Những nội dung cơ bản của Nho giáo về triết học
Trang 1NỘI DUNG VỀ GIÁO DỤC CỦA NHO GIÁO
Tiền đề lịch sử - xã hội cho sự ra đời tư tưởng giáo dục của Nho giáo là bối cảnh lịch sử, kinh tế - xã hội thời Xuân thu - Chiến quốc Đó là giai đoạn lịch sử mà xã hội Trung Quốc cổ đại có nhiều biến động với nhiều sự đảo lộn lớn, nhất là về mặt đạo đức con người Trước thực trạng đó, Nho giáo đã chủ trương giáo dục “đạo làm người” cho tất cả mọi người, tức là thông qua giáo dục mà đào tạo ra những con người cần có và phù hợp với yêu cầu của giai cấp thống trị, những con người luôn luôn suy nghĩ và hành động theo những chuẩn mực, quy phạm đạo đức
Theo Khổng Tử, trong xã hội có năm mối quan hệ giữa người và người (hay còn
gọi là Ngũ luân - năm mối quan hệ cơ bản nhất của “đạo làm người”), đó là: vua - tôi, cha - con, chồng - vợ, anh - em, bạn - bè Trong đó,Khổng Tử tập trung nhấn mạnh vào ba mối quan hệ (còn gọi là Tam cương):vua - tôi, cha - con, chồng - vợ Chủ trương xây dựng xã hội trên nền tảng gia đình và từ gia đình, cho nên Khổng
Tử rất chú trọng đến việc giáo dục con người trong các mối quan hệ của họ trong gia đình Theo ông, trong gia đình, điều cơ bản của cái “đạo làm người” của người con là phải có đức hiếu, “đạo làm người” của bậc làm cha mẹ là phải có đức từ Theo đó, cha mẹ phải yêu thương, dưỡng dục con cái; con cái phải chăm sóc, kính trọng cha mẹ, làm cho cha mẹ được vui lòng Tất nhiên trong mối quan hệ này, Khổng Tử cũng như Nho giáo về sau đề cao vị trí của người làm cha là bề trên của con cái, sinh ra con cái nên đức hiếu được nhấn mạnh, tức là nhấn mạnh trách nhiệm, nghĩa vụ của con cái đối với cha mẹ Về chữ hiếu, đối với mỗi người, Khổng Tử lại lý giải theo những nghĩa khác nhau Như với Mạnh Ý Tử - người có tính tình ngang ngược - thì Khổng Tử nói: “Hiếu là chớ làm trái ngược” Còn đối với Phàn Trì thì ông lại nói rằng: “Lúc cha mẹ còn sống, lấy lễ mà thờ kính; lúc cha mẹ qua đời lấy lễ mà chôn cất, lấy lễ mà tế tự” [40, tr.218]
Trang 2Theo Khổng Tử, nếu trong gia đình quan trọng nhất là đạo hiếu thì ngoài xã hội quan trọng nhất là đạo trung Đạo hiếu là cơ sở của đạo trung Trong quan niệm của Nho giáo Tiên Tần như Khổng Tử và Mạnh Tử, quan hệ vua - tôi là mối quan
hệ hai chiều, chế ước lẫn nhau theo đúng tinh thần: quân nhân - thần trung Có nghĩa là mặc dù rất đề cao chữ trung nhưng đạo trung của bề tôi cũng có giới hạn
rõ ràng chứ không phải làm vua như thế nào cũng trung được Muốn có tôi trung thì nhà vua phải có đạo đức, phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, phải yêu thương dân, lấy dân làm gốc và coi dân là cao nhất.Ngoài nội dung giáo dục
“đạo làm người” cho con người, Khổng Tử còn chủ trương giáo dục “đức” (hay là đạo đức) cho con người Đức là sự khái quát những giá trị cơ bản của con người, là những chuẩn mực, những quy phạm mang nội dung đạo đức mà mỗi con người cần phải có Theo Khổng Tử, “đức” của con người bao gồm: nhân, trí, dũng, lễ và chính danh định phận trong đó nội dung cốt lõi, quan trọng nhất là đức nhân
