1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai

126 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 5,01 MB
File đính kèm Danh gia cac yeu to anh huong Quy hoach.rar (4 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài “Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai” với mục tiêu chính là nghiên cứu các yếu tố tác động đến kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất với công cụ phân tích đa tiêu chuẩn (MCA) để đánh giá mức độ tác động của các yếu tố đó. Tiến trình thực hiện như sau: (1) Xác định các yếu tố tác động đến kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất, (2) Ứng dụng kỹ thuật phân tích đa tiêu chuẩn (MCA) để tính trọng số các yếu tố tác động. Từ đó đánh giá mức độ tác động của các yếu tố đến kết quả thực hiện và đề xuất các giải pháp lập, thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thành phố Pleiku. Việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thành phố Pleiku giai đoạn 20102018 bên cạnh một số kết quả đạt được còn có một số tồn tại như các dự án thực hiện chậm do thiếu vốn. Các yếu tố kinh tế tác động lớn nhất đến kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thành phố Pleiku giai đoạn 20102018 với trọng số 0,4774, yếu tố tự nhiên có tác động tương đối lớn chỉ sau yếu tố kinh tế với trọng số 0,2849, kế đến là yếu tố xã hội tác động đến kế hoạch sử dụng đất với trọng 0,1578 và cuối cùng yếu tố tác động thấp nhất đến kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng là môi trường với trọng số 0,0799. Dựa trên kết quả nghiên cứu, đề tài đã đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện công tác lập và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn thành phố Pleiku. Các giải pháp như: Xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải có tính khả thi cao; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; điều tra xã hội học trong quá trình thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; hoàn thiện pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; hoàn thiện pháp luật về lập và thực thi quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; tuyên truyền, phổ biến cho người dân về tầm quan trọng của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

***********

NGUYỄN THANH NGA

ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THỰC HIỆN

QUY HOẠCH, KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT

THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12/2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

**********

NGUYỄN THANH NGA

ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THỰC HIỆN

QUY HOẠCH, KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT

THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI

Chuyên ngành : Quản lý đất đai

Trang 3

ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THỰC HIỆN

QUY HOẠCH, KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT

THÀNHPHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI

NGUYỄN THANH NGA

Hội đồng chấm luận văn:

1 Chủ tịch: PGS.TS HUỲNH THANH HÙNG

Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh

2 Thư ký: TS TRẦN ĐỘC LẬP

Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh

3 Phản biện 1: TS PHAN THỊ GIÁC TÂM

Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh

4 Phản biện 2: TS TRẦN THANH HÙNG

Trường ĐH Tài nguyên và Môi trường TP Hồ Chí Minh

5 Ủy viên: TS NGUYỄN DUY NĂNG

Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 4

LÝ LỊCH CÁ NHÂN

Tôi tên: Nguyễn Thanh Nga, sinh ngày 4 tháng 4 năm 1977

Tốt nghiệp phổ thông tại Trường Trung học phổ thông Nguyễn Trân, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định năm 1996

Tốt nghiệp Đại học chuyên ngành Luật, tại Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2000

Tóm tắt quá trình công tác:

Từ 3/2001 – 7/2004: Chuyên viên phòng Tư pháp thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai

Từ 8/2004 – 6/2010: Chuyên viên, Phó Chánh văn phòng HĐND&UBND thành phố, Phó trưởng phòng Nội vụ thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai

Từ 7/2010 – 11/2015: Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND phường Hội Phú, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai

Từ 12/2015 đến nay: Phó Chánh văn phòng HĐND&UBND thành phố Theo học Cao học ngành Quản lý Đất đai tại trường Đại học Nông Lâm, thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2018

Địa chỉ liên lạc: Số 81, đường Hùng Vương, phường Tây Sơn, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai

Điện thoại: 0905.433.425 Email: nguyenthanhnga77@gmail.com

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất

kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Thanh Nga

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, Phòng Đào tạo Sau Đại học, các Thầy Cô giáo Khoa Quản lý đất đai và Bất động sản thuộc trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới TS LÊ CẢNH ĐỊNH, người Thầy tâm huyết đã tận tình hướng dẫn, động viên khích lệ, dành nhiều thời gian, định hướng và chỉ bảo tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới quý anh, chị, em tại Văn phòng HĐND&UBND thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai – nơi tôi đang làm việc, đã giúp đỡ

và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình làm đề tài

Cuối cùng, tôi xin gửi tấm lòng ân tình tới gia đình của tôi Gia đình tôi thực

sự là nguồn động viên lớn lao và là những người truyền nhiệt huyết để tôi hoàn thành luận văn

Gia Lai, tháng 07 năm 2019

Nguyễn Thanh Nga

Trang 7

kế hoạch sử dụng đất, (2) Ứng dụng kỹ thuật phân tích đa tiêu chuẩn (MCA) để tính trọng số các yếu tố tác động Từ đó đánh giá mức độ tác động của các yếu tố đến kết quả thực hiện và đề xuất các giải pháp lập, thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thành phố Pleiku

Việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thành phố Pleiku giai đoạn 2010-2018 bên cạnh một số kết quả đạt được còn có một số tồn tại như các dự án thực hiện chậm do thiếu vốn

Các yếu tố kinh tế tác động lớn nhất đến kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thành phố Pleiku giai đoạn 2010-2018 với trọng số 0,4774, yếu

tố tự nhiên có tác động tương đối lớn chỉ sau yếu tố kinh tế với trọng số 0,2849, kế đến là yếu tố xã hội tác động đến kế hoạch sử dụng đất với trọng 0,1578 và cuối cùng yếu tố tác động thấp nhất đến kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng là môi trường với trọng số 0,0799

Dựa trên kết quả nghiên cứu, đề tài đã đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện công tác lập và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn thành phố Pleiku Các giải pháp như: Xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải có tính khả thi cao; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; điều tra xã hội học trong quá trình thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; hoàn thiện pháp luật về quy hoạch,

kế hoạch sử dụng đất; hoàn thiện pháp luật về lập và thực thi quy hoạch, kế hoạch

sử dụng đất; tuyên truyền, phổ biến cho người dân về tầm quan trọng của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Trang 8

ABSTRACT

The thesis "Assessing factors affecting the implementation of planning and land use plan of Pleiku City, Gia Lai Province" with the main objective are to study the factors affecting the results of planning and implementation Land use planning with multi-standard analysis tools (MCA) to assess the impact of those factors The process is as follows: (1) Determine the factors affecting the results of land use plan implementation, (2) Application of multi-standard analysis techniques (MCA) to calculate the weighting factors impact Since then assess the impact of the factors

on the implementation results and propose solutions to implement the land use planning of Pleiku City

The implementation of the planning and land use plan of Pleiku City in the period of 2010-2018 also has some shortcomings as the projects implemented slowly due to lack of capital

Economic factors that have the greatest impact on the implementation of the planning and land use plan of Pleiku City in the period of 2010-2018 with a weighting factor of 0.4774, natural factor with relatively large impacts are only after weak The economic factor with weight of 0.2849, next is the social factor affecting the land use plan with the weighting factor of 0.1578 and finally the lowest impact factor on the results of using the plan is the environment school with weight 0.0799 Based on the research results, the thesis has proposed solutions to complete the formulation and implementation of land use planning and plans in Pleiku city Solutions such as: Building land use planning and plans must be highly feasible; improve the quality of human resources; sociological investigation in the process of implementing land use planning and plans; perfecting the law on land use planning and plans; perfecting the law on formulation and implementation of land use planning and plans; propaganda and dissemination to people about the importance

of land use planning and plans

Trang 9

MỤC LỤC

TRANG

Trang tựa

Trang chuẩn y i

Lý lịch cá nhân ii

Lời cam đoan iii

Lời cảm ơn iv

Tóm tắt v

Abstract vi

Mục lục vii

Danh sách các chữ viết tắt x

Danh sách hình xi

Danh sách bảng xii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN 4

1.1 Đất, đất đai và vấn đề sử dụng đất 4

1.1.1 Đất và đất đai 4

1.1.2 Vấn đề sử dụng đất 5

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng đất 6

1.2 Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 8

1.2.1 Khái niệm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 8

1.2.2 Đặc điểm quy hoạch sử dụng đất 9

1.2.3 Nguyên tắc lập quy hoạch sử dụng đất 11

1.2.4 Các loại hình quy hoạch sử dụng đất 12

1.2.5 Những căn cứ pháp lý của quy hoạch sử dụng đất đai 14

1.2.6 Nội dung của quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất 15

1.2.7 Mối quan hệ giữa QHSDĐ và các loại hình quy hoạch khác 15

1.2.8 Khung phân tích của đề tài 17

1.3 Tình hình quy hoạch sử dụng đất trên thế giới và Việt Nam 18

Trang 10

1.3.1 Tình hình quy hoạch sử dụng đất trên thế giới 18

1.3.2 Tình hình quy hoạch đất đai ở Việt Nam qua các thời kỳ 21

1.3.3 Tình hình quy hoạch và quản lý sử dụng đất ở tỉnh Gia Lai 27

1.3.4 Tình hình quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở thành phố Pleiku 28

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

2.1 Nội dung nghiên cứu 30

2.1.1 Đánh giá công tác lập và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thành phố Pleiku 30

2.1.2 Phân tích, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn thành phố Pleiku 30

2.1.3 Đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện công tác lập và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn thành phố Pleiku 31

