Từ khi lấy nhau đến khi có con, cả gia đình cùng sinh sống trên thửa đất diện tích 777m2 tại thửa đất số 40, tờ bản đồ số 02 lập năm 1998, thôn 6, xã Phù Vân, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. Năm 1945, ông Chu Khắc Trường mất, không để lại di chúc. Sau đó các con lập gia đình và thoát ly khỏi địa phương, một mình bà Cúc tiếp tục sinh sống trên thửa đất. Năm 1990, bà Chu Thị Cúc mất, không để lại di chúc. Di sản để lại của bà là quyền sử dụng đất diện tích 777m2 tại thửa nêu trên cùng tài sản trên đất bao gồm: 1 căn nhà tranh vách đất lợp ngói đỏ 2 gian, 1 bếp vách đất lợp ngoái đỏ, 1 bể nước ăn, 1 sân trạt cùng cây lâu năm và hoa màu. Lúc còn sống bà Cúc vẫn chưa thực hiện thủ tục kê khai xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với mảnh đất trên.

Trang 1

HỌC VIỆN TƯ PHÁP

CƠ SỞ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN

MÔN KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ KHI THAM GIA GIẢI QUYẾT CÁC

VỤ ÁN DÂN SỰ

(Hồ sơ Tranh chấp quyền sử dụng đất)

Mã hồ Sơ:

Lần diễn:

Ngày diễn:

Giáo viên hướng dẫn:

Họ và tên :

TP.Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2021

Trang 3

MỤC LỤC

I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ VIỆC 1

II Ý KIẾN CỦA BỊ ĐƠN ĐỐI VỚI YÊU CẦU KHỞI KIỆN CỦA NGUYÊN ĐƠN 2

III NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN 2

1 Quan hệ pháp luật tranh chấp 2

2 Thời hiệu khởi kiện 3

3 Hòa giải tiền tố tụng 3

4 Thẩm quyền Tòa án 3

IV KẾ HOẠCH HỎI TẠI PHIÊN TÒA 3

1 Hỏi nguyên đơn ông Chu Khắc Sinh 3

2 Hỏi nguyên đơn bà Chu Thị Hồng Thanh 4

3 Hỏi bị đơn bà Đinh Thị Tám Tám 4

V LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CHO BỊ ĐƠN 4

VI NHẬN XÉT TẠI BUỔI DIỄN ÁN 9

1 Hình thức tổ chức buổi diễn án 9

2 Về các vai diễn trong buổi diễn án 9

2.1 Thư ký phiên tòa 9

2.2 Chủ tọa phiên tòa 9

2.3 Hội thẩm nhân dân 9

2.4 Đại diện Viện Kiểm Sát 10

2.5 Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp 10

2.6 Nguyên đơn 10

2.7 Bị đơn 10

2.8 Ông Chu Anh Quyết - Đại diện theo ủy quyền của Bà Chu Thị Loan và bà Chu Thị The 10

2.9 Ông Chu Khắc Hồng - Đại diện theo ủy quyền của bà Chu Thị Mai và Trần Thị Đắc .10

Trang 4

BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN

I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ VIỆC

Ông Chu Khắc Trường và vợ là bà Chu Thị Cúc có 4 người con là Chu Thị Hồng Thanh, Chu Thị Loan, Chu Thị The và Chu Khắc Sinh Từ khi lấy nhau đến khi có con, cả gia đình cùng sinh sống trên thửa đất diện tích 777m2 tại thửa đất số 40, tờ bản đồ số 02 lập năm 1998, thôn 6, xã Phù Vân, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam

Năm 1945, ông Chu Khắc Trường mất, không để lại di chúc Sau đó các con lập gia đình và thoát ly khỏi địa phương, một mình bà Cúc tiếp tục sinh sống trên thửa đất

