Song, muốn đạt đến đích an lạc này, chúng ta phải thực hành theo phương pháp của Ðức Phật chỉ dạy - phương pháp này là một hệ thống giáo dục thực tiễn về mở mang tâm trí, được thế giới b
Trang 1ĐỀ BÀI: HÃY CHỌN MỘT TRONG CÁC KINH CÓ NỘI DUNG LIÊN
HỆ ĐẾ CUỘC SỐNG, QUAN ĐIỂM, TRIẾT THUYẾT CỦA NGOẠI ĐẠO
ĐỂ SO SÁNH VỚI BẢN TƯƠNG ĐƯƠNG TRONG KINH A HÀM
A- DẪN NHẬP
Ðạo Phật là nguồn sống và lẽ sống của con người, là cương lĩnh cho nhân thế Với sứ mạng thiêng liêng cao đẹp ấy, đạo Phật không xa lìa thực thể khổ đau của con người Ðạo Phật đối diện cùng đau khổ, tìm ra những phương thức linh diệu diệt trừ đau khổ, đem lại sự an vui hạnh phúc cho nhân thế, giúp con người xây dựng cuộc sống Chân-Thiện-Mỹ
Phật dạy: "Phật pháp tại thế gian, không ngoài thế gian mà giác ngộ Nếu lìa thế gian để tìm cầu Bồ Ðề, không khác nào người đi tìm lông rùa sừng thỏ, vì
đó là việc không bao giờ có" (Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác, ly mịch
Bồ Ðề, cáp như tầm thố giác - Bảo đàn Kinh) Ðạo Phật ra đời để phụng sự con người, rời con người đạo Phật hết sứ mạng Tinh thần cao đẹp ấy đã thể hiện trong suốt cuộc hành trình hoằng pháp độ sanh của Ðức Phật Ngài chỉ nói: Khổ
và Con đường Diệt khổ
Quả thật vậy, sự xuất hiện của Ðức Phật trên cõi đời này đánh dấu một bước ngoặt trọng đại Ngài đã tìm ra con đường giải thoát cho bản thân mình và cho tất cả chúng sanh Ngài đã thật sự mở ra cánh cửa bất tử, vén lên bức màn vô minh và từ đó những ai thực hành lời dạy của Ngài, đều có thể thoát khỏi sanh tử luân hồi, chứng quả Bồ đề Niết Bàn Ðây là mục đích tối hậu của người học Phật Dù trên bất cứ bình điện nào, góc độ nào thì bản chất của nó vẫn là một, như nước trăm sông đều đổ về biển cả và thuần một vị đó là vị mặn Cũng vậy, giáo lý của chư Phật, dù nhiều vô lượng, nhưng chỉ có một vị đó là vị giải thoát
Kinh A Hàm là một hệ thống giáo lý căn bản ấy Từ hệ thống giáo lý căn bản này mà triển khai và phát triển đến mức độ cứu cánh viên mãn Dựa trên nền tảng giáo lý A Hàm, chúng ta có thể khẳng định rằng toàn bộ hệ thống kinh tạng của Phật giáo nói chung và A Hàm nói riêng đều có tính nhất quán nhằm đưa đến
Trang 2đích cuối cùng của đời sống phạm hạnh là đoạn trừ tham ái, chấp thủ, vô minh, giải thoát hết thảy lậu hoặc và hướng nhân loại thẳng tiến về Niết Bàn, an lạc Song, muốn đạt đến đích an lạc này, chúng ta phải thực hành theo phương pháp của Ðức Phật chỉ dạy - phương pháp này là một hệ thống giáo dục thực tiễn về