2.2 Phương pháp nghiên cứu 31

2.2.1 Các bước tiến hành nghiên cứu 31

2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu thứ cấp 31

2.2.3 Phương pháp điều tra, thu thập thông tin sơ cấp 32

2.2.4 Phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp 33

2.2.5 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa 33

2.2.6 Phương pháp tham vấn chuyên gia 33

2.2.7 Phương pháp sử dụng bản đồ và công nghệ GIS 34

2.2.8 Ứng dụng MCA trong việc đánh giá các yếu tố tác động đến kết quả thực hiện QH, KHSDĐ 34

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37

3.1 Đánh giá công tác lập và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thành phố Pleiku 37

3.1.1 Các công tác quản lý đất đai hỗ trợ cho công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thành phố Pleiku 37

3.1.2 Hiện trạng sử dụng đất năm 2018 thành phố Pleiku 39

3.1.3 Kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thành phố Pleiku 42

Trang 11

3.1.4 Đánh giá chung về kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

thành phố Pleiku giai đoạn 2010-2018 56

3.1.5 Ý kiến của người dân trên địa bàn về tình hình thực hiện QH, KHSDĐ 56

3.2 Phân tích, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn thành phố Pleiku 58

3.2.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 58

3.2.2 Kinh tế, xã hội 67

3.2.3 Đánh giá sự hiểu biết về công tác QH, KHSDĐ và ý kiến của người dân trên địa bàn về tình hình thực hiên QH, KHSDĐ giai đoạn 2010 – 2018 73

3.2.4 Xác định các yếu tố tác động đến kết quả thực hiện QH, KHSDĐ thành phố Pleiku 74

3.2.5 Tính toán trọng số các yếu tố 79

3.3 Đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện công tác lập và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn thành phố Pleiku 87

3.3.1 Xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải có tính khả thi cao 87

3.3.2 Nâng cao sự hiểu biết của người dân về QH, KHSDĐ 94

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 95

TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

PHỤ LỤC 101

Trang 12

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DTTN Diện tích tự nhiên

FAO Food and Agriculture Organization (Tổ

chức Lương - Nông thế giới)

GCNQSDĐ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Trang 13

DANH SÁCH HÌNH

Hình 1.1 Mô hình khung lý thuyết nghiên cứu 18

Hình 2.1 Các bước tiến hành nghiên cứu 31

Hình 2.2 AHP-GDM trong xác định trọng số các yếu tố 35

Hình 3.1 Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2018 41

Hình 3.2 Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 47

Hình 3.3 Bản đồ kế hoạch sử dụng đất năm 2018 55

Hình 3.4 Vị trí thành phố Pleiku trong tỉnh Gia Lai 58

Hình 3.5 Bản đồ đất thành phố Pleiku 63

Trang 14

DANH SÁCH BẢNG

Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng đất năm 2018 thành phố Pleiku 39

Bảng 3.2 So sánh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 đã phê duyệt và hiện trạng sử dụng đất năm 2015 42

Bảng 3.3 So sánh kế hoạch sử dụng đất đã phê duyệt và hiện trạng sử dụng đất năm 2016 48

Bảng 3.4 So sánh kế hoạch sử dụng đất đã phê duyệt và hiện trạng sử dụng đất năm 2017 50

Bảng 3.5 So sánh kế hoạch sử dụng đất đã phê duyệt và hiện trạng sử dụng đất năm 2018 52

Bảng 3.6 Kết quả điều tra lấy ý kiến của người dân trên địa bàn về công tác thực hiện QH, KHSDĐ giai đoạn 2010 - 2020 của thành phố Pleiku 57

Bảng 3.7 Tổng hợp diện tích các nhóm đất chính của thành phố Pleiku 61

Bảng 3.8 Kết quả điều tra về sự hiểu biết của người dân về công tác QH, KHSDĐ 73

Bảng 3.9 Xác định các yếu tố tác động đến kết quả thực hiện QH, KH SDĐ 74

Bảng 3.10 Giá trị so sánh cặp các yếu tố cấp 1 của các chuyên gia 79

Bảng 3.11 Ma trận so sánh tổng hợp các yếu tố cấp 1 và trọng số các yếu tố 80

Bảng 3.12 Giá trị so sánh cặp các yếu tố cấp 2 thuộc nhóm tự nhiên 81

Bảng 3.13 Ma trận so sánh tổng hợp các yếu tố tự nhiên 81

Bảng 3.14 Giá trị so sánh cặp các yếu tố cấp 2 thuộc nhóm kinh tế 82

Bảng 3.15 Ma trận so sánh tổng hợp các yếu tố kinh tế 83

Bảng 3.16 Giá trị so sánh cặp các yếu tố cấp 2 thuộc nhóm xã hội 84

Bảng 3.17 Ma trận so sánh tổng hợp các yếu tố xã hội 84

Bảng 3.18 Giá trị so sánh cặp các yếu tố cấp 2 thuộc nhóm môi trường 85

Bảng 3.19 Ma trận so sánh tổng hợp các yếu tố môi trường 85

Bảng 3.20 Trọng số các yếu tố tác động đến kết quả thực hiện QH, KHSDĐ 86

Trang 15

MỞ ĐẦU

Đặt vấn đề

Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (QH, KHSDĐ) là một trong những công cụ quản lý đất đai để thực hiện sử dụng đất hiệu quả nhất và giúp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước QH, KHSDĐ là căn cứ để giao đất, cho thuê đất, thu hồi, chuyển mục đích sử dụng đất, giúp các cấp, các ngành sắp xếp, bố trí sử dụng đất hợp lý, hiệu quả và tiết kiệm trên cơ sở bảo vệ môi trường Tuy nhiên, việc thực hiện QH, KHSDĐ khá phức tạp, với tốc độ phát triển kinh tế và đô thị hoá nhanh tất yếu nảy sinh những mâu thuẫn trong sử dụng đất giữa các ngành và các đối tượng sử dụng đất

Thành phố Pleiku là đô thị ở phía bắc Tây Nguyên, nằm trong khu vực tam giác phát triển của ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia và hiện đang là đô thị loại

II, có tốc độ đô thị hóa diễn ra khá nhanh Thành phố có đủ các yếu tố phát triển công nghiệp - dịch vụ - thương mại – nông, lâm nghiệp và đang phấn đấu trở thành

đô thị loại I trực thuộc tỉnh Gia Lai trước năm 2020

Quá trình thực hiện đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá cùng với việc phát triển đô thị tại thành phố Pleiku đã gây áp lực lớn trong việc sử dụng đất đai Công tác thực hiện quy hoạch tại địa phương đã bộc lộ những mặt còn hạn chế trong nhu cầu sử dụng đất đai, một số công trình, dự án được thực hiện không theo quy hoạch Việc sử dụng đất của người dân trên địa bàn còn chưa hợp lý, mang tính

tự phát, hiệu quả sử dụng đất chưa cao, chưa thực sự phát huy được tiềm năng phát triển kinh tế của thành phố

Để cho công tác thực hiện QH, KHSDĐ ở các giai đoạn sau được phù hợp hơn, đảm bảo cho việc sử dụng đất được tiết kiệm, có hiệu quả, tránh tình trạng quy hoạch “treo” thì việc xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện QH, KHSDĐ là rất cần thiết Trong mỗi khu vực khác nhau, các yếu tố chủ đạo ảnh hưởng đến kết quả việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất cũng sẽ rất khác nhau

Trang 16

Xuất phát từ những vấn đề trên, cần thiết tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh

giá các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai”

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát

Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quy hoạch, kế hoạch và quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Các yếu tố ảnh hưởng đến quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đất và phân loại sử dụng đất, người sử dụng đất, cán bộ/chuyên gia quản lý đất đai

Trang 17

Ý nghĩa của đề tài

Ý nghĩa khoa học: Đề tài là công trình nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao chất lượng công tác QH, KHSDĐ Đặc biệt là nghiên cứu mức độ ảnh hưởng các yếu tố tác động đến thực hiện QH, KHSDĐ từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác QH, KHSDĐ trên địa bàn thành phố Pleiku

Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài cho thấy kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, nguyên nhân và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác QH, KHSDĐ trên địa bàn thành phố Pleiku Kết quả nghiên cứu làm cơ sở khoa học để các cơ quan chức năng tham khảo nhằm hoàn thiện công tác lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý QH, KHSDĐ trên địa bàn thành phố Pleiku

Đóng góp của đề tài

Đề tài về đánh giá quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được triển khai nhiều

ở cả bậc đại học và cao học ngành quản lý đất đai; trên địa bàn thành phố Pleiku nội dung đánh giá về thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cũng đã được đề cập trong các dự án lập, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất, tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào tìm các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện QH, KHSDĐ, cho nên đề tài

sẽ có đóng góp nhất định cho công tác QH, KHSDĐ

Trang 18

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 Đất, đất đai và vấn đề sử dụng đất

1.1.1 Đất và đất đai

Theo Karl Marx, đất là tư liệu sản xuất cơ bản và quý báu của sản xuất nông nghiệp, điều kiện không thể thiếu được của sự tồn tại và tái sinh của hàng loạt thế hệ người kế tiếp nhau (Nguyễn Mười và đồng tác giả, 2000)

