2.NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT CỦA TƯ TƯỞNG DÂN BẢN PHƯƠNG ĐÔNG VÀ TƯ TƯỞNG DÂN CHỦ PHƯƠNG TÂY. 2.1.Những điểm tương đồng của tư tưởng dân bản phương Đông và tư tưởng dân chủ Phương Tây Một cách rất rõ ràng, dù là tư tưởng dân bản ở phương Đông hay tư tưởng dân chủ ở phương Tây thì cả hai hệ tư tưởng này đều đề cao về con người. Cả hai tư tưởng đều cho rằng, con người, hay nhân dân mới là chủ đạo trong việc trị quốc bình thiên hạ. Dân bản xem con người làm gốc thì dân chủ cũng xem nhân dân là chủ của một quốc gia. Trong tư tưởng dân bản của phương Đông, nhà cầm quyền cần xác định rõ: để trị dân thì phải trị nhân, tức là, muốn dân tin, muốn dân đồng lòng thì cần phải xem dân là tất cả. Tư tưởng dân bản đề cao về sức mạnh của nhân dân trong việc tồn vong sinh bại của một quốc gia. Nhà cầm quyền là thuyền, dân là nước, nước có thể đẩy thuyền thì cũng có thể lật thuyền. Dân đồng lòng, thuận tâm thì thế nước mạnh, dân bất đồng, không tin tưởng nhà nước, chống lại nhà nước thì thế nước tất bại vong. Như vậy, dân là gốc nước, là nền tảng cho mọi học thuyết, lý thuyết, các quyết định về kinh tế, chính trị và xã hội của một quốc gia. Nói tóm lại, tư tưởng dân bản cho rằng phải luôn quan tâm đến nhân dân. Trong lịch sử đã cho thấy, các triều đại nào trọng dân, quan tâm dân, được dân tin, được dân đồng lòng và ủng hộ thì mới có thể xây dựng chính quyền vững mạnh, công cuộc dựng nước và giữ nước mới bền lâu. Còn triều đại nào không quan tâm đến dân, cai trị hà khắc, không được dân tin, không được dân ủng hộ thì triều đại đó sẽ đoản hậu, kém bền, không tồn tại và phát triển được lâu. Cũng tương đồng với quan điểm dân bản của Phương Đông, tư tưởng dân chủ của phương Tây cho rằng quyền lợi của mọi người dân là ngang bằng nhau, quốc gia, đất nước cũng phải đặt quyền lợi của nhân dân lên làm đầu. Nhân dân sống ở các quốc gia Phương Tây có các quyền làm chủ cơ bản: quyền tự do ngôn luận và báo chí, tự do tập thể và tự do bầu cử và ứng cử. Trong tư tưởng dân chủ của phương Tây, rõ ràng lợi ích của nhân dân cũng được đề cao, các hành động, quyết định, các lý thuyết, học thuyết kinh tế chính trị, các chính sách đều phải đến từ nhân dân và phục vụ cho lợi ích của nhân dân. Sự tương đồng của hệ tư tưởng dân chủ phương Tây với tư tưởng dân bản phương Đônng còn thể hiện qua việc các quốc gia phương Tây với hệ tư tưởng dân chủ luôn cố gắng bảo vệ quyền con người của mọi công dân và hệ thống pháp quyền dân chủ cho rằng, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không có bất kì ai được đứng trên luật pháp. Điều đó cũng thể hiện rất rõ, pháp luật sinh ra là để bảo vệ người dân và quyền lợi, lợi ích chính đáng của họ, pháp luật và nhà cầm quyền sẽ phải đề cao và tôn trọng nhân dân, xem nhân dân là yều tố cốt lõi và không xâm phạm đến các quyền và lợi ích đó của nhân dân.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM
CHUYÊN NGÀNH THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
BỘ MÔN TRIẾT HỌC
TIỂU LUẬN BÙI THÁI THANH DANH - 201107019
ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN
TƯ TƯỞNG DÂN BẢN PHƯƠNG ĐÔNG VÀ TƯ TƯỞNG DÂN CHỦ PHƯƠNG TÂY
NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT
GVHD: TS BÙI XUÂN THANH
TP Hồ Chí Minh – Năm 2020
Trang 2Lời mở đầu
Triết học phương Đông và phương Tây nói riêng, hay triết học nói chung đều bắt đầu hình thành từ rất sớm Triết học có thể được xem là một ngành khoa học cổ đại nhất, rộng lớn nhất, hình thành sớm nhất và bao hàm toàn bộ các ngành khoa học khác
Trong triết học, qua nhiều thời đại lịch sử hàng ngàn vạn năm, đã có vô số những nhà tư tưởng vô cùng nổi tiếng, cùng với những tư tưởng vượt thời gian, là kim chỉ nam cho sự tồn tại và phát triển của tư tưởng và chính trị của các quốc gia Những tư tưởng của những nhà triết học ấy ở những khu vực khác nhau, thời đại khác nhau cũng khác nhau, dần dần qua thời gian đã hình thành nên những hệ tư tưởng khác nhau ở từng khu vực địa lý, mà cụ thể ở trong bài tiểu luận này, ta sẽ xem xét và phân tích dưới hai khu vực địa lý phổ biến đối lập nhất, là phương Đông và Phương Tây Ta sẽ xem xét đến cùng để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa hệ hai tư tưởng: Tư tưởng dân bản phương Đông và tư tưởng dân chủ phương Tây.