mở mang tâm trí, được thế giới biết đến từ 25 thế kỷ qua, chứ không phải là một phương pháp trừu tượng, suy tưởng hay siêu hình Phương pháp này cũng được gọi là con đường “Trung đạo”, con đường chính đáng của đời sống, một hệ thống triết lý đạo đức, một phương pháp tự mình thực hành lấy, được công nhận
là con đường giải thoát và hữu lý
Tuy nhiên, mỗi tôn giáo đều có những đặc tính riêng của mình, niềm tin riêng của mình, giáo lý riêng và những quan niệm khác nhau Tìm hiểu tư
tuoingrr cứu độ trong Kitô giáo, và con đường Trung Đại trong Kinh Trung A Hàm sẽ giúp chúng ta xác thực những giá trị trân quý cua triết lý Phật giáo núi chung và Kinh Trung A Hàm nói riêng
B NỘI DUNG
I- Lịch Sử Kinh A Hàm
1.1 Lịch sử kiết tập:
Kinh Tạng A Hàm là một bộ kinh chủ yếu của phái nhất thiết hữu bộ (Sarvativada) gọi tắt là hữu bộ Có thể nói kinh Tạng A Hàm là hậu thân của kinh Tạng nguyên thủy bằng tiếng Magadhi Tạng này được hình thành trong kỳ kiết tập lần thứ nhất xảy ra vào năm 554 trước Tây lịch Ngay từ buổi đầu mới hình thành, chỉ là truyền tụng (Samgiti) chưa được trở thành văn bản bằng ngôn ngữ
Về sau trên bước đường phát triển phái hữu bộ tách ra khỏi phái Thượng tọa bộ vào khoảng thời gian 300 năm sau Phật Niết Bàn (đầu thế kỷ thứ 3 trước Tây lịch) và về lập cứ ở vùng Tây Bắc Ấn Ðộ, bao gồm hai trung tâm Mathuara (Ma-thâu-la) và Kashimir (Kế Tân) Nhưng mãi đến thế kỷ thứ nhất sau Tây lịch dưới thời vua Asoka (A Dục Vương) kinh Tạng A Hàm mới được ghi chép bằng
Trang 3ngôn ngữ Bắc Phạn (Sanskrit) do công lao đóng góp của người Balamôn theo đạo Phật tên là Panini Như vậy kinh Tạng A Hàm được hình thành bằng văn tự sau kinh tạng Pali hai thế kỷ, vì tạng Pali được hình thành vào cuối thế kỷ thứ ba trước Tây lịch dưới thời vua Asoka
Về nội dung ngay từ ban đầu kinh Tạng A Hàm được ghi chép thành 5 bộ: Trường, Trung, Tạp, Tăng nhất và Tiểu A Hàm tương đương với 5 bộ Pali: Trường, Trung, Tương Ưng, Tăng chi và Tiểu bộ kinh
Tuy nhiên, sau một thời gian phát triển, tinh thần cởi mở và dung hòa, những nhà cấp tiến của hữu bộ đã kết nạp thêm một số kinh của đại chúng bộ từ Vesaly ở Ðông Nam truyền lên, chủ yếu đưa vào Tiểu bộ A Hàm Do đó đã nâng
số kinh lên cả hàng chục kinh, vì vậy Tiểu A Hàm không còn giữ nguyên hình thức và nội dung nữa, mà phải đổi thành danh từ mới là Tạp A Hàm, rồi chuyển sang Bồ Tát Tạng Ðó là tiền thân của kinh Tạng Ðại Thừa về mặt lịch sử
Khi đó những nhà bảo thủ của hữu bộ tự động rút ra khỏi Tạp A Hàm một
số kinh thuộc Tiểu phẩm A Hàm, tạo thành những kinh biệt dịch như Pháp Cú, Sinh kinh, Duyên kinh, tạp thí dụ v.v gọi là A Hàm Bộ Hạ Ðó là lý do tại sao kinh A Hàm ngày nay còn 4 bộ Trái lại kinh Pali từ ngày kiết tập đến nay vẫn giữ nguyên hình thức, nội dung và số lượng Ðó là điểm đặc biệt về mặt lịch sử của kinh tạng Pali và A Hàm
1 2 Lịch sử phiên dịch:
Phật giáo được truyền sang Trung Hoa vào đầu thế kỷ thứ nhất năm 67 sau Tây lịch, dưới thời Hán Minh Ðế Nhưng mãi đến đầu thế kỷ thứ 5, một phần lớn kinh Tạng chữ Hán mới được dịch từ Phạn sang chữ Hán, trong đó có 4 bộ A Hàm
Trường A Hàm: Do Ngài Phật Ðà Da Xá và Ngài Trúc Niệm dịch trong hai năm đầu sau Tây lịch tại kinh đô Trường an, đời Dao Tần và được sự cộng tác của Ngài Ðạo Hàm ghi chép Ðồng thời đứng ra tổ chức phiên dịch là Hiệu
Úy Ðạo Sùng, gồm 22 quyển
Trang 4Kinh Trung và Tăng Nhất A Hàm: Do Ngài Tăng Già Ðề Bà dịch trong 2 năm 397 - 398 sau Tây lịch, tại kinh đô Kiến Khương nhà Ðông Tần Với sự cộng tác của Tăng Già La sát về mặt Phạn ngữ và do Ðạo Từ ghi chép Ðồng thời vị Phật tử ủng hộ tích cực trong công tác phiên dịch này là Thượng Thơ Vương Nguyên Lâm
Trung A Hàm có 60 quyển, 18 phẩm
Kinh Tăng Nhất có 51 quyển, 52 phẩm chia làm 11 pháp
Kinh Tạp A Hàm, do Ngài Cầu Na Bạt Ðà dịch vào đời Lưu Tống, có
1362 kinh
1.3 Ý nghĩa danh từ A Hàm
A Hàm là danh từ chung chỉ cho 4 bộ A Hàm Ðó là Trường, Trung, Tăng Nhất và Tạp A Hàm
A Hàm là dịch âm của chữ Agama Có 2 nghĩa chính
Vô Tỷ Pháp: theo hữu bộ, tức Phật pháp nói trong thời A Hàm là vô thượng, không có một pháp nào có thể so sánh được, không có một pháp hơn nữa
Pháp Quy: (Theo Ngài Thích Tăng Triệu - Trường An), Pháp Quy là căn nguyên của mọi điều thiện, là khu rừng tóm thâu tất cả, vừa uyên bác, vừa phong phú, vừa bao la, thuyết minh dấu tích của hiền ngu, tội phước, phân tích về nguyên do chân ngụy, dị đồng, ghi lại những việc thành bại xưa nay, bao hàm tất
cả vạn loài đất trời, đạo do đây mà phát khởi, pháp do đây mà tồn tại Ví như biển cả, trăm sông đều đổ dồn về, cho nên gọi là Pháp Quy Sau khi thành đạo qua hai tuần đầu giảng kinh Hoa Nghiêm, Ðức Phật đã thuyết giảng suốt 12 năm liền kinh A Hàm Nội dung giáo lý A Hàm, Ðức Phật chú trọng phá trừ ngã chấp, diệt tham ái và chứng quả Bồ Ðề Niết Bàn
II Tư tưởng về giải thoát (cứu độ) theo quan niệm cua Ki tô giáo.
