thu hoạch hết môn nhà nước và pháp luật Việt Nam
Trang 1A MỞ ĐẦU
Từ khi giành được chính quyền, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng công tác xây dựng pháp luật và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa (PCXHCN) Cùng với các văn kiện của các kỳ Đại hội Đảng, Ban Chấp hành Trung ương,
Bộ Chính trị và Ban Bí thư các khóa đã có nhiều nghị quyết và chỉ thị về công tác xây dựng pháp luật và tăng cường PCXHCN Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng định: “Nhà nước ban hành pháp luật; quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”
Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng đặc biệt của công tác xây dựng pháp luật
và PCXHCN đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự; trong 75 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Đảng ủy Công an Trung ương và Bộ Công an đã thường xuyên quan tâm công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật về an ninh, trật tự và tăng cường PCXHCN Công tác phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật về an ninh, trật tự đã được Bộ Công an quan tâm chỉ đạo thực hiện thường xuyên, liên tục, góp phần nâng cao nhận thức của cán bộ, chiến sĩ Công an và nhân dân, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về
an ninh, trật tự Lực lượng Công an nhân dân đã tổ chức thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về bảo vệ an ninh, trật tự; kịp thời phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn có hiệu quả với hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, các loại tội phạm và vi phạm pháp luật khác, đảm bảo vững chắc an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội
Nước ta đang bước vào thời kỳ chiến lược mới trong bối cảnh thế giới đang thay đổi rất nhanh, phức tạp, khó lường Các thế lực thù địch vẫn ráo riết đẩy mạnh các hoạt động chống phá với nhiều phương thức, thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt Tình hình tội phạm và vi phạm pháp luật diễn biến phức tạp Trước tình hình đó, nhiệm vụ bảo đảm và tăng cường PCXHCN càng có vai trò quan trọng và là đòi hỏi cấp thiết của sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Vì vậy, qua học tập chuyên đề PCXHCN ở
Việt Nam em lựa chọn vấn đề “Thực trạng và một số giải pháp tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự của lực lượng Công
an nhân dân” làm đề tài kết thúc môn học Nhà nước và Pháp luật của mình.
Trang 2B NỘI DUNG
I Một số vấn đề chung về pháp chế xã hội chủ nghĩa
1.1 Khái niệm và yêu cầu của pháp chế xã hội chủ nghĩa
1.1.1 Khái niệm về pháp chế và pháp chế xã hội chủ nghĩa
Theo Giáo trình Cao cấp lý luận chính trị: Nhà nước và Pháp luật Việt Nam – Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2018) khái niệm Pháp chế và PCXHCN được hiểu như sau:
Pháp chế là một phạm trù pháp lý phản ánh một chế độ chính trị - xã hội,
trong đó đòi hỏi mọi chủ thể trong xã hội phải tôn trọng, thực hiện đúng, nghiêm chỉnh pháp luật trong hoạt động của mình và mọi vi phạm pháp luật đều bị xử lý theo quy định của pháp luật không có ngoại lệ
Pháp chế xã hội chủ nghĩa là chế độ chính trị - xã hội xã hội chủ nghĩa,
trong đó đòi hỏi các cơ quan, nhân viên nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân tôn trọng, tuân thủ , chấp hành nghiêm chỉnh Hiến pháp, pháp luật, không có ngoại lệ
Ở Việt Nam, Điều 8 Hiến pháp năm 2013 quy định:
1 Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản
lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ
2 Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền
1.1.2 Yêu cầu của pháp chế xã hội chủ nghĩa
Pháp chế xã hội chủ nghĩa cần đảm bảo các yêu cầu sau:
- Thứ nhất, bảo đảm tính thống nhất của việc xây dựng, ban hành và thực
hiện pháp luật Pháp luật phải được nhận thức và thực hiện thống nhất trong cả nước và ở tất cả các ngành, các cấp, cơ quan, đơn vị Nội dung yêu cầu này thể hiện ở hai khía cạnh:
Một là, trong hệ thống văn bản pháp luật thì Hiến pháp và luật là những văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất Các văn bản quy phạm pháp luật phải được ban hành dựa trên Hiến pháp và các luật Sự thống nhất của pháp chế được bảo đảm bằng hiệu lực tối cao của Hiến pháp và luật so với các văn bản
Trang 3dưới luật Các văn bản dưới luật phải phù hợp với Hiến pháp và luật Văn bản pháp luật của cơ quan nhà nước ở địa phương phải phù hợp, không mâu thuẫn với các văn bản pháp luật do các cơ quan nhà nước ở Trung ương ban hành
Hai là, các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước, tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải chấp hành Hiến pháp và pháp luật một cách nghiêm minh, thường xuyên, liên tục
- Thứ hai, bảo đảm quyền con người và lợi ích hợp pháp của công dân Quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân được Hiến pháp quy định và cụ thể hóa trong các văn bản quy phạm pháp luật, được các cơ quan nhà nước bảo đảm và bảo vệ
- Thứ ba, Ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm minh mọi hành vi vi phạm
pháp luật Bất kỳ hành vi vi phạm pháp luật nào cũng đều xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, xã hội và công dân Bởi vậy, các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền phải ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm minh đối với những hành
vi vi phạm đó Trong xử lý các hành vi vi phạm pháp luật phải thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, không phân biệt đối tượng vi phạm pháp luật là ai, địa vị xã hội như thế nào; xử lý đúng pháp luật, đúng người, đúng tội theo quy định của pháp luật
1.2 Nguyên tắc của pháp chế xã hội chủ nghĩa
Nguyên tắc của pháp chế xã hội chủ nghĩa là những tư tưởng chủ đạo, cơ bản thể hiện bản chất và đặc điểm của pháp chế xã hội chủ nghĩa; chỉ đạo việc xây dựng, tổ chức thực hiện pháp luật trong đười sống nhà nước và xã hội Pháp chế xã hội chủ nghĩa bao gồm những nguyên tắc cơ bản sau đây:
1.2.1 Bảo đảm sự thống nhất của pháp chế trên quy mô toàn quốc
Pháp chế thống nhất nghĩa là trên quy mô toàn quốc chỉ có một nền pháp chế duy nhất, không có và không thể có pháp chế của địa phuwowng này hay của địa phương khác V.I.Lênin đã khẳng định: “Pháp chế không thể là pháp chế của tỉnh Caluga hoặc của tỉnh Canda được, mà phải là pháp chế duy nhất cho toàn nước Nga và cho cả toàn thể liên bang của các nước Cộng hòa xôviết nữa” Đây là nguyên tắc bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, tạo điều kiện cho hệ thống đó phát triển ngày càng hoàn thiện, làm cơ sở củng cố và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Sự thống nhất đó được thể hiện như sau:
Thứ nhất, bảo đảm cho pháp luật phải được ban hành và nhận thức thống nhất trong phạm vi cả nước; bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp
Trang 4luật, mọi vi phạm pháp luật phải được xử lý nghiêm minh không chấp nhận bất
kỳ một đặc quyền hay ngoại lệ nào
Thứ hai, bảo đảm cho pháp luật phải được thực hiện và áp dụng thống nhất trong phạm vi cả nước Bảo đảm cho mọi công dân hiểu biết, sử dụng đúng quyền và thực hiện tốt nghĩa vụ đối với nhà nước với xã hội, hướng tới mục tiêu xây dựng xã hội công bằng, dân chủ và văn minh
Thứ ba, thực hiện nguyên tắc thống nhất của pháp chế xã hội chủ nghĩa là điều kiện quan trọng để xóa bỏ tư tưởng cục bộ, địa phương chủ nghĩa, bảo đảm công bằng xã hội Nguyên tắc thống nhất của pháp chế không những không loại
bỏ mà còn không ngừng phát huy khả năng áp dụng sáng tạo pháp luật của từng địa phương, từng cơ sở trong việc xây dựng các quy chế hoạt động và quản lý phù hợp với đặc điểm, điều kiện cụ thể của mình Nhưng sự áp dụng sáng tạo đó phải phù hợp với sự thống nhất pháp luật của Nhà nước V.I.Lênin đã nhấn mạnh, không những một nước cộng hòa, một tỉnh, mà ngay cả một nhà máy, một làng đều có quyền áp dụng theo cách thức riêng của mình những luật lệ Xôviết chung Điều quan trọng là khả năng áp dụng sáng tạo đó cần phải được nhận thức đúng đắn và có giới hạn, xác định rỗ quyền và nghĩa vụ, quyền chủ thể luôn gắn liền với nghĩa vụ pháp lý, không được vin vào “ở các địa phuwong