Theo quan điểm kinh tế học, đất là tài sản quốc gia, là tư liệu sản suất chủ yếu, là đối tượng lao động đồng thời cũng là sản phẩm lao động Đất là mặt bằng để phát triển nền kinh tế quốc dân Từ lâu, con người đã có những nhận thức về đất, tùy theo ngành, lĩnh vực nghiên cứu mà đất được xem với vai trò, đối tượng nghiên cứu khác nhau Trên phương diện thổ nhưỡng, nhà địa chất William (973-1048) cho rằng, đất là tầng mặt tơi xốp của lục địa có khả năng tạo ra sản phẩm cho cây trồng

Theo V.V.Dokuchaev (1846-1903), nhà khoa học người Nga tiền phong trong lĩnh vực khoa học đất: Đất như là một thực thể tự nhiên có nguồn gốc và lịch

sử phát triển riêng, là thực thể với những quá trình phức tạp và đa dạng diễn ra trong nó Đất được coi là khác biệt với đá Đá trở thành đất dưới ảnh hưởng của một loạt các yếu tố tạo thành đất như sinh vật, khí hậu, đá mẹ, địa hình, thời gian và tác động của con người (Nguyễn Mười và đồng tác giả, 2000)

Đất là kết quả của sự tác động lâu dài của các yếu tố tự nhiên và của sinh vật lên đá mẹ hay mẫu chất, các quá trình đó gọi là quá trình phong hóa đá Thành phần

và tính chất đá biến đổi dần, trên đó phát triển các thực vật sơ đẳng như rong rêu, vi khuẩn, nấm các loại Chúng góp phần phân hủy đá, khi chết để lại một ít chất hữu

cơ, trên sản phẩm lẫn lộn khoáng và chất hữu cơ hình thành các loại thực vật cao đẳng Xác hữu cơ của chúng khi bị phân hủy sản sinh ra nhiều axit hữu cơ, góp

Trang 19

phần mạnh mẽ phá hủy đá Sự khác biệt giữa đá và đất là độ phì nhiêu Chính nhờ

độ phì nhiêu của đất mà các hệ sinh thái và con người mới có thể tồn tại và phát triển được

“Đất đai” là thuật ngữ khoa học có thể được hiểu theo nghĩa rộng là một diện tích bề mặt của trái đất có giới hạn, có chiều thẳng đứng hướng lên không trung, có chiều sâu hướng xuống lòng đất, có chiều ngang kết nối mọi thành phần liên quan với nhau về các điều kiện tự nhiên và điều kiện sống của động thực vật

Theo Luật Đất đai Việt Nam, đất đai là tài nguyên quý giá là tư liệu sản xuất đặc biệt là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh và quốc phòng

Tóm lại, đất đai là một vùng đất được xác định về mặt địa lý, có các thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay đổi có tính chất chu kỳ có thể dự đoán được của sinh quyển bên trên, bên trong và bên dưới nó như là: Không khí, đất, điều kiện địa chất, thủy văn, thực vật và động vật cư trú, những hoạt động trước đây của con người, ở chừng mực mà ảnh hưởng của những thuộc tính này có ý nghĩa tới việc sử dụng vùng đất đó của con người hiện tại và trong tương lai

1.1.2 Vấn đề sử dụng đất

Sử dụng đất (land uses): Đó là hoạt động tác động của con người vào đất đai

nhằm đạt kết quả mong muốn trong quá trình sử dụng

Sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ người

- đất trong tổ hợp với nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và môi trường Căn cứ vào quy luật phát triển kinh tế xã hội cùng với yêu cầu không ngừng ổn định và bền vững về mặt sinh thái, quyết định phương hướng chung và mục tiêu sử dụng đất hợp lý nhất là tài nguyên đất đai, phát huy tối đa công dụng của đất nhằm đạt tới hiệu ích sinh thái, kinh tế, xã hội cao nhất Vì vậy, sử dụng đất thuộc phạm trù hoạt động kinh tế của nhân loại Trong mỗi phương thức sản xuất nhất định, việc sử dụng đất theo yêu cầu của sản xuất và đời sống cần căn cứ vào thuộc tính tự nhiên của đất đai

Trang 20

Sử dụng đất là hoạt động tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của con người lên đất đai nhằm phục vụ mục tiêu kinh tế xã hội cho con người Loại hình sử dụng đất tùy thuộc vào mục đích tác động cụ thể của con người và được quy định cụ thể tại Điều 10 Luật đất đai 2013 Vai trò của đất đai đối với từng ngành rất khác nhau:

Ngành phi nông nghiệp: Đất đai giữ vai trò thụ động với chức năng là cơ sở không gian và vị trí để hoàn thiện quá trình lao động, là kho tàng dự trữ trong lòng đất (các ngành khai thác khoáng sản) Quá trình sản xuất và sản phẩm được tạo ra không phụ thuộc vào đặc điểm, độ phì nhiêu của đất, chất lượng thảm thực vật và các tính chất tự nhiên có sẵn trong đất

Ngành nông – lâm nghiệp: Đất đai là yếu tố tích cực của quá trình sản xuất,

là điều kiện vật chất - cơ sở không gian, đồng thời là đối tượng lao động (luôn chịu

sự tác động của quá trình sản xuất như cày, bừa, xới xáo ) và công cụ hay phương tiện lao động (sử dụng để trồng trọt, chăn nuôi ) Quá trình sản xuất nông – lâm nghiệp luôn liên quan chặt chẽ với độ phì nhiêu quá trình sinh học tự nhiên của đất

Việt Nam có diện tích tự nhiên ở quy mô trung bình, xếp thứ 59 trong tổng

số 200 quốc gia và vùng lãnh thổ nhưng dân số đông (đứng thứ 13) nên bình quân diện tích đất tự nhiên trên đầu người rất thấp (khoảng 0,38ha), chỉ bằng 1/5 mức bình quân của thế giới (1,96ha) Trước nhiều áp lực, thách thức mục tiêu tổng quát đến năm 2020, Việt Nam có bước chuyển biến cơ bản trong khai thác, sử dụng tài nguyên theo hướng hợp lý, hiệu quả và bền vững Đến năm 2050, Việt Nam trở thành quốc gia khai thác, sử dụng tài nguyên hợp lý, hiệu quả và bền vững

Hệ thống sử dụng đất (Land Use System – LUS): Là sự kết hợp của một loại

sử dụng đất với một điều kiện đất đai riêng biệt tạo thành hai hợp phần tác động khăng khít lẫn nhau, từ các tương tác này sẽ quyết định đặc trưng về mức độ và loại chi phí đầu tư, loại cải tọa đất đai và năng suất, sản lượng của sử dụng đất (Viện Tiêu chuẩn Chất lượng Việt Nam, 2011)

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng đất

Phạm vi, cơ cấu và phương thức sử dụng đất…vừa bị chi phối bởi các điều kiện và quy luật sinh thái tự nhiên, vừa bị kiềm chế bởi các điều kiện, quy luật kinh

Trang 21

tế - xã hội và các yếu tố kỹ thuật Vì vậy, những điều kiện và yếu tố ảnh hưởng chủ yếu đến việc sử dụng đất là:

Yếu tố điều kiện tự nhiên

Điều kiện tự nhiên có rất nhiều yếu tố như: Ánh sáng, nhiệt độ, lượng mưa, thủy văn, không khí….trong các yếu tố đó khí hậu là nhân tố hàng đầu của việc sử dụng đất đai, sau đó là điều kiện đất đai chủ yếu là địa hình, thổ nhưỡng và các nhân tố khác

Điều kiện khí hậu: Đây là nhóm yếu tố ảnh hưởng rất lớn, trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và điều kiện sinh hoạt của con người Tổng tích ôn nhiều hay ít, nhiệt độ cao hay thấp, sự sai khác về nhiệt độ về thời gian và không gian, biên độ tối cao hay tối thấp giữa ngày và đêm…trực tiếp ảnh hưởng đến sự phân bố, sinh trưởng và phát triển của cây trồng Lượng mưa nhiều hay ít, bốc hơi mạnh yếu có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ nhiệt độ và ẩm độ của đất, cũng như khả năng đảm bảo khả năng cung cấp nước cho các cây, con sinh trưởng, phát triển

Điều kiện đất đai: Sự khác nhau giữa địa hình, địa mạo, độ cao so với mực nước biển, độ dốc, hướng dốc…thường dẫn đến đất đai, khí hậu khác nhau, từ đó ảnh hưởng đến sản xuất và phân bố các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp Địa hình

và độ dốc ảnh hưởng đến phương thức sử dụng đất nông nghiệp, là căn cứ cho việc lựa chọn cơ cấu cây trồng, xây dựng đồng ruộng, thủy lợi canh tác và cơ giới hóa

Mỗi vùng địa lý khác nhau có sự khác biệt về điều kiện ánh sáng, nhiệt độ, nguồn nước và các điều kiện tự nhiên khác Các yếu tố này ảnh hưởng rất lớn đến khả năng, công dụng và hiệu quả sử dụng đất Vì vậy cần tuân theo các quy luật của

tự nhiên, tận dụng các lợi thế đó nhằm đạt được hiệu quả cao nhất về kinh tế, xã hội

và môi trường

Yếu tố về kinh tế – xã hội

Bao gồm các yếu tố như: Chế độ xã hội, dân số và lao động, thông tin và quản lý, sức sản xuất trình độ phát triển của kinh tế hàng hóa, cơ cấu kinh tế và phân bổ sản xuất, các điều kiện về nông nghiệp, công nghiệp, giao thông, vận tải, sự phát triển của khoa học kỹ thuật công nghệ, trình độ quản lý, sử dụng lao động…