Theo quan niệm Kitô giáo: “Ngoài Giáo Hội không có ơn cứu độ” Câu nói này nhằm giải quyết cho Giáo Hội thời bấy giờ là các người tín hữu Kitô
Trang 5giáo chạy theo các giáo phái và các tôn giáo khác, do đó các thánh giáo phụ đã dùng câu nói này để răn đe các tín hữu mình đi theo các giáo phái Đến ngày hôm nay, Giáo Hội Kito giáo nhìn lại câu nói đó, nó nằm trong hoàn cảnh đó và
đã được diễn tả theo cách thức của thời đó và Giáo Hội ngày hôm nay là luôn khẳng định: Ngoài Đức Kitô không ai có thể đem lại ơn cứu độ Đức Giêsu là Đấng cứu độ duy nhất của con người, chỉ có Đức Giêsu mới đem lại ơn cứu độ đích thực, còn những người khác là được Đức Giêsu cứu độ Như vậy, ơn cứu độ của Đức Giêsu có tính cách phổ quát cho tất cả mọi người không trừ một ai, không kỳ thị một ai, nhưng để được cứu độ thì con người phải tin vào Đức Giêsu Kitô nhận và thực hành giáo huấn Theo tuyên ngôn Dominus Jesus của thánh bộ Giáo Lý Đức Tin thì xác quyết rằng: Đức Giêsu Kitô là Đấng cứu độ duy nhất của nhân loại, ngoài Ngài ra không ai có thể được cứu độ nếu không tin vào Người Có thể thấy được một số nội dung trong con đường giải thoát (ơn cứu độ) theo quan điểm cua Thiên chưa giáo như sau:
1) Nguồn suối từ đó xuất phát ơn cứu độ là duy nhất, tức là có một không hai, và nguồn suối đó chính là Đức Giêsu Kitô: trong Ngài, với Ngài và nhờ Ngài, Thiên Chúa đã muốn thiết lập một mối quan hệ tình yêu và ân sủng với tất
cả mọi người;
2) Giáo hội, Dân mới của Thiên Chúa, Thân mình của Đức Kitô, có nhiệm
vụ chính thức loan báo Tin mừng và làm nhiệm tích phổ quát của ơn cứu độ cho muôn dân;
3) Các tôn giáo không Kitô cũng là những phương thế lưu chuyển ơn cứu
độ, có thể dẫn đưa con người đến với Đức Kitô, với điều kiện là đã sẵn có, hoặc sẵn sàng đón nhận các phương thức cứu độ phù hợp với ý định của Thiên Chúa
và đã được rộng ban cho Dân Ngài, là Giáo hội, nhờ công nghiệp của Đấng Cứu Thế
Như vậy, có thể thấy, quan điểm của đạo Thiên chúa luôn xác thực việc hưởng phúc của nhân gian hoàn toàn phụ thuộc vào quyền năng của thiên chúa,
Trang 6và loài người nếu muốn được hưởng phước trên “thiên đàng” thì phải thực hành theo đúng giáo huấn ý Chúa
Trong phạm vi nghiên cứu của một chủ đề tiểu luận, người viết trình bày
về nội dung cứu độ của Thiên chúa giáo với một cái nhìn hạn hẹp, một cái nhìn dưới nhãn quan của một người ngoài Thiên chúa giáo Qua quá trình nghiên cứu kinh A Hàm, người viết xin được trình bày các vấn đề về giải thoát thông qua tư tưởng “Trung đạo” của Kinh A Hàm
II- Giới Thiệu về Tư Tưởng “Trung Ðạo” Của Phật Giáo Qua Kinh A Hàm
