Trong những năm gần đây, pháp luật về luật sư và hành nghề luật sư cũng như các hoạt động lập pháp trong lĩnh vực này đã có những thành quả tích cực mà biểu hiện sinh động là việc ban hà
Trang 1MỞ ĐẦU
Trong dòng chảy của xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, bất kỳ một quốc gia nào cũng phải "trang bị" cho mình một nền tư pháp hoàn chỉnh bên cạnh sự ổn định về chính trị và vững mạnh về kinh tế Đó là một tất yếu cho sự phát triển của đất nước Hoà mình trong dòng chảy đó, Việt Nam cũng không ngừng hoàn thiện mình về phương diện pháp luật nói chung và pháp luật về luật sư, hành nghề luật sư nói riêng nhằm tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của đội ngũ luật sư, để đất nước có một đội ngũ luật sư tài năng và đạo đức Đây cũng chính là một yêu cầu cấp thiết được đặt ra theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX và đặc biệt là Nghị quyết 08 ngày 2/1/2002 của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp Vì rằng, trong một nền tư pháp dân chủ, khi mà các giá trị quyền con người được tôn vinh và là đích đến của toàn bộ hệ thống tư pháp thì hoạt động của luật sư với sứ mệnh bảo vệ công lý, công bằng xã hội được coi là một đại lượng để đánh giá
uy tín và chất lượng của hoạt động tư pháp Nghị quyết 08- NQ/TW và Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị đã chỉ ra rằng nghề luật sư ở nước ta đang có những cơ hội phát triển đầy thuận lợi “Nhà nước tạo điều kiện về pháp lý để phát huy chế độ tự quản của tổ chức luật sư; đề cao trách nhiệm của các tổ chức luật sư đối với thành viên của mình"
Trong những năm gần đây, pháp luật về luật sư và hành nghề luật sư cũng như các hoạt động lập pháp trong lĩnh vực này đã có những thành quả tích cực mà biểu hiện sinh động là việc ban hành Luật Luật sư 2006 thay thế Pháp lệnh luật sư năm 2001 (trước đó nữa là Pháp lệnh tổ chức luật sư năm 1987), tuy nhiên vẫn còn rất nhiều vấn
đề cần được quan tâm một cách thấu đáo hơn nữa trong thực tiễn cải cách tư pháp nói chung và vấn đề pháp luật về luật sư và hành nghề luật sư nói riêng
Xuất phát từ những ý nghĩa trên, tác giả lựa chọn vấn đề "Pháp luật về luật sư và hành nghề luật sư ở Việt Nam – thực trạng và phương hướng hoàn thiện" làm đề
tài cho bài tiểu luận của mình
Trang 2NỘI DUNG Chương 1: Một số lý luận về pháp luật về luật sư và hành nghề luật sư
1.1 Khái niệm về luật sư, nghề luật sư và pháp luật về luật sư
-Khái niệm về luật sư:
Luật sư là một chức danh tư pháp độc lập, chỉ những người có đủ điều kiện hành nghề chuyên nghiệp theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện việc tư vấn pháp luật, đại diện theo ủy quyền, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cá nhân, tổ chức và nhà nước trước tòa án và thực hiện các dịch vụ pháp lý khác” Điều 2 Luật Luật sư (29/6/2006) ghi nhận, “Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức Tiêu chuẩn luật sư được quy định tại Điều 10 Luật Luật sư như sau: “Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng Cử nhân Luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành Luật sư Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 10 của Luật này muốn được hành nghề luật
sư phải có Chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một Đoàn luật sư
- Khái niệm về nghề luật sư:
Ở Việt Nam, nghề luật sư là một nghề luật, trong đó các luật sư bằng kiến thức pháp luật của mình, độc lập thực hiện các hoạt động trong phạm vi hành nghề theo quy định của pháp luật và quy chế trách nhiệm nghề nghiệp, nhằm mục đích phụng sự công lý, góp phần tích cực bảo vệ pháp chế và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN
Nghề luật sư không giống như những nghề bình thường khác vì ngoài những yêu cầu
về kiến thức và trình độ chuyên môn thì yêu cầu về việc hành nghề luật sư còn phải tuân thủ theo quy chế đạo đức nghề nghiệp Đây là một nét đặc thù riêng của nghề luật
sư và nét đặc thù này tác động sâu sắc đến kỹ năng hành nghề, đặc biệt là kỹ năng tranh tụng của luật sư Về tính chất, hoạt động nghề nghiệp của luật sư bao gồm ba tính chất: trợ giúp, hướng dẫn và phản biện
- Tính chất trợ giúp: là sự giúp đỡ, bênh vực hoàn toàn vô tư, không vụ lợi của luật sư cho những người ở vào vị thế thấp kém thường bị ức hiếp, bị đối xử bất công trái pháp luật trong xã hội hay những người như người nghèo, người già đơn côi, người chưa thành niên mà không có sự đùm bọc của gia đình Hoạt động trợ giúp của luật sư đối với những đối tượng này không chỉ là bổn phận mà còn là thước đo lòng nhân ái và đạo đức của luật sư
- Tính chất hướng dẫn: là việc hướng dẫn cho đương sự hiểu đúng tinh thần và nội dung của pháp luật để biết cách xử sự tháo gỡ vướng mắc của họ phù hợp với pháp lý
và đạo lý
Trang 3- Tính chất phản biện: Tính chất phản biện trong hoạt động của luật sư là những biện luận nhằm phản bác lại lý lẽ, ý kiến quan điểm của người khác mà mình cho là không phù hợp với pháp lý và đạo lý Hoạt động phản biện của luật sư là lấy pháp luật và đạo đức xã hội làm chuẩn mực để xem xét mọi khía cạnh của sự việc nhằm xác định rõ phải trái, đúng sai…từ đó đề xuất những biện pháp phù hợp bảo vệ lẽ phải, loại bỏ cái sai, bảo vệ công lý
Xuất phát từ tính chất, đặc thù của nghề luật sư, nó đòi hỏi luật sư ngoài các phẩm chất chung là Chân, Thiện, Mỹ, luật sư còn phải là người có khối óc thông minh, tấm lòng trong sáng, dũng cảm, biết lấy pháp luật và đạo đức xã hội làm cơ sở hoạt động mới xứng đáng với sự tin cậy và tôn vinh của xã hội
- Khái niệm pháp luật về luật sư: Luật sư và nghề luật sư luôn gắn với sự hình thành
và phát triển của hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về luật sư nói riêng Pháp luật về luật sư là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong tổ chức và hoạt động nghề nghiệp giữa luật sư với khách hàng, các cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan có thẩm quyền khác, về việc quản lý Nhà nước và
sự tự quản của tổ chức xã hội nghề nghiệp luật sư do Nhà nước đặt ra, thừa nhận và bảo đảm thi hành
Có thể nói, pháp luật về luật sư và hành nghề luật sư có một vị trí quan trọng trong nền
tư pháp, cũng như đóng vai trò rất lớn trong hệ thống pháp luật nói chung Bởi vì Luật
sư là một chức danh tư pháp độc lập và hoạt động nghề nghiệp của luật sư có vai trò rất quan trọng Tính chất quan trọng đó thể hiện hoạt động nghề nghiệp của luật sư nhằm góp phần bảo vệ công lý, phát triển kinh tế và xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Chính vì thế, pháp luật về luật sư chính là sự bảo đảm về mặt nhà nước cũng như xã hội để luật sư và hoạt động nghề nghiệp của luật sư được thực hiện một các đúng mực mang lại sự hiệu quả và thực thi được sứ mệnh cao cả của nó
1.2 lịch sử phát triển của pháp luật về luật sư ở Việt Nam
Ngay sau khi giành được độc lập, nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã quan tâm đến việc thiết lập cơ sở pháp lý cho hoạt động luật sư Ngày 10 tháng 10 năm
1945 Chủ tịch Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minhngày 22 tháng 11 năm 1946, là sắc lệnh số 217 cho phép các thẩm phán ra làm luật sư đã ban hành sắc lệnh số 46 quy định về tổ chức luật sư Tiếp đó,
Sau khi Việt Nam thống nhất, Nhà nước Việt Nam đã ban hành Pháp lệnh luật sư vào năm 1987 Tuy nhiên, thời điểm này các quy định chưa cho phép luật sư hành nghề độc lập Hầu hết hoạt động của luật sư thông qua tổ chức nghề nghiệp là đoàn luật sư Đoàn luật sư được thành lập tại các tỉnh hoặc thành phố trực thuộc trung ương
Ngày 1 tháng 10 năm 2001, pháp lệnh đó được thay thế bởi pháp lệnh số 37/2001/PL-UBTVQH10 với những nội dung phù hợp với xu thế phát triển và nhu cầu của xã hội
Trang 4về dịch vụ pháp lý Các tổ chức hành nghề luật sư được thành lập và các tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài và luật sư nước ngoài được phép hành nghề tại Việt Nam Năm 2007, Luật Luật Sư có hiệu lực thi hành Đây là văn bản luật đầu tiên về luật sư, đánh dấu một bước phát triển của nghề luật sư, tạo tiền đề cho đội ngũ luật sư Việt Nam phát triển cả về số lượng và chất lượng Luật này cũng là văn bản đầu tiên tạo ra
cơ sở pháp lý cho việc thành lập tổ chức luật sư toàn quốc với tư câch là tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư trong phạm vi cả nước, đại diện cho các luật sư, các đoàn luật sư
Trang 5Chương 2: Thực trạng pháp luật về luật sư và hành nghề luật sư ở Việt Nam và những phương hướng hoàn thiện
2.1 Thực trạng pháp luật về luật sư và hành nghề luật sư ở Việt Nam
2.1.1 Về đội ngũ luật sư
Sau khi Pháp lệnh luật sư và đặc biệt là Luật Luật sư 2006 được ban hành, đội ngũ luật
sư đã có sự phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng Sự phát triển, thay đổi của đội ngũ luật sư một phần do những quy định đổi mới của Luật Luật sư về các tiêu chí như tiêu chuẩn luật sư, điều kiện hành nghề luật sư, quy trình trở thành luật sư, các quy định về tập sự, gia nhập Đoàn Luật sư
Chẳng hạn, về tiêu chuẩn và điều kiện hành nghề luật sư:
- Tiêu chuẩn luật sư (Điều 10): Theo Luật Luật sư, công dân Việt Nam trung thành với
Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ đại học luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư
- Điều kiện hành nghề luật sư (Điều 11)
Kế thừa quy định của Pháp lệnh luật sư năm 2001, Luật Luật sư quy định người muốn được hành nghề luật sư phải có Chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một Đoàn luật sư Quy định này nhằm bảo đảm tính chuyên nghiệp của nghề luật sư, phòng ngừa tình trạng những người không có đủ tiêu chuẩn, điều kiện vẫn thực hiện dịch vụ pháp
lý như luật sư, góp phần bảo vệ lợi ích của cá nhân, tổ chức và xã hội, tăng cường quản lý về hành nghề luật sư Điều kiện này cũng được pháp luật về hành nghề luật sư của nhiều nước trên thế giới quy định
Như vậy, về tiêu chuẩn luật sư, Pháp lệnh luật sư năm 2001, Luật Luật sư đã đặc biệt chú trọng nâng cao tiêu chuẩn về chuẩn chuyên môn, về phẩm chất đạo đức đối với luật sư Đồng thời, theo hướng “chuyên nghiệp hoá” đội ngũ luật sư, Pháp lệnh luật sư năm 2001, Luật Luật sư quy định cán bộ, công chức không được hành nghề luật sư
Có thể nói, chính nhờ những thay đổi về mặt quy định như vậy nên trong những năm gần đây, chất lượng của đội ngũ luật sư đã được nâng lên đáng kể, về cơ bản đủ khả năng cung cấp dịch vụ Hiện nay, trong cả nước đã thành lập 62 Đoàn luật sư/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với hơn 6.250 luật sư và hơn 3.000 người tập sự hành nghề luật sư, hoạt động trong gần 2.750 tổ chức hành nghề luật sư, trong đó có khoảng 10 tổ chức hành nghề luật sư chuyên sâu về kinh doanh, thương mại đầu tư có yếu tố nước ngoài
Tuy nhiên, vấn đề về đội ngũ luật sư nước ta còn một số hạn chế sau đây:
Trang 6Thứ nhất, số lượng luật sư hiện có so với dân số còn rất thấp Tỷ lệ luật sư nước ta mới
ở mức trung bình là 1 luật sư/14.000 người dân, trong khi đó tỷ lệ này ở Thái Lan là 1/1.526, Singapore là 1/1.000, Nhật Bản là 1/4.546,
Số lượng luật sư ở nước ta chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn, đặc biệt là thành phố
Hà Nội (1.630 luật sư) và thành phố Hồ Chí Minh (2.880 luật sư) Trong khi đó, một
số địa phương lại phát triển được rất ít luật sư như Hà Giang, Bắc Kạn, Kon Tum (5 luật sư), Sơn La, Điện Biên, Quảng Trị (6 luật sư), Hậu Giang (7 luật sư), Cao Bằng (9 luật sư)
Thứ hai, chất lượng của đội ngũ luật sư còn nhiều hạn chế Gần một nửa số lượng luật
sư hiện nay chưa được đào tạo một cách bài bản về kỹ năng hành nghề Hiệu quả tham gia tố tụng của luật sư vẫn còn chưa đáp ứng được yêu cầu tranh tụng tại phiên toà theo tinh thần cải cách tư pháp Các luật sư vẫn còn thiếu kinh nghiệm trong việc thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến quá trình bào chữa, tranh luận, đưa ra yêu cầu, kiến nghị tại phiên toà Một số luật sư còn có thái độ ứng xử nghề nghiệp chưa đúng mực trong quan hệ với các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và luật sư đồng nghiệp, làm ảnh hưởng đến uy tín của đội ngũ luật sư
Thứ ba, về mức độ chuyên môn hoá trong hành nghề, đa số luật sư ở nước ta hành nghề trong tất cả các lĩnh vực tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng
và các dịch vụ pháp lý khác Tuy số lượng luật sư ở nước ta trong những năm gần đây tăng lên đáng kể, song vẫn chưa hình thành được đội ngũ các luật sư chuyên sâu về những lĩnh vực khác nhau Các luật sư chủ yếu hành nghề trong hai lĩnh vực dân sự và hình sự Trong các lĩnh vực pháp luật khác như hành chính, lao động, kinh tế…tỷ lệ vụ việc mà các luật sư tham gia tương đối thấp
2.1.2.Về hoạt động hành nghề của luật sư
Những quy định về hoạt động hành nghề của luật sư theo Luật Luật sư có nhiều điểm mới so với Pháp lệnh luật sư và được xây dựng trên quan điểm chỉ đạo là cụ thể hoá quyền, nghĩa vụ của luật sư trong từng lĩnh vực hành nghề, quy định rõ hơn cơ chế pháp lý bảo đảm cho luật sư thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ, đồng thời đề cao trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư trong quá trình hành nghề
- Về phạm vi hành nghề
Có thể thấy rằng sau khi Pháp lệnh luật sư năm 2001 và đặc biệt sau khi Luật Luật sư được ban hành, hoạt động hành nghề luật sư có những bước chuyển biến rõ rệt Theo quy định của Pháp lệnh luật sư thì dịch vụ pháp lý của luật sư bao gồm tham gia tố tụng, thực hiện tư vấn pháp luật và các dịch vụ pháp lý khác Luật Luật sư đã mở rộng hơn phạm vi hành nghề luật sư với việc quy định luật sư được đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng Có thể nói trên cơ sở những quy định ngày càng thông thoáng hơn của pháp luật cộng với sự nỗ lực của các luật sư, dịch vụ pháp lý của luật sư tăng đáng
kể về số lượng và nâng cao một bước về chất lượng
Trang 7+ Tham gia tố tụng là lĩnh vực hành nghề chủ yếu của các luật sư hiện nay Trong thời gian qua, các luật sư đã tham gia giải quyết hàng trăm nghìn vụ án Vai trò của luật sư trong quá trình tham gia tố tụng đã có những bước phát triển về chất Xuất phát từ việc pháp luật tố tụng đang từng bước được hoàn thiện, các cơ quan tiến hành tố tụng đã quan tâm hơn đến việc tạo điều kiện thuận lợi cho luật sư tham gia bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị can, bị cáo, đương sự Đặc biệt sau khi Nghị Quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị đã nêu rõ: "Khi xét xử, các toà
án việc phán quyết của toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, người bào chữa Các cơ quan tư pháp có trách nhiệm tạo điều kiện để luật sư tham gia cào quá trình tố tụng ", thì vai trò của luật sư trong quá trình tham gia tố tụng đã được nâng lên một bước Nhiều cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát đã tạo điểu kiện cho luật sư tham gia vào quá trình tố tụng được thuận lợi hơn Ý kiến của luật sư tại phiên toà đã được cơ quan công tố quan tâm và coi trọng Việc tham gia tố tụng của các luật sư không những bảo đảm tốt hơn quyền bào chữa của bị can, bị cáo, các đương sự khác,
mà còn giúp các cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện, sửa chữa những thiếu sót, làm rõ
sự thật khách quan, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa
+ Tư vấn pháp luật là lĩnh vực hành nghề quan trọng của luật sư, đặc biệt trong điều kiện nhu cầu về tư vấn pháp luật trong xã hội ngày càng tăng nhanh Các luật sư đã mở rộng và phát triển tư vấn trong các lĩnh vực kinh tế, đầu tư, thương mại Trong lĩnh vực tư vấn về pháp luật dân sự thì tư vấn về đất đai, hôn nhân gia đình đang là mảng tư vấn phổ biến và sôi động nhất
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, toàn cầu hoá, các luật sư hoạt động trong lĩnh vực tư vấn pháp luật đang phát huy vai trò quan trọng trong việc giúp đỡ các doanh nghiệp đàm phán, ký kết hợp đồng, giải quyết các tranh chấp phát sinh đặc biệt trong các lĩnh vực mới mẻ như đầu tư nước ngoài, sở hữu trí tuệ, quan hệ thương mại hàng hoá có yếu tố nước ngoài
Ngoài ra, các luật sư cũng đã tham gia tích cực vào hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo, đối tượng thuộc diện chính sách Việc tham gia vào hoạt động này không chỉ thực hiện một cam kết mang tính chất nghĩa vụ của luật sư đối với xã hội mà còn góp phần tạo lập sự công bằng cho các đối tượng được hưởng trợ giúp pháp lý Trong thời gian qua, các luật sư đã tham gia trợ giúp pháp lý cho hàng chục nghìn vụ việc, góp phần đáng kể trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người thuộc diện chính sách
Có thể nói, mặc dù còn những hạn chế, nhưng hoạt động của luật sư thời gian qua đã đáp ứng một phần quan trọng nhu cầu giúp đỡ pháp lý của công dân và tổ chức, đóng góp đáng kể trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo và các đương
sự khác, góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
Trang 8- Về hình thức hành nghề của luật sư
Theo quy định của Pháp lệnh luật sư năm 2001, luật sư chỉ được hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư (thành lập hoặc tham gia thành lập Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh hoặc làm việc theo hợp đồng cho tổ chức hành nghề luật sư, kể cả tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam) Quy định này về cơ bản là phù hợp với thông lệ nghề luật sư và có tính khả thi trong giai đoạn đầu hình thành và phát triển của nghề luật sư Tuy nhiên, với yêu cầu mở rộng, phát triển dịch vụ pháp lý của luật
sư trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra sâu sắc và mạnh mẽ hiện nay, thì quy định về hình thức hành nghề như Pháp lệnh luật
sư đã tỏ ra không còn phù hợp Và do đó, Luật Luật sư mở rộng hình thức hành nghề của luật sư, theo đó luật sư không chỉ hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư như quy định của Pháp lệnh luật sư năm 2001, mà còn được phép hành nghề với tư cách cá nhân dưới hình thức tự mình nhận và thực hiện dịch vụ pháp lý cho khách hàng theo hợp đồng dịch vụ pháp lý, hoặc làm việc cho cơ quan, tổ chức theo hợp đồng lao động Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động hành nghề và hoạt động theo mô hình hộ kinh doanh cá thể
- Về hình thức tổ chức hành nghề luật sư
Theo quy định của Luật Luật sư thì tổ chức hành nghề luật sư bao gồm:
+ Văn phòng luật sư là tổ chức hành nghề luật sư do một luật sư thành lập được tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân;
+ Công ty luật bao gồm Công ty luật hợp danh và Công ty luật trách nhiệm hữu hạn
So với Pháp lệnh luật sư năm 2001, Luật Luật sư đã quy định thêm loại hình Công ty luật trách nhiệm hữu hạn Hơn nữa , để phù hợp với quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Luật sư còn quy định Công ty luật trách nhiệm hữu hạn có thể là Công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên hoặc Công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên
2.1.3 Về tổ chức luật sư và quản lý luật sư
Pháp lệnh luật sư 2001, Luật Luật sư quy định nguyên tắc kết hợp quản lý nhà nước với phát huy vai trò tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp Theo đó, Đoàn luật sư là
tổ chức xã hội-nghề nghiệp đại diện, bảo vệ quyền lợi của các luật sư; quản lý hoạt động nghề nghiệp của các luật sư, giám sát việc tuân theo pháp luật và Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp; thực hiện bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho các luật sư
Luật Luật sư đã quy định hệ thống tổ chức luật sư từ trung ương đến các địa phương,
đó là Tổ chức luật sư toàn quốc và Đoàn luật sư ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Với việc quy định về Tổ chức luật sư toàn quốc và nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức này, Luật Luật sư đã tăng cường đáng kể vai trò tự quản của tổ chức luật sư Cụ
Trang 9thể là Tổ chức luật sư toàn quốc sẽ ban hành Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư ( thay thế Quy tắc mẫu do Bộ Tư pháp ban hành như hiện nay ); phối hợp với
Bộ Tư pháp trong việc ban hành quy chế tập sự hành nghề luật sư, đào tạo nghề luật
sư, kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư Tổ chức luật sư toàn quốc còn được giao quyền cấp, thu hồi Thẻ luật sư, quy định mẫu trang phục luật sư tham gia phiên toà… Việc tổ chức bồi dưỡng thường xuyên về kiến thức pháp luật, kỹ năng hành nghề và tổng kết, trao đổi kinh nghiệm hành nghề luật sư trong cả nước cũng thuộc thẩm quyền của Tổ chức luật sư toàn quốc Việc giải quyết khiếu nại đối với quyết định kỷ luật và các quyết định khác của Ban chủ nhiệm các Đoàn luật sư cũng được giao cho Tổ chức luật sư toàn quốc Đoàn luật sư và Tổ chức luật sư toàn quốc tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật Luật sư và Điều lệ của tổ chức mình Điều lệ của Đoàn luật sư do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phê duyệt, Điều lệ của Tổ chức luật sư toàn quốc do Bộ Tư pháp phê duyệt sau khi thống nhất với Bộ trưởng Bộ Nội vụ
Trong thời gian qua, công tác của các Đoàn luật sư đối với luật sư và hành nghề luật
sư đã có nhiều chuyển biến tích cực Căn cứ vào nhiệm vụ, quyền hạn được giao, các Đoàn luật sư đã thực hiện tương đối tốt công tác giám sát, kiểm tra việc tuân thủ pháp luật, tuân theo Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư, Điều lệ Đoàn luật sư của luật sư, tổ chức hành nghề luật sư; kịp thời nhắc nhở, uốn nắn và có biện pháp xử
lý nghiêm minh các trường hợp luật sư vi phạm Các Đoàn luật sư tích cực tham gia đóng góp ý kiến xây dựng pháp luật, tham gia tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân, trợ giúp pháp lý, tư vấn miễn phí, bào chữa miễn phí
Tuy nhiên, hoạt động tự quản của các Đoàn luật sư còn một số hạn chế, bất cập sau đây:
Thứ nhất, hiệu quả hoạt động quản lý, điều hành của Ban Chủ nhiệm Đoàn luật sư còn chưa cao
Thứ hai, nhìn chung, các Đoàn luật sư chưa thực hiện tốt chức năng đại diện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các luật sư Đoàn luật sư chưa thực sự là nơi tập hợp những bức xúc, khó khăn, vướng mắc, đề xuất, kiến nghị của luật sư liên quan đến hoạt động hành nghề và đại diện cho luật sư trong việc kiến nghị với cơ quan nhà nước
có thẩm quyền
Thứ ba, một số Đoàn luật sư chưa quan tâm đúng mức đến công tác giáo dục chính trị
tư tưởng, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp cho luật sư; công tác giám sát, quản lý người tập sự hành nghề luật sư còn mang tính hình thức
Thứ tư, một số Đoàn luật sư phối hợp chưa tốt với cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương trong việc quản lý hành nghề luật sư, việc quản lý hành nghề luật sư ở những địa phương này kém hiệu quả, ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức và hoạt động luật sư ở địa phương
Trang 10Về công tác tự quản của tổ chức luật sư, cũng cần nói đến vai trò của các tổ chức hành nghề luật sư Nhìn chung các tổ chức hành nghề luật sư ở nước ta hiện nay đa phần chỉ
là các văn phòng luật sư với quy mô rất nhỏ Việc tổ chức, điều hành văn phòng luật
sư, công ty luật cũng được cải tiến, tiếp cận gần hơn với cách tổ chức, điều hành tiên tiến, hiện đại của các công ty luật ở các nước trên thế giới Một số tổ chức hành nghề luật sư đã cung cấp dịch vụ pháp lý có chất lượng cho cá nhân, tổ chức nước ngoài, tham gia giải quyết tranh chấp lớn có yếu tố nước ngoài Một số công ty luật đã có nhu cầu, khả năng và trong thực tế đã thuê luật sư nước ngoài làm việc cho công ty mình
Tổ chức hành nghề luật sư chịu trách nhiệm trước khách hàng trong trường hợp luật sư của Văn phòng gây thiệt hại cho khách hàng Chất lượng dịch vụ và uy tín của luật sư chính là chất lượng dịch vụ và uy tín của tổ chức hành nghề luật sư Chính vì vậy, các
tổ chức hành nghề luật sư phải là tổ chức quan tâm đầu tiên đến chất lượng hoạt động luật sư, đến việc bồi dưỡng về chuyên môn, bồi dưỡng, giáo dục và giám sát về đạo đức nghề nghiệp đối với luật sư của tổ chức mình Tuy nhiên, một số tổ chức hành nghề luật sư chưa thực sự quan tâm đến công việc này, đồng thời có biểu hiện lỏng lẻo trong việc quản lý các luật sư của tổ chức mình, để xảy ra hiện tượng luật sư vi phạm pháp luật, quy tắc đạo đức nghề nghiệp mà tổ chức không biết hoặc bỏ qua
Trong thời gian qua việc thực hiện nguyên tắc kết hợp quản lý nhà nước với phát huy vai trò tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư đã đạt được những kết quả nhất định, góp phần phát triển số lượng luật sư, nâng cao chất lượng hành nghề luật sư, duy trì việc tuân theo pháp luật, tuân thủ đạo đức nghề nghiệp của luật sư theo đúng định hướng mà Đảng, Nhà nước đã đề ra
Tuy nhiên trong việc thực hiện nguyên tắc kết hợp quản lý nhà nước với phát huy vai trò tự quản của tổ chức xã hội-nghề nghiệp của luật sư nói riêng và công tác quản lý luật sư nói chung còn nhiều hạn chế
2.2 Một số phương hướng hoàn thiện pháp luật về Luật sư và hành nghề luật sư
ở nước ta
Vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư cả về nghiệp vụ chuyên môn, phẩm chất đạo đức là yêu cầu vừa cấp bách vừa lâu dài như Nghị quyết số 49/NQ-TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đề ra nhiệm vụ "đào tạo, phát triển đội ngũ luật
sư đủ về số lượng, có phẩm chất chính trị, đạo đức, có trình độ chuyên môn" Muốn được như vậy, cần phải phải có một hệ thống pháp luật và quy chế pháp lý hoàn chỉnh
để điều chỉnh các hoạt động nghề nghiệp Luật sư trên cơ sở tạo thiết lập một môi trường pháp lý rộng rãi cho tổ chức và hoạt động luật sư phát triển, đáp ứng ngày càng tăng nhu cầu tư vấn pháp luật của nền kinh tế thị trường, phát huy dân chủ, bảo vệ công lý và công bằng xã hội và phải xây dựng được phạm vi và lộ trình hoàn thiện pháp luật về luật sư phù hợp
Trên cơ sở đó, một số đề xuất phương hướn hoàn thiện như sau: