Khóa luận: Quan hệ cấp dưỡng trong Luật Hôn nhân và Gia đình
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KHÓA 30 (2004-2008)
ĐỀ TÀI :
QUAN HỆ CẤP DƯỠNG TRONG LUẬT HÔN
NHÂN VÀ GIA ĐÌNH HIỆN HÀNH
Sinh viên th ực hiện: Giáo viên hướng dẫn:
LÊ THẠCH HƯƠNG
MSSV: 5043969
Th.s: ĐOÀN TH
Ị Bộ môn Tư Pháp
PH ƯƠNG DIỆP
Lớp:LK0464A1
Cần Thơ, tháng 4 năm 2008
Trang 2LỜI CẢM ƠN
:
Em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô Khoa Luật đã tận tình giảng dạy, truyền đạt cho em những kiến thức quý báu để em
có cơ sở để em hoàn thành tốt Luận Văn này
Cảm ơn cô : Đoàn Thị Phương Diệp - Bộ môn Tư Pháp
đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ cho em trong suốt thời gian thực hiện luận văn, giúp em làm quen với đề tài và còn góp ý giúp em hướng giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện
Cảm ơn Các anh chị trong thư viện Khoa Luật đã nhiệt tình giúp đỡ em trong việc tham khảo tài liệu, sách vỡ
Cảm ơn tất cả các bạn bè đã tận tình giúp đỡ trong suốt thời gian qua
Cần thơ , Ngày 17 Tháng 4 Năm 2008
LÊ THẠCH HƯƠNG
Trang 3Luận văn tốt nghiệp GVHD:Đoàn Thị Phương Diêp
LỜI NÓI ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài:
Trong xã hội ngày nay, dưới tác động của nền kinh tế thị trường đã phần nào ảnh hưởng xấu đến lối sống, đạo đức gia đình, dẫn đến vi phạm nghiêm trọng các quy định của luật hôn nhân và gia đình ngày càng phổ biến Trong một số gia đình đã bắt đầu có những biểu hiện xuống cấp về đạo đức, thể hiện qua lối sống thực dụng, ích kỷ, không quan tâm đến nhau, mà gia đình là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách con người, là tập hợp nhỏ của một số thành viên nhỏ xã hội nhưng là tập hợp đặc biệt gồm các thành viên gắn bó nhau do quan hệ hôn nhân, huyết thống hoăc nuôi dưỡng Với tư cách là cha, mẹ, vợ chồng, con cái trong mối quan hệ của họ với nhau thì đều gắn bó trước hết là tình cảm Bình thường khi những người này sống chung thì họ nuôi dưỡng nhau thông qua việc cùng quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chăm lo cuộc sống gia đình, nhưng khi
vì lý do họ không cùng sống chung nên họ không thể trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, chia sẻ Khi đó người có nghĩa vụ nuôi dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ của mình bằng cách đóng góp tiền hoặc tài sản khác để bảo đàm nhu cầu thiết yếu của người được nuôi dưỡng Như vây, việc nuôi dưỡng đã được thực hiện dưới một phương thức khác đó là nghĩa vụ cấp dưỡng
Nắm được vai trò quan trọng của gia đình đối với xã hội, “gia đình tốt thì
xã hội tốt” Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 đã ra đời xuất phát từ đánh giá
đúng về vai trò của gia đình trong giai đoạn hiện nay, kế thừa những quy định còn phù hợp với Luật Hôn nhân và Gia đình trước đây, đồng thời pháp điển hoá
bổ sung nhiều quy định đề cao trách nhiệm giữa các thành viên trong gia đình, quy định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của các bên trong gia đình Điểm tiến bộ
và hoàn thiện của Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 là đã phát triển nghĩa vụ cấp dưỡng thành một chương độc lập, quy định đầy đủ, cụ thể tất cả nghĩa vụ cấp dưỡng giữa các thành viên trong quan hệ gia đình
Trong phạm vi quan hệ cấp dưỡng giữa các thành viên trong gia đình thì quan hệ cấp dưỡng giữa cha mẹ đối với con khi ly hôn, việc không đảm bảo cho trẻ không được hưởng đầy đủ vật chất và tinh thần đang gây nhiều hậu
SVTH:Lê Thạch Hương
Trang 4Luận văn tốt nghiệp GVHD:Đoàn Thị Phương Diêp
quả bất lợi trước mắt và lâu dài Do giá trị đạo đức trong gia đình dần bị lãng quên và mai một, do trách nhiệm của các bật làm cha làm mẹ (mà đặc biệt từ phía người cha) không được ý thức sâu sắc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của trẻ em về thể chất và nhân cách Với mong muốn góp phần tìm ra
