TRANG TÓM TẮT TIỂU LUẬN Với thế hệ sinh viên hiện tại của chúng tôi – hay còn được gọi là Gen Z, có rất nhiều thử thách mà các bạn sinh viên phải đối mặt khi chập chững những bước đầu tiên để có thể làm chủ được cuộc đời của mình. Một trong số những rào cản đó chính là sự thất nghiệp sau khi ra trường. Trả lời cho những câu hỏi “Vì sao?”, “Như thế nào?”… là lý do mà chúng tôi viết nên bài tiểu luận này. Bài của chúng tôi được chia làm 5 chương với những màu sắc khác nhau nhằm làm rõ được bản chất của vấn đề. Chương đầu tiên, chúng tôi tập trung vào việc nêu lên thực trạng và nguyên nhân cơ bản của tình trạng sinh viên bị thất nghiệp sau khi ra trường. Phần thực trạng được làm rõ bằng những số liệu trích từ nhiều nguồn, từ thực tiễn xã hội hiện tại. Để làm rõ nguyên nhân, bài viết chủ yếu tập trung vào mảng quy trình và chất lượng đào tạo sinh viên của các trường, cộng hưởng thêm vào đó là một số yếu tố khác như chính sách hay bản thân của sinh viên. Qua chương 2, chúng tôi làm rõ cho người đọc hiểu được những khái niệm về thất nghiệp, tỷ lệ thất nghiệp cùng với đó là mối liên hệ giữa thất nghiệp và một số thành tố khác của nền kinh tế. Chương thứ 3, chúng tôi mang tới những phân tích cụ thể cho việc làm thế nào để có thể nghiên cứu một cách tường tận nhất về tình trạng thất nghiệp hiện nay. Chương 4, chúng tôi đào sâu hơn vào những phát hiện của bản thân về việc tại sao sinh viên ra trường có nguy cơ lớn bị thất nghiệp và đề ra những giải pháp để hạn chế những rủi ro ấy. Cuối cùng, người đọc – nhất là các bạn sinh viên, có thể rút ra được vài kinh nghiệm quý báu cho bản thân trên con đường lập nghiệp. MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1 Chương 1: GIỚI THIỆU 2 1.1. Thực trạng và nguyên nhân cơ bản của hiện tượng thất nghiệp của sinh viên sau khi ra trường 2 1.1.1. Thực trạng thất nghiệp của sinh viên sau khi ra trường 2 1.1.2. Quá trình đào tạo từ các trường đại học. 3 1.1.3. Một số nguyên nhân khác dẫn tới tình trạng thất nghiệp 6 1.2. Lý do chọn đề tài 8 1.3. Mục đích và mục tiêu nghiên cứu 9 1.3.1. Mục đích 9 1.3.2. Mục tiêu 9 Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 10 2.1. Thất nghiệp 10 2.1.1. Khái niệm thất nghiệp 10 2.1.2. Tình hình thất nghiệp ở Việt Nam những năm gần đây 10 2.2. Phân loại thất nghiệp 11 2.2.1. Thất nghiệp tạm thời 12 2.2.2. Thất nghiệp cơ cấu 12 2.2.3. Thất nghiệp nhu cầu 12 2.2.4. Thất nghiệp ẩn 13 2.3. Tỷ lệ thất nghiệp 13 2.3.1. Khái niệm 13 2.3.2. Công thức tính tỷ lệ thất nghiệp 13 2.4. Mối liên hệ giữa thất nghiệp và lạm phát – lam phát ảnh hưởng thế nào đến thất nghiệp và ngược lại 13 2.5. Mối liên hệ giữa thất nghiệp và tăng trưởng kinh tế - xã hội 14 Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15 3.1. Thiết kế nghiên cứu 15 3.1.1. Dữ liệu nghiên cứu 15 3.1.2. Lựa chọn mẫu khảo sát 15 3.1.3. Xử lý số liệu 16 3.1.4. Quy trình nghiên cứu 16 3.2. Đối tượng nghiên cứu 16 3.2.1. Khách thể nghiên cứu 16 3.2.2. Phạm vi nghiên cứu 16 3.2.3. Câu hỏi nghiên cứu 16 3.2.4. Giả thuyết nghiên cứu 16 3.3. Phương pháp thu nhập thông tin 17 3.3.1. Phương pháp phân tích tài liệu 17 3.3.2. Phương pháp phỏng vấn sâu bán cấu trúc 18 3.3.3. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 18 3.3.4. Phương pháp thống kê 19 Chương 4: NGHIÊN CỨU 20 4.1 Nguyên nhân thất nghiệp của sinh viên Việt Nam 20 4.1.1. Nguyên nhân khách quan 20 4.1.2. Nguyên nhân chủ quan 22 4.2. Giải pháp 24 4.2.1. Về phía sinh viên 24 4.2.2. Về phía nhà trường 26 4.2.3. Về phía xã hội 27 Chương 5: KẾT LUẬN 28 TÀI LIỆU THAM KHẢO 30 LỜI MỞ ĐẦU Có bao giờ các bạn đã ngồi xuống và suy nghĩ rằng tại sao chúng ta lại học đại học không? Học xong thì phải tìm một công việc ổn định để làm việc, hay chúng ta thấy người ta sao thì mình làm vậy cứ theo tự nhiên. Chúng ta ngồi đây đã là năm nhất đại học, đang làm bài nghiên cứu khoa học rồi chuẩn bị thi cuối kì và thế là hết năm nhất. Các bạn có định hướng được là mình đang học ngành QTKD, KDQT,... thì sau này sẽ làm những công việc gì không hay vẫn đang mông lung quay cuồng với sự đắn đo không biết sau này làm gì thì sẽ phù hợp với mình. Chính vì lẽ đó, nhóm 9 chúng tôi sẽ nghiên cứu về vấn đề “Tình trạng thất nghiệp của sinh viên sau khi tốt nghiệp” để chúng ta nhận thức đúng đắn và có những kế hoạch học tập và làm việc hiệu quả. Thất nghiệp là một hiện tượng kinh tế xã hội tồn tại ở nhiều thời kì, nhiều xã hội. Thất nghiệp được xem là vấn đề trung tâm của các xã hội hiện đại. Khi tỉ lệ thất nghiệp cao nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến mọi mặt của xã hội. Khi thất nghiệp gia tăng thì một phần tài nguyên sẽ lãng phí, thu nhập của người dân sẽ bị giảm sút. Về mặt xã hội, thất nghiệp gây ra hậu quả nặng nề về con người tâm lí và xã hội. Về kinh tế, khi tỉ lệ thất nghiệp tăng sẽ kéo theo sự gia tăng của sản lượng bị bỏ đi hoặc không sản xuất. Cho dù thất nghiệp gây ra nhiều hậu quả xấu cho xã hội nhưng để yêu cầu một xã hội không có thất nghiệp là một khó khăn. Vì vậy, Chính phủ luôn đưa ra các biện pháp nhằm mục đích giảm tỉ lệ thất nghiệp xuống đúng bằng tỉ lệ thất nghiệp tự nhiên. Việc đưa ra các giải pháp liên quan đến thất nghiệp là mối quan tâm của mọi quốc gia xã hội. Đối với nước ta có dân số đông thì vấn đề giải quyết vấn đề việc làm cho người lao động gặp nhiều khó khăn. Đặc biệt là những năm gần đây, khi đất nước đang vươn mình đổi mới thì tình trạng thất nghiệp trở nên nhức nhối. Nhất là thế hệ sinh viên khi mà số sinh viên sau khi ra trường năm nay luôn cao hơn trước. Chương 1 : GIỚI THIỆU Nền kinh tế của đất nước ta đang trên đà phát triển, từ nền kinh tế bao cấp nhà nước hỗ trợ toàn bộ chí phí đầu tư, lỗ đâu nhà nước chịu toàn bộ thì giờ đây đất nước ta đang phát triển lên nền kinh tế thị trường, cơ chế thị trường nhiều thành phần, tự do kinh doanh, tự do phát triển. Chính vì vậy đất nước đã có sự thay đổi đáng kể, chúng ta có thể nhìn thấy một bộ mặt mới của đất nước. Bên mặt thuận lợi thúc đẩy phát triển kinh tế của nền kinh tế thị trường thì cũng có không ít những khó khăn, những tiêu cực phát sinh trong nền kinh tế và một trong những khó khăn mà nhà nước ta đang phải đương đầu đó là tình trạng thất nghiệp của sinh viên sau khi ra trường ngày càng tăng trong cơ chế thị trường ngày nay vấn đề mà gần như không xảy ra trong thời kì bao cấp. Đất nước càng phát triển bao nhiêu ngoài những công nghệ hiện đại phục vụ cho kinh doanh sản xuất thì một trong những yếu tố quyết định sự phát triển của đất nước là lượng lao động, trong nền kinh tế thị trường ngày nay lực lượng lao động là những sinh viên được đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng… là lực lượng trẻ của đất nước rất năng động và có năng lực trong công việc. Chính vì vậy sinh viên là nguồn nhân lực rất quan trọng, chúng ta cần biết cách sử dụng một cách hợp lý và hiệu quả nhất. Nhưng tình trạng thất nghiệp của sinh viên nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau, nhiều cách nhìn khác nhau, quan điểm khác nhau. Vì vậy, mọi người chưa có sự nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện, tổng thể mà chỉ nhìn một cách phiến diện. 1.1. THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG NGUYÊN NHÂN CƠ BẢN CỦA HIỆN TƯỢNG THẤT NGHIỆP CỦA SINH VIÊN SAU KHI RA TRƯỜNG: 1.1.1. Thực trạng thất nghiệp của sinh viên sau khi ra trường: Đất nước ta đang trên đà phát triển, hội nhập với những chính sách mở cửa giao lưu hợp tác với các nước trong khu vực cũng như trên toàn thế giới, từ nền kinh tế bao cấp tập trung, đất nước không phát triển đi lên được, người giỏi có năng lực không được trọng dụng không có khả năng phát triển phát huy năng lực thì giờ đây đất nước đã chuyển sang nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh phát triển phát huy được rất nhiều mặt tích cực đặc biệt là ta đã nhìn thấy được một bộ mặt mới của đất nước. Có được điều đó thì sự cố gắng vươn lên của lớp thanh niên mới là rất quan trọng để có thể đáp ứng nhu cầu, đòi hỏi ngày càng cao của công việc, của nền kinh tế thị trường. Sự phát triển mở rộng, hội nhập kinh tế thị trường đã thực sự mang lại những cơ hội làm việc cho những sinh viên năng động, đầy năng lượng, linh hoạt. Những sinh viên ra trường không phải ai cũng có thể đáp ứng nhu cầu của công việc, dẫn tới tình trạng thất nghiệp và đây chính là vấn đề mà xã hội, nhà nước quan tâm. Trong thời kỳ bao cấp tỷ lệ học đại học, cao đẳng… còn rất ít nên tình trạng thất nghiệp hầu như không có nhưng trong thời kỳ kinh tế thị trường hiện nay các trường đại học, cao đẳng, đào tạo nghề mọc lên rất nhiều nhằm đáp ứng nhu cầu lao động có kỹ năng, kinh nghiệm. Theo nguồn tin trên Internet cho biết với trên 200 trường đại học, cao đẳng cho thấy tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp ra trường hằng năm rất nhiều, điều đó cho thấy tỷ lệ với việc sinh viên thất nghiệp rất cao. Và con số mới nhất của viện kinh tế phát triển thì sinh viên khối kinh tế ra trường thất nghiệp 80% hoặc làm việc trái ngành nghề. Trong cơ chế thị trường ngày nay, về phía sinh viên bên cạnh những sinh viên ra trường có đủ năng lực để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của các nhà tuyển dụng và những sinh viên có người thân xin việc hộ thì bên cạnh đó là những sinh viên ra trường phải tự xin việc chật vật chạy đôn chạy đáo tìm việc làm qua báo chí, tivi truyền thông, qua những trung tâm giới thiệu việc làm… Do sinh viên ra trường ngày càng nhiều mà khối lượng công việc khan hiếm có giới hạn mà nhiều trung tâm giới thiệu việc làm “ma” mọc ra rất nhiều thuê địa điểm được vài ba bữa để lừa đảo, thu phụ phí của những người đi xin việc rồi biến mất dẫn tới tình trạng sinh viên vừa bị mất tiền, vừa không tìm được việc làm, chán nản rồi chấp nhận làm trái ngành nghề hoặc làm bất cứ việc gì miễn là có thu nhập. Hiện nay sinh viên ra trường ngày càng nhiều xong tỷ lệ thất nghiệp lại vẫn cao, có phải tất cả là do công việc có giới hạn đã đủ nhân lực không cần người nữa? Vậy mà các nhà tuyển dụng lao động vẫn “than thở “ rằng họ thiếu nguồn nhân lực, thiếu những người có kinh nghiệm và năng lực thật sự và năng động trong công việc. Và một thực trạng thật đáng buồn hiện nay, những sinh viên ra trường đi xin việc tại các công ty đều thấy rất khó khăn vì không đáp ứng đủ những yêu cầu mà nhà tuyển dụng đưa ra. Vậy một câu hỏi chúng ta cần đặt ra: "phải chăng do công việc ít ỏi hay do sự đòi hỏi khó tính của các nhà tuyển dụng, hay tình trạng học không đến nơi đến chốn của sinh viên khi còn ngồi trên ghế nhà trường, hay quá trình đào tạo của các trường đại học còn nhiều mặt chưa được tốt?" Đất nước càng ngày càng đi lên phát triển lên một tầm cao mới. Như vậy, nhu cầu đòi hỏi của công việc không chỉ dừng ở đây mà sự đòi hỏi còn phải cao hơn nữa, nếu vậy sinh viên của đất nước ta có thể đáp ứng được không? Tình trạng thất nghiệp có còn tăng hay không? Một câu hỏi được đặt ra cho các nhà nước, cho các nhà tuyển dụng và cho các nhà giáo dục đào tạo hiện nay. Và chính phủ đã có những biện pháp gì để giải quyết vấn đề trên? 1.1.2. Quá trình đào tạo từ các trường đại học: a. Về cơ cấu - tổ chức đào tạo sinh viên trong trường đại học: Có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng thất nghiệp của sinh viên sau khi ra trường như do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường hay do một phần chính sách của nhà nước hay do bản thân của sinh viên, những suy nghĩ của gia đình sinh viên những người đang được đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng… Nhưng chúng ta không thể không nhắc tới một phần trách nhiệm của nhà đào tạo, những người đã đào tạo ra nguồn lao động trẻ hiện nay và trong tương lai. Các trường đại học, cao đẳng, trung tâm dạy nghề… đa phần đã được xây dựng cách đây mấy chục năm do vậy cơ sở hạ tầng thì cũ kỹ, lạc hậu, thiếu thốn làm ảnh hưởng rất nhiều tới quá trình đào tạo của các trường. Mặt khác, hiện nay khi đất nước đang trên đà phát triển mạnh mẽ, hội nhập giao lưu thì các chương trình đào tạo của các trường đại học ở nước ta được đánh giá trên thế giới là còn quá lạc hậu, chưa bám sát vào thực tế, lý thuyết quá nhiều mà thực hành không được là bao dẫn tới tình trạng sinh viên ra trường lý thuyết thì thuộc làu làu nhưng khi bắt tay vào thực tế thì còn rất non kém, không có sự linh hoạt nên ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của nền kinh tế. Do đâu dẫn tới tình trạng đó? Phải chăng do trang thiết bị, cơ sở hạ tầng để phục vụ cho quá trình học tập của sinh viên còn quá nghèo nàn, thiếu thốn, lạc hậu, không phát huy được hết khả năng tư duy sáng tạo của sinh viên. Trong khi đất nước đang phát triẻn cả về kinh tế, xã hội, trong năm 2007 (27/11/2007) đất nước ta đã gia nhập WTO, mở cửa nền kinh tế. Chính vì vậy khối lượng sinh viên dồn vào khối kinh tế quá nhiều dẫn tới tình trạng 90% sinh viên ra trường trong khối kinh tế không có việc làm. Trong khi đất nước ta đang rất cần đến những đội ngũ kỹ sư về kỹ thuật, công nghệ, xây dựng cơ bản thì nguồn cung cấp từ phía đào tạo chưa đáp ứng được hết nhu cầu, dẫn đến cán cân về cơ cấu tổ chức bị lệch, không cân bằng. Một phần trách nhiệm là do nhà đào tạo chưa nắm được nhu cầu thực tế về nguồn nhân lực, không có thông tin đầy đủ cho sinh viên về việc chọn ngành nghề cho phù hợp với bản thân, với sự phát triển của đất nước để tránh hiện tượng hiện nay rất nhiều học sinh, sinh viên chọn ngành nghề theo cảm ứng thấy hay, thích là học mà không tính đến mục đích học về phục vụ cho tương lai và khả năng xin việc sau khi ra trường. Việt Nam đào tạo một khối lượng lớn cử nhân nhưng không thành tri thức. Ví dụ cay đắng nhất là mỗi năm hàng nghìn tri thức trẻ bước vào bộ máy hành chính. Nhưng nền hành chính công bao nhiêu năm tiếp tục trì trệ, lạc hậu. Đội ngũ cán bộ công chức đang bị coi là khâu yếu nhất trong tiến trình cải cách hành chính. Đào tạo tri thức trẻ thực chất là đào tạo hai con người trong một: một người tri thức và một người chuyên gia. Nền giáo dục hiện nay chưa đặt ra mục tiêu rõ ràng, không có quá trình đào tạo và đó là nguyên nhân nhiều người thợ không ra thợ, thầy không ra thầy. Và đây chính là vấn đề thứ hai chúng ta cần quan tâm tới: chất lượng đào tạo của các trường đại học hiện nay như thế nào? b. Chất lượng đào tạo sinh viên của các trường đại học, cao đẳng: Việt Nam hiện nay đang cần một nguồn lực tri thức trình độ cao để xác định một hình thái kinh tế mới cao hơn, hoàn thiện hơn và hiệu quả hơn đó chính là nền kinh tế tri thức. Với yêu cầu này, nếu chất xám của tri thức nhạt màu thì cũng coi đó là một nguyên nhân dẫn tới thất nghiệp. Chính vì vậy chất lượng đào tạo tại các trường đang là mối quan tâm của rất nhiều người. Trong các trường đại học, cao đẳng ở nước ta hiện nay thì chất lượng đào tạo và thực tế nhu cầu đòi hỏi của công việc với sinh viên còn một khoảng cách quá xa. Những gì trường đại học, cao đẳng đào tạo sinh viên và những gì sinh viên học được, tiếp thu được vẫn chưa thể đáp ứng được nhu cầu của khối lượng công việc ngày càng cao của nền kinh tế thị trường. Một phần do cơ sở trang thiết bị vật chất phục vụ cho giảng dạy và học tập còn thiếu thốn, nghèo nàn quá nhiều so với thực tế dẫn tới tình trạng học không thể đi đôi với hành. Chính vì vậy, trên thế giới hiện nay, qua sự phát triển của đất nước và qua những cuộc thi quốc gia, qua sự giao lưu kinh tế chính tri, văn hoá sinh viên Việt Nam được thế giới đánh giá rất giỏi về lý thuyết nhưng thực hành thì còn non kém, chính vì vậy không thể phát huy được hết khả năng tư duy sáng tạo của sinh viên. Một tình trạng cũng khá phổ biến xảy ra ở hầu hết tất cả các trường đại học, cao đẳng ở tại những giảng đường giáo viên ở trên cứ giảng dạy còn sinh viên ở dưới làm gì thì làm, ngủ trong giờ, nói chuyện riêng, nghe nhạc... Nhiều giáo viên không cần quan tâm xem sinh viên có học bài không, hay có tiếp thu được gì hay không? Để rồi chữ thầy trả lại cho thầy dẫn tới việc chuyên môn non kém không làm được việc. Và một thực trạng cũng đáng buồn vẫn đang xảy ra tại các trường đại học, cao đẳng... là tình trạng “chùa thầy” còn xảy ra khá phổ biến, đi thầy đi cô để giới hạn đề thi, coi thi lỏng lẻo, chấm bài cho điểm cao. Vì thế mà kết quả trên bảng điểm sau khi ra trường của sinh viên hiện nay không phản ánh một cách chính xác, trung thực được khả năng, năng lực thực tế của sinh viên, không khuyến khích sự tư duy phát triển, khả năng sáng tạo. Chính vì vậy, mà đó là một trong những nguyên nhân cơ bản ở ngay bên trong các trường đại học, cao đẳng… vì sao sinh viên ra trường lại có tỷ lệ thất nghiệp cao như vậy? Phải chăng quá trình học không chăm chỉ thì ra trường không làm được việc, không đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của công việc? Mặt khác, do xã hội ngày một phát triển với tốc độ cao, một luồng mạnh mẽ nhanh chóng vì vậy phương thức sản xuất cũng phải thay đổi theo để phù hợp với sự phát triển. Khi phương thức sản xuất thay đổi theo tốc độ phát triển của xã hội thì nó cũng đòi hỏi sự thay đổi của lực lượng sản xuất đặc biệt vấn đề ta cần đề cập đến là nguồn lao động có năng lực nhưng lực lượng này lại không bắt kịp theo sự phát triển của phương thức sản xuất. Lý do vì sao lại như vậy? Do cơ cấu, tổ chức, chất lượng đào tạo không bắt kịp sự thay đổi này, nó bị tụt hậu hơn, do đó cán cân không cân bằng, đồng bộ giữa quá trình đào tạo và thực tế yêu cầu công việc làm cho sinh viên sau khi ra trường không đủ khả năng đáp ứng đòi hỏi của các nhà tuyển dụng