Trang 22

“Yếu tố kinh tế – xã hội thường có ý nghĩa quyết định, chủ đạo đối với việc sử dụng đất đai” Thực vậy, phương hướng sử dụng đất được quyết định bởi yêu cầu xã hội

và mục tiêu kinh tế trong từng thời kỳ nhất định Điều kiện tự nhiên của đất đai cho phép xác định khả năng thích ứng về phương thức sử dụng đất

Sử dụng đất liên quan đến lợi ích kinh tế của người sở hữu, sử dụng và kinh doanh đất Tuy nhiên nếu có chính sách ưu đãi sẽ tạo điều kiện cải tạo và hạn chế sử dụng đất theo kiểu bóc lột đất đai Mặt khác, sự quan tâm quá mức đến lợi nhuận tối

đa cũng dẫn đến tình trạng đất đai không những bị sử dụng không hợp lý mà còn bị hủy hoại

Như vậy, các nhân tố điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội tạo ra nhiều tổ hợp ảnh hưởng đến việc sử dụng đất đai Tuy nhiên mỗi yếu tố giữ vị trí và có tác động khác nhau Vì vậy, cần dựa vào yếu tố tự nhiên và kinh tế – xã hội trong lĩnh vực sử dụng đất đai để từ đó tìm ra những nhân tố thuận lợi và khó khăn để sử dụng đất đai đạt hiệu quả cao

1.2 Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

1.2.1 Khái niệm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Theo Luật đất đai 2013: Quy hoạch sử dụng đất là việc phân bổ và khoanh vùng đất đai theo không gian sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu trên cơ sở tiềm năng đất đai và nhu cầu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực đối với từng vùng kinh tế - xã hội và đơn vị hành chính trong một khoảng thời gian xác định

Kế hoạch sử dụng đất là việc phân chia quy hoạch sử dụng đất theo thời gian

để thực hiện trong kỳ quy hoạch sử dụng đất

Về mặt bản chất quy hoạch sử dụng đất đai là một hiện tượng kinh tế - xã hội thể hiện đồng thời 3 tính chất: kinh tế, kỹ thuật và pháp chế Trong đó:

- Tính kinh tế: Thể hiện bằng hiệu quả sử dụng đất đai;

- Tính kỹ thuật: Bao gồm các tác nghiệp chuyên môn kỹ thuật như điều tra, khảo sát, xây dựng bản đồ, khoanh định, xử lý số liệu v.v.;

Trang 23

- Tính pháp chế: Xác lập tính pháp lý về mục đích và quyền sử dụng đất theo quy hoạch nhằm đảm bảo sử dụng và quản lý đất đai đúng pháp luật Quy hoạch và

kế hoạch sử dụng đất đai là một trong 15 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai

Công tác quy hoạch sử dụng đất đai cần phải nắm vững hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật, pháp chế của Nhà nước và tổ chức quản lý sử dụng đất đai một cách đầy đủ, hợp lý, khoa học, có hiệu quả cao thông qua việc phân bổ quỹ đất đai và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất Theo đó, quy hoạch sử dụng đất đảm bảo các mục tiêu sau:

- Tính đầy đủ: Mọi loại đất đều phải được đưa vào sử dụng theo các mục đích nhất định;

- Tính hợp lý: Việc sử dụng đất phải phù hợp với yêu cầu, đặc điểm tính chất

tự nhiên, vị trí, diện tích theo mục đích sử dụng;

- Tính khoa học: Áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến;

- Tính hiệu quả: Phải đáp ứng được cả 3 lợi ích kinh tế - xã hội - môi trường Như vậy, về thực chất quy hoạch sử dụng đất đai là quá trình hình thành các quyết định nhằm tạo điều kiện đưa đất đai vào sử dụng bền vững để mang lại lợi ích cao nhất, thực hiện đồng thời 2 chức năng: Điều chỉnh các mối quan hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất đặc biệt với mục đích nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội kết hợp bảo vệ đất và môi trường

1.2.2 Đặc điểm quy hoạch sử dụng đất

QHSDĐ là quy hoạch mang tính chiến lược, các chỉ tiêu quy hoạch mang tính chỉ đạo vĩ mô, tính phương hướng và khái lược sử dụng đất của các ngành Quy hoạch sử dụng đất thuộc loại có quy hoạch có tính lịch sử - xã hội, tính khống chế

vĩ mô, tính chỉ đạo, tính tổng hợp, tính trung và dài hạn, là bộ phận hợp thành quan trọng của hệ thống kế hoạch phát triển xã hội và kinh tế quốc dân Các đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất được thể hiện như sau:

Tính lịch sử - xã hội: Lịch sử phát triển của xã hội chính là lịch sử phát triển của quy hoạch sử dụng đất Mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều có một phương thức sản xuất của xã hội thể hiện theo hai mặt: lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

Trang 24

Trong quy hoạch sử dụng đất đai luôn nảy sinh quan hệ giữa người với lực lượng sản xuất, vừa là yếu tố thúc đẩy các mối quan hệ xã hội, vì vậy nó luôn là một bộ phận của phương thức sản xuất xã hội

Tính tổng hợp: Tính tổng hợp của quy hoạch sử dụng đất biểu hiện chủ yếu ở hai mặt: đối tượng của quy hoạch là khai thác, sử dụng, cải tạo, bảo vệ… toàn bộ tài nguyên đất đai cho nhu cầu của toàn bộ nền kinh tế quốc dân QHSDĐ đề cập đến nhiều lĩnh vực khoa học, kinh tế, xã hội như: khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, dân số và đất đai, sản xuất công, nông nghiệp, môi trường sinh thái…

Tính dài hạn: Căn cứ vào các dự báo xu thế biến động dài hạn của những yếu

tố kinh tế xã hội quan trọng như: sự thay đổi về nhân khẩu, tiến độ kỹ thuật, đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa công nghiệp…, từ đó xác định quy hoạch trung

và dài hạn về sử dụng đất đai, đề ra các phương hướng, chính sách và biện pháp có tính chiến lược, tạo căn cứ khoa học cho việc xây dựng kế hoạch sử dụng đất hàng năm và ngắn hạn

Tính chiến lược và chỉ đạo vĩ mô: Với đặc tính trung và dài hạn, quy hoạch

sử dụng đất chỉ dự kiến được các xu thế thay đổi phương hướng, mục tiêu, cơ cấu

và phân bố sử dụng đất Vì vậy, quy hoạch sử dụng đất là quy hoạch mang tính chiến lược, các chỉ tiêu của quy hoạch mang tính chỉ đạo vĩ mô, tính phương hướng

và khái lược về sử dụng đất của các ngành Do khoảng thời gian dự báo tương đối dài, ảnh hưởng của nhiều nhân tố kinh tế - xã hội khó xác định nên chỉ tiêu quy hoạch càng khái lược hóa, quy hoạch sẽ càng ổn định

Tính chính sách: Quy hoạch sử dụng đất đai thể hiện rất mạnh đặc tính chính trị và tính chính sách xã hội Khi xây dựng phương án phải quán triệt các chính sách

và quy định có liên quan đến đất đai của Đảng và Nhà nước, đảm bảo thực hiện cụ thể trên mặt bằng đất đai các mục tiêu phát triển nền kinh tế quốc dân, phát triển ổn định kế hoạch kính tế, xã hội

Tính khả biến: Dưới tác động của nhiều nhân tố khó dự đoán trước, theo nhiều phương diện khác nhau, quy hoạch sử dụng đất đai chỉ là một trong những giải pháp biến đổi hiện trạng sử dụng đất đai sang trạng thái mới thích hợp hơn cho

Trang 25

việc phát triển kinh tế trong một thời kỳ nhất định Việc chỉnh sửa bổ sung, hoàn thiện quy hoạch và điều chỉnh các biện pháp thực hiện là điều cần thiết Điều này thể hiện tính khả biến của quy hoạch Quy hoạch sử dụng đất đai luôn là quy hoạch động, một quá trình lặp lại theo chiều xoắn ốc: “Quy hoạch – thực hiện – quy hoạch lại hoặc chỉnh lý – tiếp tục thực hiên ” với chất lượng, mức độ hoàn thiện và tính phù hợp ngày càng cao

1.2.3 Nguyên tắc lập quy hoạch sử dụng đất

Theo Luật Đất đai 2003, tại Điều 21 bao gồm những nguyên tắc sau:

- Phù hợp với chiến lược, quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh;

- Được lập từ tổng thể đến chi tiết; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp dưới phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp trên; kế hoạch sử dụng đất phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, xét duyệt;

- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp trên phải thể hiện nhu cầu sử dụng đất của cấp dưới;

- Sử dụng đất tiết kiệm và có hiệu quả;

- Khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường;

- Bảo vệ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh;

- Dân chủ và công khai;

- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của mỗi kỳ phải được quyết định, xét duyệt trong năm cuối của kỳ trước đó

Theo Luật Đất đai 2013, tại Điều 35 bao gồm những nguyên tắc sau:

- Phù hợp với chiến lược, quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh

- Được lập từ tổng thể đến chi tiết; quy hoạch sử dụng đất của cấp dưới phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của cấp trên; kế hoạch sử dụng đất phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt

Trang 26

- Quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia phải bảo đảm tính đặc thù, liên kết của các vùng kinh tế - xã hội; quy hoạch sử dụng đất cấp huyện phải thể hiện nội dung

sử dụng đất của cấp xã

- Sử dụng đất tiết kiệm và có hiệu quả

- Khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường; thích ứng với biến đổi khí hậu

- Bảo vệ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh

- Dân chủ và công khai

- Bảo đảm ưu tiên quỹ đất cho mục đích quốc phòng, an ninh, phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng, an ninh lương thực và bảo vệ môi trường

- Quy hoạch, kế hoạch của ngành, lĩnh vực, địa phương có sử dụng đất phải bảo đảm phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt

1.2.4 Các loại hình quy hoạch sử dụng đất

Có nhiều quan điểm khác nhau về cách phân loại quy hoạch sử dụng đất đai Tuy nhiên, mọi quan điểm đều dựa trên những căn cứ hoặc cơ sở chung như: nhiệm

vụ đặt ra đối với quy hoạch, số lượng và thành phần đối tượng nằm trong quy hoạch, phạm vi lãnh thổ quy hoạch (cấp vị lãnh thổ hành chính) v.v Thông thường hệ thống quy hoạch sử dụng đất đai được phân loại theo nhiều cấp vị khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ cụ thể về sử dụng đất đai từ tổng thể đến chi tiết Có hai loại hình quy hoạch chính, đó là:

- Quy hoạch sử dụng đất theo ngành, như: quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp; quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp, quy hoạch sử dụng đất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp; quy hoạch sử dụng đất giao thông, thủy lợi v.v

Đối tượng của quy hoạch sử dụng đất đai theo ngành là diện tích đất đai thuộc quyền sử dụng và diện tích dự kiến cấp thêm cho ngành Quy hoạch sử dụng đất đai giữa các ngành có quan hệ chặt chẽ với quy hoạch sử dụng đất của vùng và

cả nước

Trang 27

- Quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ: Theo Luật Quy hoạch ngày 20/11/2018, tại Điều 06 Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai, sửa đổi Điều

36 Luật đất đai 2013 như sau: Hệ thống quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất bao gồm:

+ Quy hoạch sử dụng đất bao gồm: Quy hoạch sử dụng đất quốc gia; Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện; Quy hoạch sử dụng đất quốc phòng; Quy hoạch sử dụng đất an ninh Đối với cấp tỉnh, phương án phân bổ và khoanh vùng đất đai theo khu chức năng và theo loại đất đến từng đơn vị hành chính cấp huyện là một nội dung của quy hoạch tỉnh

+ Kế hoạch sử dụng đất bao gồm: Kế hoạch sử dụng đất quốc gia; Kế hoạch

sử dụng đất cấp tỉnh; Kế hoạch sử dụng đất cấp huyện; Kế hoạch sử dụng đất quốc phòng; Kế hoạch sử dụng đất an ninh

Đối tượng của quy hoạch sử dụng đất đai theo lãnh thổ là toàn bộ diện tích tự nhiên của lãnh thổ Tuỳ thuộc vào cấp vị lãnh thổ hành chính quy hoạch sử dụng đất đai theo lãnh thổ sẽ có nội dung cụ thể, chi tiết khác nhau và được thực hiện theo nguyên tắc: từ trên xuống, từ dưới lên, từ toàn cục đến bộ phận, từ cái chung đến cái riêng, từ vĩ mô đến vi mô và bước sau chỉnh lý bước trước

Luật Đất đai năm 2013 không quy định cụ thể quy hoạch sử dụng đất theo các ngành (nông nghiệp, lâm nghiệp, khu dân cư nông thôn, đô thị, chuyên dùng) Quy hoạch sử dụng đất của các ngành này đều nằm trong quy hoạch sử dụng đất theo đơn vị hành chính Đối với quy hoạch sử dụng đất vào mục đích quốc phòng,

an ninh được quy định riêng tại Điều 41

Mục đích chung của quy hoạch sử dụng đất theo các cấp lãnh thổ hành chính, đó là: đáp ứng nhu cầu đất đai (tiết kiệm, khoa học, hợp lý và có hiệu quả) cho hiện tại và tương lai để phát triển các ngành kinh tế quốc dân; cụ thể hoá một bước quy hoạch sử dụng đất đai của các ngành và đơn vị hành chính cấp cao hơn; làm căn cứ, cơ sở để các ngành (cùng cấp) và các đơn vị hành chính cấp dưới triển khai quy hoạch sử dụng đất đai của ngành và địa phương mình; làm cơ sở để lập kế hoạch sử dụng đất 5 năm (căn cứ để thu hồi, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục

Trang 28

đích sử dụng đất theo thẩm quyền được quy định trong Luật Đất đai); phục vụ cho công tác thống nhất quản lý Nhà nước về đất đai

1.2.5 Những căn cứ pháp lý của quy hoạch sử dụng đất đai

Đất nước ta đang trong thời kỳ chuyển mình hoà nhập mạnh mẽ với nền kinh

tế thế giới Đặc biệt sau khi chúng ta gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO thì nền kinh tế của chúng ta có sự chuyển biến mạnh với sự đa dạng về các ngành nghề Nhu cầu sử dụng đất của các ngành cũng tăng lên, vì vậy đã gây áp lực đến tài nguyên đất đai Do đó, việc phân bổ sử dụng đất một cách hợp lý cho từng lĩnh vực của các ngành là vấn đề quan tâm Điều này được thể hiện thông qua các văn bản pháp Luật, Nghị định, Thông tư và các văn bản dưới luật tạo cơ sở pháp lý cho quy hoạch sử dụng đất

Để phù hợp với thực tiễn khách quan về tình hình quản lý sử dụng đất hiện tại và tương lai, trong điều kiện nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường hàng hoá nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nước, ngày 01/07/2004 Luật Đất đai

2003 chính thức có hiệu lực, trong đó đã quy định rõ việc lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất Từ Điều điều 21 đến điều 30 quy định rõ về công tác quy hoạch

và kế hoạch sử dụng đất Trong giai đoạn luật Đất đai 2013 thì việc lập quy hoạch

và kế hoạch sử dụng đất được quy định rõ hơn từ Điều 35 đến Điều 51 chương IV

Ngoài các văn bản có hiệu lực pháp lý cao của Nhà nước, còn có các văn bản dưới luật, các văn bản của ngành, trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến vai trò, ý nghĩa, căn cứ, nội dung và phương pháp lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất như:

- Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 05 năm 2014 của Chính phủ quy định thi hành chi tiết một số điều của Luật Đất đai

- Nghị định số 35/2015/NĐ-CP ngày 13 tháng 4 năm 2015 của Chính phủ về quản lý, sử dụng đất trồng lúa

- Thông tư số 04/2006/TT-BTNMT ngày 22/5/2006 của bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn phương pháp tính đơn giá dự toán, xây dựng tự toán kinh phí thực hiện lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Trang 29

- Thông tư số 06/2010/TT-BTNMT ngày 15 tháng 03 năm 2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về định mức kinh tế, kỹ thuật lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

- Thông tư số 28/2014/TT-BTNMT ngày 02 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trườngQuy định về thống kê, kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất

- Thông tư số 29/2014/TT-BTNMT ngày 02 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

1.2.6 Nội dung của quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất

Tại Điều 37, luật Đất đai 2013 quy định Kỳ quy hoạch sử dụng đất là 10 năm; Kỳ kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia, cấp tỉnh và kỳ kế hoạch sử dụng đất quốc phòng, đất an ninh là 05 năm Kế hoạch sử dụng đất cấp huyện được lập hàng năm Nội dung của quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất các cấp được quy định từ Điều 38 đến Điều 42 của Luật Đất đai 2013

1.2.7 Mối quan hệ giữa QHSDĐ và các loại hình quy hoạch khác

Quan hệ giữa QHSDĐ với Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội

Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội là tài liệu mang tính chiến lược được luận chứng bằng nhiều phương án về phát triển kinh tế – xã hội và phân bố lực lượng sản xuất theo không gian, có tính đến chuyên môn hoá và phát triển tổng hợp sản xuất của các vùng và các đơn vị lãnh thổ cấp dưới

Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội là một trong những tài liệu tiền kế hoạch cung cấp căn cứ khoa học cho việc xây dựng các kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, trong đó đề cập đến dự kiến sử dụng đất ở mức độ phương hướng với một số nhiệm vụ chủ yếu

Trong khi đó đối tượng nghiên cứu của quy hoạch sử dụng đất là tài nguyên đất Nhiệm vụ chủ yếu của nó là căn cứ vào yêu cầu phát triển kinh tế và các điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội mà điều chỉnh cơ cấu và phương hướng

Trang 30

sử dụng đất, xây dựng phương án quy hoạch phân bổ sử dụng đất thống nhất, hợp lý Như vậy, quy hoạch sử dụng đất là quy hoạch tổng hợp chuyên ngành,

cụ thể hoá quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội, nhưng nội dung của

nó phải được điều hoà thống nhất với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế –

xã hội

Quan hệ giữa QHSDĐ với quy hoạch đô thị

Căn cứ vào yêu cầu của kế hoạch dài hạn phát triển kinh tế – xã hội và phát triển đô thị, quy hoạch đô thị sẽ định ra tính chất, quy mô, phương châm xây dựng đô thị, các bộ phận hợp thành của đô thị, sắp xếp một cách hợp lý, toàn diện, đảm bảo cho sự phát triển đô thị một cách hài hoà và có trật tự, tạo điều kiện thuận lợi cho đời sống và sản xuất Tuy nhiên, trong quy hoạch đô thị, cùng với việc bố trí cụ thể từng khoảnh đất dùng cho các dự án sẽ giải quyết cả vấn đề

tổ chức và sắp xếp lại các nội dung xây dựng Quy hoạch sử dụng đất được tiến hành nhằm xác định chiến lược dài hạn về vị trí, quy mô và cơ cấu sử dụng toàn

bộ đất đai cũng như bố cục không gian trong khu vực quy hoạch đô thị

Quy hoạch đô thị và quy hoạch sử dụng đất có mối quan hệ diện và điểm; cục bộ và toàn bộ Sự bố cục, quy mô sử dụng đất, các chỉ tiêu chiếm đất xây dựng trong quy hoạch đô thị sẽ được điều hoà với quy hoạch sử dụng đất Quy hoạch sử dụng đất sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quy hoạch xây dựng và phát triển đô thị