Nhân vốn là một phạm trù đạo đức của tầng lớp quý tộc xuất thân từ thời Ân,
Thương, bao gồm nhiều nội dung như việc tuân theo ông cha, yêu con người, làm lợi cho đất nước, che chở cho dân,… nhưng những nội dung đó chưa trở thành một
hệ thống chặt chẽ là mà những nội dung riêng lẻ Khổng Tử đã kế thừa tư tưởng nhân của người đời trước, đồng thời bổ sung những nội dung mới, biến đức nhân trở thành một hệ thống chặt chẽ, rộng lớn bao trùm tất thẩy các phạm trù khác như trung thứ, trí, dũng, nghĩa… và chứa đựng toàn bộ tư tưởng của Khổng Tử về đạo trị nước an dân, đạo làm người
Nhân được coi là hạt nhân lý luận của hệ thống tư tưởng Nho giáo nên được
Khổng Tử đề cập rất nhiều lần và rất phong phú Trong Luận ngữ, có đến 58
chương với 109 lần Khổng Tử nói đến nhân nhưng không lần nào giống lần nào
Trang 3Tùy theo hoàn cảnh, theo từng đối tượng cụ thể mà Khổng Tử đề cập đến nhân theo những nghĩa khác nhau nhưng chung quy lại nhân có thể hiểu là cách cư xử với mình và cách cư xử với người
Đối với mình, theo Khổng Tử, người có nhân trước hết “Làm việc khó khăn trước
đã, kết quả thu lượm được tính sau” [40, tr.334] Khác với người bất nhân, người
có nhân sẵn sàng vui vẻ sống trong bất kỳ hoàn cảnh nào Người có đức nhân còn
là người vì nhân mà hy sinh mình chứ không vì mình mà từ bỏ điều nhân Vì thế, khi Nhan Uyên hỏi về đức nhân, Khổng Tử nói rằng: “Dẹp bỏ tư dục, trở về với lễ
là phát huy điều nhân Một ngày dẹp bỏ tư dục, trở về với lễ, cả thiên hạ (chịu cảm hóa) quay về với điều nhân vậy Điều nhân ở nơi mình, há ở người khác sao” [40, tr.471].,Đối với người, nguyên tắc suốt đời của người có nhân là “ái nhân” - yêu thương người khác như chính bản thân mình Người có nhân ứng xử với mình như thế nào thì cũng ứng xử với người như thế Như khi Trọng Cung hỏi về điều nhân, Khổng Tử đáp: “Điều gì mình không muốn, chớ thi hành cho người khác”[40, tr.473]; khi Tử Cống hỏi về nhân, Khổng Tử trả lời rằng: “Người nhân là người muốn xây dựng điều gì cho mình cũng gây dựng điều đó cho người khác, mình muốn thông đạt ra sao cũng khiến người khác được thông đạt như vậy” [40,
tr.341] Ái nhân chính là bản chất, nội dung cơ bản của khái niệm nhân trong tư tưởng của Khổng Tử Trong tư tưởng giáo dục của ông, nhân vừa là nội dung vừa
là mục đích giáo dục
Nhân có vai trò quan trọng với mỗi người, như đối với người dân thì nhân cần thiết hơn tất cả Khổng Tử từng nói: “Đạo nhân với người dân còn cần thiết hơn là nước với lửa Với nước và lửa, ta từng thấy có người giẫm đạp lên mà chết, chứ chưa hề thấy ai giẫm đạp lên đạo nhân mà chết” [40, tr.473] Còn đối với nhà cầm quyền, đức nhân như một thành trì vững chắc để bảo vệ và giữ gìn những gì mà họ có được Đức nhân to lớn như vậy, nên theo Khổng Tử, con người cần phải được và luôn phải được giáo dục, giáo hóa để có đức nhân, để mãi là người có đạo đức Do