Trang 3Mục lục
1 CÁC KHÁI NIỆM VỀ TƯ TƯỞNG DÂN BẢN VÀ TƯ TƯỞNG DÂN CHỦ 1
1.1 Dân bản và tư tưởng dân bản Phương Đông 1 1.2 Dân chủ và tư tưởng dân chủ phương Tây 3
2 NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT CỦA TƯ TƯỞNG DÂN BẢN PHƯƠNG ĐÔNG VÀ TƯ TƯỞNG DÂN CHỦ PHƯƠNG TÂY 5
2.1 Những điểm tương đồng của tư tưởng dân bản phương Đông và tư tưởng dân chủ Phương Tây 5 2.2 Những điểm khác biệt trong tư tưởng dân bản phương Đông và tư tưởng dân chủ phương Tây 7
3 KẾT LUẬN 13
Trang 41 CÁC KHÁI NIỆM VỀ TƯ TƯỞNG DÂN BẢN VÀ TƯ TƯỞNG DÂN CHỦ 1.1 Dân bản và tư tưởng dân bản Phương Đông
Dân bản – lấy dân làm gốc – là tư tưởng được thể hiện rõ ràng nhất ở các quốc gia phương Đông, trong đó có cả Việt Nam Khái niệm về tư tưởng dân bản có lẽ bắt nguồn
từ Mạnh Tử - một nhà tư tưởng lớn của Trung Quốc sống vào thời đại Xuân Thu – Chiến Quốc
Mạnh Tử, dưới tác động của thời đại, những tư tưởng tiến bộ của Khổng Tử và các nhà tư tưởng nổi tiếng thời bấy giờ, đã đưa ra một học thuyết đầy tính nhân bản: Học thuyết Nhân Chính Trong học thuyết này, dân bản chính là cốt lõi Tư tưởng dân bản đặt dân làm cốt lõi, mọi hành động, quyết định, pháp luật của nhà cầm quyền đều phải đặt lợi ích của nhân dân làm đầu, không thực hiện các quyết định trái lợi ích của nhân dân, không tổn hại đến quyền lợi của nhân dân Tư tưởng dân bản này qua chuỗi trải dài của lịch sử đã được tiếp thu và phát triển, liên tục được vận dụng vào quá trình trị nước của các nhà cầm quyền ở phương Đông, trong đó có Việt Nam Việt Nam cũng là một quốc gia Phương Đông, xây dựng pháp luật, quyết định và các định chế trên tư tưởng dân bản này, với mục tiêu phương hướng rất rõ ràng: Nhà nước là của dân, do dân và vì dân
Như vậy, về cơ bản, tư tưởng dân bản có nghĩa là xem dân làm gốc nước, là gốc rễ cho mọi quyết định, đặt lợi của dân lên hàng đầu, mọi quyết định, luật pháp, chế tài, hành động đều phải vì lợi ích của nhân dân Tư tưởng dân bản được ra đời từ rất sớm và hiện tại rất phổ biến ở các quốc gia phương Đông, qua chu kỳ dài của lịch sử, tư tưởng này
Trang 5ngày một được ứng dụng tốt hơn, chặt chẽ hơn và hoàn thiện hơn Trong tư tưởng này, nhân dân chính là yếu tố cốt lõi quyết định sự thịnh vượng hay suy tàn của một quốc gia,
vì vậy, thu phục nhân tâm của con người chính là vấn đề quan trọng mà nhà nước hay nhà cầm quyền của các quốc gia phải đặc biệt chú ý