lao động. Tại một số nước nền giáo dục rất hiện đại, phát triển như Mỹ, Pháp, Anh…. thì sinh viên khi mới học hết năm thứ ba họ có thể đi làm tại các cơ quan, doanh nghiệp theo đúng ngành nghề mà họ được đào tạo, có thể phát triển hết khả năng sáng tạo, vận dụng thành thạo những gì họ được học và họ còn học thêm các khoá học về ngoại ngữ, tin học để củng cố nguồn kiến thức của mình. Và ở nước ta hiện nay các trung tâm dạy ngoại ngữ, tin học mọc ra rất nhiều với những giảng viên nước ngoài, một số trung tâm rất có tiếng và uy tín như Anh Ngữ Luân Đôn, Apollo,… nhưng phần lớn sinh viên sau khi học lượng kiến thức cũng không được củng cố là bao nhiêu. Vì sự phát triển của khoa học - kỹ thuật ngày càng cao nên công việc cũng đòi hỏi đội ngũ lao động có trình độ, năng lực. Điều này đòi hỏi ngành giáo dục phải đưa ra phương pháp đào tạo mới và những giải pháp để cải thiện chất lượng đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng… 1.1.3. Một số nguyên nhân khác dẫn tới tình trạng thất nghiệp: a. Từ phía nền kinh tế - xã hội: Những năm về trước nước ta vẫn còn thực hiện chế độ chính sách bao cấp thì thực trạng thất nghiệp của sinh viên sau khi ra trường hầu như là không có. Ngày đó sinh viên đi học đại học còn rất ít, sinh viên ra trường được phân công tác luôn, nhìn vào có thể đã có việc làm nhưng đôi khi trong công việc chỉ là sự sắp xếp cho đủ chỗ mà thôi, cho có hình thức, không thì làm chơi dài đến cuối tháng nhận lương, nhà nước không có chính sách thay đổi, khuyến khích sự phát triển khả năng của người lao động. Nhưng trong những năm trở lại đây, nhà nước đã có chính sách mở cửa kinh tế, hội nhập chuyển sang nền kinh tế thị trường tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh, nhà nước không bao cấp như trước nữa mà lỗ đâu doanh nghiệp phải chịu, lãi thì hưởng, chính vì vậy vấn đề việc làm càng ngày càng trở nên bức bách. Việt Nam đang cần một nguồn lực tri thức trình độ cao để xác định một hình thái kinh tế mới cao hơn, hoàn thiện hơn và hiệu quả hơn đó là nền kinh tế tri thức. Trong các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, tư nhân hiện nay thì cơ chế tổ chức làm việc gọn nhẹ hơn trước nhiều nó đòi hỏi một người có thể làm công việc của 2 - 3 người. Do vậy những lao động được tuyển vào được cân nhắc rất kỹ lưỡng và cẩn thận tuỳ theo khối lượng, tính chất mà công việc đòi hỏi và khả năng của người đi xin việc. Thực tế hiện nay phần lớn sinh viên phải tự mình tìm việc làm trừ một số ngành như bộ đội, công an… thì được phân công tác. Do nhu cầu đời sống ngày càng cao, ai cũng muốn sướng không muốn chịu khổ nên sinh viên ra trường luôn muốn trụ tại các thành phố lớn để làm việc. Để được làm việc ở thành phố, họ có thể làm bất cứ ngành nghề gì miễn là có thu nhập, kể cả làm trái ngành nghề đào tạo. Chính vì vậy, ở một số nơi ở vùng sâu vùng xa, hải đảo, dân tộc vẫn thiếu trầm trọng nguồn lao động trong khi ở thành phố đang đương đầu với tình trạng thất nghiệp ngày càng cao. Vấn đề nào cũng có tính hai mặt của nó. Nền kinh tế thị trường cũng vậy, chúng ta có thể nhìn thấy rất rõ tính hai mặt của vấn đề này: một mặt nó tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế phát triển mạnh, tạo ra sự cạnh tranh, tạo động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển đi lên. Cũng chính vì vậy nó khiến cho mọi người phải có sự cố gắng hết mình, nỗ lực hết mình, để trang bị cho mình những kiến thức phong phú hơn, đầy đủ hơn để đáp ứng được nền kinh tế ngày một khó tính hơn. Mặt khác nền kinh tế thị trường cũng có những tác động lớn đến xã hội gây ra sự thiếu thừa về lực lượng lao động, làm mất sự cân đối về nguồn lực lao động và nảy sinh ra nhiều vấn đề khác trong việc làm. b. Về phía chính sách nhà nước: Bên cạnh những nguyên nhân về kinh tế - xã hội, về phía đào tạo thì chính sách của nhà nước cũng là yếu tố đáng kể tác động đến vấn đề này. Trong những năm gần đây nhà nước đã có sự quan tâm rất nhiều đến quá trình đào tạo nói chung và đào tạo đại học nói riêng, khuyến khích sử dụng sinh viên sau khi ra trường. Ví dụ như: sinh viên trường sư phạm không phải đóng học phí, đối với các trường khác những sinh viên thuộc diện chính sách như: con thương binh, bệnh binh, con nhà nghèo vượt khó… thì được miễn giảm một phần học phí và có thể được trợ cấp thêm một khoản tiền. Nhưng bên cạnh đó, nhà nước vẫn chưa có những chính sách hợp lý lắm để khuyến khích sinh viên sau khi ra trường về vùng sâu vùng xa yên tâm công tác, ví dụ như: do nhà nước chưa có những chính sách hợp lý lắm mà sinh viên sau khi ra trường không tự nguyện công tác ở vùng sâu vùng xa, dân tộc ít người mà toàn phải bắt buộc, cưỡng ép. Bên cạnh đó, do nền kinh tế càng phát triển, nhà nước có rất nhiều chính sách để phát triển kinh tế. Chính vì vậy sinh viên lựa chọn khối kinh tế quá nhiều rồi dẫn tới tình trạng dư thừa nguồn nhân lực trong khối kinh tế trong khi các ngành nghề khác như nông lâm nghiệp, thuỷ hải sản… không được nhắc tới nhiều trên truyền thông nên người dân luôn có xu hướng học những ngành đó sẽ không xin được việc, khó xin việc mà chỉ đâm đầu vào kinh tế dẫn tới tình trạng 90% sinh viên khối kinh tế thất nghiệp. Phải chăng nhà nước cần phải có những chính sách biện pháp hợp lý hơn, cụ thể hơn thoả đáng hơn nữa cả về mặt vật chất cũng như tinh thần để sinh viên sau khi tốt nghiệp sẵn sàng làm việc ở bất cứ đâu, các ngành nghề phát triển một cách cân bằng để góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. c. Về phía bản thân – gia đình của đối tượng được đào tạo: Ngay bản thân sinh viên cũng là một nguyên nhân rất quan trọng dẫn tới tình trạng thất nghiệp hiện nay. Chúng ta những người đã từng trải qua giai đoạn là sinh viên cũng hiểu rằng kiến thức mà sinh viên tiếp thu được còn rất ít và những chương trình học ở các trường đại học không áp dụng được mấy khi ra trường. Cũng chính vì vậy tình trạng học đối phó, học trước quên sau, học để có cái bằng đang là xu hướng khá phổ biến tại các trường đại học hiện nay. Do vậy sinh viên tốt nghiệp ra trường năng lực và kiến thức không nhiều, không thể đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của công việc và tình trạng không tìm được công việc đúng với chuyên môn được đào tạo là khá phổ biến dẫn tới việc sinh viên chấp nhận làm trái ngành nghề chỉ để có thu nhập nhằm bám trụ lại thành phố. Và một suy nghĩ khác của những sinh viên tỉnh lẻ, nông thôn họ đã phải chịu cái cảnh khổ cực muốn học hành để vươn lên thoát khỏi số phận. Chính vì vậy khi ra trường họ không có suy nghĩ hay xu hướng về quê hương phục vụ quê hương mà muốn kiếm việc ở những thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh… để thoát khỏi cảnh thôn quê và thành phố đang phải đương đầu với tình trạng quá tải về dân số cũng như sức ép về việc làm. Bản thân sinh viên là một vấn đề nhưng bên cạnh họ là những người thân, gia đình của sinh viên cũng có lối suy nghĩ như vậy, luôn muốn con mình học ở những trường đại học tốt có tiếng rồi ở ngoài thành phố đi làm luôn không cần biết con mình làm việc gì có đúng ngành nghề không? Vì họ không có sự hiểu biết rõ ràng, đúng đắn. Ví dụ: có những cha mẹ đã nói với con mình rằng: "Con phải học hành chăm chỉ cố gắng ra trường kiếm công việc ở thành phố trở về quê làm gì cho khổ, thế mới đổi đời được con ạ". Nếu ai cũng có những tư tưởng như vậy thì lấy ai để phát triển quê hương, học để phục vụ quê hương minh phát triển hơn, giàu đẹp hơn. Tình hình này đã và đang diễn ra làm ảnh hưởng xấu đến chủ trương phát triển kinh tế - xã hội của nhà nước ở miền núi, nông thôn, vùng sâu vùng xa. 1.2. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Trong xã hội hiện đại, việc làm cho người lao động có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia nói chung và đối với cuộc sống của mỗi cá nhân, gia đình nói riêng. Giải quyết việc làm cho người lao động, đặc biệt là lao động trẻ đã trở thành chương trình mục tiêu quốc gia ở nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam đang ở trong thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” với tỷ lệ thanh niên cao nhất trong lịch sử phát triển nhân khẩu học của đất nước khi nhóm dân số trẻ từ 10 - 29 tuổi chiếm khoảng 33% dân số cả nước. Đây là một lợi thế rất lớn để thực hiện mục tiêu “công nghiệp hóa, hiện đại hóa” đất nước. Tuy nhiên thực tế cho thấy, vấn đề giải quyết việc làm cho thanh niên đặc biệt là thanh niên có trình độ cao ở Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập, tình trạng dư cung vẫn còn khá phổ biến trên thị trường lao động. Số lượng sinh viên tốt nghiệp từ các trường đại học, cao đẳng, trung cấp trong cả nước không tìm được việc làm ngày càng nhiều. Cụ thể: - Theo báo cáo tổng hợp của Viện Khoa học Lao động và Xã hội hợp tác với 3 trường đại học ở Hà Nội: năm 2013, cứ 10 người thì có 3 người đã từng bị thất nghiệp trong vòng 1 năm kể từ khi ra trường. Sau 1 năm tốt nghiệp hơn 90% đối tượng khảo sát có việc làm trong đó 33% chấp nhận làm việc trái ngành, nghề và trình độ; 9% đối tượng vẫn không thể tìm được việc làm. - Mới đây nhất, theo số liệu Điều tra Lao động Việc làm Quý 4/2015 của Tổng cục Thống kê, cả nước có 155,5 nghìn người có trình độ từ đại học trở lên, 115 nghìn cao đẳng chuyên nghiệp và 6,1 nghìn cao đẳng nghề bị thất nghiệp. Tỷ lệ thất nghiệp của các nhóm này lần lượt là 3,3%, 8,16% và 3,44% cao hơn so với tỷ lệ thất nghiệp chung của cả nước là 2,31%. Qua những số liệu thống kê trên ta thấy được tình trạng sinh viên sau khi ra trường không có việc làm của cả nước ngày càng phổ biến. Do vậy việc tìm ra những nguyên nhân, những nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến khả năng có việc làm của sinh viên tốt nghiệp cũng như tìm ra những giải pháp hiệu quả và mang tính khả thi để giải quyết tình hình này là vấn đề rất cần thiết. Xuất phát từ thực tế trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Tình trạng thất nghiệp của sinh viên sau khi tốt nghiệp”. 1.3. MỤC ĐÍCH VÀ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI: 1.3.1. Mục đích: Tìm hiểu thực trạng việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp, những yếu tố ảnh hưởng đến hiện tượng thất nghiệp của sinh viên hiện nay. Từ kết quả thu được, đóng góp một vài giải pháp thiết thực giúp sinh viên có thể tìm được công việc sau khi ra trường. 1.3.2. Mục tiêu: Giúp cho mọi người và bản thân thành viên của nhóm hiểu rõ được vấn đề thất nghiệp của sinh viên có tác động đến lực lượng lao động như thế nào, kinh tế xã hội có bị ảnh hưởng nhiều không. Chương 2 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ THẤT NGHIỆP 2.1. THẤT NGHIỆP: 2.1.1. Khái niệm thất nghiệp: Ở Việt Nam, thất nghiệp là vấn đề mới nảy sinh trong thời kỳ chuyển đồi nền kinh tế cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường. Vì vậy, tuy chưa có văn bản pháp qui về thất nghiệp cũng như các vấn đề có liên quan đến thất nghiệp, nhưng có nhiều công trình nghiên cứu nhất định. Những nghiên cứu bước đầu khẳng định thất nghiệp là những người không có việc làm, đang đi tìm việc và sẵn sàng làm việc. Vì vậy thất nghiệp ở Việt Nam có thể được định nghĩa là những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, có nhu cầu việc làm, đang không có việc làm”. Trong kinh tế học, thất nghiệp là tình trạng người lao động muốn có việc làm mà không tìm được việc làm. 2.1.2. Tình hình thất nghiệp ở Việt Nam những năm gần đây: Đổi mới kinh tế và chính trị trong 30 năm qua đã thúc đẩy phát triển kinh tế và nhanh chóng đưa Việt Nam từ một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới trở thành quốc gia có thu nhập trung bình thấp từ năm 2008. Mặc dù vậy, hệ thống bảo hiểm thất nghiệp nói riêng và hệ thống an sinh xã hội nói chung tại Việt Nam vẫn chưa hoàn thiện để phục vụ tốt người lao động, do đó đa số người dân phải làm mọi công việc để tạo ra thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình. Đây cũng chính là nguyên nhân khiến cho tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam thường thấp hơn so với các nước đang phát triển. Theo kết quả TĐTDS&NO 2019, tỷ lệ thất nghiệp của dân số từ 15 tuổi trở lên của Việt Nam là 2,05%; trong đó theo giới tính thì tỷ lệ thất nghiệp của nam giới từ 15 tuổi trở lên là 2,00%, còn ở nữ giới là 2,11%. Bên cạnh đó, kết quả TĐTDS&NO 2019 của Tổng cục Thống kê đã cho thấy, tỷ lệ thất nghiệp của người dân ở khu vực thành thị và nông thôn cũng có sự khác biệt khá lớn. Việt Nam có tới 65,57% dân số cư trú ở khu vực nông thôn nhưng tỷ lệ thất nghiệp của khu vực nông thôn lại thấp hơn gần hai lần so với khu vực thành thị. Tỷ lệ thất nghiệp chung của người dân từ 15 tuổi trở lên ở nông thôn chỉ có 1,64% (trong đó ở nam giới là 1,59%, ở nữ giới là 1,69%); trong khi đó ở thành thị, tỷ lệ này lên tới 2,93% (trong đó ở nam giới là 2,86%, còn ở nữ giới là 3,01%). Sự khác biệt về cơ hội tiếp cận thông tin về việc làm, trình độ chuyên môn kỹ thuật và khả năng lựa chọn công việc linh hoạt của người lao động có thể là nguyên nhân dẫn đến sự chênh lệch này. Tính theo vùng kinh tế, Đông Nam Bộ là vùng có tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên thất nghiệp cao nhất cả nước với 2,65% dân số; tại đây tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị là 2,96%, ở nông thôn là 2,14%; còn theo giới tính thì nữ giới lại có tỷ lệ thất nghiệp cao hơn nam giới trong vùng với mức tương ứng là 2,71% và 2,60%. Đứng thứ 2 là Đồng bằng sông Cửu Long với tỷ lệ thất nghiệp chiếm 2,42% số dân trong vùng, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung với tỷ lệ 2,14%. Hai vùng kinh tế có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất cả nước lần lượt là Trung du và miền núi phía Bắc 1,20% và Tây Nguyên 1,50%. Theo Kết quả TĐTDS&NO 2019, những người thất nghiệp thường có độ tuổi khá trẻ; hầu hết nguồn thất nghiệp có độ tuổi từ 15-54 tuổi (chiếm tới 91,7% tổng số người thất nghiệp của cả nước); trong đó, tỷ lệ thất nghiệp của nam giới từ 15-54 tuổi cao hơn nữ giới trong cùng độ tuổi, tương ứng là 92,6% tổng số nam giới thất nghiệp và 90,9% tổng số nữ giới thất nghiệp. Người trong độ tuổi từ 25-54 tuổi có tỷ lệ thất nghiệp cao nhất, chiếm gần một nửa tổng số lao động thất nghiệp của cả nước (47,3%); và thực trạng này ở khu vực thành thị lên tới 52,7% và ở khu vực nông thôn là 42,9%. Điều đáng nói là kết quả Tổng điều tra cũng chỉ ra rằng, đối với tỷ lệ lao động thất nghiệp theo trình độ tốt nhất đạt được, người thất nghiệp có trình độ từ cao đẳng trở lên chiếm tỷ trọng cao trong tổng số lao động thất nghiệp (18,9%) trong khi người thất nghiệp chưa được đào tạo hoặc chỉ được đào tạo ngắn hạn (bao gồm: sơ cấp, trung cấp) chiếm tỷ trọng thấp hơn rất nhiều (6,6%). Cũng trong 6 tháng đầu năm 2020, tổng số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là 29.000, tăng 38,2% so với cùng kỳ năm 2019. Riêng trong quý II/2020, số lao động mất việc làm trong độ tuổi lao động khoảng 1,3 triệu người và tăng 221.000 người so với cùng kỳ năm trước. Tình hình thiếu việc làm quý II năm 2020 là 1,4 triệu người, tăng 292 nghìn người so với quý trước và tăng 648,4 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý II/2020 là gần 1,3 triệu người, tăng 192,8 nghìn người so với quý trước. Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động 6 tháng đầu năm 2020 là gần 1,2 triệu người, tăng 123,9 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động khu vực thành thị, quý II là 4,46%, tăng 1,28 điểm phần trăm so với cùng kỳ quý trước và 1,36 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Đây là tỷ lệ thất nghiệp cao nhất của khu vực này trong vòng 10 năm qua. Trong quý 1 năm nay, số người thiếu việc làm được ghi nhận là 971.400 người, tăng 143.200 người so với quý trước. Cũng theo Tổng cục Thống kê, số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động gần 1,1 triệu người, giảm 137.000 người so với quý trước và tăng 12.100 người so với cùng kỳ năm trước. Tỉ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý 1 năm nay là 2,42%, tăng 0,08 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tỉ lệ thanh niên không có việc làm và không tham gia học tập hoặc đào tạo trong quý 1 là 16,3%, tương đương với gần 2 triệu thanh niên, tăng 0,9 điểm phần trăm tương đương tăng 51.600 người so với cùng kỳ năm trước. 2.2. PHÂN LOẠI THẤT NGHIỆP: Thất nghiệp là một hiện tượng phức tạp cần phải được phân loại để hiểu rõ về nó. Căn cứ vào nguồn gốc của thất nghiệp, ta có thể phân loại như sau: 2.2.1. Thất nghiệp tạm thời: Là loại thất nghiệp xảy ra khi có một số người lao động đang trong thời gian tìm kiếm một nơi làm phù hợp hơn hoặc những người mới bước vào thị trường lao động đang chờ việc… Loại thất nghiệp này tồn tại ngay cả khi thị trường lao động cân bằng Loại thất nghiệp này phát sinh do sự di chuyển không ngừng của người lao động giữa các vùng, các loại công việc hoặc giữa các giai đoạn khác nhau của một số người tìm việc làm sau khi tốt nghiệp hoặc di chuyển chỗ ở từ nơi này đến nơi khác... Vì sao luôn có tình trạng thất nghiệp tạm thời? Vì các loại hàng hóa mà doanh nghiệp và các hộ gia đình có nhu cầu thường thay đổi theo thời gian. Khi nhu cầu về hàng hóa thay đổi, nhu cầu lao động về những hàng hóa đó cũng thay đổi theo. Sự thay đổi trong cơ cấu nhu cầu giữa các ngành (hoặc vùng) được gọi là sự dịch chuyển giữa các ngành. Sự dịch chuyển này thường xuyên xảy ra, vì lao động cần có thời gian để thay đổi ngành nghề của mình nên thất nghiệp tạm thời luôn tồn tại.
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN -
TÊN TIỂU LUẬNTÌNH TRẠNG THẤT NGHIỆP CỦA SINH
VIÊN SAU KHI TỐT NGHIỆP
Môn học: Phương pháp nghiên cứu khoa học Giảng viên: Lê Nguyễn Bình Minh
Thời gian nộp: 29/04/2021
Năm học 2020-2021
Trang 2TRANG TÓM TẮT TIỂU LUẬN
Với thế hệ sinh viên hiện tại của chúng tôi – hay còn được gọi là Gen Z, có rất nhiềuthử thách mà các bạn sinh viên phải đối mặt khi chập chững những bước đầu tiên để
có thể làm chủ được cuộc đời của mình Một trong số những rào cản đó chính là sựthất nghiệp sau khi ra trường Trả lời cho những câu hỏi “Vì sao?”, “Như thế nào?”…
là lý do mà chúng tôi viết nên bài tiểu luận này Bài của chúng tôi được chia làm 5chương với những màu sắc khác nhau nhằm làm rõ được bản chất của vấn đề Chươngđầu tiên, chúng tôi tập trung vào việc nêu lên thực trạng và nguyên nhân cơ bản củatình trạng sinh viên bị thất nghiệp sau khi ra trường Phần thực trạng được làm rõ bằngnhững số liệu trích từ nhiều nguồn, từ thực tiễn xã hội hiện tại Để làm rõ nguyênnhân, bài viết chủ yếu tập trung vào mảng quy trình và chất lượng đào tạo sinh viêncủa các trường, cộng hưởng thêm vào đó là một số yếu tố khác như chính sách hay bảnthân của sinh viên Qua chương 2, chúng tôi làm rõ cho người đọc hiểu được nhữngkhái niệm về thất nghiệp, tỷ lệ thất nghiệp cùng với đó là mối liên hệ giữa thất nghiệp
và một số thành tố khác của nền kinh tế Chương thứ 3, chúng tôi mang tới nhữngphân tích cụ thể cho việc làm thế nào để có thể nghiên cứu một cách tường tận nhất vềtình trạng thất nghiệp hiện nay Chương 4, chúng tôi đào sâu hơn vào những phát hiệncủa bản thân về việc tại sao sinh viên ra trường có nguy cơ lớn bị thất nghiệp và đề ranhững giải pháp để hạn chế những rủi ro ấy Cuối cùng, người đọc – nhất là các bạnsinh viên, có thể rút ra được vài kinh nghiệm quý báu cho bản thân trên con đường lậpnghiệp
Trang 3MỤC LỤC
1.1 Thực trạng và nguyên nhân cơ bản của hiện tượng thất nghiệp của sinh viên
1.1.1 Thực trạng thất nghiệp của sinh viên sau khi ra trường 21.1.2 Quá trình đào tạo từ các trường đại học 31.1.3 Một số nguyên nhân khác dẫn tới tình trạng thất nghiệp 6
2.1.2 Tình hình thất nghiệp ở Việt Nam những năm gần đây 10
2.4 Mối liên hệ giữa thất nghiệp và lạm phát – lam phát ảnh hưởng thế nào đến
2.5 Mối liên hệ giữa thất nghiệp và tăng trưởng kinh tế - xã hội 14
Trang 43.3 Phương pháp thu nhập thông tin 17
3.3.2 Phương pháp phỏng vấn sâu bán cấu trúc 18
4.1 Nguyên nhân thất nghiệp của sinh viên Việt Nam 20
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Có bao giờ các bạn đã ngồi xuống và suy nghĩ rằng tại sao chúng ta lại học đạihọc không? Học xong thì phải tìm một công việc ổn định để làm việc, hay chúng tathấy người ta sao thì mình làm vậy cứ theo tự nhiên Chúng ta ngồi đây đã là nămnhất đại học, đang làm bài nghiên cứu khoa học rồi chuẩn bị thi cuối kì và thế là hếtnăm nhất Các bạn có định hướng được là mình đang học ngành QTKD, KDQT, thìsau này sẽ làm những công việc gì không hay vẫn đang mông lung quay cuồng với sựđắn đo không biết sau này làm gì thì sẽ phù hợp với mình Chính vì lẽ đó, nhóm 9chúng tôi sẽ nghiên cứu về vấn đề “Tình trạng thất nghiệp của sinh viên sau khi tốtnghiệp” để chúng ta nhận thức đúng đắn và có những kế hoạch học tập và làm việchiệu quả
Thất nghiệp là một hiện tượng kinh tế xã hội tồn tại ở nhiều thời kì, nhiều xã hội.Thất nghiệp được xem là vấn đề trung tâm của các xã hội hiện đại Khi tỉ lệ thấtnghiệp cao nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến mọi mặt của xã hội.Khi thất nghiệp gia tăng thì một phần tài nguyên sẽ lãng phí, thu nhập của người dân
sẽ bị giảm sút Về mặt xã hội, thất nghiệp gây ra hậu quả nặng nề về con người tâm lí
và xã hội Về kinh tế, khi tỉ lệ thất nghiệp tăng sẽ kéo theo sự gia tăng của sản lượng
bị bỏ đi hoặc không sản xuất Cho dù thất nghiệp gây ra nhiều hậu quả xấu cho xã hộinhưng để yêu cầu một xã hội không có thất nghiệp là một khó khăn Vì vậy, Chínhphủ luôn đưa ra các biện pháp nhằm mục đích giảm tỉ lệ thất nghiệp xuống đúngbằng tỉ lệ thất nghiệp tự nhiên Việc đưa ra các giải pháp liên quan đến thất nghiệp làmối quan tâm của mọi quốc gia xã hội Đối với nước ta có dân số đông thì vấn đề giảiquyết vấn đề việc làm cho người lao động gặp nhiều khó khăn Đặc biệt là nhữngnăm gần đây, khi đất nước đang vươn mình đổi mới thì tình trạng thất nghiệp trở nênnhức nhối Nhất là thế hệ sinh viên khi mà số sinh viên sau khi ra trường năm nayluôn cao hơn trước
Trang 6Chương 1 : GIỚI THIỆU
Nền kinh tế của đất nước ta đang trên đà phát triển, từ nền kinh tế bao cấp nhànước hỗ trợ toàn bộ chí phí đầu tư, lỗ đâu nhà nước chịu toàn bộ thì giờ đây đất nước
ta đang phát triển lên nền kinh tế thị trường, cơ chế thị trường nhiều thành phần, tự dokinh doanh, tự do phát triển Chính vì vậy đất nước đã có sự thay đổi đáng kể, chúng ta
có thể nhìn thấy một bộ mặt mới của đất nước Bên mặt thuận lợi thúc đẩy phát triểnkinh tế của nền kinh tế thị trường thì cũng có không ít những khó khăn, những tiêu cựcphát sinh trong nền kinh tế và một trong những khó khăn mà nhà nước ta đang phảiđương đầu đó là tình trạng thất nghiệp của sinh viên sau khi ra trường ngày càng tăngtrong cơ chế thị trường ngày nay vấn đề mà gần như không xảy ra trong thời kì baocấp Đất nước càng phát triển bao nhiêu ngoài những công nghệ hiện đại phục vụ chokinh doanh sản xuất thì một trong những yếu tố quyết định sự phát triển của đất nước
là lượng lao động, trong nền kinh tế thị trường ngày nay lực lượng lao động là nhữngsinh viên được đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng… là lực lượng trẻ của đấtnước rất năng động và có năng lực trong công việc Chính vì vậy sinh viên là nguồnnhân lực rất quan trọng, chúng ta cần biết cách sử dụng một cách hợp lý và hiệu quảnhất Nhưng tình trạng thất nghiệp của sinh viên nhìn nhận dưới nhiều góc độ khácnhau, nhiều cách nhìn khác nhau, quan điểm khác nhau Vì vậy, mọi người chưa có sựnhìn nhận vấn đề một cách toàn diện, tổng thể mà chỉ nhìn một cách phiến diện
1.1 THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG NGUYÊN NHÂN CƠ BẢN CỦA HIỆN TƯỢNG THẤT NGHIỆP CỦA SINH VIÊN SAU KHI RA TRƯỜNG:
1.1.1 Thực trạng thất nghiệp của sinh viên sau khi ra trường:
Đất nước ta đang trên đà phát triển, hội nhập với những chính sách mở cửa giaolưu hợp tác với các nước trong khu vực cũng như trên toàn thế giới, từ nền kinh tế baocấp tập trung, đất nước không phát triển đi lên được, người giỏi có năng lực khôngđược trọng dụng không có khả năng phát triển phát huy năng lực thì giờ đây đất nước
đã chuyển sang nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, tự do kinh doanh, tự do cạnhtranh phát triển phát huy được rất nhiều mặt tích cực đặc biệt là ta đã nhìn thấy đượcmột bộ mặt mới của đất nước Có được điều đó thì sự cố gắng vươn lên của lớp thanhniên mới là rất quan trọng để có thể đáp ứng nhu cầu, đòi hỏi ngày càng cao của côngviệc, của nền kinh tế thị trường Sự phát triển mở rộng, hội nhập kinh tế thị trường đãthực sự mang lại những cơ hội làm việc cho những sinh viên năng động, đầy nănglượng, linh hoạt Những sinh viên ra trường không phải ai cũng có thể đáp ứng nhucầu của công việc, dẫn tới tình trạng thất nghiệp và đây chính là vấn đề mà xã hội, nhànước quan tâm Trong thời kỳ bao cấp tỷ lệ học đại học, cao đẳng… còn rất ít nên tìnhtrạng thất nghiệp hầu như không có nhưng trong thời kỳ kinh tế thị trường hiện naycác trường đại học, cao đẳng, đào tạo nghề mọc lên rất nhiều nhằm đáp ứng nhu cầulao động có kỹ năng, kinh nghiệm Theo nguồn tin trên Internet cho biết với trên 200
Trang 7trường đại học, cao đẳng cho thấy tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp ra trường hằng năm rấtnhiều, điều đó cho thấy tỷ lệ với việc sinh viên thất nghiệp rất cao Và con số mới nhấtcủa viện kinh tế phát triển thì sinh viên khối kinh tế ra trường thất nghiệp 80% hoặclàm việc trái ngành nghề Trong cơ chế thị trường ngày nay, về phía sinh viên bêncạnh những sinh viên ra trường có đủ năng lực để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao củacác nhà tuyển dụng và những sinh viên có người thân xin việc hộ thì bên cạnh đó lànhững sinh viên ra trường phải tự xin việc chật vật chạy đôn chạy đáo tìm việc làmqua báo chí, tivi truyền thông, qua những trung tâm giới thiệu việc làm… Do sinh viên
ra trường ngày càng nhiều mà khối lượng công việc khan hiếm có giới hạn mà nhiềutrung tâm giới thiệu việc làm “ma” mọc ra rất nhiều thuê địa điểm được vài ba bữa đểlừa đảo, thu phụ phí của những người đi xin việc rồi biến mất dẫn tới tình trạng sinhviên vừa bị mất tiền, vừa không tìm được việc làm, chán nản rồi chấp nhận làm tráingành nghề hoặc làm bất cứ việc gì miễn là có thu nhập Hiện nay sinh viên ra trườngngày càng nhiều xong tỷ lệ thất nghiệp lại vẫn cao, có phải tất cả là do công việc cógiới hạn đã đủ nhân lực không cần người nữa? Vậy mà các nhà tuyển dụng lao độngvẫn “than thở “ rằng họ thiếu nguồn nhân lực, thiếu những người có kinh nghiệm vànăng lực thật sự và năng động trong công việc Và một thực trạng thật đáng buồn hiệnnay, những sinh viên ra trường đi xin việc tại các công ty đều thấy rất khó khăn vìkhông đáp ứng đủ những yêu cầu mà nhà tuyển dụng đưa ra
Vậy một câu hỏi chúng ta cần đặt ra: "phải chăng do công việc ít ỏi hay do sự đòihỏi khó tính của các nhà tuyển dụng, hay tình trạng học không đến nơi đến chốn củasinh viên khi còn ngồi trên ghế nhà trường, hay quá trình đào tạo của các trường đạihọc còn nhiều mặt chưa được tốt?" Đất nước càng ngày càng đi lên phát triển lên mộttầm cao mới Như vậy, nhu cầu đòi hỏi của công việc không chỉ dừng ở đây mà sự đòihỏi còn phải cao hơn nữa, nếu vậy sinh viên của đất nước ta có thể đáp ứng đượckhông? Tình trạng thất nghiệp có còn tăng hay không? Một câu hỏi được đặt ra chocác nhà nước, cho các nhà tuyển dụng và cho các nhà giáo dục đào tạo hiện nay Vàchính phủ đã có những biện pháp gì để giải quyết vấn đề trên?
1.1.2 Quá trình đào tạo từ các trường đại học:
a Về cơ cấu - tổ chức đào tạo sinh viên trong trường đại học:
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng thất nghiệp của sinh viên sau khi ratrường như do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường hay do một phần chính sách củanhà nước hay do bản thân của sinh viên, những suy nghĩ của gia đình sinh viên nhữngngười đang được đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng… Nhưng chúng ta khôngthể không nhắc tới một phần trách nhiệm của nhà đào tạo, những người đã đào tạo ranguồn lao động trẻ hiện nay và trong tương lai Các trường đại học, cao đẳng, trungtâm dạy nghề… đa phần đã được xây dựng cách đây mấy chục năm do vậy cơ sở hạtầng thì cũ kỹ, lạc hậu, thiếu thốn làm ảnh hưởng rất nhiều tới quá trình đào tạo của
Trang 8các trường Mặt khác, hiện nay khi đất nước đang trên đà phát triển mạnh mẽ, hội nhậpgiao lưu thì các chương trình đào tạo của các trường đại học ở nước ta được đánh giátrên thế giới là còn quá lạc hậu, chưa bám sát vào thực tế, lý thuyết quá nhiều mà thựchành không được là bao dẫn tới tình trạng sinh viên ra trường lý thuyết thì thuộc làulàu nhưng khi bắt tay vào thực tế thì còn rất non kém, không có sự linh hoạt nên ảnhhưởng rất lớn đến sự phát triển của nền kinh tế Do đâu dẫn tới tình trạng đó? Phảichăng do trang thiết bị, cơ sở hạ tầng để phục vụ cho quá trình học tập của sinh viêncòn quá nghèo nàn, thiếu thốn, lạc hậu, không phát huy được hết khả năng tư duy sángtạo của sinh viên Trong khi đất nước đang phát triẻn cả về kinh tế, xã hội, trong năm
2007 (27/11/2007) đất nước ta đã gia nhập WTO, mở cửa nền kinh tế Chính vì vậykhối lượng sinh viên dồn vào khối kinh tế quá nhiều dẫn tới tình trạng 90% sinh viên
ra trường trong khối kinh tế không có việc làm Trong khi đất nước ta đang rất cần đếnnhững đội ngũ kỹ sư về kỹ thuật, công nghệ, xây dựng cơ bản thì nguồn cung cấp từphía đào tạo chưa đáp ứng được hết nhu cầu, dẫn đến cán cân về cơ cấu tổ chức bịlệch, không cân bằng Một phần trách nhiệm là do nhà đào tạo chưa nắm được nhu cầuthực tế về nguồn nhân lực, không có thông tin đầy đủ cho sinh viên về việc chọnngành nghề cho phù hợp với bản thân, với sự phát triển của đất nước để tránh hiệntượng hiện nay rất nhiều học sinh, sinh viên chọn ngành nghề theo cảm ứng thấy hay,thích là học mà không tính đến mục đích học về phục vụ cho tương lai và khả năng xinviệc sau khi ra trường
Việt Nam đào tạo một khối lượng lớn cử nhân nhưng không thành tri thức Ví dụcay đắng nhất là mỗi năm hàng nghìn tri thức trẻ bước vào bộ máy hành chính Nhưngnền hành chính công bao nhiêu năm tiếp tục trì trệ, lạc hậu Đội ngũ cán bộ công chứcđang bị coi là khâu yếu nhất trong tiến trình cải cách hành chính Đào tạo tri thức trẻthực chất là đào tạo hai con người trong một: một người tri thức và một người chuyêngia Nền giáo dục hiện nay chưa đặt ra mục tiêu rõ ràng, không có quá trình đào tạo và
đó là nguyên nhân nhiều người thợ không ra thợ, thầy không ra thầy Và đây chính làvấn đề thứ hai chúng ta cần quan tâm tới: chất lượng đào tạo của các trường đại họchiện nay như thế nào?
b Chất lượng đào tạo sinh viên của các trường đại học, cao đẳng:
Việt Nam hiện nay đang cần một nguồn lực tri thức trình độ cao để xác định mộthình thái kinh tế mới cao hơn, hoàn thiện hơn và hiệu quả hơn đó chính là nền kinh tếtri thức Với yêu cầu này, nếu chất xám của tri thức nhạt màu thì cũng coi đó là mộtnguyên nhân dẫn tới thất nghiệp Chính vì vậy chất lượng đào tạo tại các trường đang
là mối quan tâm của rất nhiều người Trong các trường đại học, cao đẳng ở nước tahiện nay thì chất lượng đào tạo và thực tế nhu cầu đòi hỏi của công việc với sinh viêncòn một khoảng cách quá xa Những gì trường đại học, cao đẳng đào tạo sinh viên vànhững gì sinh viên học được, tiếp thu được vẫn chưa thể đáp ứng được nhu cầu của
Trang 9khối lượng công việc ngày càng cao của nền kinh tế thị trường Một phần do cơ sởtrang thiết bị vật chất phục vụ cho giảng dạy và học tập còn thiếu thốn, nghèo nàn quánhiều so với thực tế dẫn tới tình trạng học không thể đi đôi với hành Chính vì vậy,trên thế giới hiện nay, qua sự phát triển của đất nước và qua những cuộc thi quốc gia,qua sự giao lưu kinh tế chính tri, văn hoá sinh viên Việt Nam được thế giới đánh giárất giỏi về lý thuyết nhưng thực hành thì còn non kém, chính vì vậy không thể pháthuy được hết khả năng tư duy sáng tạo của sinh viên Một tình trạng cũng khá phổbiến xảy ra ở hầu hết tất cả các trường đại học, cao đẳng ở tại những giảng đường giáoviên ở trên cứ giảng dạy còn sinh viên ở dưới làm gì thì làm, ngủ trong giờ, nói chuyệnriêng, nghe nhạc Nhiều giáo viên không cần quan tâm xem sinh viên có học bàikhông, hay có tiếp thu được gì hay không? Để rồi chữ thầy trả lại cho thầy dẫn tới việcchuyên môn non kém không làm được việc Và một thực trạng cũng đáng buồn vẫnđang xảy ra tại các trường đại học, cao đẳng là tình trạng “chùa thầy” còn xảy ra kháphổ biến, đi thầy đi cô để giới hạn đề thi, coi thi lỏng lẻo, chấm bài cho điểm cao Vìthế mà kết quả trên bảng điểm sau khi ra trường của sinh viên hiện nay không phảnánh một cách chính xác, trung thực được khả năng, năng lực thực tế của sinh viên,không khuyến khích sự tư duy phát triển, khả năng sáng tạo.
Chính vì vậy, mà đó là một trong những nguyên nhân cơ bản ở ngay bên trong cáctrường đại học, cao đẳng… vì sao sinh viên ra trường lại có tỷ lệ thất nghiệp cao nhưvậy? Phải chăng quá trình học không chăm chỉ thì ra trường không làm được việc,không đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của công việc? Mặt khác, do xã hội ngàymột phát triển với tốc độ cao, một luồng mạnh mẽ nhanh chóng vì vậy phương thứcsản xuất cũng phải thay đổi theo để phù hợp với sự phát triển Khi phương thức sảnxuất thay đổi theo tốc độ phát triển của xã hội thì nó cũng đòi hỏi sự thay đổi của lựclượng sản xuất đặc biệt vấn đề ta cần đề cập đến là nguồn lao động có năng lực nhưnglực lượng này lại không bắt kịp theo sự phát triển của phương thức sản xuất Lý do vìsao lại như vậy? Do cơ cấu, tổ chức, chất lượng đào tạo không bắt kịp sự thay đổi này,
nó bị tụt hậu hơn, do đó cán cân không cân bằng, đồng bộ giữa quá trình đào tạo vàthực tế yêu cầu công việc làm cho sinh viên sau khi ra trường không đủ khả năng đápứng đòi hỏi của các nhà tuyển dụng lao động Tại một số nước nền giáo dục rất hiệnđại, phát triển như Mỹ, Pháp, Anh… thì sinh viên khi mới học hết năm thứ ba họ cóthể đi làm tại các cơ quan, doanh nghiệp theo đúng ngành nghề mà họ được đào tạo, cóthể phát triển hết khả năng sáng tạo, vận dụng thành thạo những gì họ được học và họcòn học thêm các khoá học về ngoại ngữ, tin học để củng cố nguồn kiến thức củamình Và ở nước ta hiện nay các trung tâm dạy ngoại ngữ, tin học mọc ra rất nhiều vớinhững giảng viên nước ngoài, một số trung tâm rất có tiếng và uy tín như Anh NgữLuân Đôn, Apollo,… nhưng phần lớn sinh viên sau khi học lượng kiến thức cũngkhông được củng cố là bao nhiêu Vì sự phát triển của khoa học - kỹ thuật ngày càngcao nên công việc cũng đòi hỏi đội ngũ lao động có trình độ, năng lực Điều này đòi
Trang 10hỏi ngành giáo dục phải đưa ra phương pháp đào tạo mới và những giải pháp để cảithiện chất lượng đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng…
1.1.3 Một số nguyên nhân khác dẫn tới tình trạng thất nghiệp:
a Từ phía nền kinh tế - xã hội:
Những năm về trước nước ta vẫn còn thực hiện chế độ chính sách bao cấp thì thựctrạng thất nghiệp của sinh viên sau khi ra trường hầu như là không có Ngày đó sinhviên đi học đại học còn rất ít, sinh viên ra trường được phân công tác luôn, nhìn vào cóthể đã có việc làm nhưng đôi khi trong công việc chỉ là sự sắp xếp cho đủ chỗ mà thôi,cho có hình thức, không thì làm chơi dài đến cuối tháng nhận lương, nhà nước không
có chính sách thay đổi, khuyến khích sự phát triển khả năng của người lao động.Nhưng trong những năm trở lại đây, nhà nước đã có chính sách mở cửa kinh tế, hộinhập chuyển sang nền kinh tế thị trường tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh, nhà nướckhông bao cấp như trước nữa mà lỗ đâu doanh nghiệp phải chịu, lãi thì hưởng, chính
vì vậy vấn đề việc làm càng ngày càng trở nên bức bách Việt Nam đang cần mộtnguồn lực tri thức trình độ cao để xác định một hình thái kinh tế mới cao hơn, hoànthiện hơn và hiệu quả hơn đó là nền kinh tế tri thức Trong các cơ quan nhà nước,doanh nghiệp, tư nhân hiện nay thì cơ chế tổ chức làm việc gọn nhẹ hơn trước nhiều
nó đòi hỏi một người có thể làm công việc của 2 - 3 người Do vậy những lao độngđược tuyển vào được cân nhắc rất kỹ lưỡng và cẩn thận tuỳ theo khối lượng, tính chất
mà công việc đòi hỏi và khả năng của người đi xin việc Thực tế hiện nay phần lớnsinh viên phải tự mình tìm việc làm trừ một số ngành như bộ đội, công an… thì đượcphân công tác Do nhu cầu đời sống ngày càng cao, ai cũng muốn sướng không muốnchịu khổ nên sinh viên ra trường luôn muốn trụ tại các thành phố lớn để làm việc Đểđược làm việc ở thành phố, họ có thể làm bất cứ ngành nghề gì miễn là có thu nhập, kể
cả làm trái ngành nghề đào tạo Chính vì vậy, ở một số nơi ở vùng sâu vùng xa, hảiđảo, dân tộc vẫn thiếu trầm trọng nguồn lao động trong khi ở thành phố đang đươngđầu với tình trạng thất nghiệp ngày càng cao Vấn đề nào cũng có tính hai mặt của nó.Nền kinh tế thị trường cũng vậy, chúng ta có thể nhìn thấy rất rõ tính hai mặt của vấn
đề này: một mặt nó tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế phát triển mạnh, tạo ra sựcạnh tranh, tạo động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển đi lên Cũng chính vì vậy nókhiến cho mọi người phải có sự cố gắng hết mình, nỗ lực hết mình, để trang bị chomình những kiến thức phong phú hơn, đầy đủ hơn để đáp ứng được nền kinh tế ngàymột khó tính hơn Mặt khác nền kinh tế thị trường cũng có những tác động lớn đến xãhội gây ra sự thiếu thừa về lực lượng lao động, làm mất sự cân đối về nguồn lực laođộng và nảy sinh ra nhiều vấn đề khác trong việc làm
Trang 11b Về phía chính sách nhà nước:
Bên cạnh những nguyên nhân về kinh tế - xã hội, về phía đào tạo thì chính sáchcủa nhà nước cũng là yếu tố đáng kể tác động đến vấn đề này Trong những năm gầnđây nhà nước đã có sự quan tâm rất nhiều đến quá trình đào tạo nói chung và đào tạođại học nói riêng, khuyến khích sử dụng sinh viên sau khi ra trường Ví dụ như: sinhviên trường sư phạm không phải đóng học phí, đối với các trường khác những sinhviên thuộc diện chính sách như: con thương binh, bệnh binh, con nhà nghèo vượtkhó… thì được miễn giảm một phần học phí và có thể được trợ cấp thêm một khoảntiền Nhưng bên cạnh đó, nhà nước vẫn chưa có những chính sách hợp lý lắm đểkhuyến khích sinh viên sau khi ra trường về vùng sâu vùng xa yên tâm công tác, ví dụnhư: do nhà nước chưa có những chính sách hợp lý lắm mà sinh viên sau khi ra trườngkhông tự nguyện công tác ở vùng sâu vùng xa, dân tộc ít người mà toàn phải bắt buộc,cưỡng ép Bên cạnh đó, do nền kinh tế càng phát triển, nhà nước có rất nhiều chínhsách để phát triển kinh tế Chính vì vậy sinh viên lựa chọn khối kinh tế quá nhiều rồidẫn tới tình trạng dư thừa nguồn nhân lực trong khối kinh tế trong khi các ngành nghềkhác như nông lâm nghiệp, thuỷ hải sản… không được nhắc tới nhiều trên truyềnthông nên người dân luôn có xu hướng học những ngành đó sẽ không xin được việc,khó xin việc mà chỉ đâm đầu vào kinh tế dẫn tới tình trạng 90% sinh viên khối kinh tếthất nghiệp Phải chăng nhà nước cần phải có những chính sách biện pháp hợp lý hơn,
cụ thể hơn thoả đáng hơn nữa cả về mặt vật chất cũng như tinh thần để sinh viên saukhi tốt nghiệp sẵn sàng làm việc ở bất cứ đâu, các ngành nghề phát triển một cách cânbằng để góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
c Về phía bản thân – gia đình của đối tượng được đào tạo:
Ngay bản thân sinh viên cũng là một nguyên nhân rất quan trọng dẫn tới tình trạngthất nghiệp hiện nay Chúng ta những người đã từng trải qua giai đoạn là sinh viêncũng hiểu rằng kiến thức mà sinh viên tiếp thu được còn rất ít và những chương trìnhhọc ở các trường đại học không áp dụng được mấy khi ra trường Cũng chính vì vậytình trạng học đối phó, học trước quên sau, học để có cái bằng đang là xu hướng kháphổ biến tại các trường đại học hiện nay Do vậy sinh viên tốt nghiệp ra trường nănglực và kiến thức không nhiều, không thể đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao củacông việc và tình trạng không tìm được công việc đúng với chuyên môn được đào tạo
là khá phổ biến dẫn tới việc sinh viên chấp nhận làm trái ngành nghề chỉ để có thunhập nhằm bám trụ lại thành phố Và một suy nghĩ khác của những sinh viên tỉnh lẻ,nông thôn họ đã phải chịu cái cảnh khổ cực muốn học hành để vươn lên thoát khỏi sốphận Chính vì vậy khi ra trường họ không có suy nghĩ hay xu hướng về quê hươngphục vụ quê hương mà muốn kiếm việc ở những thành phố lớn như Hà Nội, Thànhphố Hồ Chí Minh… để thoát khỏi cảnh thôn quê và thành phố đang phải đương đầuvới tình trạng quá tải về dân số cũng như sức ép về việc làm Bản thân sinh viên là một
Trang 12vấn đề nhưng bên cạnh họ là những người thân, gia đình của sinh viên cũng có lối suynghĩ như vậy, luôn muốn con mình học ở những trường đại học tốt có tiếng rồi ở ngoàithành phố đi làm luôn không cần biết con mình làm việc gì có đúng ngành nghềkhông? Vì họ không có sự hiểu biết rõ ràng, đúng đắn Ví dụ: có những cha mẹ đã nóivới con mình rằng: "Con phải học hành chăm chỉ cố gắng ra trường kiếm công việc ởthành phố trở về quê làm gì cho khổ, thế mới đổi đời được con ạ" Nếu ai cũng cónhững tư tưởng như vậy thì lấy ai để phát triển quê hương, học để phục vụ quê hươngminh phát triển hơn, giàu đẹp hơn Tình hình này đã và đang diễn ra làm ảnh hưởngxấu đến chủ trương phát triển kinh tế - xã hội của nhà nước ở miền núi, nông thôn,vùng sâu vùng xa.
1.2 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Trong xã hội hiện đại, việc làm cho người lao động có ý nghĩa hết sức quan trọngđối với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia nói chung và đối với cuộc sống củamỗi cá nhân, gia đình nói riêng Giải quyết việc làm cho người lao động, đặc biệt làlao động trẻ đã trở thành chương trình mục tiêu quốc gia ở nhiều nước trên thế giớitrong đó có Việt Nam Hiện nay, Việt Nam đang ở trong thời kỳ “cơ cấu dân số vàng”với tỷ lệ thanh niên cao nhất trong lịch sử phát triển nhân khẩu học của đất nước khinhóm dân số trẻ từ 10 - 29 tuổi chiếm khoảng 33% dân số cả nước Đây là một lợi thếrất lớn để thực hiện mục tiêu “công nghiệp hóa, hiện đại hóa” đất nước Tuy nhiênthực tế cho thấy, vấn đề giải quyết việc làm cho thanh niên đặc biệt là thanh niên cótrình độ cao ở Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập, tình trạng dư cung vẫn còn khá phổbiến trên thị trường lao động Số lượng sinh viên tốt nghiệp từ các trường đại học, caođẳng, trung cấp trong cả nước không tìm được việc làm ngày càng nhiều Cụ thể:
- Theo báo cáo tổng hợp của Viện Khoa học Lao động và Xã hội hợp tác với 3trường đại học ở Hà Nội: năm 2013, cứ 10 người thì có 3 người đã từng bị thất nghiệptrong vòng 1 năm kể từ khi ra trường Sau 1 năm tốt nghiệp hơn 90% đối tượng khảosát có việc làm trong đó 33% chấp nhận làm việc trái ngành, nghề và trình độ; 9% đốitượng vẫn không thể tìm được việc làm
- Mới đây nhất, theo số liệu Điều tra Lao động Việc làm Quý 4/2015 của Tổng cụcThống kê, cả nước có 155,5 nghìn người có trình độ từ đại học trở lên, 115 nghìn caođẳng chuyên nghiệp và 6,1 nghìn cao đẳng nghề bị thất nghiệp Tỷ lệ thất nghiệp củacác nhóm này lần lượt là 3,3%, 8,16% và 3,44% cao hơn so với tỷ lệ thất nghiệp chung
Qua những số liệu thống kê trên ta thấy được tình trạng sinh viên sau khi ra trườngkhông có việc làm của cả nước ngày càng phổ biến Do vậy việc tìm ra những nguyênnhân, những nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến khả năng có việc làm của sinh viên tốtnghiệp cũng như tìm ra những giải pháp hiệu quả và mang tính khả thi để giải quyết
Trang 13tình hình này là vấn đề rất cần thiết Xuất phát từ thực tế trên, tác giả lựa chọn đề tài:
“Tình trạng thất nghiệp của sinh viên sau khi tốt nghiệp”.