Năm 1990, bà Chu Thị Cúc mất, không để lại di chúc Di sản để lại của bà là quyền

sử dụng đất diện tích 777m2 tại thửa nêu trên cùng tài sản trên đất bao gồm: 1 căn nhà tranh vách đất lợp ngói đỏ 2 gian, 1 bếp vách đất lợp ngoái đỏ, 1 bể nước ăn, 1 sân trạt cùng cây lâu năm và hoa màu Lúc còn sống bà Cúc vẫn chưa thực hiện thủ tục kê khai xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với mảnh đất trên

Ngày 20/01/1994, Ông Chu Khắc Sinh làm “Đơn chuyển quyền thừa kế” cho ông Chu Khắc Thuyên Giá chuyển nhượng 1.500.000 đồng, ông Sinh đã nhận 500.000 đồng ngày 24/1/1994 dưới sự chứng kiến của ông Độ - hàng xóm theo Giấy biên nhận mà bà Tám cung cấp

Ngày 4/4/1994, bà Thanh và bà The đã có đơn khiếu nại đến UBND xã Phù Vân nên ngày 10/4/1994, UBND xã Phù Vân ra thông báo tạm thời đình chỉ việc giao quyền thừa kế, trước mắt giao cho hai bên gia đình tự giải quyết

Ngày 15/4/1994, bà Thanh và bà The viết “Giấy giao quyền trông nom” cho ông Chu Khắc Thuyên số di sản của Cụ Cúc để lại, thời hạn 5 năm từ 15/4/1994 đến 15/4/1999, có chứng nhận của chính quyền địa phương UBND xã Phù Vân

Ngày 3/3/1999, ông Chu Khắc Thuyên mất, không để lại di chúc, sau đó bà Tám tiếp tục trông nom và thu hoa lợi trên đất

Ngày 22/11/2001, Ông Chu Khắc Sinh làm đơn xin xác nhận chuyển quyền thừa kế đất từ Bà Chu Thị Cúc sang ông Chu Khắc Sinh và giao cho ông Chu Khắc Chinh thay thế trông nom, bảo vệ, thu hoạch mảnh vườn, hằng năm đóng góp với địa phương 50% tiền hoa lợi, có sự xác nhận của Thôn 6 và UBND xã Phù Vân

Ngày 28/5/2016, bà Tám tập kết vật liệu, xây dựng nhà cấp 4 trên thửa đất Bà Thanh sau khi biết sự việc đã về quê và báo cáo với Trưởng thôn 6, xã Phù Vân nhưng bà Tám vẫn tiếp tục

Ngày 15/06/2016, ông Phạm Trường Sinh – trưởng thôn đã xác nhận gia đình bà Đinh Thị Tám đóng thuế 27 năm liên tục theo giấy biên nhận

Ngày 29/10/2016, 5/11/2016, bà Chu Thị Thanh và ông Chu Văn Sinh nộp đơn khởi kiện tại Tòa án Nhân Dân thành phố Phủ lý yêu cầu bà Đinh Thị Tám trả lại diện tích đất 777m2 tại thửa đất số 40, tờ bản đồ số 02 lập năm 1998 tại thôn 6, xã Phù Vân, Huyện Phủ Lý, tỉnh Hà Nam cho bà Chu Thị Thanh, Chu Văn Sinh, Chu Thị Loan, Chu Thị The; đồng thời trả lại nhà, đất, cây cối trên diện tích đất nêu trên, cùng với hoa màu trên đất là 50% tổng giá trị thu nhập cây lưu niên kể từ ngày 15/4/1994 theo giấy gửi UBND xã Phù Vân, TP Phủ Lý, tỉnh Hà Nam năm 1994

Ngày 03/8/2017, TAND thành phố Phủ Lý có quyết định đưa vụ án ra xét xử

Trang 1

Trang 5

BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN

II Ý KIẾN CỦA BỊ ĐƠN ĐỐI VỚI YÊU CẦU KHỞI KIỆN CỦA NGUYÊN ĐƠN

Kính thưa Hội đồng xét xử, thưa vị đại diện Viện kiểm sát và các vị Luật sư đồng nghiệp tôi xin được trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như các chứng cứ chứng minh Cụ thể như sau:

Ông Chu Khắc Trường và Bà Chu Thị Cúc có mảnh đất tổng diện tích 777,4 m² đất theo thửa đồ số 40, tờ bản đồ số 02, lập năm 1998 tọa lạc tại Thôn 6, xã Phù Vân, Thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam Ông Trường và Bà Cúc có bốn người con là bà Thanh, bà Loan, ông Sinh và bà The, khi ông bà mất không để lại di chúc Ông Sinh, Bà Thanh, bà Loan và bà The không sống cùng với bà Cúc tại thời điểm bà Cúc mất năm 1990 mà đã thoát ly khỏi địa phương và lập gia đình ở nơi khác, khi bà Cúc mất cũng không ai về chăm nom và chăm sóc bà Năm 1990, sau khi bà Cúc mất thì chỉ có ông Sinh mới về để quản lý, trôm nom thửa đất sau đó ngày 20/01/1994 ông Sinh đã chuyển nhượng lại quyền

sử dụng đất và tài sản trên đất cho Ông Thuyên nên gia đình ông Thuyên và Bà Tám có toàn quyền sử dụng đối với thửa đất Ngoài ra, từ đó đến nay sau khi ông Thuyên mất, gia đình bà Tám đã đóng thuế đầy đủ, liên tục có xác nhận của chính quyền địa phương Trong một khoảng thời gian dài 4 chị em bà Thanh, bà The, bà Loan và ông Sinh không có

ý kiến gì về việc sử dụng đất của gia đình bà Tám cho đến khi bà Tám xây dựng nhà trên đất thì mới khiếu kiện yêu cầu chia thừa kế đối với quyền sử dụng đất mà bà Cúc để lại

Bà Tám có toàn quyền sử dụng đất hợp pháp đối với thửa đất được nhận từ ông Sinh theo Đơn chuyển quyền thừa kế nên tháng 05/2016, bà Tám đã xây dựng nhà ở trên đất là hoàn toàn hợp pháp và có căn cứ, nguyên đơn không có quyền yêu cầu đòi lại quyền

sử dụng đất Để chứng minh các vấn đề trên bị đơn đã giao nộp các chứng cứ: Đơn chuyển quyền thừa kế ngày 20/01/1994; Giấy biên nhận ngày 15/06/2016 xác nhận đóng thuế của

bà Tám; Giấy chứng tử của ông Chu Khắc Thuyên

Thưa Hội Đồng Xét Xử, trên đây là toàn bộ ý kiến của bị đơn Kính mong Hội Đồng Xét Xử xem xét các chứng cứ để bác bỏ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và tuyên

bố bà Tám có toàn quyền sử dụng hợp pháp với thửa đất nêu trên

III NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN

1 Quan hệ pháp luật tranh chấp:

Theo bản đồ địa chính lập năm 1998 thì thửa đất số 40 tờ bản đồ số 02 là của bà Cúc, quyền sử dụng đất chưa được đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Bà Tám cho rằng ông Sinh đã chuyển quyền thừa kế cho vợ chồng bà, chồng bà là ông Thuyên đã mất nên đất này là của bà Tám nên bà Tám có quyền xây dựng nhà trên thửa đất này Bà Thanh, bà Loan, ông Sinh, bà The cho rằng đây là tài sản của bố mẹ họ

để lại và họ là những người thừa kế theo pháp luật nên họ mới là người có quyền sử dụng đất và yêu cầu bà Tám phải tháo dỡ nhà trên đất

Do đó, đây là tranh chấp đất đai cụ thể là tranh chấp về quyền sử dụng đất căn cứ theo quy định tại Khoản 9 Điều 26 BLTTDS 20151

1 BLTTDS 2015 sau đây là viết tắt của Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự số 92/2015/QH13 ban hành ngày 25/11/2015