Trang 4đó, giáo dục đức nhân là một trong những nội dung quan trọng trong tư tưởng giáo dục của Khổng Tử
Nhân là phạm trù cốt lõi trong triết học Khổng Tử, nó có mối quan hệ chặt chẽ với các phạm trù đạo đức khác để làm nên một hệ thống triết lý nhất quán, chặt chẽ Đã
có người cho rằng, nếu coi các phạm trù đạo đức trong triết học Khổng Tử như những vòng tròn đồng tâm thì nhân là tâm điểm còn xung quanh có nghĩa, trí, dũng, lễ
Trong dạy người, Khổng Tử rất chú trọng dạy đức trí bởi theo ông, con người muốn đạt được nhân thì phải có trí Trí ở đây là tri thức, là sự hiểu biết, là sự phân biệt thiện - ác, phải - trái Người có đức trí không phải ở chỗ cái gì cũng biết, cái gì cũng hiểu mà là ở chỗ họ không ngừng học hỏi, nhận thức để đạt được sự hiểu biết
về sự vật Nhờ có trí, con người mới có đủ sáng suốt, minh mẫn để hiểu biết được đạo lý, xét đoán sự việc, phân biệt được phải trái, thiện ác để trau dồi đạo đức và hành động cho đúng với lẽ phải
Đức nhân trong tư tưởng của Khổng Tử còn bao gồm cả dũng Theo Khổng Tử,
dũng là lòng cam đảm, là dũng khí Nhờ có dũng con người mới tỏ rõ được ý kiến của mình một cách cao minh và hành động một cách thanh cao khi vận nước gặp loạn, nhân dân gặp hoạn nạn Người nhân có dũng mới tự chủ được mình, mới giữ được đức nhân của mình, thậm chí hy sinh mình để bảo vệ điều nhân Người có dũng trước hết phải có nghĩa vì theo quan điểm của Nho giáo: “Kiến nghĩa bất vi
vô dũng dã”, nghĩa là người thấy việc nghĩa mà không làm thì cũng không phải là dũng vậy)
Như vậy, người có nhân cũng là người có trí, có nghĩa, có dũng Do đó, có thể thấy rằng, người có nhân trong tư tưởng của Khổng Tử là một con người hoàn thiện Ngoài nhân là nội dung cốt lõi trong tư tưởng giáo dục của Khổng Tử, thì lễ và chính danh cũng là những tư tưởng hết sức quan trọng Nếu coi nhân là nội dung thì lễ là hình thức của nhân và chính danh là con đường để đạt điều nhân
Trang 5Khổng Tử chủ trương giáo dục lễ cho con người bởi theo ông, lễ là một trong những chuẩn mực, những quy tắc đạo đức cơ bản, là yêu cầu có tính chất bắt buộc với mọi hành vi ứng xử của con người trong các mối quan hệ xã hội Khổng Tử nói: “Cung kính mà thiếu lễ thì khó nhọc, cẩn thận mà thiếu lễ thì nhút nhát, cương cứng mà thiếu lễ thì loạn, thẳng thắn mà thiếu lễ thì nóng gắt” Khổng Tử cho rằng giáo dục con người bằng lễ có vai trò rất lớn trong việc hình thành và hoàn thiện đạo đức con người và góp phần ổn định xã hội Theo ông, những việc không hợp với lễ chớ xem; không hợp với lễ chớ nghe; không hợp với lễ chớ nói; không hợp với lễ chớ làm Với Khổng Tử, tác dụng của lễ, của giáo dục lễ còn làm cho người giàu sang biết lễ thì không dâm tà, kiêu căng, người nghèo biết lễ, nghĩa thì không làm bậy Không phải ngẫu nhiên mà Khổng Tử cho rằng, cùng với giáo dục đức nhân, nhà cầm quyền còn phải quan tâm tới việc giáo dục đức lễ cho con người để con người tuân thủ những chuẩn mực đạo đức và như vậy xã hội mới đi vào ổn định và có trật tự được Coi trọng việc giáo dục đức lễ là một nội dung mới hết sức tiến bộ trong tư tưởng giáo dục của Khổng Tử
Một nội dung quan trọng nữa trong tư tưởng giáo dục của Khổng Tử là thuyết chính danh định phận Nhiều học giả cho rằng, trong tư tưởng chính trị của Khổng
Tử thì thuyết chính danh là một nguyên tắc chính và cũng là một phát kiến của ông Sở dĩ ông đưa ra thuyết này vì ông cho rằng, nguyên nhân dẫn đến xã hội loạn lạc là do nhà cầm quyền sống xa đọa, sống không có nhân, không đúng với danh phận của mình Vì vậy để lập lại trật tự xã hội phải thực hiện thuyết chính danh
Theo Khổng Tử, chính danh là mỗi người, mỗi sự vật đều có một địa vị, một bổn phận nhất định và tương ứng với nó là một danh nhất định, mỗi người cần phải làm đúng với chức phận, với cái danh của mình Khổng Tử cũng cho rằng, một xã hội
Trang 6chính danh là một xã hội vua phải ra vua, bề tôi phải ra bề tôi, cha phải ra cha, con phải ra con Tức là người nào ở vị trí nào phải ứng xử ở vị trí đó, không được lẫn lộn, tùy tiện, phải tuân theo phép tắc, quy củ mà xã hội đã quy định Có thể thấy, học thuyết chính danh của Khổng Tử phản ánh thái độ tôn trọng tôn ti, trật tự, phép tắc, lễ nghĩa trong quan hệ giữa người với người trong xã hội Thực chất của học thuyết chính danh là kêu gọi, giáo hóa đạo đức để con người sống có nhân Bên cạnh đó, Khổng Tử còn chủ trương dùng lễ để thực hiện chính danh với mục đích sâu xa là muốn duy trì đẳng cấp, danh phận trong xã hội
Bên cạnh việc giảng dạy đạo lý, đạo làm người cho mọi người, Khổng Tử còn dạy học trò văn chương và lục nghệ Văn là gồm thi, thư, lễ, nhạc, xuân thu; còn lục nghệ bao gồm sáu môn như: lễ, nhạc, xạ (bắn cung), ngự (đánh xe), thư (viết chữ),
số (toán pháp) Như vậy, nội dung căn bản nhất trong tư tưởng giáo dục của Khổng
Tử là giáo dục đạo đức cho con người Những phạm trù đạo đức căn bản nhất trong
tư tưởng giáo dục của Khổng Tử là: nhân, trí, dũng, lễ… và một hệ thống các quan điểm về chính trị xã hội như: nhân trị, chính danh… Trong những phạm trù đạo đức ấy, chữ nhân được Khổng Tử đề cập đến với ý nghĩa rộng nhất, nó được coi là nguyên lý đạo đức cơ bản quy định bản tính con người và những quan hệ giữa người với người từ trong gia đình tới ngoài xã hội
Cũng bàn về nội dung của giáo dục, Tuân Tử - một nhà Nho sống chủ yếu ở thời
kỳ Chiến quốc đã đề cao vai trò của lễ, nhạc trong việc giáo dục con người Ông cho rằng muốn cải tạo con người phải áp dụng những phương pháp từ bên ngoài vào
Theo Tuân Tử, lễ không chỉ là quy tắc ứng xử trong gia tộc mà còn là nguyên tắc căn bản để trị nước bởi “đây là thứ chuẩn mực thẳng nhất, cân là loại chuẩn mực phân chia công bình nhất, quy củ là công cụ để xác định vẽ vuông tròn chính xác nhất, lễ là nguyên tắc căn bản nhất của việc trị nước Không tuân theo lễ mà làm, không coi trọng lễ, đó gọi là không giữ chính đạo Tuân theo lễ mà làm lại coi
