1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÌM HIỂU VỀ NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG MỞ TẠI VIỆT NAM

19 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 158,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài tiểu luận gồm 2 phần: Phần I: Lý thuyết chung về thị trường mở Phần II: Thực trạng của nghiệp vụ thị trường mở tại VN năm 2008 đến nay Danh mục từ viết tắt: CSTT: Chính sách tiền tệ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM

Tiểu luận kết thúc học phần

Tên đề tài:

TÌM HIỂU VỀ NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG

MỞ TẠI VIỆT NAM

GVHD: Diệp Gia Luật SVTH: Nguyễn Tấn Thành MSSV: 31191025067 Lớp HP: NH002 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NGÀY 20 THÁNG 12 NĂM 2020

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Chính sách tiền tệ (monetary policy) là một trong những chính sách vĩ mô quan trọng trong quá trình điều hành các hoạt động của nền kinh tế, là quá trình quản lý cung tiền (money supply) của cơ quan quản lý tiền tệ (có thể là ngân hàng trung ương), thường

là hướng tới một lãi suất mong muốn (targeting interest rate) để đạt được những mục đích

ổn định và tăng trưởng kinh tế - như kiềm chế lạm phát, duy trì ổn định tỷ giá hối đoái, đạt được toàn dụng lao động hay tăng trưởng kinh tế Chính sách lưu thông tiền tệ bao gồm việc thay đổi các loại lãi suất nhất định, có thể trực tiếp hay gián tiếp thông qua các nghiệp vụ thị trường mở; quy định mức dự trữ bắt buộc; hoặc trao đổi trên thị trường ngoại hối

Nghiệp vụ thị trường mở đã được Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam chính thức khai trương vào ngày 12/7/2000, đánh dấu một bước tiến quan trọng của Ngân hang Nhà Nước trong việc chuyển sang điều hành chính sách tiền tệ bằng các công cụ gián tiếp Nghiệp vụ thị trường mở đã được thực hiện an toàn, góp phần quan trọng vào việc điều tiết và kiểm soát lượng tiền cung ứng của Ngân hang Nhà Nước Tuy nhiên cũng như các chính sách tiền tệ khác, nghiệp vụ thị trường mở đã bộc lộ những hạn chế nhất định Số lượng các tổ chức tín dụng tham gia ít, doanh số giao dịch nhỏ, hàng hóa giao dịch chưa nhiều, các quy định về quy trình, xử lý thông tin còn chưa hoàn thiện Vì vậy, nhu cầu đổi mới và hoàn thiện công cụ nghiệp vụ thị trường mở là hết sức cấp bách và cần thiết

Bài tiểu luận gồm 2 phần:

Phần I: Lý thuyết chung về thị trường mở

Phần II: Thực trạng của nghiệp vụ thị trường mở tại VN năm 2008 đến nay

Danh mục từ viết tắt:

CSTT: Chính sách tiền tệ

NHTW: Ngân hàng trung ương

NHTM: Ngân hàng thương mại

NHNN: Ngân hàng Nhà nước

TCTD: Tổ chức tín dụng

TTM: Thị trường mở

GTCG: Giấy tờ có giá

Trang 3

PHẦN I: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG MỞ

1.Khái niệm chung về nghiệp vụ thị trường mở

Ě Sau cuộc suy thoái kinh tế năm 1920-1921, cục dữ trự liên bang Mĩ-NHTW (viết tắt là FED) thiếu vốn nghiêm trọng, nguồn thu nhập trước đó của FED chủ yếu thu từ nghiệp vụ chiết khấu, nhưng do hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế

đã làm lượng tiền vay chiết khấu giảm sút, dẫn tới giảm nguồn thu FED đành phải buôn bán chứng khoán kiếm lãi để có thể tiếp tục hoạt động của mình Trong khi thực hiện mua chứng khoán, bỗng nhiên các nhà điều hành thị trường tiền tệ đã phát hiện thấy dự trữ trong các ngân hàng tăng lên còn các khoản vay và tiền gửi tăng lên gấp bội Kết quả này được FED rút ra một bài học bổ ích từ thực tế vô tình là việc mua bán chứng khoán sinh lãi có thể làm thay đổi cơ số tiền tệ nhạy bén nhất Thuật ngữ “thị trường mở” lần đầu tiên xuất hiện ở Mỹ vào những năm

20 của thế kỷ XX khi nghiệp vụ này bắt đầu được thi hành Các nghiệp vụ của ngân hàng trung ương Mỹ về thị trường mở so với các công cụ khác có phạm vi rộng nhất vì nước này có thị trường giấy tờ có giá trị lớn nhất Ở Anh nghiệp vụ thị trường mở đóng vai trò quan trọng từ những năm 30 Ngân hàng Raykh Đức bắt đầu thi hành chính sách tiền tệ từ năm 1933

Ě Vậy nghiệp vụ thị trường mở là gì?

Nghiệp vụ thị trường mở (open-market operation) là công cụ của chính sách tiền tệ

có liên quan đến việc mua bán tín phiếu và trái phiếu chính phủ với tư cách

phương tiện để kiểm soát cung ứng tiền tệ Ví dụ, khi ngân hàng trung ương muốn làm tăng cung tiền (MS), nó mua tín phiếu kho bạc của các ngân hàng thương mại

và công chúng Số tiền mà nó trả cho các ngân hàng và công chúng làm tăng dự trữ của các ngân hàng Mức dự trữ dôi ra cho phép các ngân hàng tăng mức cho vay của mình Điều này dẫn tới việc tạo ra mức tiền gửi ngân hàng lớn gấp nhiều lần so với mức tăng dự trữ ban đầu và bởi vậy khối lượng tiền tệ thực tế haycung ứng tiền tệ tăng lên Tùy vào mỗi nước mà các loại chứng khoán được giao dịch là khác nhau về loại hình và thời hạn đồng thời việc quyết định chủ thể tham gia rộng hơn gồm các tổ chức tín dụng, tổ chức phi tín dụng, doanh nghiệp và các cá nhân… Còn ở các nước nghiệp vụ thị trường mở còn chưa phát triển thì mới chỉ có các nghiệp vụ thị trường mở và các tổ chức tín dụng khác nhau tham gia (ví dụ ở Việt Nam) Tùy thuộc vào điều kiện hiện tại của mỗi nước mà chính phủ sẽ quy định khác nhau về hàng hóa, chủ thể tham gia, quy chế hoạt động của thị trường

mở Chính sự khác nhau này sẽ quyết định khái niệm nghiệp vụ thị trường mở ở mỗi nước

Trang 4

Ě Nghiệp vụ thị trường mở: là công cụ quan trọng nhất của chính sách tiền tệ, vì

nó là yếu tố quyết định những thay đổi trong lãi suất cơ bản và cơ sở tiền tệ, cũng như nguồn chủ yếu của những biến động trong cung tiền

– Hoạt động mua trên thị trường mở sẽ làm tăng dự trữ và cơ sở tiền tệ, qua đó làm tăng cung tiền và hạ thấp lãi suất ngắn hạn

– Hoạt động bán trên thị trường mở sẽ làm giảm dự trữ và cơ sở tiền tệ, qua đó làm giảm cung tiền và tăng lãi suất ngắn hạn

_ Có hai loại hình nghiệp vụ thị trường mở: (1) nghiệp vụ thị trường chủ động được thực hiện để làm thay đổi mức dự trữ và cơ sở tiền tệ, (2) nghiệp vụ thị trường mở thụ động được thực hiện để trung hòa các biến động trong những yếu tố khác ảnh hưởng tới dự trữ và cơ sở tiền tệ, chẳng hạn những thay đổi trong tiền gửi của Kho bạc tại FED hoặc tiền gửi thả nổi FED thực thi nghiệp vụ thị trường

mở bằng chứng khoán của Kho bạc Mỹ và các cơ quan chính phủ, đặc biệt tín phiếu Kho bạc Mỹ FED thực thi hầu hết nghiệp vụ thị trường mở của mình bằng chứng khoán của Kho bạc bởi vì thị trường về các chứng khoán này có tính thanh khoản cao nhất và khối lượng giao dịch lớn nhất Nó có khả năng hấp thụ một khối lượng giao dịch lớn của FED mà không gây ra những biến động lớn về giá, điều

đó có thể làm gián đoạn thị trường

2 Nghiệp vụ thị trường mở của ngân hàng trung ương

+ Khái niệm

Theo cách hiểu chung nhất thì khái niệm “Nghiệp vụ thị trường mở” là hoạt động mua bán các chứng từ có giá của NHTW với các đối tác được lựa chọn để qua đó tác động tới lãi suất của thị trường hoặc dự trữ của các đối tác này, vì thế có thể ảnh hưởng tới các điều kiện tiền tệ của nền kinh tế thông qua những ảnh hưởng về mặt lượng và giá

cả Thuật ngữ "Thị trường mở" ở đây được hiểu là một thị trường có tính chất mở, nghĩa

là đa dạng về các đối tác tham gia thị trường và đa dạng về các loại giao dịch trên thị trường

OMO là một trong các công cụ CSTT có hiệu quả cao và hiện đang được các nước trên thế giới sử dụng Mặc dù OMO được sử dụng phổ biến nhưng việc đưa ra một khái niệm chung là không thống nhất Sự không thống nhất này thể hiện ở sự khác nhau về hàng hoá giao dịch, các đối tác tham gia thị trường và các loại giao dịch trên thị trường

+ Cơ chế tác động của nghiệp vụ thị trường mở

Trang 5

Thông qua hoạt động mua, bán các GTCG trên thị trường mở, NHTW đã tác động trực tiếp đến dự trữ của các ngân hàng và ảnh hưởng gián tiếp đến các mức lãi suất trên thị trường, từ đó tác động trực tiếp đến các mục tiêu của chính sách tiền tệ cả về mặt giá

và mặt lượng

a Tác động vào dự trữ của hệ thống ngân hàng

Hành vi mua bán các GTCG trên thị trường mở của NHTW có khả năng tác động ngay lập tức đến tình trạng dự trữ của các NHTM thông qua ảnh hưởng đến tiền gửi của các ngân hàng tại NHTW (nếu các NHTM là đối tác tham gia OMO) và tiền gửi của khách hàng tại hệ thống ngân hàng (nếu các khách hàng là đối tác tham gia OMO)

Sơ đồ: Cơ chế tác động của OMO tới dự trữ ngân hàng

Khi NHTW thực hiện bán GTCG cho các ngân hàng thì tiền gửi của ngân hàng tại NHTW sẽ giảm xuống tương ứng với khối lượng GTCG mà NHTW bán ra Trường hợp người mua là các khách hàng của ngân hàng thì số tiền mua GTCG sẽ làm giảm số dư tiền gửi của họ tại hệ thống ngân hàng Kết quả là dự trữ của hệ thống ngân hàng giảm sút tương ứng với khối lượng GTCG mà NHTW bán ra Sự giảm sút dự trữ của hệ thống ngân hàng sẽ làm giảm khả năng cho vay của ngân hàng và vì thế khối lượng tín dụng giảm dẫn đến cung tiền sẽ giảm Ngược lại, khi NHTW thực hiện m ua GTCG trên thị trường mở, kết quả làm dự trữ của các ngân hàng tăng lên Như vậy, khi NHTW thực hiện nghiệp vụ thị trường nó sẽ tác động đến dự trữ của các ngân hàng, làm ảnh hưởng đến khối lượng tín dụng, từ đó ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng

b Tác động qua lãi suất

Hành vi mua bán GTCG của NHTW trên thị trường mở có thể ảnh hưởng gián tiếp đến mức lãi suất thị trường thông qua 2 con đường sau:

Thứ nhất, khi dự trữ của ngân hàng bị ảnh hưởng sẽ tác động đến cung cầu vốn NHTW trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng Đến lượt nó, cung cầu tiền trung ương thay đổi sẽ dẫn đến lãi suất thị trường tiền NHTW thay đổi Mức lãi suất ngắn hạn này, thông qua dự đoán của thị trường và các hoạt động arbitrage về lãi suất, sẽ truyền tác động tới các mức lãi suất trung và dài hạn trên thị trường tài chính Tại một mức lãi suất thị trường xác định, tổng cầu AD của nền kinh tế, và do đó tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ được quyết định

Sơ đồ: Cơ chế tác động của OMO qua lãi suất

Trang 6

Cung TPKB Giá TPKB LS thị trường

Dự trữ NH Cung của quỹ Lãi suất ngắn Lãi suất thị

Thứ hai, việc mua bán GTCG sẽ làm ảnh hưởng ngay đến quan hệ cung cầu

về loại GTCG đó trên thị trường và giá cả của nó Khi giá chứng khoán thay đổi,

tỷ lệ sinh lời của chúng cũng thay đổi Nếu khối lượng chứng khoán này chiếm tỷ trọng lớn trong các giao dịch trên thị trường tài chính thì sự thay đổi tỷ lệ sinh lời của nó sẽ tác động trở lại lãi suất thị trường, và vì thế mà tác động đến tổng cầu

AD và sản lượng

+ Vai trò của nghiệp vụ thị trường mở

Để thực hiện nhiệm vụ ổn định giá trị đồng tiền, NHTW đã xây dựng và thực thi các công cụ CSTT nhằm đưa tiền ra và rút tiền về từ lưu thông theo tín hiệu thị trường Trong đó, OMO là công cụ CSTT gián tiếp quan trọng nhất tại nhiều quốc gia làm thay đổi cung - cầu tiền tệ dẫn đến thay đổi lãi suất trên thị trường tiền tệ Thông qua việc mua bán GTCG tại thị trường mở, NHTW có thể

mở rộng hoặc thu hẹp khối lượng tiền dự trữ trong hệ thống ngân hàng và tác động một cách tốt nhất đến cơ số tiền tệ, lượng tiền cung ứng Như vậy, OMO đã tạo điều kiện cho NHTW hạn chế sử dụng các công cụ mang tính trực tiếp trong điều hành CSTT

Bên cạnh mục đích điều tiết vốn khả dụng của hệ thống ngân hàng, thông qua mua bán GTCG trên thị trường mở, NHTW còn cấp tín hiệu cho thị trường về định hướng điều hành CSTT trong tương lai là nới lỏng hay thắt chặt Đặc biệt khi thực hiện OMO thường xuyên và hiệu quả, lãi suất thị trường mở có ý nghĩa rất quan trọng trong việc định hướng, chỉ đạo lãi suất thị trường và qua đó NHTW có thể hạn chế những biến động của lãi suất thị trường

OMO là một công cụ CSTT có tính chủ động cao OMO do NHTW chủ động khởi xướng, khác với các nghiệp vụ cho vay hỗ trợ vốn khác của NHTW thường do các ngân hàng có nhu cầu vay vốn chủ động khởi xướng Như vậy,

Trang 7

NHTW có thể chủ động thực hiện OMO theo định kỳ hoặc vào các thời điểm cần thiết OMO có thể được thực hiện linh hoạt xét trên góc độ về khối lượng cũng như thời gian giao dịch NHTW có thể thực hiện OMO ở quy mô lớn/nhỏ (khối lượng mua bán GTCG lớn/nhỏ) với thời hạn dài/ngắn tuỳ theo quyết định mua/bán GTCG

OMO có thể khắc phục được những hạn chế của các công cụ kiểm soát tiền

tệ trực tiếp và các công cụ gián tiếp khác Các giao dịch OMO có tính hai chiều, qua đó NHTW có thể bơm thêm tiền vào lưu thông hoặc rút tiền từ lưu thông, trong khi công cụ TCV chỉ có thể bơm thêm tiền vào lưu thông Mặt khác, với công cụ OMO, NHTW có thể chủ động hơn trong việc điều tiết lưu thông, không phụ thuộc nhiều vào ý muốn chủ quan của NHTM như trong công cụ TCV Qua việc tính toán và dự báo vốn khả dụng cũng như lượng tiền cung ứng, NHTW có thể biết chính xác được khối lượng tiền cần bơm thêm hoặc rút về từ lưu thông

Thị trường mở có sự gắn kết chặt chẽ với các thị trường tiền tệ, đặc biệt là thị trường nội tệ liên ngân hàng Sự phát triển của thị trường mở tác động mạnh đến sự hoàn thiện và phát triển của thị trường liên ngân hàng

Nghiệp vụ thị trường mở được sử dụng để điều chỉnh vốn khả dụng của Ngân hàng NHTW mua làm tăng cơ số tiền, đồng thời làm tăng cung tiền và tăng

dự trữ của hệ thống NHTM và ngược lại

Bên cạnh đó, thực hiện nghiệp vụ thị trường mở còn giúp NHTW đánh tín hiệu ra thị trường về điều hành chính sách tiền tệ trong tương lai, định hướng và chỉ đạo lãi suất thị trường, qua đó có thể hạn chế những biến động của lãi suất

+ Phương thức giao dịch của nghiệp vụ thị trường mở

ĚCác loại giao dịch của nghiệp vụ thị trường mở

a Giao dịch không hoàn lại (mua bán hẳn)

Giao dịch không hoàn lại (mua bán hẳn) là các giao dịch mua bán GTCG của NHTW theo phương thức mua đứt, bán đoạn trên cơ sở giá thị trường Theo phương thức này, quyền sở hữu của GTCG là đối tượng giao dịch được chuyển sang cho NHTW hoặc ngược lại cho các thành viên tham gia giao dịch Do vậy tác động của giao dịch này đối với dự trữ ngân hàng thường là dài hạn

b Giao dịch mua bán có kỳ hạn

Phương thức giao dịch này thường được sử dụng cho mục đích giao dịch tạm thời thông qua các hợp đồng mua lại (Repos) hoặc hợp đồng mua lại đảo ngược Repos được sử dụng khi NHTW thực hiện m ua GTCG với thoả

Trang 8

thuận là sau một thời gian ngắn trong tương lai người bán sẽ mua lại các GTCG đó Repos đảo ngược được sử dụng khi NHTW thực hiện bán GTCG với thoả thuận người mua sẽ bán lại vào m ột ngày xác định trong tương lai Thông thường, Repos và Repos đảo ngược được sử dụng trong một khoảng thời gian ngắn với mục đích điều tiết vốn khả dụng của các NHTM một cách linh hoạt Giao dịch theo hợp đồng Repos thực chất là một khoản cho vay của NHTW có bảo đảm bằng các GTCG có tính thị trường cao

c Mua hẳn

Là việc ngân hàng Nhà nước mua và nhận quyền sở hữu giấy tờ có giá từ tổ chức tín dụng không kèm theo cam kết bán lại giấy tờ có giá

d Bán hẳn

Là việc ngân hàng Nhà nước bán và chuyển giao quyền sở hữu giấy tờ có giá cho tổ chức tín dụng không kèm theo cam kết mua lại giấy tờ có giá

3 Ưu và nhược điểm của nghiệp vụ thị trường mở

+Ưu điểm

-Ngân hàng trung ương có thể hoàn toàn chủ động kiểm soát được khối lượng giao dịch trong khi điều này không thể có ở các công cụ khác Ví dụ, trong nghiệp vụ chiết khấu, Ngân hàng trung ương có thể sử dụng lãi suất chiết khấu để điều tiết và khuyến khích các ngân hàng thương mại vay vốn nhưng trên thực tế Ngân hàng trung ương chỉ thông báo lãi suất chiết khấu mà không kiểm soát trực tiếp khối lượng cho vay chiết khấu

-Nghiệp vụ thị trường mở có thể sử dụng ở bất kỳ quy mô nào Khi có yêu cầu thay đổi về dự trữ hoặc cơ sở tiền tệ, dù ở mức nhỏ thế nào thì nghiệp vụ thị trường mở cũng có thể đạt được bằng cách mua hoặc bán một lượng nhỏ chứng khoán Ngược lại, nếu có yêu cầu thay đổi dự trữ hoặc cơ sở tiền tệ quy mô lớn, Ngân hàng trung ương cũng

có đủ khả năng thực hiện được thông qua việc mua hoặc bán một khối lượng lớn tương ứng các chứng khoán

-Nghiệp vụ thị trường mở dễ dàng đảo chiều Nếu Ngân hàng trung ương có mắc phải sai sót nào đó trong quá trình thực hiện nghiệp vụ thị trường mở, thì có thể ngay lập tức sửa chữa sai sót đó Ví dụ, khi Ngân hàng trung ương nhận thấy lãi suất trên thị trường tiền tệ (lãi suất ngắn hạn) hiện đang quá thấp do vừa qua Ngân hàng trung ương

đã thực hiện mua quá nhiều trên thị trường mở, thì có thể ngay tức khắc sửa chữa nó bằng cách bán ngay các giấy tờ có giá cho các ngân hàng

Trang 9

-Nghiệp vụ thị trường mở có tính an toàn cao Giao dịch trên thị trường mở hầu như không gặp rủi ro, xét trên góc độ của các Ngân hàng trung ương lẫn các Ngân hàng thương mại bởi vì, cơ sở đảm bảo cho các giao dịch thị trường mở đều là những giấy tờ

có giá, có tính thanh khoản cao, không có rủi ro tài chính

Nghiệp vụ thị trường mở có thể thực hiện một cách nhanh chóng, không vấp phải

sự chậm trễ của các thủ tục hành chính Khi Ngân hàng trung ương quyết định muốn thay đổi dự trữ hoặc cơ sở tiền tệ, Ngân hàng trung ương chỉ cần đưa ra yêu cầu cho các nhà giao dịch chứng khoán (trên thị trường tiền tệ) và sau đó việc mua bán sẽ được thực hiện ngay

+Nhược điểm

-Khả năng phát huy hiệu quả của nghiệp vụ thị trường mở không chỉ phụ thuộc vào Ngân hàng trung ương mà còn bị chi phối bởi môi trường kinh tế vĩ mô, hành vi của công chúng và các quyết định của các ngân hàng thương mại Do đó để công cụ này phát huy hiệu quả thì quốc gia đó phải có thị trường tài chính phát triển, hàng hóa của thị trường (các giấy tờ có giá ngắn hạn) phải phong phú và đa dạng

-Ngân hàng trung ương phải có khả năng dự báo được vốn khả dụng của toàn hệ thống để can thiệp mua bán, có như vậy việc can thiệp mới có ý nghĩa lớn trong việc tác động đến lượng tiền trung ương

-Khi Ngân hàng trung ương mua bán làm tác động đến lượng tiền trung ương, từ

đó sẽ ảnh hưởng tới lãi suất trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng Để tránh ảnh hưởng này thì Ngân hàng trung ương phải có các giải pháp xử lý phù hợp, đòi hỏi Ngân hàng trung ương phải nhạy cảm và linh hoạt trong việc phối hợp điều hành các công cụ chính sách tiền tệ

Tại các nước phát triển, nghiệp vụ thị trường mở được giao dịch hàng ngày Đó là nơi để các Ngân hàng thương mại tìm kiếm nguồn vốn bổ sung cho việc thiếu hụt khả năng thanh toán, Ngân hàng thương mại có thể đem bán lại các giấy tờ có giá mà mình sở hữu hoặc vay có thế chấp các giấy tờ có giá đó đối với Ngân hàng trung ương Thị trường

mở cũng là nơi các Ngân hàng thương mại có thể đầu tư vốn tạm thời tồn đọng của mình Khi Ngân hàng thương mại tạm thời có khoản vốn ngắn hạn chưa cho vay khách hàng được, Ngân hàng thương mại có thể mua các giấy tờ có giá đó do Ngân hàng trung ương bán ra Đó là một hành động đầu tư với một khoản lợi nhuận chắc chắn Thông qua các hoạt động mua và bán ở thị trường mở, Ngân hàng trung ương điều hành việc cung ứng tiền và lãi suất ngắn hạn

Trang 10

PHẦN II: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG MỞ VIỆT NAM TRONG

GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2008 ĐẾN 2012 1.Tình hình thực hiện nghiệp vụ Thị trường mở giai đoạn từ 2008 đến

2012

Đứng trước yêu cầu đổi mới mạnh mẽ của hoạt động ngân hàng và sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, từ năm 2 3, Sở Giao dịch đã được Thống đốc NHNN giao Chủ đầu tư Dự án “Trang thiết bị máy móc, nối mạng và thiết kế phần mềm nghiệp vụ thị trường tiền tệ và lưu ký GTCG tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước - Giai đoạn I” do Quỹ Hỗ trợ Pháp và Ngân hàng Phát triển Châu Á tài trợ (gọi tắt là Dự án AFD)

Đến tháng 11 2 7, chương trình chính thức được đưa vào sử dụng, cho phép các giao dịch thị trường tiền tệ nói chung và các giao dịch nghiệp vụ TTM nói riêng được kết nối trực tiếp giữa NHNN và các thành viên, nhanh chóng và hiệu quả, tạo điều kiện cho NHNN thực hiện nghiệp vụ TTM một cách kịp thời, thể hiện ở kết quả hoạt động trong 5 năm qua, từ năm 2 8 đến 2012

Năm 2008: nghiệp vụ TTM được điều hành khá linh hoạt, kết hợp với các công cụ

CSTT khác để điều tiết vốn khả dụng cho các TCTD ở mức hợp lí, góp phần ổn định thị trường tiền tệ Các nghiệp vụ TTM được thực hiện hàng ngày, chủ yếu thông qua hình thức đấu thầu khối lượng, công bố lãi suất nhằm ổn định thị trường

Trong 7 tháng đầu năm, NHNN đã thực hiện chào bán tín phiếu NHNN kỳ hạn

182 và 364 ngày, với lãi suất phổ biến tương ứng lần lượt là 7,5 năm và 7,75 năm Đồng thời, để hỗ trợ vốn ngắn hạn cho các TCTD, NHNN đã thực hiện các phiên chào mua giấy tờ có giá với kỳ hạn ngắn (7, 14, 21 và 28 ngày); khối lượng chào mua hàng ngày được xác định dựa trên nhu cầu vốn thanh toán và tình hình thị trường tiền tệ

Từ tháng 8-2008, trước tín hiệu khả quan về kiềm chế lạm phát, NHNN đã từng bước nới lỏng CSTT để thúc đẩy phát triển sản xuất NHNN tiếp tục thự hiện các phiên chào mua giấy tờ có giá kỳ hạn 7 – 14 ngày với khối lượng và lãi suất phù hợp với các loại lãi suất thời điểm đó

Về hoạt động thị trường đấu thầu tín phiếu Kho bạc: cả năm có 31 đợt đấu thầu tín phiếu được tổ chức Giá trị trúng thầu là 20.730 tỷ đồng, đạt 78% khối lượng chào thầu

và gần gấn đôi giá trị trúng thầu năm 2 7 Lãi suất trúng thầu giảm mạnh từ 15,7% xuống 8,38%

Năm 2009: nghiệp vụ TTM được điều hành linh hoạt, bám sát diễn biến cung – cầu vốn của các TCTD Các giao dịch nghiệp vụthịtrường mở được thực hiện hàng ngày, chủyếu là các giao dịch mua giấy tờcó giá với kỳhạn ngắn (7, 14 ngày)

Ngày đăng: 21/09/2021, 19:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w