Trang 2

Trang 6

BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN

2 Thời hiệu khởi kiện:

Thời hiệu khởi kiện được tính kể từ ngày khởi kiện, ngày yêu cầu căn cứ theo Khoản 1 Điều 4 Nghị quyết số 02/2016/NQ-HĐTP và Điều 2 Nghị quyết số 103/2015/QH13 ngày 25/11/2015

Ngày nguyên đơn nộp đơn khởi kiện là ngày 29/10/2016, trước ngày 31/12/2016 vì vậy căn cứ theo Khoản 2 Điều 517 của BLTTDS 2015 thì Điều 159 của BLTTDS 20042

vẫn có hiệu lực thi hành đến hết ngày 31/12/2016

Căn cứ theo quy định tại Điểm a Khoản 3 Điều 159 BLTTDS 2004 tranh chấp của

vụ án trong trường hợp này không áp dụng thời hiệu khởi kiện

3 Hòa giải tiền tố tụng

Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 202 Luật Đất Đai 2013 “Tranh chấp đất đai

mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi

có đất tranh chấp để hòa giải” Ngoài ra, tại Điều 88 Nghị định 43/2014/NĐ-CP cũng quy

định về thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai

Như vậy, việc hòa giải tiền tố tụng đối với các tranh chấp đất đai, các bên phải tiến hành hòa giải cơ sở là thủ tục bắt buộc Theo đó, trước khi khởi kiện tại tòa án, cần phải thông qua thủ tục hòa giải tại UBND xã nơi có đất tranh chấp

Căn cứ hồ sơ vụ án, tranh chấp đã tiến hành hòa giải 2 lần vào ngày 19/6/2016 và 25/10/2016 tại Ủy ban nhân dân xã Phù Vân tuy nhiên không tiến hành hòa giải được do

bị đơn là bà Đinh Thị Tám vắng mặt không có lý do chính đáng

4 Thẩm quyền Tòa án:

Thẩm quyền chung: Tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án căn cứ theo quy định tại Khoản 9 Điều 26 BLTTDS 2015

Thẩm quyền theo cấp: Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm tranh chấp về đất đai căn cứ quy định tại Khoản 9 Điều 26 và Điểm a Khoản 1 Điều 35 BLTTDS 2015

Thẩm quyền theo lãnh thổ: Đối tượng tranh chấp là quyền sử dụng đất, do đó tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết căn cứ quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều

39 BLTTDS 2015

Vậy Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý tỉnh Hà Nam có thẩm quyền giải quyết tranh chấp của vụ án này

IV KẾ HOẠCH HỎI TẠI PHIÊN TÒA

1 Hỏi nguyên đơn ông Chu Khắc Sinh

- Ông thoát ly khỏi địa phương vào thời gian nào?

- Trước thời điểm bà Cúc mất, ông có về lại quê hương để thăm bà Cúc không?

- Sau khi bà Cúc mất, ông có về lại quê hương để quản lý, sử dụng thửa đất không?

- Tại sao ông lại làm đơn chuyển quyền thừa kế cho ông Thuyên?

- Sau khi ký đơn chuyển quyền thừa kế ông đã nhận bao nhiêu tiền từ ông Thuyên,

bà Tám?

- Tại thời điểm đó, trên thửa đất có những tài sản nào?

2 BLTTDS 2004 sau đây là viết tắt của Bộ luật tố tụng dân sự số 24/2004/QH11 ban hành ngày 15/06/2004 sửa đổi,

bổ sung theo Luật số 65/2011/QH12 ngày 29/03/2011

Trang 3

Trang 7

BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN

- Ông có biết là bà The và bà Thanh yêu cầu UBND xã đình chỉ việc chuyển quyền thừa kế không?

- Kể từ khi giao quyền thừa kế ông có về lại quê hương không? Có làm đơn khiếu kiện đối với gia đình bà Tám về thửa đất không?

2 Hỏi nguyên đơn bà Chu Thị Hồng Thanh

- Bà thoát ly khỏi địa phương vào thời gian nào?

- Trước thời điểm bà Cúc mất, bà có về lại quê hương để thăm bà Cúc không?