Ðức Phật - Ðấng đạo sư muôn vàn tôn kính Người đã tìm ra "ánh đạo vàng" như vầng dương rực rỡ chiếu soi cõi ta bà vô minh ô trược Nếu thái tử Tất-Ðạt-Ða từ thuở ấy mãi vui hưởng dục lạc trong cung vàng điện ngọc, bên cạnh tình yêu mãnh liệt của hoàng phụ với đôi tay luyến ái của hiền thê ắt hẳn Ngài không có gì để ta quy kính Sớm nhận chân được thực tại của cuộc đời đầy dẫy những khổ đau bởi sanh, già, bệnh, chết, nhìn thấy tướng vô thường đang bủa vây cuộc sống, Thái tử đã rời bỏ kinh đô lên đường tìm chân lý Sau cuộc chiến đấu phi thường kéo dài hơn 6 năm, trải qua bao sự ép xác khổ hạnh, vẫn không tìm ra con đường thoát khổ, Ngài đã từ bỏ pháp môn này, tự mình vào rừng sâu, không một sự hổ trợ từ bên ngoài, không được hướng dẫn bởi một năng lực siêu phàm nào, cô độc một mình, chỉ nương vào trí tuệ, sự nổ lực của tự thân với sự quyết tâm cao độ, Ngài đã đoạn toàn bộ tham, sân, si, đoạn tận khổ uẩn Cuối cùng, Ngài đã chứng đạt được thực tướng của các pháp và đã trở thành một vị Phật, một Ðấng toàn giác
Sau khi chứng ngộ, không an hưởng pháp lạc một mình, Ngài đã lên đường chuyển bánh xe pháp độ quần sanh Chân lý mà Ngài đã thực chứng và giảng dạy cho chúng ta hành trì, ấy là con đường "Trung đạo"
Trung đạo, nếu gọi đủ là Trung đạo duyên khởi (Majjhima Patipana) Ðứng về mặt triết lý là con đường không tuyệt đối hóa một vấn đề gì, ly khai tất
cả những ý niệm chấp trước, không chấp hữu và không chấp vô, không thái quá
Trang 7và không bất cập, ly khai các cực đoan và phiền não, tự tại vô ngại, giải thoát giác ngộ, chứng quả Niết Bàn nên gọi là Trung đạo
Tuy nhiên trên quan điểm và tư tưởng của kinh A Hàm Trung đạo mang tính cách thực tế Nói như thế có nghĩa là Trung đạo được xác định như là phương pháp thực hành đặc biệt, siêu việt nhị nguyên, đối đãi, thể nhập chân lý tuyệt đối, nhưng vẫn hiện hữu tùy duyên linh động trong mọi thời gian, không gian và sự hiện hữu của tự thân đối với tha nhân và các pháp
Do đó, chúng ta có thể khẳng định rằng: Phật giáo đi ngược chiều với phần đông các tôn giáo khác, khi khai quang con đường "Trung đạo" và truyền
bá giáo lý lấy nhân bản làm trung tâm, thay vì giáo điều lấy thần linh làm trụ cột Như vậy Phật giáo hướng nội và nhằm vào sự giải thoát từng cá nhân, giáo pháp phải được tự mình chứng ngộ Ðức Phật đã nhiều lần khuyên hàng môn đệ:
"Các con phải chuyên cần tinh tấn
Các đấng Như Lai chỉ là người vạch ra con đường" (Pháp Cú câu 176)
"Các con hãy tự mình tự cải thiện, tự vươn lên,
Và mở lòng đón nhận giáo huấn của Ðức Phật
Hãy rung chuyển đạo binh của tử thần,
Như thớt tượng rung chuyển một mái chòi tranh" (Tạp A Hàm I, 156) Lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, Ðức Phật dạy rằng không nên tìm giải thoát bằng cách tùy thuộc nơi một đấng cứu thế, dầu vị ấy là người hay thần linh Theo thường, cứu cánh của phần đông nhân loại là tuyệt diệt hoàn toàn, hoặc trường tồn vĩnh cữu Người theo chủ nghĩa vật chất tin rằng sau khi chết con người hoàn toàn không còn gì nữa, trở thành hư vô Một vài tôn giáo chủ trương rằng mục tiêu cứu cánh chỉ có thể thành đạt sau kiếp sống, trong sự hợp nhất với một nhân vật toàn năng, hoặc một sinh lực không thể giải thích hay nói khác đi, một hình thức trường tồn vĩnh cữu
Phật giáo dạy con người "Trung đạo" mục đích cứu cánh của Ðạo Phật không phải là sự tuyệt diệt, bởi vì không có cái chi trường tồn để tuyệt diệt, cũng