có những đặc điểm và nhiều ảnh hưởng” mà bất chấp pháp luật Những đặc điểm và những ảnh hưởng ấy chỉ là những yếu tố cần được tính đến khi nghiên cứu, tìm tòi các biện pháp và hình thức để áp dụng pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống
1.2.2 Bảo đảm hiệu lực pháp lý cao nhất của Hiến pháp
Đây là nguyên tắc bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, tạo điều kiện cho hệ thống đó phát triển và ngày càng hoàn chỉnh, làm cơ sở củng cố
và tăng cường pháp chế Trong hệ thống pháp luật, các văn bản pháp luật tồn tại trong mối quan hệ phụ thuộc và quy định lẫn nhau Hiến pháp là văn bản pháp luật có giá tị pháp lý cao nhất; những văn bản khác, kể cả văn bản luật, đều phụ thuộc vào hiệu lực của Hiếp pháp, được ban hành trên cơ sở Hiến pháp và nhằm
cụ thể hóa những quy định của Hiến pháp
Nguyên tắc trên là điều kiện bảo đảm hoạt động lập pháp, lập quy được đúng đắn, kịp thời, đúng thẩm quyền, thể hiện được ý chí và quyền uy của Nhà nước trong tổ chức và điều hành mọi hoạt động xã hội Trong quá trình đó, các
cơ quan nhà nước cấp dưới phải phục tùng cơ quan cấp trên, các văn bản do các
Trang 5cơ quan quản lý nhà nước cũng như của các cấp chính quyền địa phương phải phù hợp với Hiến pháp, luật và không được trái với những văn bản của các cơ quan quản lý nhà nước cấp trên
1.2.3 Thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật là nguyên tắc bắt buộc chung đối với mọi chủ thể, không có ngoại lệ
Một trong những đặc điểm của pháp luật là tính bắt buộc chung đối với mọi chủ thể, không có ngoại lệ Pháp luật phải được triệt để tuân theo và chấp hành nghiêm chỉnh, không cho phép một ngành, một cơ quan, hoặc một cá nhân nào đó tự cho phép mình không thực hiện những quy định jcuar pháp luật khi
mà những quy định đó đang còn có hiệu lực, chưa bị sửa đổi hoặc chưa bị bãi
bỏ Sự tuân theo và chấp hành đó là vô điều kiện Đặc biệt là sự chấp hành pháp luật từ phía các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, các tổ chức xã hội, đơn vị
vũ trang và những người có chức vụ sẽ góp phần quan trọng trong việc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Ngược lại, nếu các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, các tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và những người có chức vụ không tôn trọng, không chấp hành pháp luật sẽ dẫn đến sự phá vỡ pháp chế xã hội chủ nghĩa Một trong những nguyên nhân phổ biến của tình trạng này thường là do sự thiếu hiểu biết về pháp luật, pháp chế xã hội chủ nghĩa của cán
bộ, công chức nhà nước
1.2.4 Mọi vi phạm pháp luật phải được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh không có ngoại lệ
Nguyên tắc này đòi hỏi mọi vi phạm pháp luật nhất thiết phải được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh Ở đây, điều quan trọng là phải phát hiện được mọi hành vi vi phạm pháp luật để xử lý công minh theo pháp luật Kiên quyết đấu tranh chống những biểu hiện lợi dụng chức quyền để vi phạm pháp luật hoặc dung túng bao che cho những hành vi phạm pháp Nếu những hành vi phạm pháp không bị xử lý, thì chính là sự buông lỏng tạo tiền đề cho những hành vi phạm pháp tiếp theo Hơn nữa, nó còn gây nên tâm lý coi thường pháp luật, gây tổn hại cho pháp chế và trật tự pháp luật Nhà nước có nhiệm vụ khuyến khích, bảo vệ những người trung thực, thẳng thắn đấu tranh bảo vệ chân
lý “Mọi vi phạm đều phải được xử lý Bất cứ ai phạm pháp đều đưa ra xét xử theo pháp luật, không được giữ lại để xử lý “nội bộ” Không làm theo kiểu phong kiến: dân thì chịu hình pháp, quan thì xử theo “lễ” Cấm bao che hành động phạm pháp và nguồi phạm pháp dưới bất cứ hình thức nào”