- Sau khi bà Cúc mất, bà có về lại quê hương để quản lý, sử dụng thửa đất không?

- Tại sao bà lại biết việc ông Sinh làm đơn chuyển quyền thừa kế cho ông Thuyên?

- Sau đó bà có về quê thêm bao nhiêu lần nữa?

- Có khiếu kiện đối với gia đình bà Tám về thửa đất không?

3 Hỏi bị đơn bà Đinh Thị Tám Tám

- Tại thời điểm bà Cúc còn sống, 4 người con của bà Cúc có ai về thăm nom và chăm sóc bà Cúc không?

- Lúc đó ai là người chăm sóc bà Cúc? Ai là người giúp bà Cúc thu hoạch hoa màu trên thửa đất?

- Sau khi bà Cúc mất thì có phải ông Sinh là người về trông nom thửa đất không?

- Bà tiếp nhận quản lý mảnh đất tranh chấp từ khi nào?

- Tại thời điểm ông Sinh giao quyền thừa kế, trên thửa đất gồm những gì?

- Sau khi tiếp quản thửa đất, gia đình bà có đóng thuế đất đầy đủ không?

- Bà có nhận được Thông báo tạm đình chỉ chuyển quyền thừa kế của UBND xã không?

- Ông Sinh, bà Thanh, bà The và bà Loan về đòi lại quyền sử dụng đất vào lúc nào?

- Thời điểm trước đó thì Ông Sinh, bà Thanh, bà The và bà Loan có biết bà đang sử dụng đất không? Trước đó có tranh chấp hay khiếu kiện gì với gia đình bà không?

V LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CHO BỊ ĐƠN

Kính thưa Hội đồng xét xử, thưa vị đại diện Viện kiểm sát, thưa quý luật sư đồng nghiệp

Tôi là ………, luật sư thuộc Văn phòng luật sư XYZ, Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh Hôm nay, tôi tới tham gia phiên tòa với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn là bà Đinh Thị Tám trong vụ án tranh chấp về quyền sử dụng đất với nguyên đơn là bà Chu Thị Hồng Thanh và ông Chu Văn Sinh được TAND thành phố Phủ Lý thụ lý và giải quyết Sau khi nghiên cứu toàn bộ hồ sơ vụ án và qua theo dõi phần hỏi công khai tại phiên tòa, tôi xin được trình bày bản luận cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn như sau:

Thứ nhất, vào thời điểm năm 1990 quyền sử dụng đất không được xem là di sản thừa kế nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn để đòi lại quyền sử dụng đất là không có căn cứ.

Năm 1990 vào thời điểm bà Cúc mất, quyền sử dụng đất không phải là di sản được hưởng quyền thừa kế theo Pháp lệnh thừa kế năm 19903 căn cứ theo Nghị Quyết số

3 Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 được Hội đồng Nhà nước thông qua ngày 30/8/1990.

Trang 4

Trang 8

BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN

02/HĐTP4 ngày 19/10/1990 Hướng Dẫn Áp Dụng Một Số Quy Định Của Pháp Lệnh Thừa

Kế năm 1990 tại Phần 1a) quy định Về di sản như sau: “Tất cả mọi tài sản thuộc quyền sở

hữu của một người sẽ trở thành di sản khi người đó chết Đất đai thuộc quyền sở hữu

toàn dân, quyền sử dụng đất được giao không phải là quyền sở hữu về tài sản của công dân nên không thể trở thành di sản khi công dân chết” Di sản theo quy định tại Khoản

1 Điều 4 của Pháp lệnh thừa kế năm 1990 được quy định như sau: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác, quyền về tài sản do người chết để lại Tài sản gồm có tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, các thu nhập hợp pháp”

Như vậy tại thời điểm bà cúc mất năm 1990, theo quy định của pháp luật phần tài sản được xem là di sản mà bà Cúc để lại chỉ có căn nhà cấp bốn lợp ngói hai gian, một bể nước và một số cây cối lâu năm trên thửa đất và không bao gồm quyền sử dụng đất Vì vậy, không có căn cứ để nguyên đơn khởi kiện để đòi lại quyền sử dụng đất và xem đây là

di sản được hưởng quyền thừa kế

Thứ hai, Ông Sinh, Bà Thanh, bà Loan và Bà The không có quyền hưởng di sản do bà Cúc để lại do vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng đối với người để lại di sản là bà Cúc.