Trang 8không phải sự trường tồn vĩnh cữu để vĩnh viễn hóa Mục tiêu cứu cánh của Phật giáo có thể thành đạt trong chính kiếp sống này
Qua đó cho thấy, tư tưởng cốt lõi của “Trung đạo đó chính là xa lìa những cực đoan, con người muốn hưởng được cõi cực lạc thì trước tiên phải do chính bản thân mình tạo ra trên cơ sở những pháp thuyết của đức Phật Vì vậy Đức Phật đã luôn nhắc nhở chúng sinh: “ ta là phật đã thành, các ngươi là phật sẽ thành” ,Như Spinoza viết: "Những gì thường xảy ra trong đời sống và được con người quí chuộng, xem là tốt đẹp nhất, có thể thu gọn làm 3 điều: giàu sang, danh thơm tiếng tốt và tham vọng Ba điều ấy làm cho tâm vọng động đến độ khó lòng có thể nghĩ đến gì tốt đẹp hơn" (Phật giáo nhìn toàn diện)
Quả vậy, thói quen người ta quan niệm rằng thỏa mãn hết những dục vọng
là hạnh phúc tốt đẹp nhất Trong sự thỏa mãn dục lạc chắc chắn rằng có hạnh phúc nhất thời trong khi mơ ước, mong đợi, lúc thọ hưởng và khi hồi nhớ lại những khoái lạc vật chất tương tự Nhưng hạnh phúc ấy quả thật huyền ảo và tạm bợ Trong kinh Trung A Hàm III của kinh Nhu Nhuyến có đoạn diễn tả về
sự băn khoăn và hối hận của thái tử khi đang còn hưởng thọ dục lạc
" Phàm phu ngu si không đa văn, vì chưa tật bệnh nên tự cao, tự phụ, phóng dật, rồi do lòng tham dục mà sanh si ám, không tu tập phạm hạnh Phàm phu ngu
si không đa văn, vì còn trẻ trung nên tự cao, tự phụ, phóng dật, rồi do lòng tham dục mà sanh si ám, không tu tập phạm hạnh Phàm phu ngu si không đa văn, vì còn thọ mạng nên tự cao, tự phụ, phóng dật, rồi do lòng tham dục mà sanh si ám, không tu tập phạm hạnh "
Đức phật nghĩ rằng: "Người hành đạo cũng như dây đàn Dây đàn quá cao
sẽ đứt và nhạc sẽ bay Dây đàn quá thấp sẽ câm và nhạc không lên Hãy dùng cây đàn dây không quá cao cũng đừng thấp quá Hành đạo cũng vậy, quá sướng hay quá khổ, không phải lối tu hành chân chính, vì thân thể khoái lạc lắm thì tâm hồn đam mê, nhưng hình hài khổ cực thì tâm hồn bị rối loạn Con đường đi đến giải thoát phải xa lìa hai thái cực ấy! Giữ mực điều hoụa thì đạo tất thắng" Một
Trang 9tâm hồn trong trắng thanh cao, một trí tuệ minh mẫn phát triển ở một thân thể cường tráng và thanh tịnh Người cầu đạo cần phải phát huy trí tuệ mới mong giải thoát và giác ngộ" (Lược trích Trung A Hàm)
Sau những phút suy tư, Ngài cho rằng: "Dầu các đạo sĩ hay các nhà tu khổ hạnh trong quá khứ đã chịu những cảm giác nhức nhối, đau đớn dữ dội hay xót
xa thế nào thì đến mức này là cùng, không thể hơn Tuy nhiên, đã trải qua bao nhiêu khắc khổ khó khăn và đau đớn mà ta không đạt được điều chi tốt đẹp, xứng đáng với sự giác ngộ cao thượng và trí tuệ vượt hẳn những trạng thái của loài người Hay là còn con đường nào khác dẫn đến chứng ngộ cao thượng chăng?" (Trung A Hàm 36 - quyển I) Từ đó, tự bản thân kinh nghiệm, Ngài đã nhận thức chắc chắn rằng lối tu khổ hạnh không thể đem lại lợi ích mặc dù các triết gia và các tu sĩ thời bấy giờ quả quyết rằng đó là nếp sống tối cần thiết để đạt đến cứu cánh, thấy rằng khổ hạnh chỉ làm giảm suy trí thức và mệt mõi tinh thần Ngài liền cáo chung phương pháp hành đạo khổ hạnh sai lầm, cũng như trước kia từ bỏ lối sống lợi dưỡng chỉ làm chậm trễ tiến bộ đạo đức, tự chọn cho mình con đường độc lập, một phương tiện vàng son và cuối cùng đã tìm ra được con đường Trung đạo dung hòa giữa hai cực đoan trên và trở thành đấng Toàn Giác