Trang 61.2.5 Bảo đảm và bảo vệ quyền và tự do của con người và công dân theo quy định của pháp luật
Trong chủ nghĩa xã hội, vấn đề bảo đảm và bảo vệ quyền và tự do của cong người và công dân là một trong những mục tiêu quan trọng Những quyền này được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật Hiến pháp năm 2013 có riêng một chế định quy định về quyền con người và quyền nghĩa vụ cơ bản của công dân Chế định cũng quy định cơ chế bảo đảm và bảo vệ các quyền này Vấn đề đặt ra là, các quyền này phải được thực hiện một cách nghiêm minh và mọi vi phạm đến các quyền đó đều bị xử lý theo quy định của pháp luật Đây vừa là yêu cầu, vừa là nguyên tắc của pháp chế xã hội chủ nghĩa
1.3 Nội dung của pháp chế xã hội chủ nghĩa
1.3.1 Xây dựng và hoàn thiện pháp luật
Một trong những điều kiện của PCXHCN là phải có hệ thống pháp luật đầy
đủ, đồng bộ và thống nhất Để có hệ thống pháp luật này thì hoạt động xây dựng pháp luật là nội dung quan trọng của pháp chế xã hội chủ nghĩa Đối với Nhà nước xã hội chủ nghĩa, xây dựng pháp luật là hoạt động thể chế hóa chủ trương, đường lối của đảng cầm quyền, thể hiện ý chí của Nhà nước và của nhân dân
Trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật phải bảo đảm các yêu cầu có tính nguyên tắc Đó là phải bảo đảm tính khách quan, tính khoa học, tính dân chủ và bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Đồng thời phải đáp ứng được các tiêu chí của một hệ thống pháp luật hoàn thiện, đó là tiêu chí về: tính thống nhất, đồng bộ; tinhsh toàn diện; tính phù hợp, tính minh bạch, khả thi; tính ổn định nhất định và
kỹ thuật xây dựng pháp luật hiện đại
1.3.2 Tổ chức thực hiện pháp luật
Thực hiện pháp luật là hoạt động diễn ra đồng thời và nối tiếp quá trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống, tạo ra cơ sở pháp lý cho hoạt động thực tế của các chủ thể Nội dung tổ chức thực hiện pháp luật bao gồm các hoạt động:
-Tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật
- Xây dựng đội ngũ cán bộ và kiện toàn các cơ quan làm công tác thực hiện pháp luật
- Tổng kết rút kinh nghiệm thường xuyên để phát hiện kịp thời và khắc
Trang 7phục những sai sót trong quá trình tổ chức thực hiện pháp luật, đề ra phương hướng và biện pháp cho công tác đó
1.3.3 Thực hiện công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện pháp luật nhằm phòng ngừa và xử lý các vi phạm pháp luật
- Kiểm tra là hoạt động của các cơ quản nhà nước cấp trên đối với các cơ quan nhà nước cấp dưới; của cơ quan nhà nước đối với các tổ chức xã hội, tổ chức chính trị - xã hội, các đơn vị mình và các cộng đồng dân cư về tình hình thực hiện pháp luật
- Thanh tra việc thực hiện pháp luật là hoạt động của các cơ quan thanh tra nhà nước phát hiện các sơ hở, bất cấp của cơ chế, chính sách, pháp luật để kiến nghị các cơ quan, nhà nước và cá nhân có thẩm quyền sửa đổi bổ sung
- Giám sát thực hiện pháp luật là sự theo dõi, quan sát tính chủ động thường xuyên của các cơ quan, tổ chức hoặc của nhân dân đối với các chủ thể trong việc tuân thủ, chấp hành, sử dụng và áp dụng pháp luật Giám sát thực hiện pháp luật là một hình thức hoạt động quan trọng, đồng thời là quyền của cơ quan nhà nước thể hiện ở việc xem xét đối với hoạt động của các đối tượng chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật nhằm bảo đảm pháp chế
II Thực trạng và một số giải pháp tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự của lực lượng Công an nhân dân
2.1 Thực trạng công tác pháp chế trong công an nhân dân hiện nay
Nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò quan trọng của pháp luật đối với quản lý nhà nước và xã hội nói chung, sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự (ANTT), đấu tranh phòng, chống tội phạm nói riêng, trong các giai đoạn cách mạng Việt Nam, đặc biệt là trong hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết định hướng cho công tác này, làm cơ sở chính trị cho việc thể chế hóa trong Hiến pháp và pháp luật, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, tăng cường pháp chế trong lĩnh vực ANTT
Với chức năng là lực lượng vũ trang nhân dân nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ ANTT, trong thời gian qua, lực lượng Công an nhân dân (CAND) đã thực hiện tốt công tác tham mưu chiến lược với Đảng, Nhà nước trong việc ban hành, chỉ
Trang 8đạo thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật, chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm
Đó là Chỉ thị số 48-CT/TW ngày 22-10-2010 của Bộ Chính trị (khóa X)
về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 25-10-2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; Chỉ thị số 39-CT/TW ngày 18-8-2014 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo
vệ chính trị nội bộ trong tình hình hiện nay, Chỉ thị số 46-CT/TW ngày
22-6-2015 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm ANTT; Luật Phòng, chống ma túy năm 2000; Luật Phòng cháy, chữa cháy năm 2001; Luật An ninh quốc gia năm 2004; Luật Công an nhân dân năm 2005; Luật Cư trú năm 2006; Luật Đặc xá năm 2007; Luật Thi hành án hình sự năm 2010; Luật Phòng, chống khủng bố năm 2013; Pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2000; Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004; Pháp lệnh Cảnh
vệ năm 2004; Pháp lệnh Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia năm 2007; Luật CAND (sửa đổi) 2018, Luật An ninh mạng năm 2018, Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2018, Luật Thi hành án hình sự năm 2019 , Luật Đặc xá năm 2019 Đồng thời, tham gia trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành nhiều nghị quyết, nghị định; quyết định; chủ trì, phối hợp liên ngành ban hành nhiều thông tư liên tịch và các văn bản quy phạm pháp luật khác bảo đảm quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân
Có thể khẳng định, cùng với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới, quan điểm, thể chế về Nhà nước pháp quyền XHCN có bước tiến quan trọng, pháp luật về bảo đảm ANTT, đấu tranh phòng, chống tội phạm ngày càng hoàn thiện, là biểu hiện sinh động, đáng ghi nhận trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam
Quán triệt quan điểm, chủ trương đối ngoại của Đảng và Nhà nước, với vai trò “đi trước, mở đường”, lực lượng CAND đã tăng cường hoạt động thiết lập, nâng tầm quan hệ với các nước, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chủ động tham gia các cơ chế hợp tác an ninh khu vực và toàn cầu, hạn chế những tác động tiêu cực của quá trình hội nhập quốc tế; thực hiện tốt công tác đàm phán,
ký kết, gia nhập nhiều điều ước quốc tế đa phương, song phương trong hợp tác quốc tế đấu tranh phòng, chống tội phạm, khủng bố, bảo đảm ANTT…
Trang 9Công tác phổ biến, giáo dục và thi hành pháp luật có bước chuyển biến tích cực, đi vào chiều sâu, nề nếp với nhiều nội dung, hình thức sáng tạo, thiết thực, có sức lan tỏa rộng lớn và đạt được nhiều kết quả quan trọng
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác xây dựng, phổ biến, giáo dục và thi hành pháp luật về bảo vệ ANTT, đấu tranh phòng, chống tội phạm vẫn còn có những hạn chế, thiếu sót, bất cập, cụ thể là:
- Ở phương diện nhận thức lý luận, công tác này chưa dựa trên nền tảng lý luận thực sự vững chắc; chưa làm rõ những đặc điểm đặc trưng của công tác xây dựng, phổ biến, giáo dục và thi hành pháp luật về bảo vệ ANTT, đấu tranh phòng, chống tội phạm so với các lĩnh vực pháp luật khác trong hệ thống pháp luật cũng như các quá trình kinh tế, xã hội trong đổi mới
- Một số quy định “đi trước” nhưng chưa dựa trên cơ sở dự báo có tính vĩ