những giải pháp cho những quy định về vấn đề cấp dưỡng, đặc biệt là “ Quan
hệ cấp dưỡng trong Luật Hôn nhân và Gia đình hiện hành” Quan hệ cấp
dưỡng không chỉ là vấn đề được đề cập trong hệ thống pháp luật Việt Nam mà
nó mang tính phổ biến rộng rãi ở các nước và điển hình là pháp luật nước Anh
cũng coi trọng vấn đề này: “English law and policy also emphasises this
conservative approach to children's upbringing and support
” chính vì lẽ đó mà đề tài trở nên một vấn đề hết sức cần thiết trong cuộc sống
Trên cơ sở phân tích những điểm tồn tại, vướng mắc trong quá trình ban hành
và áp dụng pháp luật, từ đó đưa ra những giải pháp và kiến nghị cụ thể
2.Mục đích nghiên cứu đề tài:
Làm sáng tỏ vấn đề chung về cấp dưỡng, các quan hệ cấp dưỡng lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình đặc biệt là quan hệ cấp dưỡng giữa cha mẹ đối với con Đồng thời, hiểu thêm một phần nào đó hệ thống pháp luật của một
số nước khác về vấn đề này, từ đó đối chiếu với thực tiễn nhằm chỉ ra những tồn tại, vướng mắc nhất định Qua đó, mong muốn có thể đưa ra những giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn về vấn đề này giúp cho người có quyền
và nghĩa vụ trong quan hệ cấp dưỡng tự bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình và làm cơ sở cho cơ quan nhà nước cũng như những người có nhiệm vụ thực thi pháp luật vào thực tiễn giải quyết vấn đề tốt hơn
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài:
Đề tài chủ yếu xoay quanh vấn đề về quan hệ cấp dưỡng trong Luật Hôn nhân và Gia đình hiện hành, đồng thời tìm hiểu sơ lược những quy định của một số nước về vấn đề này Từ đó, so sánh sự khác nhau về vấn đề cấp dưỡng của pháp luật Việt Nam với pháp luật nước ngoài
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài:
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác- Lênin Trong đó, các phương pháp cụ thể vận dụng gồm: so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp,…và phương pháp nghiên cứu luật viết như: phân tích câu chữ, suy lý mạnh,…
5 Cơ cấu đề tài:
Nội dung gồm 3 chương:
SVTH:Lê Thạch Hương
Trang 5Luận văn tốt nghiệp GVHD:Đoàn Thị Phương Diêp
Chương 1: Lý luận chung về cấp dưỡng theo Luật Hôn nhân và Gia đình Chương 2: Những quy định chung của pháp luật về quan hệ cấp dưỡng theo Luật Hôn nhân và Gia đình 2000
Chương 3: Những vấn đề tồn tại, vướng mắt trong các quy định của Pháp luật
về chế định cấp dưỡng và hướng hoàn thiện
SINH VIÊN THỰC HIỆN
SVTH:Lê Thạch Hương
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẤP DƯỠNG THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 1
1 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA CHẾ ĐỊNH CẤP DƯỠNG 1
1.1 Quan hệ cấp dưỡng trong pháp luật Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám 1
1.2 Quan hệ cấp dưỡng trong pháp luật Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám đến nay 4
2 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ CẤP DƯỠNG 8
2.1 Khái niệm 8
2.2 Đặc điểm của cấp dưỡng 10
3 CHỦ THỂ TRONG QUAN HỆ CẤP DƯỠNG 14
3.1 Chủ thể phải cấp dưỡng 15
3.2 NgườI có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng 16
4 CHẾ ĐỊNH CẤP DƯỠNG TRONG LUẬT MỘT SỐ NƯỚC SO VỚI PHÁP LUẬT VIỆT NAM 18
5 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ GIÁ TRỊ CỦA CHẾ ĐỊNH CẤP DƯỠNG 20
CHƯƠNG 2 23
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUAN HỆ CẤP DƯỠNG THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 23
1 CƠ CHẾ XÁC LẬP QUAN HỆ CẤP DƯỠNG 23
1.1 Xác lập quan hệ cấp dưỡng theo thoả thuận 23
1.2 Xác lập quan hệ cấp dưỡng bằng con đường Toà án 23
2 NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ CẤP DƯỠNG 24
2.1 Điều kiện phát sinh trong quan hệ cấp dưỡng 24
Trang 72.2 Mức cấp dưỡng 27
2.3 Phương thức thực hiện cấp dưỡng 30
3.CÁC QUY ĐỊNH VỀ CẤP DƯỠNG TRONG CÁC TRƯỜNG HỢP CẤP DƯỠNG CỤ THỂ 34
3.1 Các trường hợp đặc biệt 34
3.2 Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa các thành viên trong gia đình 38
3.3 Những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng 47
CHƯƠNG 3 57
NHỮNG VẤN ĐỀ TỒN TẠI, VƯỚNG MẮC TRONG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ CẤP DƯỠNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN 57
1 NHỮNG ĐIỂM TỒN TẠI VÀ VƯỚNG MẮC TRONG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ CẤP DƯỠNG 57
2 NHỮNG KIẾN NGHỊ, HƯỚNG HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ CẤP DƯỠNG 63
KẾT LUẬN 67 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 9
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
Trang 10
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Đoàn Thị Phương Diệp
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẤP DƯỠNG THEO LUẬT HÔN
NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
1 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA CHẾ ĐỊNH CẤP DƯỠNG
Pháp luật về hôn nhân và gia đình là một bộ phận của pháp luật nói chung, nội dung của nó thể hiện ý chí và nguyện vọng của các giai cấp thống trị trong mỗi chế độ xã hội Là sản phẩm của một chế độ xã hội tương ứng với từng thời
kỳ lịch sử nhất định với những điều kiện xã hội nhất định, luật hôn nhân và gia đình có liên hệ mật thiết đến đời sống của tất cả mọi người trong xã hội Chính
vì vậy Luật hôn nhân và Gia đình gắn bó mật thiết với đạo đức, phong tục, tập quán truyền thống dân tộc Ở mỗi chế độ xã hội khác nhau có giai cấp bóc lột, Luật Hôn nhân và Gia đình là công cụ để bảo vệ quyền lợi của giai cấp bóc lột thống trị, áp bức, nô dịch nhân dân lao động
1.1 Quan hệ cấp dưỡng trong pháp luật Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám
Trong mọi thời kỳ khác nhau của lịch sử, pháp luật điều có sự thay đổi cùng với sự biến đổi của xã hội Dưới thời kỳ phong kiến Pháp luật là bức tranh thời đại, ghi rõ tổ chức xã hội và gia đình trong mỗi giai đoạn
Ở thời kỳ phong kiến, quan hệ cấp dưỡng đã được quy định trong pháp luật Nhà Lê qua bộ Luật Hồng Đức; Nhà Nguyễn qua Bô Luật Gia Long
Trong xã hội phong kiến, mô hình gia đình được pháp luật xây dựng là đại gia đình theo chế độ phụ hệ, trong đó quyền uy của người gia trưởng rất lớn để đảm bảo nền tảng vững chắc của gia đình Vì ngay thời quân chủ phong kiến đại gia đình được coi là nền móng của quốc gia Do đó, quyền của người gia trưởng cũng như quy chế pháp lý của những người thân thiện cùng sống chung một đại gia đình đã được pháp luật quy định Tại Điều 161 Hồng Đức Thiên
Chính Thư đã quy định như sau: “Làm người phải coi trọng sự giáo dưỡng,
cha hiền, con hiếu làm đầu, làm cha mẹ người ta, phải cấp dưỡng cho cơm áo, không nên vì đứa con một buổi sớm dỗi không ăn, mà cha mẹ giận dỗi đổ bỏ đi”
SVTH: Lê Thạch Hương Trang 1
Trang 11Luận văn tốt nghiệp GVHD: Đoàn Thị Phương Diệp
Pháp luật thời Lê cũng như pháp luật thời phong kiến cho thấy chỉ duy nhất điều răn trên là nói về nghĩa vụ của cha mẹ trong việc nuôi nấng con cái, bên cạnh lời răn đối với cha mẹ trong việc cấp dưỡng cho con là lời răn đối với con
trong việc phụng dưỡng cha mẹ: “Làm người con thì phải kính nuôi cha mẹ,
không được hiềm vì nỗi nghèo khó mà đển đến nỗi bội nghĩa cha mẹ Trái lệnh thì phải chiếu luật mà luận tội, để trọn thâm tình đối với hai thân” (Điều 161)
Chữ hiếu không chỉ dừng trong phạm vi hẹp là nghĩa vụ của con đối với cha mẹ
và rộng hơn nữa là nghĩa vụ của con cháu đối với bề trên Quốc triều hình luật
quy định “Con cháu trái lời dạy bảo và không phụng dưỡng bề trên, mà bị ông
bà, cha mẹ trình lên quan thì bị xử tội đồ làm khao đinh” (Điều 506) và “Con không hiếu thảo nuôi cha mẹ sẽ bị tội tám mươi trượng, biếm ba tư và đồ làm khao đinh” (Đoạn 43, Hồng Đức Chính Thư)