1.3 MỤC ĐÍCH VÀ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI:
1.3.1 Mục đích:
Tìm hiểu thực trạng việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp, những yếu tố ảnhhưởng đến hiện tượng thất nghiệp của sinh viên hiện nay Từ kết quả thu được, đónggóp một vài giải pháp thiết thực giúp sinh viên có thể tìm được công việc sau khi ratrường
Trang 14Chương 2 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ THẤT NGHIỆP2.1 THẤT NGHIỆP:
2.1.1 Khái niệm thất nghiệp:
Ở Việt Nam, thất nghiệp là vấn đề mới nảy sinh trong thời kỳ chuyển đồi nền kinh
tế cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường Vì vậy, tuy chưa có văn bảnpháp qui về thất nghiệp cũng như các vấn đề có liên quan đến thất nghiệp, nhưng cónhiều công trình nghiên cứu nhất định Những nghiên cứu bước đầu khẳng định thấtnghiệp là những người không có việc làm, đang đi tìm việc và sẵn sàng làm việc Vìvậy thất nghiệp ở Việt Nam có thể được định nghĩa là những người trong độ tuổi laođộng, có khả năng lao động, có nhu cầu việc làm, đang không có việc làm” Trongkinh tế học, thất nghiệp là tình trạng người lao động muốn có việc làm mà không tìmđược việc làm
2.1.2 Tình hình thất nghiệp ở Việt Nam những năm gần đây:
Đổi mới kinh tế và chính trị trong 30 năm qua đã thúc đẩy phát triển kinh tế vànhanh chóng đưa Việt Nam từ một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới trởthành quốc gia có thu nhập trung bình thấp từ năm 2008 Mặc dù vậy, hệ thống bảohiểm thất nghiệp nói riêng và hệ thống an sinh xã hội nói chung tại Việt Nam vẫn chưahoàn thiện để phục vụ tốt người lao động, do đó đa số người dân phải làm mọi côngviệc để tạo ra thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình Đây cũng chính là nguyên nhânkhiến cho tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam thường thấp hơn so với các nước đang pháttriển Theo kết quả TĐTDS&NO 2019, tỷ lệ thất nghiệp của dân số từ 15 tuổi trở lêncủa Việt Nam là 2,05%; trong đó theo giới tính thì tỷ lệ thất nghiệp của nam giới từ 15tuổi trở lên là 2,00%, còn ở nữ giới là 2,11%
Bên cạnh đó, kết quả TĐTDS&NO 2019 của Tổng cục Thống kê đã cho thấy, tỷ lệthất nghiệp của người dân ở khu vực thành thị và nông thôn cũng có sự khác biệt khálớn Việt Nam có tới 65,57% dân số cư trú ở khu vực nông thôn nhưng tỷ lệ thấtnghiệp của khu vực nông thôn lại thấp hơn gần hai lần so với khu vực thành thị Tỷ lệthất nghiệp chung của người dân từ 15 tuổi trở lên ở nông thôn chỉ có 1,64% (trong đó
ở nam giới là 1,59%, ở nữ giới là 1,69%); trong khi đó ở thành thị, tỷ lệ này lên tới2,93% (trong đó ở nam giới là 2,86%, còn ở nữ giới là 3,01%) Sự khác biệt về cơ hộitiếp cận thông tin về việc làm, trình độ chuyên môn kỹ thuật và khả năng lựa chọncông việc linh hoạt của người lao động có thể là nguyên nhân dẫn đến sự chênh lệchnày
Tính theo vùng kinh tế, Đông Nam Bộ là vùng có tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lênthất nghiệp cao nhất cả nước với 2,65% dân số; tại đây tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị là2,96%, ở nông thôn là 2,14%; còn theo giới tính thì nữ giới lại có tỷ lệ thất nghiệp caohơn nam giới trong vùng với mức tương ứng là 2,71% và 2,60% Đứng thứ 2 là Đồngbằng sông Cửu Long với tỷ lệ thất nghiệp chiếm 2,42% số dân trong vùng, Bắc Trung
Trang 15Bộ và Duyên hải miền Trung với tỷ lệ 2,14% Hai vùng kinh tế có tỷ lệ thất nghiệpthấp nhất cả nước lần lượt là Trung du và miền núi phía Bắc 1,20% và Tây Nguyên1,50% Theo Kết quả TĐTDS&NO 2019, những người thất nghiệp thường có độ tuổikhá trẻ; hầu hết nguồn thất nghiệp có độ tuổi từ 15-54 tuổi (chiếm tới 91,7% tổng sốngười thất nghiệp của cả nước); trong đó, tỷ lệ thất nghiệp của nam giới từ 15-54 tuổicao hơn nữ giới trong cùng độ tuổi, tương ứng là 92,6% tổng số nam giới thất nghiệp
và 90,9% tổng số nữ giới thất nghiệp Người trong độ tuổi từ 25-54 tuổi có tỷ lệ thấtnghiệp cao nhất, chiếm gần một nửa tổng số lao động thất nghiệp của cả nước(47,3%); và thực trạng này ở khu vực thành thị lên tới 52,7% và ở khu vực nông thôn
là 42,9%
Điều đáng nói là kết quả Tổng điều tra cũng chỉ ra rằng, đối với tỷ lệ lao động thấtnghiệp theo trình độ tốt nhất đạt được, người thất nghiệp có trình độ từ cao đẳng trởlên chiếm tỷ trọng cao trong tổng số lao động thất nghiệp (18,9%) trong khi người thấtnghiệp chưa được đào tạo hoặc chỉ được đào tạo ngắn hạn (bao gồm: sơ cấp, trungcấp) chiếm tỷ trọng thấp hơn rất nhiều (6,6%) Cũng trong 6 tháng đầu năm 2020, tổng
số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là 29.000, tăng 38,2% so với cùng
kỳ năm 2019 Riêng trong quý II/2020, số lao động mất việc làm trong độ tuổi laođộng khoảng 1,3 triệu người và tăng 221.000 người so với cùng kỳ năm trước Tìnhhình thiếu việc làm quý II năm 2020 là 1,4 triệu người, tăng 292 nghìn người so vớiquý trước và tăng 648,4 nghìn người so với cùng kỳ năm trước Theo số liệu của Tổngcục Thống kê, số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý II/2020 là gần 1,3 triệungười, tăng 192,8 nghìn người so với quý trước Số người thất nghiệp trong độ tuổi laođộng 6 tháng đầu năm 2020 là gần 1,2 triệu người, tăng 123,9 nghìn người so với cùng
kỳ năm trước Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động khu vực thành thị, quý II là4,46%, tăng 1,28 điểm phần trăm so với cùng kỳ quý trước và 1,36 điểm phần trăm sovới cùng kỳ năm trước Đây là tỷ lệ thất nghiệp cao nhất của khu vực này trong vòng
10 năm qua Trong quý 1 năm nay, số người thiếu việc làm được ghi nhận là 971.400người, tăng 143.200 người so với quý trước Cũng theo Tổng cục Thống kê, số ngườithất nghiệp trong độ tuổi lao động gần 1,1 triệu người, giảm 137.000 người so với quýtrước và tăng 12.100 người so với cùng kỳ năm trước Tỉ lệ thất nghiệp trong độ tuổilao động quý 1 năm nay là 2,42%, tăng 0,08 điểm phần trăm so với cùng kỳ nămtrước Tỉ lệ thanh niên không có việc làm và không tham gia học tập hoặc đào tạotrong quý 1 là 16,3%, tương đương với gần 2 triệu thanh niên, tăng 0,9 điểm phần trămtương đương tăng 51.600 người so với cùng kỳ năm trước
2.2 PHÂN LOẠI THẤT NGHIỆP:
Thất nghiệp là một hiện tượng phức tạp cần phải được phân loại để hiểu rõ về nó.Căn cứ vào nguồn gốc của thất nghiệp, ta có thể phân loại như sau:
Trang 162.2.1 Thất nghiệp tạm thời:
Là loại thất nghiệp xảy ra khi có một số người lao động đang trong thời gian tìmkiếm một nơi làm phù hợp hơn hoặc những người mới bước vào thị trường lao độngđang chờ việc… Loại thất nghiệp này tồn tại ngay cả khi thị trường lao động cân bằngLoại thất nghiệp này phát sinh do sự di chuyển không ngừng của người lao động giữacác vùng, các loại công việc hoặc giữa các giai đoạn khác nhau của một số người tìmviệc làm sau khi tốt nghiệp hoặc di chuyển chỗ ở từ nơi này đến nơi khác Vì saoluôn có tình trạng thất nghiệp tạm thời? Vì các loại hàng hóa mà doanh nghiệp và các
hộ gia đình có nhu cầu thường thay đổi theo thời gian Khi nhu cầu về hàng hóa thayđổi, nhu cầu lao động về những hàng hóa đó cũng thay đổi theo Sự thay đổi trong cơcấu nhu cầu giữa các ngành (hoặc vùng) được gọi là sự dịch chuyển giữa các ngành
Sự dịch chuyển này thường xuyên xảy ra, vì lao động cần có thời gian để thay đổingành nghề của mình nên thất nghiệp tạm thời luôn tồn tại
2.2.2 Thất nghiệp cơ cấu:
Thất nghiệp cơ cấu xảy ra khi có sự mất cân đối cung cầu giữa các thị trường laođộng (giữa các ngành nghề, khu vực ) loại này gắn liền với sự biến động cơ cấu kinh
tế và khả năng điều chỉnh cung của các thị trường lao động Thất nghiệp cơ cấu gây ra
do sự suy thoái của một ngành nào đó hoặc là sự thay đổi công nghệ dẫn đến đòi hỏilao động có chất lượng cao hơn Trong nền kinh tế hiện đại, khi thất nghiệp loại nàythường xuyên xảy ra và kéo dài thì nạn thất nghiệp sẽ trở nên nghiêm trọng và chuyểnsang thất nghiệp dài hạn
2.2.3 Thất nghiệp nhu cầu:
Loại thất nghiệp này xảy ra trong tình trạng nền kinh tế suy thoái, khi mức cầuchung về lao động giảm xuống Nguồn gốc chính là sự suy giảm tổng cầu
- Thất nghiệp cổ điển: là dạng thất nghiệp liên quan tới loại việc làm mà tiền côngthực tế trả cho người làm công việc đó cao hơn mức tiền công thực tế bình quân củathị trường lao động chung, khiến cho lượng cung về lao động đối với công việc nàycao hơn lượng cầu Dạng thất nghiệp này còn được gọi là thất nghiệp tiền công thực tế
- Thất nghiệp cơ cấu: là dạng thất nghiệp do người lao động và người thuê mướnlao động không tìm được nhau vì những lý do như khác biệt về địa lý, thiếu thông tin,v.v
- Thất nghiệp chu kỳ: là loại thất nghiệp liên quan đến chu kỳ kinh tế tại pha màtổng cầu thấp hơn tổng cung dẫn tới doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất và phải giảmthuê mướn lao động Dạng thất nghiệp này còn được gọi là thất nghiệp Keynes vìKeynes là người đề ra lý thuyết về tổng cung - tổng cầu Ở các nền kinh tế thị trường,
nó gắn liền với thời kỳ suy thoái của chu kỳ kinh doanh Dấu hiệu chứng tỏ sự xuấthiện của loại này là tình trạng thất nghiệp xảy ra tràn lan ở khắp mọi nơi, mọi nghề
Trang 17- Thất nghiệp ma sát: là loại thất nghiệp tạm thời do người lao động đang chờ đểtìm được việc làm mà họ kỳ vọng chứ không phải không thể tìm được việc làm nào.
- Thất nghiệp trá hình: là dạng thất nghiệp của những người lao động không được
sử dụng đúng hoặc không được sử dụng hết kỹ năng Thuộc loại này bao gồm cảnhững người làm nghề nông trong thời điểm nông nhàn (đôi khi những người nàyđược tách riêng thành những người thất nghiệp theo thời vụ)
2.3.2 Công thức tính tỷ lệ thất nghiệp:
(2.1)
2.4 MỐI LIÊN HỆ GIỮA THẤT NGHIỆP VÀ LẠM PHÁT – LẠM
PHÁT ẢNH HƯỞNG THẾ NÀO ĐẾN THẤT NGHIỆP VÀ NGƯỢC LẠI:
Tình trạng thất nghiệp gia tăng tương quan với áp lực giảm lạm phát Điều nàyđược minh họa bằng đường cong Phillips trong kinh tế học