ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC DƯƠNG THỊ PHƯƠNG THẢO NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT VÀ ĐÁNH GIÁ SƠ BỘ CHẤT LƯỢNG DƯỢC LIỆU CỦA SÂM BỐ CHÍNH ABELMOSCHUS SAGITTIFOLI
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
DƯƠNG THỊ PHƯƠNG THẢO
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT VÀ ĐÁNH GIÁ SƠ BỘ CHẤT LƯỢNG DƯỢC LIỆU CỦA
SÂM BỐ CHÍNH (ABELMOSCHUS SAGITTIFOLIUS
(KURZ) MERR.) Ở VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH DƯỢC
Hà Nội – 2021
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
DƯƠNG THỊ PHƯƠNG THẢO
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT VÀ ĐÁNH GIÁ SƠ BỘ CHẤT LƯỢNG DƯỢC LIỆU CỦA
SÂM BỐ CHÍNH (ABELMOSCHUS SAGITTIFOLIUS
(KURZ) MERR.) Ở VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
(NGÀNH DƯỢC HỌC)
Khóa: QH 2016Y Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Đinh Đoàn Long
PGS.TS Phạm Thanh Huyền
Hà Nội – 2021
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thiện tốt khóa luận này, em đã nhận được rất nhiều lời động viên cùng
sự giúp đỡ tận tình của tất cả mọi người Lời đầu tiên em xin bày tỏ sự kính trọng và
lời cảm ơn chân thành tới PGS.TS Đinh Đoàn Long - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Y dược (Đại học Quốc Gia Hà Nội) và PGS.TS Phạm Thanh Huyền - Trưởng
khoa Tài nguyên dược liệu (Viện Dược liệu), những người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ, luôn động viên, chu đáo và tạo điều kiện tốt nhất cho em Thầy, Cô đã tạo cảm hứng cho em để em có thể nỗ lực, cố gắng nhiều hơn trong việc học tập và hoàn thành khóa luận này
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Phạm Thị Hồng Nhung (Bộ môn
Y dược học cơ sở, Trường Đại học Y dược) đã tận tình giúp đỡ, hỗ trợ em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tại Trường Cô đã truyền tải cho em nhiều kinh nghiệm
và bài học bổ ích giúp em có thể vận dụng tốt vào quá trình hoàn thiện và trau dồi bản thân, khiến em tự tin hơn trong mọi công việc
Em xin chân thành cảm ơn ThS Phạm Thị Ngọc, ThS Lại Việt Hưng, ThS
Nguyễn Quỳnh Nga và các cán bộ, anh, chị tại Viện Dược liệu, đặc biệt là Khoa Tài
nguyên dược liệu đã luôn giúp đỡ, chỉ bảo tận tình em trong quá trình thực hiện khóa luận tại Viện Dược liệu Em cũng xin cảm ơn các cán bộ tại Khoa Hóa phân tích – Tiêu chuẩn đã giúp đỡ em nhiệt tình để em có thể nhanh chóng hoàn thiện và thu thập
số liệu đầy đủ cho khóa luận Tại đây, em đã tích lũy được nhiều kiến thức bổ ích và được cảm nhận sự say mê với công tác nghiên cứu dược liệu Việt Nam
Em xin trân trọng cảm ơn các Thầy, Cô giảng viên Trường Đại học Y dược (Đại học Quốc gia Hà Nội), đặc biệt là các Thầy, Cô bộ môn Y dược học cơ sở đã luôn quan tâm, hỗ trợ và khích lệ em trong suốt quá trình học tập, hoàn thành khóa luận và trau dồi kiến thức tại trường Hơn hết, em xin dành lời cảm ơn sâu sắc đến Ban Giám hiệu Trường Đại học Y dược đã luôn tạo điều kiện tốt nhất cho sinh viên chúng em để chúng em có nhiều cơ hội học tập và rèn luyện bản thân Em tin với những kiến thức và kinh nghiệm mà Thầy, Cô đã truyền tải, chúng em sẽ vững tin hơn trên con đường gắn bó với nghề
Em xin chân thành cảm ơn đề tài “Nghiên cứu bảo tồn nguồn gen cây thuốc
đặc hữu, quý, hiếm của vùng Đông Nam Bộ tại Khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai”, mã số: NVQG-2017/23 đã hỗ trợ hoàn thiện nghiên cứu này
Trang 4Em cũng xin gửi lời cảm ơn và sự yêu thương tới gia đình, người thân, bạn bè
đã luôn tạo điều kiện, quan tâm, khích lệ, động viên em trong suốt quá trình học tập
và hoàn thiện bản thân cũng như hoàn thành khóa luận này
Trong quá trình làm thực nghiệm và thực hiện khóa luận tại Viện Dược liệu,
em đã luôn học hỏi và cố gắng để hoàn thành khóa luận này Nhưng do kiến thức còn hạn hẹp và nhiều thiếu sót nên khóa luận của em không tránh khỏi những sai sót cần
bổ sung và hoàn chỉnh Em kính mong nhận được sự góp ý của các Thầy, Cô cùng anh, chị để khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Cuối cùng em xin kính chúc thầy, cô luôn mạnh khỏe, công tác tốt, và luôn là những người giúp đỡ các thế hệ sinh viên sau này để các em là những người có ích cho đất nước và xã hội
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2021
Sinh viên
Dương Thị Phương Thảo
Trang 5DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Tên đầy đủ
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.1 Vị trí phân bố chi Abelmoschus trên thế giới 3
Hình 1.2 Vị trí phân bố loài A sagittifolius trên thế giới 8