Ðể ngăn ngừa lòng tham, trấn áp mọi cám dỗ vật chất bên ngoài, Ðức Phật dạy chúng ta phải biết thiểu dục tri túc Như trong kinh Tượng Tích Dụ - Trung
A Hàm III thuật lại lời dạy của Ðức Phật về sự đoạn trừ tham dục như sau:
"Con người sống phải hết sức tri túc, áo chỉ cốt che thân, ăn chỉ cốt để nuôi thân,
du hành đến đâu phải mang theo y bát, đi không luyến tiếc, cũng như con nhạn mang theo đôi cánh bay liệng trong không"
Quả đúng thế chính vì sự biết đủ là giàu sang, hạnh phúc và yên ổn Người biết
đủ thì nằm trên đất cũng thấy an vui, người không biết đủ thì ở thiên đường cũng không thỏa mãn Không biết đủ thì giàu mà nghèo, biết đủ thì nghèo mà giàu." (Kinh Di Giáo)
Trang 10Kinh Trung A Hàm III đã nói: "Nếu một người sống với trí tuệ, tu tập thiền quán
từ bỏ các dục lạc và ác bất thiện tâm, sẽ chứng và trú sơ thiền đi cùng với 5 thiền chi là giác, quán, hỷ, lạc và nhất tâm Năm thiền chi này xuất hiện và loại bỏ 5 triền cái là tham, sân, hôn trầm, trạo hối và nghi"
Tuy thế, đối với cách nhiếp phục này, chúng ta rất khó thực hiện, đòi hỏi
sự nổ lực, quyết tâm diệt trừ tận gốc rễ ngũ dục, bởi lẽ nó đã tàng trữ, thâm nhập vào chúng ta từ "thâm căn cố đế", do đó chúng ta luôn luôn tìm kiếm và ham thích sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngọt và sự xúc phạm êm dịu và tránh xa các sắc, thanh, hương, vị, xúc trái ngược Lòng tham càng mạnh, thức càng được nuôi dưỡng Ðây chính là động cơ dẫn đến tái sanh đời này đời khác Khi 5 trần
ấy thay đổi thì khởi lên sầu khổ buồn phiền, khó chịu Ngay cả khi con người đang nắm giữ 5 trần đẹp ấy, thì nổi lo sợ 5 trần biến hoại cũng đủ gây đau khổ, rây rức lòng người Cả những khi lòng tham ái có mặt đang chờ đợi đón nhận 5 trần đẹp, cũng gây nên những dao động, xao xuyến, lo âu Ðấy là ý nghĩa của khổ tập đế
Bị vướng mắc vào tham dục, con người khó thoát ly khỏi dục giới, bởi lúc nào con người cũng nghĩ về mình, làm sao để tôi được đẹp đẽ, giàu sang, có địa
vị cao , từ đó họ bất chấp dẫm đạp lên mọi người, chà đạp hạnh phúc quyền lợi của người khác, và sống là phải tranh thủ vì tiền bạc, địa vị là trên hết, họ cho rằng sống mà thật thà quá là ngu Với quan niệm này, họ tin chắc là đúng, nhưng thật ra chỉ là một tư duy tà kiến do lòng tham dấy khởi, cũng từ đấy lòng ngã mạn bộc phát Nếu một ai động đến cái ngã của họ thì chắc chắn sẽ nổi trận lôi đình, lòng sân nổi dậy kèm theo sự đố kỵ, ganh ghét, keo rít Cho nên chính tham, tà kiến, mạn, sân, tật, xan, hối thuộc những tâm sở bất thiện là động cơ gây ra những áp bức, bất công làm rối loạn xã hội
Do đó, Ðức Phật đã đưa ra những phương pháp nhằm giải quyết các nguyên nhân gây ra sự bất an, rối loạn ấy Ðó chính là phương pháp tích cực,