Nói rõ hơn, trong suốt học thuyết Nhân chính của mình, tư tưởng dân bản được Mạnh Tử đề cập rất nhiều lần, coi đó là cốt lõi trong việc trị dân trị quốc Đối với tư tưởng này, Mạnh Tử cho rằng, muốn để dân tin, dân yêu, dân đồng lòng, chính quyền cũng cần phải tin dân, yêu dân, làm việc vì nhân dân Nếu nhà cầm quyền thực hiện việc trị quốc có nhân nghĩa, có đạo đức, đúng pháp luật, thì tạo ra được niềm tin cho dân, mang đến cho dân sự ấm no hạnh phúc, dân tin yêu thì đồng lòng cùng xây dựng nên quốc gia thịnh vượng, phát triển tột bậc Nếu nhà cầm quyền thực hiện việc trị quốc bằng bạo ngược, bạo lực, áp chế, chế phục nhân dân theo tư tưởng của mình, thì sớm muộn nhân dân cũng oán than, phản kháng, và tất nhiên, tất yếu là bạo loạn chiến tranh
Tư tưởng dân bản bắt đầu từ Mạnh Tử, và Mạnh Tử là một nhà tư tưởng của Nho giáo, vì vậy rất rõ ràng rằng, các học thuyết của ông bị ảnh hưởng to lớn từ Nho Giáo và
từ Khổng Tử Tư tưởng dân bản trọng dân, kính dân, xem dân là gốc, nhưng vẫn không thể thoát ra khỏi các quan điểm về dân – vua Tức là, dù yêu dân, kinh dân, tư tưởng dân bản cũng chỉ cho rằng dân là dân, phải phục tùng chế độ cầm quyền mà cụ thể là quan hệ quân – thần vẫn phải cao hơn quyền tự do cá thể Cũng thông qua điều đó, dân sẽ không trở thành vua, và vua, cũng không bao giờ mất đi quyền làm chủ, quyền thống trị tối cao đất nước của mình
Trang 61.2 Dân chủ và tư tưởng dân chủ phương Tây
Dân chủ - dân làm chủ - là tư tưởng được thể hiện rất rõ ở các quốc gia Phương Tây Với tư tưởng dân làm chủ này, khi tổ chức nhà nước của nhà cầm quyền, quyền lực phải hoàn toàn thuộc về nhân dân Đối với hệ tư tưởng này, nhân dân là người tạo nên nhà nước, chứ không phải là nhà nước tạo ra nhân dân
Khái niệm dân chủ được nhắc đến bởi rất nhiều tài liệu trên khắp thế giới, không thể thực sự nhận biết được rằng dân chủ bắt nguồn từ đâu, từ thời điểm nào, nhưng cụ thể nhất, rõ ràng nhất, là khi kết thúc chế độ phong kiến và quân chủ ở các quốc gia
Trong hầu hết các quan điểm về tư tưởng dân chủ ở các quốc gia, cả phương Đông lẫn phương Tây, thì khái niệm dân chủ được hiểu trên quyền lợi của nhân dân, nhân dân
là chủ nhân của đất nước, là chủ nhân của nhà nước, đồng thời bộ máy nhà nước, bộ máy cầm quyền phải làm việc để phục vụ cho quyền lợi của nhân dân Ở các quốc gia phương Tây, một đất nước đã có nền dân chủ hoá phải đảm bảo cho ngân dân có ba quyền cơ bản: Nhân dân phải có các quyền làm chủ, bao gồm quyền tự do ngôn luận và báo chí, quyền
tự do lập hội, quyền tự do bầu cử và ứng cử
Tư tưởng dân chủ cho thấy rất rõ rằng, nhân dân sẽ có quyền làm chủ của đất nước, làm chủ vận mệnh và con đường đi của chính mình, không ai có quyền xâm phạm đến quyền tự do, quyền tự chủ ấy Tư tưởng dân chủ cũng cho thấy rằng, nhân dân là bình đẳng về quyền lợi, tất cả mọi người trong một quốc gia đều có quyền như nhau, lợi ích
Trang 7như nhau, đứng ngang nhau trong một sự việc có tính chất chung có đất nước Mọi người dân đều có quyền được nói, quyền được tự do, được bầu cử và ứng cử Mọi người dân trong tư tưởng dân chủ ấy đều có thể đứng ra lãnh đạo đất nước, nếu như người dân đó có được sự tin tưởng, sự ủng hộ của các cá nhân khác trong đất nước
Tuy nhiên, tư tưởng dân chủ đã bị sai lệch ở một vài quốc gia Phương Tây, thay vì xem xét góc độ nhân dân làm chủ, họ lại xem xét dưới góc độ nhân quyền, và đề cao nhân quyền hơn cả chủ quyền dân tộc Có những hệ tư tưởng dân chủ, với sự lạc hậu của nhà cầm quyền, đã làm cho nhân dân hiểu sai về khái niệm và tư tưởng dân chủ, từ đó, mất đi ý nghĩa thật sự của dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân Vì vậy trong bài tiểu luận này, ta sẽ xem xét và phân tích dưới nhiều góc nhìn, nhiều quan điểm của nhiều nhà
tư tưởng của nhiều quốc gia khác nhau, từ đó rút ra được kết luận về sự tương đồng và khác biệt của tư tưởng dân bản của các quốc gia Phương Đông và tư tưởng dân chủ ở các quốc gia phương Tây
Tại Việt Nam, chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã có một hệ tư tưởng về dân chủ cho riêng dân tộc của mình Đối với Bác, dân chủ ở Việt Nam là sự kết hợp về ưu điểm của cả hai tư tưởng dân bản ở phương Đông và tư tưởng dân chủ ở phương Tây Điều này cũng
có nghĩa là, dân chủ ở Việt Nam cho thấy, mỗi người dân Việt Nam ta đều có quyền tự do
cá nhân, tự do quan điểm, tự do về quyền lợi của mình Nhà nước được bầu cử bởi nhân dân, không chuyên quyền, không chuyên chính, nhà nước là của dân, do dân và vì dân Đồng thời, tiếp thu tư tưởng dân bản, nhà nước cần phải tập trung cho quyền lợi của nhân
Trang 8dân, làm việc vì quyền lợi, lợi ích của nhân dân, không tự tư, tự lợi, đặt lợi ích của nhân dân lên hàng đầu trong mọi chính sách, quyết sách
2 NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT CỦA TƯ TƯỞNG DÂN BẢN PHƯƠNG ĐÔNG VÀ TƯ TƯỞNG DÂN CHỦ PHƯƠNG TÂY.
2.1 Những điểm tương đồng của tư tưởng dân bản phương Đông và tư tưởng dân
chủ Phương Tây
Một cách rất rõ ràng, dù là tư tưởng dân bản ở phương Đông hay tư tưởng dân chủ
ở phương Tây thì cả hai hệ tư tưởng này đều đề cao về con người Cả hai tư tưởng đều cho rằng, con người, hay nhân dân mới là chủ đạo trong việc trị quốc bình thiên hạ Dân bản xem con người làm gốc thì dân chủ cũng xem nhân dân là chủ của một quốc gia
Trong tư tưởng dân bản của phương Đông, nhà cầm quyền cần xác định rõ: để trị dân thì phải trị nhân, tức là, muốn dân tin, muốn dân đồng lòng thì cần phải xem dân là tất cả Tư tưởng dân bản đề cao về sức mạnh của nhân dân trong việc tồn vong sinh bại của một quốc gia Nhà cầm quyền là thuyền, dân là nước, nước có thể đẩy thuyền thì cũng có thể lật thuyền Dân đồng lòng, thuận tâm thì thế nước mạnh, dân bất đồng, không tin tưởng nhà nước, chống lại nhà nước thì thế nước tất bại vong Như vậy, dân là gốc nước, là nền tảng cho mọi học thuyết, lý thuyết, các quyết định
về kinh tế, chính trị và xã hội của một quốc gia Nói tóm lại, tư tưởng dân bản cho rằng phải luôn quan tâm đến nhân dân Trong lịch sử đã cho thấy, các triều đại nào trọng dân, quan tâm dân, được dân tin, được dân đồng
Trang 9lòng và ủng hộ thì mới có thể xây dựng chính quyền vững mạnh, công cuộc dựng nước và giữ nước mới bền lâu Còn triều đại nào không quan tâm đến dân, cai trị hà khắc, không được dân tin, không được dân ủng hộ thì triều đại đó sẽ đoản hậu, kém bền, không tồn tại và phát triển được lâu
Cũng tương đồng với quan điểm dân bản của Phương Đông, tư tưởng dân chủ của phương Tây cho rằng quyền lợi của mọi người dân là ngang bằng nhau, quốc gia, đất nước cũng phải đặt quyền lợi của nhân dân lên làm đầu Nhân dân sống ở các quốc gia Phương Tây có các quyền làm chủ cơ bản: quyền tự do ngôn luận và báo chí, tự do tập thể và tự do bầu cử
và ứng cử Trong tư tưởng dân chủ của phương Tây, rõ ràng lợi ích của nhân dân cũng được đề cao, các hành động, quyết định, các lý thuyết, học thuyết kinh tế chính trị, các chính sách đều phải đến từ nhân dân và phục vụ cho lợi ích của nhân dân Sự tương đồng của hệ tư tưởng dân chủ phương Tây với tư tưởng dân bản phương Đônng còn thể hiện qua việc các quốc gia phương Tây với hệ tư tưởng dân chủ luôn cố gắng bảo vệ quyền con người của mọi công dân và hệ thống pháp quyền dân chủ cho rằng, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không có bất kì ai được đứng trên luật pháp Điều đó cũng thể hiện rất rõ, pháp luật sinh ra là để bảo vệ người dân và quyền lợi, lợi ích chính đáng của họ, pháp luật và nhà cầm quyền sẽ phải đề cao và tôn trọng nhân dân, xem nhân dân là yều tố cốt lõi và không xâm phạm đến các quyền và lợi ích đó của nhân dân
Trang 10Như vậy, dù là tư tưởng dân bản phương Đông hay tư tưởng dân chủ phương Tây, nhà cầm quyền cũng phải đề cao giá trị của nhân dân, xem quyền lợi của nhân dân là yếu
tố quan trọng, lấy mục tiêu chính là nhân dân và đề cao tinh thần đó Trong tất cả các yếu
tố cấu thành nên luật pháp, chính sách của nhà nước hay nhà cầm quyền, yếu tố quan trọng, chính yếu và cốt lõi vẫn phải là yếu tố nhân dân và quyền lợi của nhân dân
2.2 Những điểm khác biệt trong tư tưởng dân bản phương Đông và tư tưởng dân
chủ phương Tây.
Về cơ bản, ta dễ nhận thấy rằng, dù là tư tưởng dân bản phương Đông hay tư tưởng dân chủ phương Tây thì nhân dân đều được đề cao Tuy nhiên, vẫn có sự khác biệt giữa hai tư tưởng này
Khác biệt đầu tiên, rõ nét nhất chính là sự cầm quyền Tư tưởng dân bản ở phương Đông, mà theo học thuyết Nhân chính của Mạnh Tử, luôn xem nhân dân là gốc rễ để giải quyết vấn đề, nhưng trong tư tưởng này, nhà cầm quyền lại không phải là nhân dân Trong hệ tư tưởng dân bản, nhà cầm quyền vẫn là vua, chúa, phong kiến, còn nhân dân dù được đề cao, được tôn trọng, vẫn không thể nào trở thành nhà cầm quyền, nghĩa là nhà cầm quyền vẫn nắm trong tay quyền lực tuyệt đối, áp đặt mệnh lệnh lên nhân dân, thông qua pháp luật để thực hiện quyền hành của giai cấp thống trị Còn đối với tư tưởng dân chủ ở Phương Tây, nhà cầm quyền được bầu cử và ứng cử
từ nhân dân, nghĩa là tất cả nhân dân đều có quyền bình đẳng để ra ứng cử
Trang 11ngang nhau, không phân biệt Tôn Giáo, Đảng phái, sắc tộc, người bầu cử
và ứng cử cũng không nhất thiết phải bị lệ thuộc vào yếu tố nào, có toàn quyền và nghĩa vụ với quyết định của mình
Khác biệt thứ hai giữa hai tư tưởng này là về yếu tố trách nhiệm của nhà cầm quyền Rất rõ ràng, dân bản là tư tưởng trọng dân, xem dân là gốc, nhưng quyền lực vẫn nằm về tay vua chúa, giai cấp thống trị Khi giai cấp thống trị làm sai, họ hoàn toàn không cần phải ra chịu trách nhiệm trước nhân dân, nhân dân cũng không có quyền trừng phạt hay bãi nhiệm đối với giai cấp cầm quyền hay cụ thể là vua chúa Tuy nhiên, với hệ tư tưởng dân chủ phương Tây thì lại khác, những người cầm quyền được bầu ra từ chính nhân dân nên phải chịu trách nhiệm về những hành động hay quyết định của mình trước nhân dân Nhân dân hoàn toàn có quyền bãi nhiệm, miễn nhiệm đối với những cá nhân, những nhà cầm quyền không thực hiện đúng chức trách cũng như trách nhiệm của mình Như vậy, khác biệt thứ hai chính là trách nhiệm của nhà cầm quyền trong hai hệ tư tưởng dân bản phương Đông và dân chủ phương Tây
Khác biệt thứ ba đến từ nguồn gốc ý thức của nhân dân và nhà cầm quyền Trong tư tưởng dân bản, nguồn gốc ý thức chủ yếu của nhà cầm quyền đến từ đạo đức Có nghĩa là, nếu vua, chúa, hay nhà cầm quyền phương Đông có tư tưởng dân bản thì nghĩa là nhà cầm quyền đó đang có đạo đức Ý thức đạo đức đó được thể hiện qua sự nhân nghĩa, trọng dân,
Trang 12yêu dân, dưỡng dân và giáo dân Nhưng dù có ý thức và đạo đức nhân nghĩa yêu thương nhân dân, thì nhân dân vẫn chỉ mãi là nhân dân, không thể trở thành nhà cầm quyền, không thể trở thành chủ nhân của chính cuộc sống của chính họ Trong cái cơ cấu và thể chế đó, nhân dân có được xem
là gốc rễ của đất nước, có được xem là sức mạnh của quốc gia hay không lại phải xem nhà cầm quyền có đạo đức, có ý thức hay là không Nhân dân không phản kháng, không thể hiện được quyền làm chủ của mình nếu nhà cầm quyền làm sai, nhà cầm quyền cũng không cần phải chịu trách nhiệm nếu làm sai Tuy nhiên, đối với hệ thống tư tưởng dân chủ, nhân dân có ý thức cá nhân về quyền là lợi ích của chính bản thân mình, nhà cầm quyền
do nhân dân bầu ra theo hình thức biểu quyết, chính vì vậy, ý thức của nhà cầm quyền cũng phản ánh phần nào ý thức của nhân dân Trong tư tưởng dân chủ, vận mệnh và số phận của cá nhân do cá nhân quyết định, có ảnh hưởng bởi môi trường khách quan, nhưng không phụ thuộc và áp đặt mệnh lệnh bởi nhà cầm quyền Nhà cầm quyền cũng bị ảnh hưởng bởi ý thức của nhân dân mà xác lập ra luật pháp hay các nhân tố cầm quyền
Khác biệt thứ tư giữa hai tư tưởng dân bản và dân chủ, chính là khác biệt về yếu tố quyền lợi Rất rõ ràng, cả hai tư tưởng đều đề cao quyền lợi của nhân dân, xem trọng nhân dân và xem nhân dân là yếu tố cốt lõi Tuy nhiên, dân chủ đề cao hơn quyền lợi của cá nhân, của từng cá thể trong toàn thể Với tư tưởng dân chủ, nhân dân có quyền làm chủ, có quyền là chủ vận