Như vậy, Pháp luật thời phong kiến quan tâm đặc biệt đối với nghĩa vụ phụng dưỡng của con, cháu đối với cha mẹ, ông bà, pháp luật thời kỳ này quy định nghĩa vụ nuôi dưỡng mà không quy định nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ đối với con Bởi lẽ, pháp luật thời kỳ này quy định vợ chồng có nghĩa vụ đồng
cư Khi người vợ sinh con, đứa con được sống chung với cha mẹ và được cha
mẹ chăm sóc nuôi dưỡng Trong trường hợp cha mẹ ly hôn, các con được ở lại với cha, tất cả tài sản được coi là tài sản riêng của người mẹ được gọp vào tài sản của người chồng thành một khối do người cha nắm giữ và dùng để nuôi con Trong trường hợp hai vợ chồng chia nhau nuôi con thì thông thường họ thường chia nhau tài sản Vì vậy, vấn đề cấp dưỡng của cha, mẹ cho con khi ly hôn không cần phải đặt ra Và pháp luật thời kỳ này không cho phép người con ngoài gia thú được quyền kiện tìm cha để hưởng quyền cấp dưỡng Dó đó, cấp dưỡng của cha đối với con ngoài giá thú không được pháp luật quy định
Trong quan hệ vợ chồng, pháp luật quy định nghĩa vụ phù trợ, và pháp luật thời kỳ này không quy định nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn Nhưng trong trường hợp nếu người vợ không còn nơi nương tựa nào khác thì thuộc trường hợp tam bất khứ, người chồng không được bỏ vợ
Sang thời kỳ Pháp thuộc, nước ta chia làm ba miền Bắc, Trung, Nam Ở miền Bắc có Bộ dân luật Bắc Kỳ 1931 Ở miền Trung có Bộ dân luật Trung Kỳ
1936 Ở miền Nam có Dân luật giản yếu năm 1883 Riêng Bộ Dân luật
SVTH: Lê Thạch Hương Trang 2
Trang 12Luận văn tốt nghiệp GVHD: Đoàn Thị Phương Diệp
giản yếu chịu nhiều ảnh hưởng của Bộ dân luật Pháp nên nhìn chung nội dung của nó khác hẳn với tinh thần luật pháp truyền thống của Việt Nam Vấn đề gia đình không được coi trọng, vấn đề cấp dưỡng giữa các thành viên trong gia đình hầu như không được ghi nhận trong bộ luật này nên quan hệ về gia đình nói chung và quan hệ về cấp dưỡng nói riêng chủ yếu dựa vào các quy định của hai bộ luật miền Bắc và miền Trung
Pháp luật thời kỳ này quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ - con, giữa vợ chồng và giữa các thành viên trong gia đình một cách rõ nét hơn so với pháp luật thời phong kiến
Trong quan hệ cha mẹ và con, pháp luật quy định cha mẹ có nghĩa vụ nuôi nấng, cưu mang con Điều đó thể hiện trong quy định về nghĩa vụ vợ chồng tại
Điều 91 Bộ dân luật Bắc Kỳ và Bộ dân luật Trung Kỳ: “Vợ chồng phải cùng
nhau làm cho gia đình hưng thịnh và lo toan việc nuôi nấng, dạy dỗ con cái”
Xuất phát từ nghĩa vụ nuôi nấng con mà trong đó chứa đựng nghĩa vụ cấp dưỡng cho con
Về quan hệ cha mẹ và con, xuất phát từ nghĩa vụ nuôi nấng, chăm sóc, giáo dục cưu mang của cha mẹ đối với con mà pháp luật quy định trong trường hợp cha hoặc mẹ không chung sống với con để thực hiện nghĩa vụ của mình thì phải cấp dưỡng cho con Điều 182 Bộ dân luật Bắc Kỳ và Điều 180 Bộ dân luật
Trung Kỳ quy định: “Khi toà án tuyên bố một người đàn ông là cha của đứa
con ngoài giá thú thì đồng thời toà án phải tuyên bố người đó phải cấp dưỡng cho đứa con đến khi nó 18 tuổi Nếu cha đón đứa con về nhà nuôi dưỡng, chăm sóc như con chính thức thì không phải cấp dưỡng nữa”
Như vậy, pháp luật thời kỳ này quy định nghĩa vụ cấp dưỡng của cha đối với con ngoài gia thú Bên cạnh đó, pháp luật thời kỳ này cũng quy định vấn đề nuôi con nuôi và khẳng định con nuôi có quyền được cha mẹ nuôi dưỡng, chăm sóc như con đẻ Vì vậy, cha mẹ nuôi phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con nuôi
và đối đãi như con đẻ (Điều 193 Bộ dân luật Bắc Kỳ và Bộ dân luật Trung Kỳ)
Trong quan hệ vợ chồng, pháp luật thời kỳ này quy định nghĩa vụ cấp dưỡng trong trường hợp vợ chồng ly hôn Đồng thời, pháp luật thời kỳ này còn quy định nghĩa vụ cấp dưỡng của người chồng đối với vợ trong thời gian đang giải quyết việc ly hôn Điều 139 Bộ dân luật Bắc Kỳ và Điều 137 Bộ
SVTH: Lê Thạch Hương Trang 3