Trang 7trọng lễ gọi là chính đạo” [13, tr.329] Tuân Tử còn nâng lễ lên thành lẽ sống của con người bởi “người không có lễ thì không sống, việc không có lễ thì không thành, quốc gia không có lễ thì không minh” [13, tr 329] Ông cũng giải thích rất
rõ nội hàm của lễ: “Lễ là đối với kẻ thì kính, đối với kẻ thì hiếu thảo, đối với kẻ lớn thì thuận, đối với người trẻ thì từ ái, đối với kẻ hèn thì có ân huệ” [13, tr.329] Bởi vậy, lễ chính là đầu mối của việc giáo dục con người
Khi lý giải nguồn gốc của lễ, Tuân Tử cho rằng có ba nguồn gốc như trời, tổ tiên, vua và thầy Nhiệm vụ của chúng ta là phải tôn thờ, quý trọng ba nguồn gốc đó:
“…Lễ là trên thờ trời, dưới thời đất, tôn kính tổ tiên và quý trọng vua thầy” [12,
tr.305] Thái độ tôn thờ, quý trọng đó chẳng phải là đạo đức đó sao? Chính Tuân
Tử cũng đã khẳng định: “Tôn trọng nguồn gốc là căn bản của đức” [12, tr.305] Ông cũng cho rằng, nếu người nào theo lễ thì là người hữu đạo, kẻ nào không theo
lễ chính là kẻ vô đạo [12, tr.308], lễ chính là đạo làm người [12, tr.312] Nhạc trong quan niệm của Tuân Tử không chỉ là phương tiện để điều hoà tính khí, di dưỡng tinh thần mà còn giáo dục con người ta tới đạo chân chính: “Nhạc trung bình thì dân hoà thuận mà không lưu đãng Nhạc nghiêm trang thì dân tề chỉnh mà không loạn Dân hoà và tề thì binh mạnh, thành bền…Cho nên, nhạc là để làm cái đạo cho sự vui vầy Tiếng sắt, đá, ti, trúc, cốt là đạo đức vậy Bởi vậy, nhạc là cái thịnh đức của việc trị người vậy” [13, tr.329] Ngoài ra, Tuân Tử còn nâng nhạc lên thành đầu mối của vương nghiệp: “Âm nhạc mà trung bình thì dân hoà nhã mà không buông tha quá trớn, âm nhạc nghiêm trang thì dân có kỉ luật mà không hỗn loạn Dân mà hoà nhã, trật tự thì binh mạnh, thành bền, nước địch không dám xúc phạm, trăm họ vui sống ở dưới trong cảnh làng xóm, vua quan vui trị ở trên, mà sau thanh danh được sáng tỏ, vinh quang được rực rỡ, nhân dân trong bốn bể chẳng
ai không muốn coi (bậc vương giả ấy) làm sư trưởng của mình Đó là khởi điểm, là đầu mối của vương nghiệp” [12, tr.92] Như vậy, nhạc không chỉ là phương tiện để mua vui mà còn là công cụ để trị nước Như vậy, trong tư tưởng giáo dục của Nho
Trang 8giáo, nội dung chủ yếu của giáo dục là đạo đức, lễ nghĩa - những nguyên tắc ứng
xử có tính chuẩn mực Những phạm trù căn bản nhất trong tư tưởng về nội dung giáo dục của Nho gia là nhân, lễ, nghĩa, trí, dũng, nhạc… trong đó chữ nhân có nội hàm sâu rộng nhất Nó được coi là nguyên lý đạo đức cơ bản để quy định bản tính của con người và thiết lập mối quan hệ giữa người với người trong gia đình và xã hội Đây là nội dung sâu sắc, có tác dụng giáo hóa cho con người, giúp con người hướng đến những giá trị tốt đẹp