Hình 1.3 Cấu trúc các hợp chất có trong rễ củ Sâm bố chính 9
Hình 1.4 Các sản phẩm trên thị trường chứa Sâm bố chính 12
Hình 3.1 Hình dạng cây Sâm bố chính 22
Hình 3.2 Hình dạng và lát cắt rễ củ Sâm bố chính 22
Hình 3.3 Hình dạng lá Sâm bố chính 23
Hình 3.4 Hình dạng hoa Sâm bố chính 23
Hình 3.5 Hình dạng quả Sâm bố chính 24
Hình 3.6 Cách sắp xếp hạt và hình dạng hạt Sâm bố chính 24
Hình 3.7 Cấu tạo vi phẫu thân Sâm bố chính 25
Hình 3.8 Cấu tạo vi phẫu gân lá Sâm bố chinh 26
Hình 3.9 Cấu tạo vi phẫu phiến lá 27
Hình 3.10 Cấu tạo vi phẫu rễ Sâm bố chính 27
Hình 3.11 Bột rễ dược liệu Sâm bố chính 28
Hình 3.12 Thành phần bột rễ củ Sâm bố chính 28
Hình 3.13 Kết quả phản ứng màu định tính dược liệu 29
Hình 3.14 Bột dược liệu quan sát dưới ánh sáng tử ngoại 29
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Kí hiệu mẫu và địa điểm thu mẫu 14
Bảng 3.1 Kết quả xác định tro toàn phần 30
Bảng 3.2 Kết quả xác định tro không tan trong acid hydroclorid 30
Bảng 3.3 Kết quả xác định chất chiết được trong dược liệu 31
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC HÌNH
DANH MỤC CÁC BẢNG
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Tổng quan về chi Abelmoschus 3
1.1.1 Vị trí phân bố và các loài thuộc chi 3
1.1.2 Đặc điểm thực vật 5
1.1.3 Lịch sử nghiên cứu 6
1.2 Tổng quan về loài Sâm bố chính 7
1.2.1 Đặc điểm thực vật 7
1.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 7
1.2.3 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 10
1.2.4 Một số bài thuốc y học cổ truyền chứa Sâm bố chính 12
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
2.1 Đối tượng nghiên cứu 14
2.2 Phương pháp nghiên cứu 15
2.2.1 Phương pháp kế thừa tài liệu 15
2.2.2 Phương pháp thu thập mẫu vật 15
2.2.3 Phương pháp nghiên cứu hình thái so sánh 15
2.2.4 Phương pháp nghiên cứu giải phẫu 15
2.2.5 Phương pháp phân tích bột dược liệu 16
2.2.6 Phương pháp đánh giá chất lượng dược liệu 17
2.3 Hóa chất, trang thiết bị sử dụng 19
2.3.1 Hóa chất sử dụng 19
2.3.2 Trang thiết bị sử dụng 19
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 21
3.1 Thu thập mẫu và thẩm định tên khoa học 21
Trang 93.2 Đặc điểm hình thái loài Sâm bố chính 21
3.3 Đặc điểm vi phẫu loài Sâm bố chính 25
3.3.1 Thân 25
3.3.2 Lá 26
3.3.3 Rễ 27
3.4 Đặc điểm bột dược liệu 28
3.5 Đánh giá chất lượng dược liệu 29
3.5.1 Định tính 29
3.5.2 Độ ẩm 30
3.5.3 Tro toàn phần 30
3.5.4 Tro không tan trong acid hydroclorid 30
3.5.5 Định lượng 31
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 32
4.1 Về đặc điểm thực vật 32
4.1.1 Về thẩm định tên khoa học và đặc điểm hình thái 32
4.1.2 Về đặc điểm vi phẫu 33
4.2 Về đánh giá chất lượng dược liệu 34
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 37 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 101
MỞ ĐẦU
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, các mùa trong năm thay đổi nên
có thể nhận thấy nước ta chứa hệ thực vật vô cùng phong phú, đa dạng và độc đáo Thực vật ở nước ta không chỉ được dùng làm lương thực cho con người mà còn là kho thuốc quý giá, tạo ra nguồn dược liệu rất đa dạng và hữu ích Những dược liệu này được dùng trong Đông y từ thời xưa đến nay vẫn được người dân rất tin tưởng
sử dụng vì có nguồn gốc tự nhiên và tốt cho sức khỏe Hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam, xu hướng nghiên cứu đa dạng các loài thực vật, sử dụng sản phẩm
có nguồn gốc thiên nhiên ngày càng phát triển Do vậy, nghiên cứu và phân loại các giống loài phục vụ phát triển thuốc, các sản phẩm chữa bệnh từ thực vật là một trong những xu hướng đang được quan tâm hiện nay
Chi Abelmoschus là một trong những chi thực vật chứa nhiều loài có khả năng cao phục vụ chăm sóc sức khỏe Trên thế giới, chi Abelmoschus gồm khoảng 15 loài
thực vật, có nguồn gốc từ khu vực nhiệt đới Châu Phi, Châu Á và miền bắc nước Úc
[38] Trong đó một số loài như A manihot, A crinitus, A esculentus, A moschatus,…
đã được nghiên cứu có tác dụng chống oxy hóa, kháng khuẩn và trên các bệnh như đái tháo đường, viêm cầu thận mạn tính [20, 23, 26] Những phát hiện này đều được cho là có tiềm năng phát triển thành các dạng thuốc có khả năng điều trị bệnh Ở Việt Nam,chi Abelmoschus có 5 loài, phân bố rộng khắp vùng núi thấp phía Bắc, được sử dụng khá phổ biến Trong đó loài A sagittifolius được coi là loài đặc hữu ở Việt Nam
với tên gọi Sâm bố chính, Thổ hào sâm, Nhân sâm Phú Yên,…
Sâm bố chính (Abelmoschus sagittifolius (Kurz) Merr.) thuộc chi Abelmoschus, họ Bông (Malvaceae) Rễ loài cây này trong y học cổ truyền được sử