Ông Sinh, Bà Thanh, bà Loan và bà The không sống cùng với bà Cúc tại thời điểm

bà Cúc mất năm 1990 mà đã thoát ly khỏi địa phương và lập gia đình theo các Biên bản

lấy lời khai Ông Sinh khai rằng “Năm 1981 tôi đi làm kinh tế mới chỉ còn một mình mẹ tôi sống trên thửa đất này” theo Biên bản lấy lời khai ngày 21/02/2017 Đối với nguyên

đơn bà Thanh, căn cứ theo Sơ yếu lý lịch của bà Chu Thị Hồng Thanh thì bà Thanh ghi rõ

trong sơ yếu lý lịch: “Tháng 5/1956 đi thanh niên xung phong tại Điện Biên Phủ”

Cũng theo đó Đơn tố cáo ngày 17/05/2017 của bà Đinh Thị Tám về những hành vi lật lọng, lừa đảo và bất hiếu của Bà Chu Thị Thanh, Chu Thị Loan, Chu Thị The và ông

Chu Khắc Sinh: “Năm 1956 thì các cô trốn đi, bỏ làng không dám về nữa sợ người ta đánh”; “Bà Cúc mất năm 1990 mãi đến năm 1994 chú Chu Khắc Sinh mới về tìm người bán đất, cây cối”

Có thể thấy, tại thời điểm năm 1990 khi bà Cúc mất, bốn người con đều thoát ly khỏi đi phương và lập gia đình ở nơi khác, cũng không ai về chăm nom và chăm sóc bà

mà chỉ có gia đình bà Tám chăm lo cho bà Cúc “Khi bà Cúc ốm thì các con không về chăm non, chăm sóc Năm 1990 bà Cúc chết các con bà Cúc cũng không lo tang thì vợ chồng và con cái chúng tôi lo” theo Biên bản lấy lời khai của bà Đinh Thị Tám ngày

22/11/2016 Bà Đinh Thị Tám cũng khẳng định rất rõ việc này trong Đơn tố cáo ngày 17/05/2017 về việc không chăm sóc bà Cúc của bà Thanh, bà Loan, bà The và ông Sinh

khi bà Cúc ốm đau :“Bà Cúc toàn khóc hờ con”.

Căn cứ theo quy định tại Phần 2b) Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990 Về những người thừa kế không có quyền hưởng di sản: “Những người có nghĩa vụ nuôi

dưỡng nhau theo quy định tại các điều 19, 20, 21, 23, 27 Luật Hôn nhân và gia đình (như cha mẹ và con, ông bà và cháu, anh chị em) trong khoảng thời gian 3 năm trước khi

4 Nghị quyết số 02/HĐTP là Nghị quyết của Hội Đồng Thẩm Phán Toà Án Nhân Dân Tối Cao ngày 19/10/1990 Hướng Dẫn Áp Dụng Một Số Quy Định Của Pháp Lệnh Thừa Kế năm 1990

Trang 5

Trang 9

BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN

người để lại di sản chết, nếu có khả năng thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng mà không thực hiện làm cho người cần được nuôi dưỡng lâm vào tình trạng khổ sở hoặc nguy hiểm đến tính mạng, thì không có quyền hưởng di sản của người đó.”