mô, chiến lược; nhiều quy định không còn phù hợp với cuộc sống và thực tiễn công tác, chiến đấu nhưng chậm được sửa đổi, bổ sung; còn có những “khoảng trống” về pháp luật
- Một số văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật chưa rõ ràng, cụ thể, dẫn đến việc áp dụng thiếu thống nhất, tác động tiêu cực đến công tác bảo vệ ANTT, đấu tranh phòng, chống tội phạm, là kẽ hở để tội phạm có thể lợi dụng hoạt động phạm tội
- Hoạt động hợp tác quốc tế về pháp luật, nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm nước ngoài, nội luật hóa các quy định của điều ước quốc tế còn có những vấn đề đáng băn khoăn, suy nghĩ, chưa phúc đáp đầy đủ yêu cầu bảo đảm ANTT, đấu tranh phòng, chống tội phạm
- Việc chấp hành pháp luật về ANTT, đấu tranh phòng, chống tội phạm của một số cơ quan, tổ chức, cá nhân, trong đó có một bộ phận cán bộ, chiến sĩ CAND chưa nghiêm, một số vụ việc vi phạm pháp luật, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, gây bức xúc trong dư luận xã hội
và quần chúng nhân dân
Thực trạng nêu trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là do:
- Công tác nghiên cứu, hoàn thiện lý luận chưa đặt trong bối cảnh đổi mới toàn diện đất nước, chủ động hội nhập quốc tế và sự vận động nhanh chóng, phức tạp, khó lường của xu hướng thời đại, trong khu vực, trên thế giới và tình hình trong nước
Trang 10- Hoạt động tổng kết thực tiễn chưa thật sự sâu sắc, toàn diện và đầy đủ, còn có biểu hiện hình thức, chưa bám sát mục đích, yêu cầu đặt ra
- Công tác tổ chức xây dựng và thi hành pháp luật về bảo vệ ANTT, đấu tranh phòng, chống tội phạm chưa được làm tốt, có biểu hiện nóng vội, chủ quan, một số quy định tác động trực tiếp đến người dân, doanh nghiệp… chưa được nghiên cứu thận trọng, kỹ lưỡng, có tính thuyết phục
2.2 Một số giải pháp tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự của lực lượng Công an nhân dân
Thời gian tới, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi khi Việt Nam tiếp tục hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới và khu vực, chúng ta đang phải đối mặt với những nguy cơ, thách thức đan xen, tác động trực tiếp đến nhiệm vụ bảo vệ ANTT, đấu tranh phòng, chống tội phạm Trước bối cảnh đó, Đảng, Nhà nước ta
đã tiếp tục xác định việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN là nhiệm vụ chính trị trọng yếu, phải tiến hành đồng bộ cả trong công tác lập pháp, hành pháp và tư pháp theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả gắn với đổi mới kinh tế, văn hóa, xã hội
Để góp phần thực hiện thắng lợi Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, thể chế hóa các quy định của Hiến pháp đòi hỏi lực lượng CAND cần phát huy hơn nữa vai trò nòng cốt trong việc tham mưu thực hiện tốt một số công tác sau đây:
- Nâng cao hiệu quả hoạt động xây dựng, quy hoạch thể chế, chính sách, pháp luật ở tầm vĩ mô, gắn kết chặt chẽ công tác xây dựng, thẩm định pháp luật
về an ninh, trật tự với tổng kết thực tiễn, dự báo, phân tích, đánh giá khả năng phản ứng và tác động xã hội với các chính sách, pháp luật mới trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế Tiếp tục rà soát thể chế liên quan đến đảm bảo an ninh, trật tự để kịp thời sửa đổi, bổ sung cho phù hợp Nghiên cứu
đề xuất xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật đáp ứng đòi hỏi của tình hình mới Trong đó, tập trung thực hiện tốt chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Chính phủ, của Quốc hội, đẩy nhanh tiến độ xây dựng, đảm bảo chất lượng các dự án luật, pháp lệnh, như: Luật Công an nhân dân (sửa đổi); Luật Cảnh vệ; Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự; Luật Xuất cảnh, nhập cảnh, quản lý cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam; Luật về tạm giữ, tạm giam; Luật Phòng, chống tội phạm có tổ chức, Luật Truy nã tội phạm; Luật Bảo đảm trật tự, an toàn xã hội; Bộ luật Hình sự (sửa đổi), Bộ luật Tố tụng Hình sự