dụng như một vị thuốc bổ cho cơ thể, dùng khi cơ thể suy nhược, kém ăn, kém ngủ, thần kinh suy nhược,… Ở Trung Quốc, người ta xem rễ, lá như có tác dụng tư âm thanh nhiệt, bài nung bạt độc, rễ và lá dùng chữa lao phổi, ho do phổi khô, sản hậu tiện bí, thần kinh suy nhược, mụn nhọt sưng lở [3] Ở Việt Nam, Sâm bố chính được
sử dụng như một loài dược liệu quý, tuy nhiên hiện nay vẫn chưa có những nghiên cứu đầy đủ để chứng minh những công dụng của loài cây này Sâm bố chính đã được
mô tả về hình thái nhưng vẫn dễ nhầm lẫn với một số loài cùng chi Đậu bắp
(Abelmoschus) do có những đặc điểm tương đồng như cây thân cỏ; lá chia thùy chân
vịt, có lông nhám; quả nang, hình thoi, hình bầu dục hay thuôn dài, thường có chóp nhọn, khi chín mở ở lưng thành 5 mảnh quả, có lông cứng,… Ngoài tự nhiên, hình thái của Sâm bố chính cũng khá biến đổi tùy khu vực, cây có thể có dạng học đứng
Trang 112
hay trườn, phân nhánh ít hay nhiều, lá đa hình, hoa có các màu khác nhau Bên cạnh
đó, đặc điểm vi phẫu và thành phần bột dược liệu theo tiêu chuẩn của Dược điển Việt Nam của loài cây này còn chưa được nghiên cứu và mô tả chi tiết Chính vì vậy,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Nghiên cứu đặc điểm đặc điểm thực vật và đánh
giá sơ bộ chất lượng dược liệu loài Sâm bố chính (Abelmoschus sagittifolius
(Kurz) Merr.) ở Việt Nam” với mục tiêu:
1) Mô tả đặc điểm thực vật của loài Sâm bố chính chi tiết và hoàn chỉnh;
2) Đánh giá sơ bộ chất lượng dược liệu Sâm bố chính theo các chỉ tiêu trong Dược điển Việt Nam V
Những kết quả thu được là những dẫn liệu bổ sung cho các mô tả trong nước
về loài Sâm bố chính (Abelmoschus sagittifolius (Kurz) Merr.), đồng thời đây cũng
là dẫn liệu khoa học phục vụ công tác chuẩn hóa dược liệu, tạo tiền đề cho việc phát triển Sâm bố chính ở Việt Nam
Trang 123
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 Tổng quan về chi Abelmoschus
1.1.1 Vị trí phân bố và các loài thuộc chi
Chi Abelmoschus có nguồn gốc từ khu vực nhiệt đới châu Phi, châu Á và miền
Bắc Úc, phân bố hầu hết ở khắp các nơi trên thế giới [39] (hình 1.1) Các loài thuộc
chi Abelmoschus được định danh và phân loại theo các khóa phân loại phù hợp Dựa
vào các đặc điểm khác nhau về hình thái lá, màu sắc, kích thước, cách sắp xếp cánh hoa để phân loại thành các loài [38] Theo “The Catalogue of Life” (2014), chi
Abelmoschus có các loài được định danh tên khoa học như: Abelmoschus angulosus; Abelmoschus caillei; Abelmoschus crinitus; Abelmoschus enbeepeegearensis; Đậu bắp (Abelmoschus esculentus); Abelmoschus ficulneus; Abelmoschus hostilis; Abelmoschus manihot; Abelmoschus moschatus; Abelmoschus muliensis; Abelmoschus palianus; Sâm bố chính (Abelmoschus sagittifolius)… Bên cạnh đó, cũng có khoảng 18 thứ thuộc chi Abelmoschus hoặc tên đồng nghĩa với 10 loài nói trên Trong các loài thuộc chi Abelmoschus, loài Sâm bố chính (Abelmoschus sagittifolius) được biết đến là loài đặc hữu của Việt Nam, có giá trị cao về dược liệu
và đặc điểm phân bố, sinh thái [41]
Hình 1.1 Vị trí phân bố chi Abelmoschus trên thế giới
Nguồn: The International Plant Names Index and World Checklist of Selected Plant
Families 2021
Trang 134
Theo “Plants of the World” [39], chi Abelmoschus có 11 loài được chấp nhận
và định danh bao gồm:
Abelmoschus angulosus Wall ex Wight & Arn.;
Abelmoschus caillei (A.Chev.) Stevels;
Abelmoschus crinitus Wall.;
Abelmoschus enbeepeegearensis KJ John, Scariah, Nisar, KV Bhat & SR
Yadav;
Abelmoschus esculentus (L.) Moench;
Abelmoschus ficulneus (L.) Wight & Arn.;
Abelmoschus hostilis (Wall Ex Mast.) MS Khan & MS Hussain;
Abelmoschus manihot (L.) Medik.;
Abelmoschus moschatus Medik.;
Abelmoschus muliensis KM Feng;
Abelmoschus palianus Sutar, KV Bhat & SR Yadav;
Abelmoschus sagittifolius (Kurz) Merr
Ở Việt Nam, theo nghiên cứu của Đỗ Thị Xuyến [18], chi Abelmoschus có 4
loài, 1 phân loài và 1 thứ phân bố khá phổ biến trong cả nước
Khóa định loại các loài thuộc chi Abelmoschus ở Việt Nam
1A Đài phụ 4 - 6 hình trứng, rộng 0,5 - 10 mm Hoa màu vàng đậm…….3 A manihot 2A Cây có lông thưa màu trắng, mềm hay gần như nhẵn…… 3a ssp manihot
2B Cây có lông dày đặc, màu vàng, cứng……… 3b ssp
tetraphyllus var pungens
1B Đài phụ 6 - 20, hình dải hay mũi giáo; rộng 0,1 - 0.3 mm Hoa màu vàng nhạt, trắng ngà, hồng hay màu đỏ
3A Đài phụ (10) 12 - 20, rộng, 0,1 - 0,2 mm Quả gần hình cầu, dài 3(4) cm 1
A crinitus
3B Đài phụ 6 - 10, rộng 0,2 - 0,3 mm Quả hình thoi, bầu dục, thuôn dài, dài 4 - 25
cm
4A Cuống hoa 1 - 2 cm, cuống quả 3-5 cm Cây thường nhẵn hay có lông rất
ngắn Quả hình thuôn dài 10 - 25 cm……….2 A esculentus
4B Cuống hoa 3 - 5(7) cm, cuống quả 7-20 cm Cây thường có lông cứng dày màu vàng Quả hình thoi hay hình bầu dục, dài 4-8 cm
Trang 145
5A Cây cao 1 - 2(3,5) m, rễ không bao giờ phình thành củ Hoa màu vàng nhạt,
gốc cánh hoa mặt trong màu nâu hay tím Quả dài 5 - 8 cm Hạt nhẵn 4 A
moschatus
5B Cây cao 0,3 - 0,5(0,7) m, rễ thường phình to thành củ Hoa màu đỏ, hồng, hiếm khi vàng, gốc cánh hoa mặt trong màu đỏ hay hồng Quả dài 4 - 5 cm
Hạt thường có lông tơ ………5 A sagittifolius
Theo “Hệ thống phân loại về ngành Ngọc lan (Magnoliophyta)” của tác giả A
Takhtajan [32], chi Abelmoschus là một trong các chi điển hình thuộc họ Bông
(Malvaceae) Ở Việt Nam, trong công trình “Một số dẫn liệu mới về chi Đậu bắp
(Abelmoschus Medic.) ở Việt Nam” [18], tác giả Đỗ Thị Xuyến cũng đã đặt chi Abelmoschus thuộc Họ Bông (Malvaceae), phù hợp với các dẫn liệu của nhiều tài liệu
nghiên cứu trước đó của Phạm Hoàng Hộ [8], Võ Văn Chi [2] Do đó, nghiên cứu này chúng tôi đã lựa chọn hệ thống phân loại của Takhtajan để xác định vị trí của chi
Abelmoschus trong thang hệ thống phân loại
1.1.2 Đặc điểm thực vật
Theo Đỗ Thị Xuyến [18] kết hợp với tài liệu của Peter H Raven và cs [34],
chi Abelmoschus có những đặc điểm thực vật đặc trưng Tuy nhiên mỗi loài trong chi
đều có những đặc điểm riêng biệt để dễ dàng nhận biết và phân biệt Đặc điểm đăc trưng của chi được mô tả chi tiết trong khóa phân loại bao gồm: Cây thân cỏ hay bụi nhỏ, cao đến 3,5 m; có loài rễ phát triển thành củ Lá hình tim, hình tròn, xoan tròn hay hình mũi tên; kích thước thường lớn, thường chia thùy chân vịt, 3-7 thùy nông hay sâu tới 1/2 chiều dài của lá; gốc lá tròn, hình tim hay mũi giáo; chóp lá tù tròn hay nhọn; thường có lông nhám, hiếm khi nhẵn; cuống lá dài Lá kèm hình chỉ, hình dùi hay mũi giáo, có lông Cụm hoa thường đơn độc ở nách lá hay chùm ở đỉnh cành, nhiều khi phát hoa dày ở đỉnh cành tạo chùm giả Hoa to, thường màu vàng, hiếm khi màu đỏ, có thể đổi màu tùy theo thời gian hoa nở Đài phụ thường nhiều, hình dải, hình mũi giáo, hay hình trứng rộng, có lông dày đặc Đài hình mo, chóp có 5 răng rất nhỏ, có khi gần như nguyên, có lông màu vàng phủ dày, thường sớm rụng Cánh hoa
5, hình trứng hay hình bầu dục Nhị nhiều, ống chỉ nhị ngắn hơn tràng, không lông, các bao phấn bao phủ từ gốc đến ngọn của ống chỉ nhị, chỉ nhị phần tự do thường hình đầu Quả nang, hình thoi, hình bầu dục hay thuôn dài, thường có chóp nhọn, khi chính nở ở lưng thành 5 mảnh quả, có lông cứng Hạt hình thận hay hình cầu, thường nhẵn Ít khi có lông rải rác, có vân dạng nốt sần hay dạng tuyến
Trang 156
1.1.3 Lịch sử nghiên cứu
Các loài thuộc chi Abelmoschus hiện nay còn chưa được nghiên cứu nhiều,
hầu hết mới chỉ sử dụng như những dược liệu cổ truyền Một số loài còn được sử dụng làm thức ăn từ những bộ phận như thân, lá, quả Các nghiên cứu chuyên sâu về các loài này cho thấy chúng có chứa các hoạt chất tiềm năng để nghiên cứu tác dụng sinh học, góp phần phát triển trong tương lai
Loài Abelmoschus esculentus (L.) Moench được các nhà khoa học nghiên cứu
cho thấy rằng chứa nhiều chất dinh dưỡng khác nhau và các chất hóa thực vật quan trọng, có tác dụng chống oxy hóa, chống viêm và điều hòa miễn dịch, kháng khuẩn, chống ung thư, điều trị tiểu đường, bảo vệ cơ quan và các hoạt động thần kinh [23, 33] Hơn nữa, loài này còn có tác dụng hạ lipid máu, ức chế trypsin, tạo huyết khối, chống kết dính và chống mệt mỏi [24] Một polysaccharide từ loài cây này được nghiên cứu cho thấy có tác dụng chống trầm cảm, chống viêm và tái cân bằng hệ sinh thái đường ruột trên mô hình chuột [35] Một nghiên cứu khác xác định tác dụng của
chiết xuất methanol vỏ đậu bắp (Abelmoschus esculentus L.) trên chuột bị ngộ độc
gan do natri nitrit gây ra Các hàm lượng flavonoid và tổng lượng phenolic, sinh hóa huyết thanh và mô học gan đã được kiểm tra Kết quả cho thấy chiết suất từ vỏ đậu bắp có tiềm năng như một chất bảo vệ gan tự nhiên chống lại sự tiếp xúc với natri nitrit [33] Một tác dụng khác của loài này được cho là tác dụng chống khối u của
một lectin mới được phát hiện, được phân lập từ đậu bắp, Abelmoschus esculentus
(AEL), đã được nghiên cứu trên tế bào ung thư vú ở người (MCF7) và tế bào nguyên bào sợi ở da (CCD-1059 sk) AEL gây ra sự ức chế tăng trưởng tế bào đáng kể (63%) trong các tế bào MCF7 [28]
Loài Abelmoschus manihot (Linnaeus) Medicus là một loài cây thuốc cổ
truyền đã được dùng nhiều ở Trung Quốc Loài này đã được đưa vào sử dụng như một phương pháp y học cổ truyền để điều trị bệnh thận mạn tính ở Trung Quốc với thành phần có tác dụng chính là flavonoid [20] Bên cạnh đó, tác dụng của loài này cho thấy có hiệu quả và là chiến lược điều trị đầu tay cho bệnh nhân mắc đái tháo
đường type 2 [21] Một nghiên cứu đã đánh giá hiệu quả của Abelmoschus manihot
trong điều trị bệnh võng mạc do đái tháo đường type 2 cho thấy sự cải thiện rõ rệt tình trạng bệnh [36]
Một nghiên cứu trên lá và hạt của loài Abelmoschus moschatus Medik cho
thấy có hoạt tính chống oxy hóa đáng kể và đóng vai trò như chất chống gốc tự do,
có thể là chất chống oxy hóa chính Chiết xuất từ lá và hạt bằng cồn hydroalcoholic
Trang 167
cũng nhận thấy có khả năng chống tăng sinh hai dòng tế bào ung thư ở người là ung thư biểu mô tuyến trực tràng (COLO-205) và u nguyên bào võng mạc (Y79) [22]
Nghiên cứu trên chuột cho rằng chiết xuất từ hạt của loài A moschatus làm cải thiện
đáng kể mức lọc cầu thận và bài tiết protein qua nước tiểu ở những con chuột gây sỏi thận Các chất này cũng làm giảm đáng kể sự lắng đọng của vi khuẩn xung quanh đĩa cấy ghép [30] Các nghiên cứu khác làm rõ khả năng cải thiện độ nhạy insulin ở những con chuột được gây bệnh đái tháo đường đã chỉ ra rằng loài này được đề xuất như một liệu pháp bổ trợ tiềm năng hữu ích cho những bệnh nhân đái tháo đường type 2 [25-27]
1.2 Tổng quan về loài Sâm bố chính
1.2.1 Đặc điểm thực vật
Sâm bố chính còn có tên gọi khác là nhân sâm Phú Yên, Sâm thổ hào Tên Sâm bố chính vì một y gia Việt Nam sử dụng cây này lần đầu tiên ở huyện Bố Trạch thuộc tỉnh Quảng Bình Cây có một số đặc điểm được GS Đỗ Tất Lợi [10] mô tả như: "Cây thân thảo, sống dại, mọc đứng, yếu ớt, có khi dựa vào các cây khác xung quanh, cao khoảng 1 m hoặc hơn Rễ mẫm, có màu trắng nhạt hay vàng nhạt, đường kính 1,5 – 2 cm, nhiều rễ có hình người, trông rất giống nhân sâm Lá ở phía gốc cây hình trái xoan, phần cuối phiến lá hình tim hay hình mũi tên, đầu phiến lá không nhọn Các lá ở phía ngọn càng lên trên càng hẹp Phiến lá chia 5 thùy theo các hình khác nhau Hoa màu hồng hay đỏ, hơi vàng, mọc đơn độc ở kẽ lá, đường kính tới 8 cm Cuống hoa dài 5 – 8 cm, có lông cứng Quả hình trứng nhọn, mặt ngoài có lông, khi chín quả nứt thành 5 mảnh vỏ Hạt hình thận, màu nâu"
1.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
a Về hình thái và phân loại học
Theo “The Catalogue of Life” (2014) xác định 8 loài thuộc hai chi Đậu bắp và
Râm bụt đều có tên đồng nghĩa với loài Sâm bố chính (Abelmoschus sagittifolius (Kurz) Merr.) Các loài thuộc chi Đậu bắp (Abelmoschus coccineus S.Y Hu, Abelmoschus coccineus var acerifolius S.Y Hu, Abelmoschus esquirolii (H Lév.) S.Y Hu, Abelmoschus moschatus subsp tuberosus (Span.) Borss Waalk.), các loài thuộc chi Râm bụt (Hibiscus bellicosus H Lév., Hibiscus bodinieri var brevicalyculata H Lév., Hibiscus esquirolii H Lév., Hibiscus longifolius var tuberosus Span., Hibiscus sagittifolius Kurz, Hibiscus sagittifolius var septentrionalis Gagnep.) được cho là đã được sử dụng trước đó làm tên khoa học cho
loài Sâm bố chính Tính không thống nhất về danh pháp gây khó khăn cho quá trình
Trang 178
tra cứu thông tin và dễ gây nhầm lẫn khi phân loại đã đặt ra yêu cầu về thẩm định tên khoa học cho loài
Trên thế giới, loài Abelmoschus sagittifolius (Kurz) Merr phân bố ở khu vực
châu Á và Đông Nam Á, cụ thể phân bố ở Trung Quốc (Guangdong, Guangxi, Guizhou, Hainan, Yunnan), Campuchia, Ấn Độ, Lào, Malaysia, Myanmar (Burma),
Thái Lan, Việt Nam và miền bắc Australia, Thái Bình Dương (hình 1.1) [38, 39]
Cây được tìm thấy mọc hoang trong các rừng thưa, nhất là dưới tán rừng cây họ Dầu [2] Hiện nay cây đã được trồng và chăm sóc phổ biến, thuận lợi cho việc thu hái và
sử dụng dược liệu
Hình 1.2 Vị trí phân bố loài A sagittifolius trên thế giới
Nguồn: The International Plant Names Index and World Checklist of Selected Plant
Families 2021
b Các nghiên cứu về thành phần hóa học và tác dụng dược lý
Thân rễ của loài Sâm bố chính có truyền thống được sử dụng như thuốc, có thể ăn được trong một thời gian dài mà không gây hại Loài này được sử dụng để điều trị suy nhược thần kinh, chóng mặt, viêm phế quản, rối loạn kinh nguyệt, đau ở thắt lưng và thấp hơn chi, các cơn đau dạ dày, tiêu chảy [29] Sâm bố chính có vị ngọt nhạt, có chất nhầy, tính bình; có tác dụng bổ mát, nhuận phế, dưỡng tâm, sinh tân dịch; sao với gạo thì tính ấm bổ tỳ vị, giúp tiêu hoá, thêm mạnh sức Ở Trung Quốc, người ta xem rễ, lá như có tác dụng tư âm thanh nhiệt, bài nung bạt độc, rễ và lá dùng
Trang 189
chữa lao phổi, ho do phổi khô, sản hậu tiện bí, thần kinh suy nhược, mụn nhọt sưng
lở Ngày dùng 6 – 12 g sắc uống, ngâm rượu hoặc tán bột uống [3] Trước đây, Hải Thượng Lãn ông dùng rễ Sâm bố chính phối hợp với các dược liệu khác để chữa các bệnh như ho, nóng sốt, gầy mòn [7] Hiện nay, nhiều người dùng nó làm thuốc bổ, thông tiểu tiện, điều kinh, chữa được bệnh sốt, bệnh phổi và bạch đới Dùng ngoài lấy lá và hoa xát chữa ghẻ ngứa [16]
Các nghiên cứu về thành phần hóa học và tác động dược lý của Sâm bố chính
ở Việt Nam và trên thế giới còn rất ít Tuy nhiên, đã có những nghiên cứu tìm thấy các hoạt chất có hoạt tính sinh học trong Sâm bố chính Các nghiên cứu của De-Li Chen và cs cho thấy thân củ của Sâm bố chính chứa các thành phần hoạt tính sinh
học mới (hình 1.2) Cụ thể là 2β,7,3-trihydroxycalamenene 3-O-β-d-glucoside (1)
cùng với sáu các hợp chất N-(p-trans-coumaroyl)-N-metyl tyramin (2), Cleomiscosin
A (3), Acid 9,12,13-trihydroxy-10,15-heptadecadienoic (4), Cytochalasin B (5),
Marmesinin (6) và N-(p-trans-coumaroyl) tyramine (7) thu được từ vỏ thân của A sagittifolius Các chất này có hoạt tính chống lại tế bào ung thư cổ tử cung Hela và
ung thư gan HepG-2 ở người [19]
Hình 1.3 Cấu trúc các hợp chất có trong rễ củ Sâm bố chính
(Nguồn: Theo nghiên cứu của De-Li Chen và cs)
Trang 19phương trong nước ta chỉ có một loài (Abelmoschus sagittifolius (Kurz) Merr.), có
thành phần hóa học rễ củ tương đồng và đáp ứng các chỉ tiêu trong dược điển Việt Nam III Vì thế, cần phân loại, định danh và mở rộng đặc điểm phân loại màu sắc của hoa: Hoa đỏ, hoa hồng và vàng [5] Ở Việt Nam, Sâm bố chính mọc hoang và được trồng ở nhiều nơi, phân bố chủ yếu ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Hòa Bình và Tây Bắc [8] Một số loài cây ở Việt Nam còn bị nhầm lẫn với Sâm bố chính Cây vông vang có nhiều đặc điểm giống Sâm bố chính nhưng cây vông vang lớn hơn, lông dài hơn, hoa vông vang sắc vàng, hoa bố chính sắc đỏ Sâm báo ở Thanh hóa
trước đây được xếp vào loài Hibiscus sagittifolius var septentrionahs Gagnep Tuy
nhiên, một số nghiên cứu mới đây đã nhận định đây là một giống Sâm bố chính, với hoa nhỏ và có màu vàng [10]
Sâm bố chính ra hoa quả hàng năm, mùa hoa quả tập trung từ tháng 6 - 8, hoa
nở từ tháng 3 – 7 [13] Có thể trồng Sâm bố chính bằng hạt, sau 2 - 3 năm thu hoạch Ngoài ra có thể trồng loài này bằng đầu củ (sau khi thu hoạch rễ củ, bỏ thân, cắt lấy phần đầu củ làm giống) [6] Cây Sâm bố chính sống ưa sáng và ưa ẩm, thích nghi được với nhiều loại đất như đất mùn dưới chân núi, đất mùn, đất pha cát, đất phù sa ven sông , sinh trưởng và phát triển mạnh trong mùa mưa ẩm [3]
b Về thành phần hóa học và tác dụng dược lý
Theo “Từ điển cây thuốc Việt Nam”, bộ phận sử dụng của cây Sâm bố chính chủ yếu là toàn bộ phần rễ củ Rễ củ thu hoạch sơ chế, phơi hoặc sấy khô kết hợp với
ý dĩ sao, hoài sơn, đương quy kết hợp mật ong hay mật nha dùng bổ khí huyết Ngoài
ra, Sâm bố chính nấu thành cao, hòa với sữa người hay cao ban long dùng tốt cho người suy nhược gầy yếu, khô khát, táo bón, đái són Rễ Sâm bố chính giã nhỏ và nấu với gạo nếp ăn chữa bệnh bạch đới [2]
Theo Dược điển Việt Nam V, các chỉ tiêu đối với dược liệu Sâm bố chính bao gồm: định tính, độ ẩm không quá 13,0%, tro toàn phần không quá 12,0%, tro không tan trong acid không quá 7,0%, định lượng Dược liệu phải chứa không ít hơn 25,0% chất chiết được bằng ethanol 25%, tính theo dược liệu khô kiệt [13] Nghiên cứu của Phan Văn Đệ và cs về thành phần hóa học các mẫu Sâm bố chính mọc hoang ở các
Trang 2011
tỉnh Bình Phước, Thanh Hóa, Phú Yên, Bình Thuận và cây trồng ở Hồ Chí Minh cho thấy: Rễ củ của các mẫu nghiên cứu đều có chứa Saponin triterpen, coumarin, chất nhầy, acid béo, đường khử, polyphenol và các nguyên tố đa vi lượng Sự hiện diện của các Saponin triterpen, được xem là nhóm hợp chất có tác dụng quyết định những tác dụng dược lý điển hình của các cây họ Nhân sâm (Araliaceae), trong đó có tác dụng tăng lực, chống yếu sức [5] Ngoài ra, Đào Thị Vui và cs cũng đã xác định trong
rễ củ Sâm bố chính các hợp chất coumarin, flavonoid, đường khử, acid amin, acid hữu cơ, phytosterol, sesquiterpen Trong đó, mốt số hoạt chất tạo nên tác dụng của Sâm bố chính trong việc bảo vệ thành dạ dày và hồi phục loét dạ dày, làm trung hòa acid dịch vị nhẹ [17]
Các tác dụng của cây Sâm bố chính chủ yếu được nghiên cứu ở phần rễ củ của cây Tác dụng dược lý của loài Sâm bố chính được chỉ ra rằng bằng đường uống và tiêm phúc mạc, cao cồn Sâm bố chính có tác dụng gây giảm hoạt động tự nhiên của chuột nhắt trắng, đối kháng với tác dụng tăng hoạt động của amphetamin, kéo dài thời gian ngủ gây bởi thuốc ngủ barbituric, và chống co giật gây bởi pentetrazol Điều
đó chứng tỏ Sâm bố chính có tác dụng ức chế thần kinh trung ương, an thần Theo Đông y, Sâm bố chính có vị ngọt, tính bình, quy vào hai kinh tỳ và phế Cây có tác dụng bổ khí, ích huyết, chỉ khát, sinh tân dịch; sao với gạo thì tính ấm, bổ tỳ vị, giúp tiêu hóa, thêm sức mạnh Từ đó cây được sử dụng để chữa cơ thể suy nhược, kém ăn, kém ngủ, đau lưng, đau mình, các chứng ho sốt nóng, trong người khô, táo bón, khát nước, gầy còm Có khi được dùng làm thuốc thông tiểu tiện, điều kinh, chữa bệnh phổi và bạch đới Với các bệnh cần sử dụng thì cây được dùng với liều dùng ngày 16 – 20 g dưới dạng thuốc sắc hoặc bột Tuy nhiên Sâm bố chính không được sử dụng với những người thể trạng hư hàn, nếu cần thiết phải tẩm nước gừng, sao kỹ [3] Bên cạnh tác dụng dược liệu, Sâm bố chính còn được người dân trồng làm cảnh với màu sắc các hoa đặc sắc từ đỏ, hồng đến ánh vàng Chúng còn có những hình dạng lá khác nhau tạo nên sự đa dạng, mang lại nhiều vẻ đẹp đặc trưng khi được trồng làm cảnh
Hiện nay, trên thị trường Sâm bố chính đã có mặt trong các sản phẩm trà thanh lọc cơ thể như Thảo mộc linh, Trà nhân sâm bố chính, nước Sâm bố chính tổ yến Savita, mứt và rượu Sâm bố chính, sản phẩm viên uống An phế nano,… Hầu hết các sản phẩm này giúp hỗ trợ tăng cường sức đề kháng, hỗ trợ hệ thần kinh, giảm mệt mỏi, thanh lọc cơ thể Ngoài ra, Sâm bố chính còn là thành phần có trong Đông trùng
hạ thảo Cordyceps 950 với tác dụng bổ thận, bổ phổi, hỗ trợ tăng cường sức đề kháng,
nâng cao thể trạng, hỗ trợ hạn chế quá trình lão hóa da (hình 1.3) Như vậy, có thể
Trang 2112
thấy trong Sâm bố chính có nhiều các hợp chất sinh học tốt cho sức khỏe, sẽ là những hợp chất tốt không chỉ giúp bảo vệ sức khỏe mà còn nhiều tiềm năng phát triển trong lĩnh vực dược phẩm Những hợp chất này cần được nghiên cứu nhiều hơn để có thể
dễ dàng tiếp cận và phát triển
1.2.4 Một số bài thuốc y học cổ truyền chứa Sâm bố chính
Trong sách “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam” của Đỗ Huy Bích
và cs [3], những bài thuốc y học cổ truyền chứa Sâm bố chính được sử dụng chữa rất nhiều triệu chứng khác nhau như sốt nóng, suy nhược cơ thể, thiếu máu, rối loạn kinh nguyệt, thuốc bổ dùng cho bệnh nhân hen suyễn,… Một số bài thuốc y học cổ truyền chứa Sâm bố chính được sử dụng như:
Chữa sốt nóng lâu, khát nước, ra mồ hôi: Sâm bố chính 20 g, thục đại 30 g, nhục quế 3 g Sắc uống ngày một thang
Chữa ra mồ hôi nhiều, người còn ấm, chân tay quyết lạnh: Sâm bố chính 20
g, hoàng kỳ 80 g (tẩm nước phòng phong sao), đương quy 20 g (tẩm mật rượu sao), phục linh 12 g (tẩm sữa), chích thảo 8 g, lộc nhung 8 g (tẩm rượu nướng), long cốt 8
g, mẫu lệ 8 g (đều nung nghiền nhỏ) Sắc uống trong ngày
Chữa suy nhược cơ thể ở người có bệnh về hô hấp: Sâm bố chính 12 g, liên
nhục 20 g; táo nhân, tua sen, sa sâm, mỗi vị 12 g; lá vông, hương phụ, mỗi vị 10 g;
kỷ tử 8 g Sắc uống ngày một thang
Hình 1.4 Các sản phẩm trên thị trường chứa Sâm bố chính
Trang 2213
Chữa suy nhược gầy rộc, háo khát, táo bón, đái són: Sâm bố chính nấu thành
cao, hòa với cao ban long uống
Chữa thiếu máu: Sâm bố chính, hà thủ ô, hạt sen, mỗi vị 100 g; cam thảo 40
g, thảo quả 12 g, đại hồi 8 g Tán nhỏ làm viên, ngày uống 20 g, chia 2 lần
Thuốc tăng lực, chữa kém ăn, mất ngủ, mệt mỏi, nặng ngực, thiếu máu xanh xao: Sâm bố chính 120 g, hoàng tinh chế 80 g; tầm gửi cây dâu, quả dâu, thỏ ty tử
sao, hà thủ ô đỏ (chế), đỗ trọng, mỗi vị 40 g; huyết giác, ba kích, cao hổ cốt, mỗi vị
20 g Các vị sơ chế, ngâm 2 lít rượu trong hai ngày rồi đem chưng cách thủy, hạ thổ một tuần Mỗi lần uống 15 – 40 ml, ngày 2 lần theo bữa ăn Kiêng ăn đồ tanh sống,
kích thích
Trang 2314
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
12 mẫu Sâm bố chính được thu thập tại 9 địa điểm khác nhau bao gồm Lâm Đồng, Phú Yên, Thanh Hóa, Hà Nội, Hồ Chí Minh, Quảng Bình, Đắc Lắc, Bình Phước, Đồng Nai Các mẫu được thu thập ở những thời gian khác nhau và chủ yếu ở những thời gian đầy đủ những đặc điểm đặc trưng của hoa, quả, rễ Hai mẫu AS11 và AS12 dùng để nghiên cứu chất lượng bột dược liệu Địa điểm thu thập cụ thể của các
mẫu nghiên cứu được trình bày cụ thể ở Bảng 2.1
Bảng 2.1 Kí hiệu mẫu và địa điểm thu mẫu
STT Ký hiệu
mẫu Địa điểm lấy mẫu
1 AS1 Trung tâm nghiên cứu trồng và chế biến cây thuốc Hà Nội
2 AS2 Trung tâm nghiên cứu Dược liệu Bắc Trung Bộ, Tp Thanh Hóa
3 AS3 Trung tâm nghiên cứu Dược liệu Bắc Trung Bộ, Tp Thanh Hóa
4 AS4 Thôn 2, xã Lý Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
5 AS5 Trung tâm nghiên cứu và sản xuất dược liệu miền Trung, Phú Yên
6 AS6 Thôn Hà Bắc, xã EaWel, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk
7 AS7 Thôn Kim Phát, xã Bình Thạnh, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng
8 AS8 Thôn Quyết Thắng, xã Phú Sơn, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng
9 AS9 Ấp 1, xã Lộc An, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước
10 AS10 Trung tâm Sâm và Dược liệu Thành phố Hồ Chí Minh
11 AS11 Phú Lập, Tân Phú, Đồng Nai
12 AS12 Mã Đà, Vĩnh Cửu, Đồng Nai
Trang 2415
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp kế thừa tài liệu
Nghiên cứu đã tham khảo các tài liệu trước đó để nắm bắt được các thông tin
cơ bản về: Vị trí phân loại và danh pháp các loài thuộc chi Đậu bắp (Abelmoschus);
Nguồn gốc và vùng phân bố của loài; Đặc điểm hình thái và sinh thái của các loài; Giá trị sử dụng của các loài; Kế thừa các số liệu và phương pháp nghiên cứu; Kế thừa
số liệu, kết quả từ các bài báo, các nghiên cứu trong và ngoài nước, các phương pháp phân tích đặc điểm hình thái, vi học
2.2.2 Phương pháp thu thập mẫu vật
Theo phương pháp điều tra thu thập mẫu của Nguyễn Tập [9], trong quá trình thu thập mẫu vật, các mẫu được chia làm 2 loại như sau:
Mẫu phục vụ nghiên cứu hình thái của cây: Thu thập mẫu vật thực hiện làm các tiêu bản khô, mẫu phải có cơ quan sinh sản là hoa hoặc quả Các mẫu sau khi thu thập được chúng tôi ép khô để làm mẫu lưu trữ và nghiên cứu về mặt hình thái tại phòng tiêu bản Dược liệu, khoa Tài nguyên Dược liệu, Viện Dược liệu (NIMM)
Mẫu phục vụ nghiên cứu giải phẫu của cây: rễ, thân rễ, thân khí sinh, lá
2.2.3 Phương pháp nghiên cứu hình thái so sánh
Trong quá trình thực hiện khóa luận này, sử dụng phương pháp phân loại so sánh hình thái theo Nguyễn Nghĩa Thìn (2007) [15] để xác định tên khoa học, nghiên cứu đặc điểm hình thái và phân loại các taxon của các loài thu thập được Phương pháp này không đòi hỏi những thiết bị phức tạp, dễ tiến hành, đảm bảo độ chính xác
và phù hợp với điều kiện nước ta Các mẫu phân tích được đối chiếu với các mẫu lưu trữ tại Phòng Tiêu bản dược liệu của Viện Dược liệu (NIMM)
Tham khảo các mô tả về loài và các thứ của loài trong các công trình nghiên cứu khác nhau để xác định tên khoa học của loài đặc biệt là các chuyên khảo về phân loại như tài liệu của Đỗ Thị Xuyến [18], Peter H Raven và cộng sự [34] Quan sát và
mô tả các đặc điểm hình thái thực vật về dạng sống, thân, lá (hình dạng phiến lá, kích thước,…), hoa (dạng hoa, màu sắc, bộ nhị, bộ nhụy, kích thước,…), quả và hạt (hình dạng, màu sắc,…) rồi tổng hợp kết quả và hoàn chỉnh khóa luận
2.2.4 Phương pháp nghiên cứu giải phẫu
Nghiên cứu giải phẫu các phần lá, thân, rễ của các mẫu được tiến hành dựa theo phương pháp nghiên cứu của Trần Văn Ơn [11], Nguyễn Bá [1] Các giai đoạn
Trang 2516
phân tích bao gồm Cắt mẫu và tẩy nội chất, Nhuộm mẫu, Soi mẫu Từng giai đoạn được tối ưu để phù hợp với mẫu nghiên cứu Mô tả các giai đoạn được trình bày ở bên dưới
a Cắt mẫu và tẩy nội chất
Cố định mẫu trên dụng cụ cắt vi phẫu cầm tay microtome và cắt bằng dao Sử dụng phẫu thức cắt ngang Cắt những lát mỏng qua thân củ, rễ, lá Thân rễ cắt ngang;
rễ cắt ở rễ chính, có thiết diện phù hợp; lá cắt ngang gân giữa và một phần phiến lá hai bên, đoạn 1/3 kể từ cuống lá, lá được chọn là lá bánh tẻ không quá già hoặc quá non Mẫu tươi được cắt trực tiếp không qua xử lý Tuy nhiên để lưu mẫu vật cho việc kiểm định sau này, mẫu được ngâm trong dung dịch Carnoy trong 24h sau đó chuyển sang dung dịch bảo quản gồm cồn 700 + glycerin 1:1
Ngâm mẫu ngay sau khi cắt trong dung dịch Cloramin B 5% hoặc dung dịch natri hypoclorit (nước Javen) trong 20 - 30p Rửa mẫu qua nước
Ngâm mẫu trong dung dịch acid acetic 1% trong 10 -15p để tẩy cloramin còn sót lại Rửa qua mẫu với nước Gắn lên lam kính
2.2.5 Phương pháp phân tích bột dược liệu
Mô tả đặc điểm bột dược liệu bằng cảm quan, màu sắc, mùi vị kết hợp với phân tích theo “Kiểm nghiệm dược liệu bằng phương pháp hiển vi” của Nguyễn Viết Thân (2003) [14]
Tiến hành làm tiêu bản bột dược liệu: tách riêng phần rễ của mẫu, sấy khô trong tủ sấy ở nhiệt độ 60oC, tán thành bột mịn Rây lấy bột mịn, dùng kim mũi mác