Ông Sinh đi kinh tế năm 1981, bà Thanh thì đi khỏi địa phương năm 1956 những người còn lại cũng không ai về thăm nom bà Cúc trước khi bà mất Căn cứ theo lời khai

có thấy rằng những người con của bà Cúc đã không thực hiện đúng nghĩa vụ và bổn phận trách nhiệm của một người làm con trong gia đình đối với mẹ ruột của mình là bà Chu Thị Cúc Theo Giấy chứng tử (bản sao) đăng ký ngày 29/06/2010 của Bà Chu Thị Cúc lí do bà Cúc mất là do ốm đau mà mất Các con của bà Cúc là ông Sinh, bà Thanh, bà The và bà

Loan đều không ở quê hương (Thôn 6, xã Phù Vân, Phủ Lý, Hà Nam) vào khoảng thời

gian 3 năm trước khi bà Cúc mất để thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc mẹ mình khi ốm đau Vì vậy, căn cứ theo quy định tại Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990 có thể khẳng định bà Chu Thị Thanh, Chu Thị Loan, Chu Thị The và ông Chu Khắc Sinh đều không làm tròn bổn phận của mình về nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc mẹ mình là bà Chu Thị Cúc khi ốm đau nên không có quyền hưởng di sản do bà Cúc để laị

Bà Chu Thị Thanh, Chu Thị Loan, Chu Thị The và ông Chu Khắc Sinh không có quyền hưởng di sản do bà Cúc để lại do vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng đối với người để lại di sản Căn cứ theo Điểm Khoản 1 Điều 7 của Pháp lệnh thừa kế năm

1990 về những người thừa kế không có quyền hưởng di sản “Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng đối với người để lại di sản”.

Như phân tích ở trên, phần di sản mà bà Cúc để lại chỉ bao gồm nhà cấp bốn lợp ngói hai gian, một bể nước và một số cây cối lâu năm trên thửa đất Vì không có quyền hưởng di sản nên nguyên đơn cũng không có quyền khởi kiện để đòi lại di sản của bà Cúc Ngoài ra, theo Đơn giao quyền trông nom ngày 15/04/1994, bà Thanh và bà The giao quyền trông nom cho ông Chu Khắc Thuyên số di sản của Cụ Cúc để lại cũng không có giá trị vì bà Thanh và bà The đã không có quyền hưởng di sản để ký giấy giao quyền này

Vì vậy việc việc khởi kiện để yêu cầu bà Cúc trả lại 50% số cây lâu năm trong thời hạn 5 năm từ 15/4/1994 đến 15/4/1999 cũng không có căn cứ để yêu cầu đòi lại

Thứ ba, Đơn chuyển quyền thừa kế năm 1994 từ ông Chu Khắc Sinh cho ông Thuyên là căn cứ pháp lý để xác định quyền sử dụng đất hợp pháp của gia đình ông Thuyên, bà Tám tại thời điểm đó

Căn cứ theo quy định tại Điều 1 Luật đất đai năm 19875 quy định: “Đất đai thuộc

sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý… Người đang sử dụng đất đai hợp pháp được tiếp tục sử dụng theo quy định của Luật này” Theo Biên bản ghi lời khai ngày 21/02/2017 ông Sinh khai rằng: “Năm 1990 mẹ tôi mất thì tôi về quản lý thửa đất này Khi đó thửa đất này chỉ có một căn nhà cấp bốn hai giang và một số cây cối Sau đó,

vì điều kiện không ở lại được nên mới cử con trai là tôi là Chu Văn Thành thay mặt tôi về

ở và trôm nom thửa đất này” Khi bà Cúc mất, năm 1990 ông Sinh về lại thửa đất để quản

lý thửa đất nên được xem là người đang sử dụng đất hợp pháp tại thời điểm đó theo quy

định của Luật đất đai năm 1987 Ông Sinh cũng khai rằng: “Sau khi mẹ tôi mất năm 1990,

5 Luật đất đai năm 1987 là Luật đất đai của quốc hội số 3-LCT/HĐNN8 ban hành ngày 29/12/1987

Trang 6

Trang 10

BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN

tôi tiếp tục nộp thuế từ năm 1990 – 1994” và việc nộp thuế của ông Sinh cũng được xác

nhận theo Giấy biên nhận ngày 22/11/2001 của Thôn Quyền sử dụng đất theo Luật đất đai năm 1987 không được xem là tài sản thừa kế mà người chết để lại, chỉ có ông Sinh về quản lý thửa đất năm 1990 còn bà Thanh, bà The và bà Loan cũng không về quê để quản

lý thửa đất nên chỉ có ông Sinh là người sử dụng hợp pháp thửa đất của bà Cúc để lại vào năm 1990 theo quy định của luật đất đai tại thời điểm đó

Vì ông Sinh là người quản lý thửa đất sau khi bà Cúc mất năm 1990 nên ông Sinh

có toàn quyền để chuyển quyền thừa kế cho ông Thuyên theo Đơn chuyển quyền thừa kế năm 1994 Căn cứ theo Khoản 2 Điều 3 Luật đất đai năm 19936 quy định: “Hộ gia đình,

cá nhân được Nhà nước giao đất có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất” Luật đất đai năm 1993 ban hành, cá nhân có quyền chuyển

quyền quyền sử dụng đất của mình cho người khác Cũng theo Điều 2 Luật đất đai năm

1993 quy định :“Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng

hoà, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Có thể khẳng định, thời điểm ông Sinh chuyển quyền

thừa kế cho ông Thuyên vào năm 1994 căn cứ theo quy định của Luật đất đai năm 1993 là hoàn toàn hợp pháp và đúng với quy định của Luật đất đai tại thời điểm đó, nhà nước cũng quy định rõ không giải quyết việc đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng cụ thể ông Sinh đã giao ông Thuyên và bà Tám

Thông báo UBND xã Phù Vân ngày 10/04/1994 về việc tạm đình chỉ việc chuyển quyền thừa kế Thông báo này chỉ là “tạm” đình chỉ việc chuyển quyền thừa kế để hai bên

tiến hành giải quyết và có ghi rõ nội dung sau “UBND xã tạm đình chỉ việc giao quyền

thừa kế ông Chu Khắc Sinh và ông Chu Khắc Thuyên Toàn bộ đất đai, nhà cửa, cây cối giữ nguyên hiện trường khi nào giải quyết xong thì văn bản có giá trị và có hiệu lực pháp lý” Việc đình chỉ này chỉ mang tính tạm thời để hai bên giải quyết, khi giải quyết

xong thì phải tới UBND xã để yêu cầu xác nhận lại việc này, thông báo của UBND không

có nội dung hủy bỏ toàn bộ quyền thừa kế của ông Sinh cho ông Thuyên mà chỉ mang tính chất tạm đình chỉ để hai bên thỏa thuận Tuy nhiên, thông báo này không được gửi đến cho gia đình ông Thuyên và bà Tám mà chỉ gửi cho bà Chu Thị Thanh – thôn 6 Gia đình

bà Tám không biết về thông báo này của UBND xã Ngoài ra, như đã phân tích nêu trên việc ông Sinh chuyển quyền thừa kế cho ông Thuyên là hoàn toàn hợp pháp theo quy định của Luật đất đai năm 1993 nên việc UBND xã ban hành thông báo tạm đình chỉ cũng không làm mất đi quyền thừa kế đối với gia đình ông Thuyên, bà Tám

Kể từ khi được giao quyền thừa kế năm 1994 Ông Thuyên và bà Tám là người

“đang sử dụng đất” hợp pháp và có căn cứ để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng

đất theo quy định tại Điểm đ Khoản 2 Điều 3 Nghị định 17/1999/NĐ-CP7 ngày

29/03/1999: “Người đang sử dụng đất có một trong các giấy tờ quy định sau đây thì làm thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được thực hiện các quyền theo

6 Luật đất đai năm 1993 là Luật đất đai của quốc hội số 24-L/CTN ban hành ngày 14/7/1993

7 Nghị định 17/1999/NĐ-CP là Nghị định của chính phủ số 17/1999/NĐ-CP ngày 29 tháng 3 năm 1999 về thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyền sử dụng đất và thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất

Trang 7

Ngày đăng: 22/09/2021, 08:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w