Quan hệ giữa QHSDĐ với quy hoạch các ngành

Quan hệ giữa QSHDĐ với quy hoạch phát triển nông nghiệp

Quy hoạch phát triển nông nghiệp xuất phát từ nhu cầu phát triển kinh tế –

xã hội đối với sản xuất nông nghiệp để xác định hướng đầu tư, biện pháp, bước đi

về nhân lực, vật lực, đảm bảo cho ngành nông nghiệp phát triển đạt được các chỉ tiêu về đất đai, lao động, giá trị sản phẩm, sản phẩm hàng hoá trong một thời gian dài với tốc độ và tỷ lệ nhất định Quy hoạch phát triển nông nghiệp là một trong những căn cứ chủ yếu của quy hoạch sử dụng đất, song quy hoạch phát triển nông nghiệp lại phải tuân thủ theo quy hoạch sử dụng đất, đặc biệt là xác định cơ cấu sử

Trang 31

dụng đất phải đảm bảo được việc chống suy thoái, ô nhiễm đất và bảo vệ môi trường

Quy hoạch sử dụng đất tuy dựa trên quy hoạch và dự báo yêu cầu sử dụng đất của ngành nông nghiệp nhưng lại có tác dụng chỉ đạo vĩ mô, khống chế

và điều hoà quy hoạch phát triển nông nghiệp Hai loại hình quy hoạch này có mối quan hệ qua lại mật thiết nhưng không thể thay thế lẫn nhau

Quan hệ giữa QHSDĐ và quy hoạch các ngành phi nông nghiệp khác (giao thông, thuỷ lợi, y tế, văn hoá, giáo dục )

Quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch phát triển các ngành

là quan hệ tương hỗ vừa phát triển vừa hạn chế lẫn nhau Quy hoạch các ngành

là cơ sở và là bộ phận hợp thành của quy hoạch sử dụng đất nhưng lại chịu sự chỉ đạo và khống chế của quy hoạch sử dụng đất Quan hệ giữa chúng là quan hệ

cá thể và tổng thể, cục bộ và toàn bộ, không có sự sai khác về quy hoạch theo không gian và thời gian ở cùng một khu vực cụ thể Tuy nhiên, chúng có sự khác nhau rất rõ về tư tưởng chỉ đạo và nội dung: Một bên là sự sắp xếp chiến thuật,

cụ thể, cục bộ (quy hoạch ngành), một bên là sự định hướng chiến lược có tính toàn diện và toàn cục (quy hoạch sử dụng đất)

1.2.8 Khung phân tích của đề tài

Sau khi nghiên cứu tổng quan tài liệu: Tổng quan về các chính sách của nhà nước về đất đai, các công trình nghiên cứu có liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng đến quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Tổng quan lý thuyết nghiên cứu: đất đai, sử dụng đất, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất,… đề tài nghiên cứu đã phát triển khung phân tích như sau:

Trang 32

Hình 1.1 Mô hình khung phân tích của đề tài 1.3 Tình hình quy hoạch sử dụng đất trên thế giới và Việt Nam

1.3.1 Tình hình quy hoạch sử dụng đất trên thế giới

Công tác quy hoạch luôn chiếm vị trí quan trọng trong quản lý đất đai cũng như quá trình sản xuất Tùy thuộc vào điều kiện của mình mà mỗi nước có phương pháp quy hoạch sử dụng đất đặc thù khác nhau và quá trình thực hiện cũng khác nhau Trên thế giới, công tác quy hoạch sử dụng đất đã được tiến hành từ nhiều năm

Trang 33

trước đây nên hệ thống quy hoạch của họ tương đối hoàn chỉnh, tạo đà thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế

+ Nhật Bản trong những năm gần đây, tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa,

đô thị tăng nhanh đã đặt ra nhu cầu sử dụng đất ngày một lớn cho tiến trình phát triển kinh tế - xã hội, sự cạnh tranh về mục đích sử dụng đất diễn ra không chỉ ở trong khu vực đô thị mà còn ở hầu hết trên lãnh thổ đất nước “Trong những thập kỷ vừa qua cơ cấu sử dụng đất đã có nhiều thay đổi, bình quân mỗi năm chuyển đổi khoảng 30.000 ha đất sản xuất nông nghiệp sang các mục đích khác…

Giá trị sinh thái, thẩm mỹ của môi trường thường xuyên được nhấn mạnh trong quy hoạch Sự phát triển kinh tế đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ việc sử dụng đất

và các xu hướng của xã hội, giải quyết có hiệu quả mối liên kết trung ương và địa phương trong quản lý môi trường

+ Azizi Bin Haji Muda cho rằng “cơ sở của sự phát triển nông thôn là cải thiện đời sống kinh tế - xã hội của dân cư nông thôn Quá trình phát triển kinh tế (hiện đại hóa nền kinh tế thông qua phát triển công nghiệp) ở Malaysia là nguyên nhân của những thay đổi sử dụng đất; Kết quả là nhiều đất nông thôn màu mỡ được chuyển sang các hoạt động phi nông nghiệp đặc biệt là dành cho các ngành công nghiệp sản xuất, nhà ở và các hoạt động thương mại khác”

+ Quá trình phát triển xã hội Đài Loan trước đây cũng giống với hiện trạng phát triển giai đoạn hiện nay của Việt Nam, tức là xã hội nông nghiệp là chính Những năm 40 trở lại đây, nền kinh tế Đài Loan có tăng trưởng với tốc độ nhanh, giới công thương đã trở thành ngành nghề chủ lực của Đài Loan, cũng là sức mạnh căn bản của đất nước Hơn nữa, nông nghiệp cùng với sự phát triển của kỹ thuật đã phát triển theo hướng thâm canh, chuyên sâu

“Từ kinh nghiệm phát triển Đài Loan có thể thấy sự phát triển nông nghiệp Đài Loan tuy vẫn chiếm vị trí số một, nhưng cống hiến đối với sự phát triển kinh tế vẫn dựa vào sự phát triển của nghề chế tạo Đài Loan đã lấy nghề chế tạo làm chủ lực vì nó có thể sử dụng diện tích đất đai ít nhất nhưng phát huy hiệu quả kinh tế lớn nhất Đối với phát triển nông nghiệp đã tích cực đưa vào kỹ thuật sản xuất tiên

Trang 34

tiến, nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp, giảm bớt diện tích và nhu cầu nhân lực của nông nghiệp, chuyển một bộ phận nhân lực và đất nông nghiệp đưa vào sản xuất trong nghể chế tạo, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, đồng thời tạo cơ hội việc làm, tiến tới nâng cao giá trị và thu nhập quốc dân trong nước”

Thực tiễn của nhiều nước trên thế giới cho thấy quá trình công nghiệp hóa nếu không sớm có quy hoạch toàn diện về đất đai, nếu không biết khai thác sử dụng đất hợp lý thì diện tích đất nông nghiệp bị giảm tại các vùng đồng bằng đất tốt làm mất an ninh lương thực “Qúa trình phát triển công nghiệp của Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Ấn Độ và Trung Quốc trong 10 năm gần đây đã lấy hơn 15 triệu

ha đất nông nghiệp Ở Indonesia mỗi năm có hơn 50 ngàn đất trồng lúa biến mất để nhường chỗ cho xây dựng nhà ở và các khu công nghiệp… Bên cạnh việc giảm diện tích đất canh tác, độ phì nhiêu của đất cũng suy giảm do ô nhiễm chất thải từ công nghiệp hoặc do chế độ canh tác thiếu khoa học gây ra Chẳng hạn ở Mỹ, do những nguyên nhân này gây ra đã làm cho 20 triệu ha đất không còn sử dụng được…”

Hầu hết các nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển và đang phát triển, quy hoạch sử dụng đất đai mang tính chất đặc thù riêng, mỗi một loại hình quy hoạch ở các nước đều có những quy định về nội dung, phương pháp tiến hành phân ra các cấp, kiểu quy hoạch, song hai loại hình quy hoạch này dù ở đâu trên thế giới thì cũng có những mối quan hệ nhất định Trên cơ sở quy hoạch không gian người ta tiến hành phân vùng sử dụng đất sau đó tiến hành quy hoạch chi tiết cho từng khu vực Quy hoạch chi tiết phát triển từng vùng thông thường được đấu thầu cho các cơ quan phát triển bất động sản tư nhân Tuy nhiên, mỗi phương án quy hoạch chi tiết đều phải tuân thủ chặt chẽ các quy định về xây dựng và môi trường; các phương án quy hoạch chi tiết phải được công bố công khai và trưng cầu ý kiến của cộng đồng dân cư nơi có quy hoạch ít nhất là ba tháng trước khi phê duyệt và triển khai

Malaysia và Indonesia có quy định quy hoạch tương đối giống nhau và giống Liên bang Úc Tuy nhiên, Malaysia đang có định hướng và đã tiến hành với Chính phủ Trung ương tách khu hành chính (Thủ đô hành chính) ra khỏi khu đô thị cũ,

Trang 35

khu dân cư và khu thương mại Đây là phương án quy hoạch khá mới, một cách tiếp cận và tư duy hoàn toàn đổi mới

Các nước thuộc Liên Xô (cũ) có bước đi tương tự nhau, trước hết là lập sơ

đồ tổng thể phát triển lực lượng sản xuất sau đó tiến hành quy hoạch chi tiết các ngành, trên cơ sở nhu cầu sử dụng đất của các ngành để tiến hành quy hoạch sử dụng đất đai Tuy nhiên, việc phân bố các khu chức năng để bảo đảm phát triển bền vững và bảo vệ môi trường luôn luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu Một nguyên tắc cơ bản của các nước này là bảo vệ nghiêm ngặt đất sản xuất, đặc biệt là đất canh tác Tại các nước này, quy hoạch tổng thể phát triển lực lượng sản xuất do

Ủy ban kế hoạch Nhà nước (tương đương Bộ kế hoạch và đầu tư của Việt Nam) đảm trách; quy hoạch đô thị do ngành xây dựng, quy hoạch sử đụng đất đai do cơ quan quản lý đất đai thực thi

Nói tóm lại bước đi, cách làm và tổ chức bộ máy tiến hành của các nước có khác nhau nhưng tất cả đều có nguyên tắc chung là sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai, bảo vệ được tài nguyên rừng hiện có, duy trì và bảo vệ các khu phố cổ, bảo đảm phát triển bền vững và bảo vệ môi trường sống cho hiện tại và thế hệ mai sau Hệ thống Luật đất đai ở những nước phát triển tương đối hoàn thiện nên công tác xây dựng và thực hiện quy hoạch sử dụng đất được triển khai tốt, sử dụng đất đảm bảo hiệu quả 3 mặt: Kinh tế, xã hội, môi trường Bên cạnh đó, những nước kém phát triển, do thiếu kinh phí, thiếu cán bộ có trình độ cao nên hệ thống Luật đất đai không đồng bộ, hệ thống quy hoạch sử dụng đất có hiệu quả không cao, ảnh hưởng đến sự phát triển của đất nước

1.3.2 Tình hình quy hoạch đất đai ở Việt Nam qua các thời kỳ

Quá trình thực hiện công tác quy hoạch sử dụng đất ở nước ta có thể phân theo các giai đoạn như sau:

Thời kỳ 1930 – 1960

Ở giai đoạn 1930 – 1945, quy hoạch sử dụng đất được tiến hành ở một số đô thị, các khu mỏ khai thác tài nguyên khoáng sản, một số vùng đồn điền cao su, cà phê… theo yêu cầu về nội dung và phương pháp của người Pháp Từ năm 1946 đến

Trang 36

1954 là thời kỳ toàn quốc kháng chiến kiến quốc, thực hiện triệt để khẩu hiệu

“người cày có ruộng” (Hội nghị Trung ương lần thứ 5 tháng 11 năm 1953) Đảng ta

đã thông qua Cương lĩnh ruộng đất; sau đó Quốc hội thông qua Luật cải cách ruộng đất ngày 04 tháng 12 năm 1953

Thời kỳ 1960 – 1975

Đến cuối năm 1960 khi chuẩn bị xây dựng và công bố kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 – 1965) cả nước đang bước vào thời kỳ hừng hực khí thế xây dựng đất nước mà trước hết là phải đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, sử dụng tốt quỹ đất đai Chính vì vậy mà công tác phân vùng quy hoạch nông nghiệp, lâm nghiệp, đã được đặt ra ngay từ những năm 1960 này Do đó có thể nói “Quy hoạch sử dụng đất đai cũng đồng thời được đặt ra” Các Bộ, ngành chủ quản, các tỉnh, huyện đã có những điều chỉnh về sử đụng đất cho các mục đích giao thông, thủy lợi, xây dựng kho tàng, trại chăn nuôi, bến bãi, nhà xưởng… mang tính chất bố trí sắp xếp lại việc

sử dụng đất cũng chỉ mới được đề cập như một phần nội dung lồng ghép vào các phương án phân vùng nông nghiệp, lâm nghiệp, các phương án sản xuất hay công trình xây dựng cụ thể nào đó cho những mục đích đơn lẻ”

Thời kỳ 1975 – 1980

Thời kỳ này Chính phủ đã lập quy hoạch trong cả nước, kết quả đạt được là cuối năm 1980 đã xây dựng xong các phương án quy hoạch phân vùng nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp chế biến nông sản của cả nước, trong đó coi quy hoạch đất nông nghiệp, lâm nghiệp là luận chứng quan trọng để phát triển Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất trong quy hoạch đất đai thời kỳ này là số hiệu điều tra cơ bản về thống kê đất đai, về thổ nhưỡng, điều kiện tự nhiên chưa đầy đủ Tính khả thi chưa cao vì chưa tính đến khả năng về đầu tư

Thời kỳ 1981 – 1986

Để thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (1982) “Xúc tiến công tác điều tra cơ bản lập tổng sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng, nghiên cứu chiến lược kinh tế, xã hội dự thảo kế hoạch triển vọng, kế hoạch cho 5 năm sau (1986 – 1990)” Chủ tịch hội đồng Bộ trưởng đã yêu cầu các ngành, các địa

Trang 37

phương, các cơ quan khoa học tập trung chỉ đạo chương trình lập tổng sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất ở nước ta trong thời kỳ 1986 – 2000 (lập quy hoạch, kế hoạch sản xuất vùng trọng điểm, khu công nghiệp, du lịch, xây dựng thành phố)

Như vậy, đây là thời kỳ có tính bước ngoặt về bố trí sắp xếp lại đất đai mà thực chất là quy hoạch sử dụng đất đai Điều này được phản ánh ở chỗ nội dung chủ yếu của Tổng sơ đồ tập trung vào quy hoạch vùng chuyên môn hóa và các vùng sản xuất trọng điểm của lĩnh vực nông nghiệp, các vùng trọng điểm của lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, giao thông, thủy lợi, cơ sở hạ tầng và đô thị

Thời kỳ từ năm 1987 đến năm 1993

Ngày 29/12/1987 Quốc hội khoá VIII thông qua Luật Đất đai và Chủ tịch Hội đồng Nhà nước công bố ngày 08/11/1988 Đây là Luật đất đai đầu tiên được ban hành và dành một số điều cho quy hoạch như xác định vai trò, vị trí của công tác quy hoạch và quản lý sử dụng đất trong nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên Luật đất đai 1988 chưa nêu ra nội dung của quy hoạch sử dụng đất đai

Ngày 15/4/1991 Tổng cục Quản lý ruộng đất (nay là Bộ Tài nguyên Môi trường) ban hành Thông tư số 106/QH-KHKĐ xây dựng quy hoạch sử dụng đất đai tương đối cụ thể và hoàn chỉnh ở các cấp, hướng dẫn về quy hoạch phân bổ đất đai chủ yếu đối với cấp xã

Ngày 18/2/1992 Tổng cục Quản lý ruộng đất đã kịp thời hoàn thành tài liệu hướng dẫn lập quy hoạch phân bổ đất đai cấp xã Do đó công tác quy hoạch sử dụng đất đai được đẩy mạnh một bước, đặc biệt là công tác quy hoạch sử dụng đất cấp xã được thực hiện

Thời kỳ từ 1993 đến năm 2003

Giai đoạn này nước ta đang chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Ngày 15/10/1993 Luật đất đai sửa đổi được công bố và có hiệu lực Trong luật này, các điều khoản nói về quy hoạch đã được cụ thể hoá hơn so với Luật đất

Trang 38

đai 1988 Luật đất đai 1993 quy định nhiều hơn quyền hạn của cơ quan quyền lực Nhà nước trong việc quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất

Sự cần thiết phải lập quy hoạch sử dụng đất: Trong Luật đất đai 1993 quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý” (Điều 1), xác định một trong những nội dung quản lý Nhà nước về đất đai là “Quy hoạch và

kế hoạch hóa việc sử dụng đất” (Điều 13), căn cứ để quyết định giao đất, cho thuê đất: “Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt” (Điều 19); “Đẩy mạnh công tác quy hoạch sử dụng đất các cấp trong cả nước…” (Nghị quyết số 01/1997/QH9 Quốc hội khóa 9, kỳ họp thứ 11 thông qua KHSDĐ cả nước trong thời hạn 5 năm từ 1996 đến 2000)

và Môi trường ban hành các Thông tư số 30/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 về việc hướng dẫn, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, Thông

tư số 28/2004/TT–BTNMT ngày 01/11/2004 về việc hướng dẫn thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất

Như vậy, các quy định của pháp luật hiện hành đã tạo ra hành lang pháp lý tương đối hoàn chỉnh cho việc triển khai công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Tổng hợp các văn bản quy phạm pháp luật đất đai đến thời điểm này cho thấy những vấn đề liên quan đến quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được quy định khá đầy đủ, cụ thể và rõ ràng

Điều 24 quy định: Kỳ quy hoạch sử dụng đất của cả nước, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, xã, phường, thị

Trang 39

trấn là 10 năm Kỳ kế hoạch sử dụng đất của cả nước, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, xã, phường, thị trấn là 5 năm

Nhằm đảm bảo phù hợp với việc quản lý đất đai tại đô thị và tính thống nhất trong

sử dụng đất phát triển đô thị, Luật Đất đai 2003 quy định phường, thị trấn, các xã thuộc khu vực quy hoạch phát triển đô thị không phải lập quy hoạch sử dụng đất mà việc này do

Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thực hiện

Nhằm nâng cao tính khả thi của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, làm cơ sở cho việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, Luật Đất đai 2003 quy định: Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của xã, phường, thị trấn được lập chi tiết gắn với thửa đất thể hiện trên bản đồ địa chính và phải lấy ý kiến đóng góp của nhân dân

Quy định về việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất: diện tích đất ghi trong kế hoạch sử dụng đất đã được công bố phải thu hồi để thực hiện dự án, công trình hoặc phải chuyển mục đích sử dụng đất mà sau 3 năm không được thực hiện theo kế hoạch thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt kế hoạch sử dụng đất phải điều chỉnh hoặc huỷ bỏ và công bố Quy định như vậy để tránh tình trạng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất "treo" như hiện nay

Từ khi có Luật đất đai 2013 đến nay

Luật đất đai 2013 có hiệu lực từ ngày 01/7/2014 Trong đó quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được quy định tại Chương 4 Để thực hiện Luật đất đai 2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 43/NĐ-CP ngày 15 tháng 05 năm 2014 hướng dẫn thi hành luật, trong đó Chương III Điều 7 ghi cụ thể nội dung lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Điều 36 Luật đất đai 2013 quy định: Hệ thống quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất gồm có 5 cấp: Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia; Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh; Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện; Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng; Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất an ninh

Trang 40

Điều 37 quy định: Kỳ quy hoạch sử dụng đất là 10 năm Kỳ kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia, cấp tỉnh và kỳ kế hoạch sử dụng đất quốc phòng, đất an ninh

là 05 năm Kế hoạch sử dụng đất cấp huyện được lập hàng năm

Trong Luật đất đai 2013, thể hiện rất rõ sự đổi mới, nâng cao tính liên kết, đồng bộ giữa quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất với quy hoạch xây dựng, quy hoạch ngành, lĩnh vực khác có sử dụng đất theo hướng quy hoạch sử dụng đất phải tổng hợp, cân đối, phân bổ hợp lý, sử dụng hiệu quả đất đai cho các ngành, lĩnh vực, vùng lãnh thổ và đơn vị hành chính Quy hoạch xây dựng và quy hoạch ngành, lĩnh vực có sử dụng đất phải phù hợp với các chỉ tiêu, tiến độ sử dụng đất được phân bổ trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã tạo ra cơ sở pháp lý quan trọng trong thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền

sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Bước đầu, tình trạng giao đất, cho thuê đất tràn lan, không đưa vào sử dụng, lãng phí đã được khắc phục; hạn chế được việc giao đất, cho thuê đất cho các chủ đầu tư không có năng lực, tránh được lãng phí trong việc sử dụng đất Tại các địa phương, việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cũng đã có chuyển biến rõ rệt, hạn chế tối đa việc thu hồi đất “tùy tiện” làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người sử dụng đất Chính sách thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã bảo đảm tốt hơn quyền lợi cho người có đất thu hồi Chính sách tài chính về đất đai được hoàn thiện đã góp phần tạo nguồn thu đáng kể cho ngân sách Những quy định đổi mới về giá đất đã tạo sự chuyển biến tích cực trong quản lý nhà nước về đất đai bằng biện pháp kinh tế

Theo Luật Quy hoạch (Sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 Luật có liên quan đến Quy hoạch) ngày 20/11/2018, tại Điều 06 Sửa đổi một số điều của Luật Đất đai, sửa đổi Điều 36 Luật đất đai 2013 như sau: Hệ thống quy hoạch, kế hoạch

sử dụng đất bao gồm:

+ Quy hoạch sử dụng đất bao gồm: Quy hoạch sử dụng đất quốc gia; Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện; Quy hoạch sử dụng đất quốc phòng; Quy hoạch sử dụng đất an ninh Đối với cấp tỉnh, phương án phân bổ và khoanh vùng đất đai theo

Ngày đăng: 22/09/2021, 00:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đinh Bùi Hải Sơn, 2012. Đánh giá công tác quy hoạch sử dụng đất huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2007 – 2011. Luận văn thạc sĩ. Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá công tác quy hoạch sử dụng đất huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2007 – 2011
3. Đoàn Công Quỳ, 2001. Đánh giá đất đai phục vụ quy hoạch sử dụng đất nông- lâm nghiệp huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Luận án Tiến sỹ khoa học nông nghiệp. Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá đất đai phục vụ quy hoạch sử dụng đất nông- lâm nghiệp huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
4. Hội Khoa học đất Việt Nam, 2000. Đất Việt Nam. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, 412 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất Việt Nam
5. Lê Cảnh Định, 2004. Tích hợp phần mềm ALES và GIS trong đánh giá đất đai. Luận văn cao học trường ĐH Bách khoa TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tích hợp phần mềm ALES và GIS trong đánh giá đất đai
6. Lê Cảnh Định, 2011. Tích hợp GIS và phân tích quyết định nhóm đa tiêu chuẩn trong đánh giá thích nghi đất đai, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, trang 82 - 89, 9/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tích hợp GIS và phân tích quyết định nhóm đa tiêu chuẩn trong đánh giá thích nghi đất đai
7. Lê Quang Trí, 2006. Bài giảng Quy hoạch sử dụng đất, trường Đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Quy hoạch sử dụng đất
8. Lê Văn Sáng, 2019. Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện kế hoạch sử dụng đất hàng năm trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Luận văn Thạc sĩ quản lý đất đai. Trường Đại học Nông Lâm TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện kế hoạch sử dụng đất hàng năm trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
10. Lương Văn Hinh, Nguyễn Ngọc Nông và Nguyễn Đình Thi, 2003. Giáo trình Quy hoạch sử dụng đất đai, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quy hoạch sử dụng đất đai
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
12. Nguyễn Đắc Nhẫn, 2014. Tổng quan và những điểm mới về Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong Luật Đất đai năm 2013, Báo cáo giới thiệu Luật Đất đai năm 2013, Tổng cục Quản lý đất đai, Hà Nội, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan và những điểm mới về Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong Luật Đất đai năm 2013
13. Nguyễn Đình Bồng, 2006. Một số vấn đề về quy hoạch sử dụng đất ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, Tài nguyên và Môi trường, số 9, tháng 9, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về quy hoạch sử dụng đất ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
14. Nguyễn Đình Bồng, 2007. Quy hoạch sử dụng đất ở nước ta trong giai đoạn hiện nay - thực trạng và giải pháp. Báo cáo tại hội thảo về Quy hoạch sử dụng đất do Hội Khoa học đất và Viện nghiên cứu địa chính - Bộ Tài nguyên và Môi trường 2007. Viện Nghiên Cứu Địa chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch sử dụng đất ở nước ta trong giai đoạn hiện nay - thực trạng và giải pháp
15. Nguyễn Đức Minh, 1994. Quy hoạch đất đai - Cơ sở khoa học để Nhà nước thồng nhất quản lý đất đai, Báo cáo tổng kết nghiên cứu khoa học và công nghệ, Viện Điều tra Quy hoạch đất đai, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch đất đai - Cơ sở khoa học để Nhà nước thồng nhất quản lý đất đai
16. Nguyễn Hồng Nhung, 2017. Đánh giá công tác thực hiện quy hoạch sử dụng đất huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái giai đoạn 2011 – 2015 và định hướng phương án quy hoạch đến 2020. Luận văn thạc sĩ. Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá công tác thực hiện quy hoạch sử dụng đất huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái giai đoạn 2011 – 2015 và định hướng phương án quy hoạch đến 2020
18. Nguyễn Mười, Trần Văn Chính, Đỗ Nguyên Hải, Hoàng Văn Mùa, Phạm Thanh Nga, Đào Châu Thu, 2000. Giáo trình Thổ nhưỡng học, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Thổ nhưỡng học
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
19. Nguyễn Quang Học, 2006. Nâng cao hiệu quả quy hoạch sử dụng đất, Tạp chí Tài nguyên và Môi trường, số 11 (37), tháng 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả quy hoạch sử dụng đất
20. Nguyễn Trung Quyết, 2007. Bài giảng tóm tắt Quy hoạch sử dụng đất, Trường ĐH Nông Lâm TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng tóm tắt Quy hoạch sử dụng đất
21. Nguyễn Văn Trường, 2011. Đánh giá kết quả thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Luận văn thạc sĩ. Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kết quả thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai
22. Nguyễn Vĩnh Khang, 2013. Nghiên cứu đổi mới nội dung, phương pháp lập quy hoạch sử dụng đất trong nền kinh tế thị trường phù hợp với Luật đất đai sửa đổi ở Việt Nam, Báo cáo kết quả đề tài nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, Viện nghiên cứu quản lý đất đai, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đổi mới nội dung, phương pháp lập quy hoạch sử dụng đất trong nền kinh tế thị trường phù hợp với Luật đất đai sửa đổi ở Việt Nam
23. Nguyễn Xuân Quát, 1996. Sử dụng đất tổng hợp và bền vững. NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng đất tổng hợp và bền vững
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
25. Phan Văn Tự, 2008. Bài giảng Quy hoạch sử dụng đất đai, Trường ĐH Nông Lâm TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Quy hoạch sử dụng đất đa

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm