Có đến hàng trăm loại hợp chất khác nhau trong dầu nhiệt phân, chủ yếu là các hợp chất chứa oxygen do quá trình phân hủy của các thành phần hóa học có trong sinh khối.. Các biến tính của
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
HUỲNH VĂN NAM
Nghiên cứu quá trình nhiệt phân bã mía thành nhiên liệu lỏng
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học:
Vào hồi …… giờ, ngày … tháng … năm ………
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
1 Thư viện Tạ Quang Bửu - Trường ĐHBK Hà Nội
2 Thư viện Quốc gia Việt Nam
Trang 31
GIỚI THIỆU LUẬN ÁN
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhu cầu về năng lượng đã và đang là vấn đề cấp thiết, luôn được đặt lên hàng đầu đối với mọi quốc gia Hiện nay trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, nguồn năng lượng được khai thác chủ yếu từ nguyên liệu hóa thạch Tuy nhiên, than đá, khí tự nhiên và dầu mỏ đang dần bị cạn kiệt, hơn nữa quá trình chuyển hóa nguồn nguyên liệu này thành năng lượng luôn thải ra môi trường nhiều khí thải gây ô nhiễm như CO2, SO2, NOx, gây nên hiệu ứng nhà kính phi tự nhiên, sự biến đổi khí hậu, thay đổi chu trình carbon trong tự nhiên,… Vì vậy, vấn đề cần đặt ra là tìm được nguồn năng lượng mới, có khả năng tái tạo, thân thiện với môi trường để thay thế
và một trong những nguồn năng lượng đáp ứng được yêu cầu đó phải
kể đến là năng lượng sinh học được tạo ra từ sinh khối
Dầu sinh học được sản xuất từ quá trình nhiệt phân sinh khối được coi là sự thay thế tiềm năng của nhiên liệu hóa thạch truyền thống Tuy nhiên, quá trình nhiệt phân sinh khối xảy ra hàng loạt các phản ứng nên thành phần sản phẩm tạo thành rất phức tạp, đặc biệt là sản phẩm lỏng (dầu nhiệt phân) Có đến hàng trăm loại hợp chất khác nhau trong dầu nhiệt phân, chủ yếu là các hợp chất chứa oxygen do quá trình phân hủy của các thành phần hóa học có trong sinh khối Vì thế, dầu nhiệt phân thô tồn tại các nhược điểm như hàm lượng oxygen cao nên nhiệt trị thấp; độ acid cao gây ăn mòn trong quá trình bảo quản, vận chuyển và sử dụng; độ nhớt và hàm lượng nước cao ảnh hưởng đến quá trình phun nhiên liệu và bắt cháy; khả năng bay hơi thấp và cháy không hoàn toàn,… Do đó, việc tìm ra phương pháp để nâng cấp dầu nhiệt phân là cần thiết
Dầu nhiệt phân có thể được chuyển hóa thành hydrocarbon thơm bằng cách cracking xúc tác trên xúc tác zeolite Một trong những zeolite được nghiên cứu rộng rãi nhất cho quá trình nhiệt phân sinh khối là ZSM-5 và biến tính của nó Các biến tính của xúc tác ZSM-5 được nghiên cứu trong quá trình nhiệt phân sinh khối chủ yếu
là tăng tính acid (HZSM-5) và đưa thêm các nguyên tố kim loại (Mg,
Ca, Sn, Zn, Ni, Fe, Ga,…) nhằm tăng cường khả năng vận chuyển hydrogen cho các phản ứng chuyển hóa dầu sinh học thành hydrocarbon thơm Mặc dù cơ chế của quá trình nhiệt phân sinh khối trên xúc tác chưa được chứng minh một cách rõ ràng nhưng qua quá trình nghiên cứu, các nhà khoa học đã chỉ ra được khả năng chuyển
Trang 4hóa các hợp chất chứa oxygen có trong dầu nhiệt phân thành hydrocarbon và đặc biệt là hydrocarbon thơm
Xuất phát từ cơ sở khoa học và thực tiễn nêu trên, hướng nghiên
cứu với đề tài “Nghiên cứu quá trình nhiệt phân bã mía thành nhiên liệu lỏng sử dụng chất xúc tác trên cơ sở HZSM-5” được
lựa chọn để nghiên cứu và đánh giá thành phần hóa học, các đặc trưng hóa lý, các thông số quá trình cháy của dầu nhiệt phân Và từ
đó, thực hiện quá trình nhiệt phân sinh khối có mặt của xúc tác để nâng cấp chất lượng dầu theo hướng ứng dụng làm nhiên liệu
2 Mục tiêu
Nghiên cứu quá trình nhiệt phân bã mía sử dụng chất xúc tác HZSM-5, Zn/HZSM-5, Fe/HZSM-5 với mục tiêu cải thiện một số đặc trưng hóa lý và nâng cao khả năng cháy của dầu nhiệt phân để sử dụng làm nhiên liệu đốt ngoài, thay thế dầu nhiên liệu FO
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu quá trình nhiệt phân từ nguồn sinh khối phụ phẩm nông lâm nghiệp, cụ thể là bã mía thải từ các nhà máy Đường ở khu vực miền Trung và Tây Nguyên của Việt Nam Đánh giá kết quả nghiên cứu trong phạm vi phòng thí nghiệm và khả năng ứng dụng
sản phẩm vào thực tiễn
4 Các đóng góp mới của luận án
- Nghiên cứu xác định mô hình động học và khả năng phá vỡ các liên kết hóa học của các thành phần chính có trong bã mía, từ đó
dự đoán được thành phần hóa học của sản phẩm lỏng khi tiến hành nhiệt phân tại các nhiệt độ khác nhau
- Dựa vào động học quá trình cháy đã xác định được giai đoạn cháy đồng thể và cháy dị thể của dầu nhiệt phân từ bã mía
- Nâng cao được khả năng cháy và giảm hàm lượng cặn của dầu nhiệt phân khi sử dụng xúc tác HZSM-5, Zn/HZSM-5 và Fe/HZSM-5 cho quá trình nhiệt phân bã mía
5 Cấu trúc của luận án
Luận án gồm 138 trang, gồm Mở đầu: 5 trang; Chương 1: Tổng quan: 32 trang; Chương 2: Thực nghiệm: 22 trang; Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận: 60 trang; Kết luận và đề xuất: 2 trang; Công trình đã công bố liên quan đến đề tài: 1 trang; Tài liệu tham
khảo: 16 trang
Trang 53
NỘI DUNG LUẬN ÁN CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Quá trình cháy của dầu nhiệt phân
1.2 Quá trình nhiệt phân không xúc tác
1.3 Nguyên liệu sinh khối
1.4 Tổng quan về xúc tác zeolite ZSM-5
1.5 Quá trình nhiệt phân trên xúc tác ZSM-5 và Me/ZSM-5 1.6 Tình hình nghiên cứu quá trình nhiệt phân ở Việt Nam và trên thế giới
CHƯƠNG 2 THỰC NGHIỆM 2.1 Nguyên liệu, hóa chất
2.2 Các phương pháp phân tích
Các phương pháp phân tích: TAPPI, TCVN, ASTM, TGA,
FT-IR, GC, GC-MS; Các phương pháp đặc trưng cấu trúc vật liệu: XRD, BET, TPD-NH3, SEM, EDX, XPS
2.3 Phương pháp tính toán động học và đặc trưng cháy 2.4 Phương pháp tổng hợp vật liệu xúc tác
- Tổng hợp xúc tác ZSM-5
- Tổng hợp xúc tác HZSM-5, Zn/HZSM-5, Fe/HZSM-5
2.5 Quá trình nhiệt phân
- Quá trình nhiệt phân bã mía không xúc tác
- Quá trình nhiệt phân xúc tác furfural, guaiacol và bã mía
Hình 2.2 Hệ thống nhiệt phân xúc tác sử dụng khí mang nitrogen
Trang 6CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đặc trưng của nguyên liệu bã mía
3.1.1 Đặc trưng kỹ thuật, thành phần hóa học của bã mía
Thành phần hóa học của bã mía bao gồm 43,63% cellulose; 18,12% hemicellulose; 23,19% lignin và 5,62% các hợp chất trích ly (hợp chất dễ bay hơi) Đặc trưng kỹ thuật bao gồm 5,36% hàm lượng ẩm; 80,92% chất bốc; 9,64% carbon cố định và 4,08% tro và các hợp chất khác Thành phần nguyên tố gồm 48,52% O; 43,79% C; 5,62% H; 0,58% N và 0,63% S Tổng nhiệt trị của bã mía là 17,48 MJ/Kg
3.1.2 Đặc trưng các liên kết hóa học của bã mía
Kết quả từ phổ FT-IR cho thấy, đặc trưng các liên kết hóa học của
bã mía bao gồm: nhóm -OH của nước hấp phụ và trong thành phần liên kết của các phân tử hemicellulose, cellulose, lignin và các hợp chất trích ly dễ bay hơi; nhóm -CH2, -CH3, liên kết C=O trong aldehyde, C=C trong vòng thơm và cầu nối C-O-C của các vòng 5 cạnh và 6 cạnh trong phân tử của hemicellulose, cellulose, lignin
3.1.3 Đặc trưng quá trình phân hủy nhiệt của bã mía
Quá trình nhiệt phân bã mía xảy ra bốn giai đoạn mất khối lượng Giai đoạn thứ nhất từ 25 - 170 oC mất khoảng 6,5% là giai đoạn thoát ẩm; Giai đoạn thứ hai từ 170 - 318 oC với độ giảm khối lượng khoảng 36,26%; Giai đoạn thứ ba từ 318 - 400 oC mất khoảng 37%
và giai đoạn thứ tư từ 400- 800 oC với độ giảm khối lượng khoảng 16% Phần rắn còn lại sau khi nhiệt phân tại 800 oC là 15,16%
3.2 Động học quá trình phân hủy nhiệt của bã mía
3.2.1 Động học các giai đoạn và khả năng bẻ gãy các liên kết hóa học trong quá trình phân hủy nhiệt của bã mía
Hình 3.4a cho thấy, ba giai đoạn đầu có quá trình giảm khối lượng xảy ra trong một phạm vi hẹp theo nhiệt độ, tương ứng với tốc
độ giảm khối lượng cực đại ở các mốc nhiệt độ là 70; 303 và 341 oC Giai đoạn cuối có quá trình giảm khối lượng xảy ra chậm và độ chuyển hóa gần như tuyến tính với nhiệt độ Giá trị của bậc phản ứng (n), hệ số trước hàm mũ (A) và năng lượng hoạt hóa được chọn với
hệ số tương quan cao nhất cho tuyến tính hóa, kết quả được thể hiện
ở Hình 3.4b và Bảng 3.3 Năng lượng hoạt hóa ở từng giai đoạn cho thấy sự phù hợp với quá trình thoát ẩm và các hợp chất trích ly khhi nhiệt độ dưới 170 oC; phân hủy của hemicellulose ở 170 - 318 oC; cellulose ở 318 - 400 oC và ở nhiệt độ lớn hơn 400 oC chủ yếu là sự phân hủy của lignin
Trang 75
0,1 0,2 0,3 0,4 0,5 0,6 0,7 0,8 0,9 1,0 0,0
0,2 0,4 0,6 0,8 1,0 1,2 1,4 1,6
Z(A2) Z(A4) Z(R1) Z(R3) Z(D1) Z(D3) Z(F1) Z(F3) Z(Exp)
Hình 3.5 Đường cong chính và
đường cong dữ liệu thực nghiệm thu
được bằng phương pháp Criado
(a)
0,001 0,002 0,003 -14
-12 -10 -8 -6 -4 -2 0
2
Vuøng 1 Vuøng 2 Vuøng 3 Vuøng 4.1 Vuøng 4.2
Hình 3.4 Độ chuyển hóa (α) và biến thiên độ chuyển hóa theo nhiệt
độ (dα/dT) trong từng giai đoạn phân hủy (a); Các kết quả tuyến tính của phương trình (2.28) cho nhiệt phân bã mía trong bốn giai đoạn (b)
Bảng 3.1 Các thông số động học của nhiệt phân bã mía cho từng
3.2.2 Mô hình động học chung của quá trình nhiệt phân bã mía
Kết quả được tính toán bằng
phương pháp Criado (Hình 3.5)
đã khẳng định rằng, giai đoạn
phân hủy nhiệt chính của bã mía
(giai đoạn 2 và 3) xảy ra theo cơ
chế khuếch tán theo hai, ba hoặc
bốn chiều Quá trình phân hủy
không chỉ ảnh hưởng bởi sự
khuếch tán nhiệt từ nguồn nhiệt
mà còn ảnh hưởng bởi sự khuếch
tán của khí nóng được hình thành
trong quá trình phân hủy mẫu
Trang 8Do đĩ, để tăng hiệu suất trong quá trình nhiệt phân, đặc biệt là hiệu suất thu hồi sản phẩm lỏng, cần giảm kích thước của hạt nguyên liệu, giảm thời gian tiếp xúc của nguyên liệu với nguồn nhiệt, đồng thời đưa nhanh hỗn hợp sản phẩm ra khỏi vùng phản ứng để giảm nồng
độ các chất trong mơi trường phản ứng và tránh các phản ứng thứ cấp chuyển hĩa sản phẩm lỏng thành sản phẩm khí Để thỏa mãn các điều kiện trên thì thiết bị phản ứng loại ống, đặt thẳng đứng và dịng liên tục là lựa chọn tối ưu nhất cho quá trình nhiệt phân sinh khối Và
từ những kết quả này, hệ thống nhiệt phân liên tục (xem Hình 2.2) đã được xây dựng với các điều kiện nhiệt phân được lựa chọn phù hợp, thuận lợi cho quá trình thu hồi sản phẩm lỏng đạt hiệu suất cao nhất bao gồm: ống phản ứng cĩ đường kính 20 mm, chiều dài vùng phản ứng 400 mm; tốc độ dịng khí mang nitrogen 50 mL/phút được gia nhiệt sơ bộ trước khi đưa vào ống phản ứng; kích thước hạt sinh khối nhỏ hơn 2 mm, tốc độ nạp liệu 10 g/giờ; ống phản ứng được gia nhiệt đạt đến nhiệt độ phản ứng trước khi nạp liệu, tốc độ gia nhiệt duy trì khoảng 20 - 25 oC/phút Kết quả tính tốn cho thấy, thời gian cần thiết để quá trình truyền nhiệt và khuếch tán vật chất ra khỏi hạt sinh khối khoảng 0,02 giây, trong khi thời gian lưu của hạt sinh khối trong vùng phản ứng khoảng 0,28 giây, thời gian này đủ để quá trình chuyển hĩa các hạt sinh khối xảy ra hồn tồn
3.3 Quá trình nhiệt phân bã mía khơng xúc tác
3.3.1 Hiệu suất sản phẩm quá trình nhiệt phân theo nhiệt độ
0 10 20 30 40
2,42 12,20
29,79 32,51
600 500 400 318
Hiệu suất lỏng Hiệu suất lỏng tích lũy
Trang 97 Hình 3.6 và Hình 3.7 cho thấy, hiệu suất thu hồi sản phẩm lỏng ở nhiệt độ dưới 170 oC chiếm 23,08%; từ 170 - 318 oC và 318 - 400 oC
có hiệu suất sản phẩm lỏng thu được cao nhất, lần lượt chiếm 32,51% và 29,79% tổng lượng sản phẩm lỏng Từ 400 - 500 oC và
500 - 600 oC có hiệu suất lỏng thu được khá thấp, lần lượt là 12,2%
và 2,42% Giá trị nhiệt độ để thu sản phẩm lỏng với hiệu suất cao nhất được chọn là 600 oC
3.3.2 Đặc trưng của sản phẩm rắn nhiệt phân
Phổ FT-IR của sản phẩm rắn quá trình nhiệt phân thu được ở các nhiệt độ khác nhau đã chứng tỏ được khả năng phá vỡ các liên kết hóa học của mỗi thành phần trong bã mía theo nhiệt độ và kết quả
này phù hợp với kết quả phân tích nhiệt theo mô hình động học nhiều
giai đoạn
3.3.3 Đặc trưng của sản phẩm khí nhiệt phân
Thành phần khí (% thể tích) bao gồm CO2 chiếm nhiều nhất đến 49,2%; kế đến là CO chiếm 31,89%; 8,25% H2; 7,46% CH4 và một
số hydrocarbon nhẹ C2+ (C2H4, C2H6, C3H6, C3H8) chiếm 3,2% Với
sự có mặt của H2, CH4 và một số các hydrocarbon nhẹ sẽ thúc đẩy sự hình thành hydrocarbon thơm trong quá trình nhiệt phân xúc tác
3.3.4 Đặc trưng của sản phẩm lỏng nhiệt phân
3.3.4.1 Một số đặc trưng hóa lý và thành phần nguyên tố
Các kết quả phân tích cho thấy, hàm lượng nước trong dầu nhiệt phân rất cao, chiếm đến 21,4% khối lượng Thành phần pha của sản phẩm lỏng chủ yếu là các hợp chất phân cực (WP) chiếm 78,06% khối lượng và đó là nguyên nhân làm cho dầu nhiệt phân có tính acid cao (trị số pH thấp, chỉ khoảng 2,25) Ngược lại, hàm lượng các chất không phân cực (OP) thấp, chiếm 21,94% khối lượng Khối lượng riêng ở 20 oC của dầu nhiệt phân là 1215 kg/m3, nặng hơn nhiều so với dầu FO; độ nhớt ở 50 oC khá thấp (15,34 cSt), gần bằng 1/12 lần
so với dầu FO Mặt khác, vì dầu nhiệt phân chứa hàm lượng nước và pha phân cực cao nên làm cho nhiệt trị giảm đáng kể (24,22 MJ/Kg) thấp hơn so với dầu FO (41 MJ/Kg) Về thành phần nguyên tố, dầu nhiệt phân từ bã mía chứa 58,31% C; 34,58% O; 5,83% H; 0,8% N; 0,48% S và 0,16% các nguyên tố không xác định, thường là các kim loại kiềm, kiềm thổ và một ít kim loại nặng trong thành tro của dầu
3.3.4.2 Đặc trưng liên kết hóa học
Kết quả phân tích thành phần liên kết hóa học theo phương pháp phổ FT-IR của các mẫu sản phẩm lỏng ở các giai đoạn nhiệt phân
Trang 10L170 L318 L400 L500 L600 LT 0
20 40 60 80 100
theo nhiệt khác nhau (Hình 3.10) một lần nữa chứng minh khả năng
bẻ gãy các liên kết hóa học của sinh khối theo nhiệt độ đã nghiên cứu
ở phần động học các giai đoạn của quá trình nhiệt phân
Acids
Phenols,Guaiacols
Furans
Hình 3.10 Phổ FT-IR của các sản phẩm lỏng thu được sau mỗi giai
đoạn nhiệt phân 3.3.4.3 Đặc trưng thành phần hóa học
Trang 119
Hình 3.13 Con đường hình thành sản phẩm lỏng của quá trình nhiệt
phân sinh khối
Hình 3.13 biểu diễn sơ đồ quá trình phân hủy các hợp chất lignocellulose qua sự thay đổi của nhiệt độ được thiết lập dựa trên quá trình nghiên cứu động học và phân tích các sản phẩm của quá trình nhiệt phân bã mía không xúc tác Có thể thấy rằng sự phân hủy cellulose và hemicellulose chủ yếu gồm hai bước Ở bước đầu tiên với mức nhiệt độ thấp dao động từ 170 đến 318 °C, cellulose và hemicellulose trải qua một loạt các phản ứng đề polymerhóa và mất nước để tạo thành methanol, acetic acid, furan và furfural Trong bước thứ hai ở nhiệt độ phản ứng cao hơn, thay đổi từ 318 đến 400°C thì liên kết C=O bị phá vỡ và kết hợp lại để tạo ra các hợp chất mạch dài như 2-furancarboxaldehyd, 5-methyl-; 2-cyclopenten-1-one, 3 -ethyl-2-hydroxy-; 2-furanmethanol và tetrahydro-2,5-dimethoxy-furan Trong khi đó, quá trình phân hủy lignin xảy trong suốt quá trình nhiệt phân, bắt đầu từ nhiệt độ 170 oC Quá trình đề polymer hóa và khử nước của lignin để tạo thành các hợp chất phenol xảy ra ở nhiệt độ từ 400 đến 600 °C Trong khoảng nhiệt độ này, các vị trí của liên kết C-C-C và C-O-C bị phá vỡ để tạo thành các hợp chất như phenol, guaiacol, eugenol, syringol, cresol
3.3.4.4 Đặc trưng nhiệt, quá trình bay hơi và cháy của dầu nhiệt phân
Quá trình hóa hơi và cháy của dầu nhiệt phân trãi qua 3 giai đoạn (Hình 3.15) Giai đoạn 1 ở nhiệt độ dưới 310 oC, là giai đoạn mà nước và hợp chất nhẹ (alcohol, ketone, acid và aldehyde) bị bay hơi với khoảng 67% khối lượng Giai đoạn thứ hai có nhiệt độ từ 310
Trang 12đến 450 oC với độ giảm khối lượng khoảng 13,5% Trong giai đoạn này xảy ra quá trình bay hơi của các các hợp chất nặng hơn, đồng thời xảy ra quá trình oxi hóa và ngưng tụ tạo cặn, là giai đoạn chuyển tiếp từ giai đoạn cháy hơi hơi sang giai đoạn đốt cháy cặn Giai đoạn thứ ba là giai đoạn đốt cháy cặn, tương ứng với khoảng 17,5% khối lượng
T
5 0
T
-5 -4 -3 -2 -1 0
-1 0 1 2 3 4
Hình 3.15 Các giai đoạn của quá trình hóa hơi và cháy của dầu
Bảng 3.6 Thông số động học của dầu nhiệt phân trong môi trường
Ea (kJ/mol)
A (Phút-1)
1 30 - 310 3,0 29,3 4,15×102 44,9 6,58×102
2 310 - 450 2,5 11,6 0,18×102 4,7 0,3×10-2
3 450 - 650 3,0 137,3 1,11×1010 27,4 1,56 Kết quả tính toán động học quá trình bay hơi và cháy của dầu nhiệt phân (Bảng 3.6) cho thấy, giai đoạn 3 không tuân theo mô hình khuếch tán, nghĩa là không xảy ra quá trình bay hơi hoặc cháy đồng thể trong pha hơi của dầu nhiệt phân mà ở đây xảy ra quá trình cháy
dị thể Từ Bảng 3.7 có thể thấy rằng, đặc tính đốt cháy của dầu nhiệt phân thấp hơn nhiều so với xăng, dầu diesel và dầu động cơ nhưng tương đương với dầu nhiên liệu Tuy nhiên, dầu nhiệt phân khó bắt cháy hơn FO nhưng lại có trị số cháy tổng cao hơn Khả năng bắt cháy thấp của dầu nhiệt phân chủ yếu do chứa hàm lượng nước cao hơn nhiều so với dầu FO Ngoài ra còn do sự khác biệt về thành phần
Trang 1311 hóa học và sự hình thành cặn trong quá trình đốt cháy, dầu nhiệt phân khi đốt cháy tạo ra hàm lượng cặn cao hơn dầu nhiên liệu
Bảng 3.7 Tổng trị số đặc tính cháy của dầu nhiệt phân so với xăng,
dầu diesel, dầu động cơ và dầu nhiên liệu FO
Mẫu dầu
Trị số đặc tính cháy
Di×10 -4 (wt%.phút -1 o C -2 )
Db×10 -6 (wt%.phút -1 o C -3 )
S×10 -6 (wt%.phút -1 o C -3 )
Hình 3.19 Phổ FT-IR (a) và ảnh SEM (b)
của cặn dầu nhiệt phân
3.4 Quá trình nhiệt phân bã mía có xúc tác
3.4.1 Kết quả tổng hợp và đặc trưng cấu trúc vật liệu xúc tác
Các mẫu xúc tác HZ, 3ZnHZ và 2FeHZ được lựa chọn làm đại diện để đặc trưng cấu trúc vật liệu xúc tác, bao gồm các phương pháp phân tích hóa lý hiện đại như XRD, SEM, EDX, BET, XPS và TPD-NH3 Các kết quả đặc trưng cấu trúc vật liệu xúc tác nhận được nhằm mục đích chứng minh cho việc điều chế thành công hệ xúc tác trên
cơ sở HZSM-5
Từ giản đồ XRD Hình 3.20 cho thấy, tại vị trí góc nhiễu xạ 2θ bằng 8,14; 9,02; 23,28; 24,1 và 24,58o tương ứng với các mặt tinh thể lần lượt là (101); (200); (332); (303) và (133) Các pic nhiễu xạ