1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các yếu tố ảnh hưởng tới ý định sử dụng phương thức thanh toán điện tử tại Hà Nội dưới tác động của đại dịch Covid19

17 62 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 254,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tóm tắt Đại dịch Covid19 mặc dù gây ra rất nhiều khó khăn và tác động tiêu cực đến đời sống của người dân và nhiều doanh nghiệp, nhưng đồng thời, cũng đã mang lại cơ hội phát triển cho thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam do tác động mạnh mẽ làm thay đổi thói quen của người tiêu dùng và hành vi thanh toán của họ. Bài viết nhằm phát hiện các yếu tố tác động tới ý định sử dụng phương thức thanh toán điện tử tại Hà Nội dưới tác động của đại dịch Covid19. Dựa trên khung mô hình chấp nhận và sử dụng công nghệ (Unified Theory of Acceptance and Use of Technology UTAUT), kết quả nghiên cứu sử dụng phương pháp mô hình phương trình cấu trúc bình phương từng phần nhỏ nhất PLSSEM chỉ ra rằng, các nhân tố ảnh hưởng tới ý định hành vi của người tiêu dùng là Hiệu quả kỳ vọng (PE), Nỗ lực kỳ vọng (EE), Ảnh hưởng xã hội (SI) và Điều kiện sử dụng (FC), trong đó nhân tố Hiệu quả kỳ vọng có tác động lớn nhất tới Ý định hành vi và chịu tác động của nhân tố Nỗ lực kỳ vọng. Nhận thức về rủi ro (PR) là nhân tố duy nhất trong mô hình đề xuất không đạt mức ý nghĩa thống kê.

Trang 1

Các yếu tố ảnh hưởng tới ý định sử dụng phương thức thanh toán điện tử tại

Hà Nội dưới tác động của đại dịch Covid-19

Tóm tắt

Đại dịch Covid-19 mặc dù gây ra rất nhiều khó khăn và tác động tiêu cực đến đời sống của người dân và nhiều doanh nghiệp, nhưng đồng thời, cũng đã mang lại cơ hội phát triển cho thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam do tác động mạnh

mẽ làm thay đổi thói quen của người tiêu dùng và hành vi thanh toán của họ Bài viết nhằm phát hiện các yếu tố tác động tới ý định sử dụng phương thức thanh toán điện tử tại Hà Nội dưới tác động của đại dịch Covid-19 Dựa trên khung mô hình chấp nhận và sử dụng công nghệ (Unified Theory of Acceptance and Use of Technology - UTAUT), kết quả nghiên cứu sử dụng phương pháp mô hình phương trình cấu trúc bình phương từng phần nhỏ nhất PLS-SEM chỉ ra rằng, các nhân tố ảnh hưởng tới ý định hành vi của người tiêu dùng là Hiệu quả kỳ vọng (PE), Nỗ lực kỳ vọng (EE), Ảnh hưởng xã hội (SI) và Điều kiện sử dụng (FC), trong đó nhân tố Hiệu quả kỳ vọng có tác động lớn nhất tới Ý định hành vi và chịu tác động của nhân tố Nỗ lực kỳ vọng Nhận thức về rủi ro (PR) là nhân tố duy nhất trong mô hình đề xuất không đạt mức ý nghĩa thống kê

1 Giới thiệu

Thanh toán điện tử là phương thức thanh toán hiện đại đang được ưa chuộng trên toàn thế giới và cũng là xu hướng đang phát triển tại Việt Nam Hệ thống thanh toán điện tử bao gồm nhiều kênh khác nhau, có thể được chia thành: (i) Thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ, (ii) Ngân hàng điện tử, (iii) Ví điện tử, (iv) Tiền điện tử, (v) Séc điện tử và (vi) QR Pay Các hình thức thanh toán điện tử trên đều đem lại những lợi ích nhất định đối với người tiêu dùng, các doanh nghiệp cung cấp hàng hóa, dịch vụ và với nền kinh tế

Tại Việt Nam, cuối tháng 03 năm 2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị

số 16 về việc thực hiện cách ly toàn xã hội trong vòng 15 ngày kể từ 0 giờ ngày 01/04/2020 trên phạm vi toàn quốc, yêu cầu người dân thực hiện nghiêm túc việc hạn chế tiếp xúc gần để giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm dịch bệnh Covid-19 Các

Trang 2

hoạt động sản xuất kinh doanh bị ngưng trệ, nhưng hệ thống thanh toán điện tử vẫn được duy trì để các giao dịch thanh toán của nền kinh tế có thể diễn ra bình thường Hơn nữa, trong bối cảnh đại dịch Covid-19, rất nhiều người dân đã dịch chuyển mạnh sang các hình thức mua sắm trực tuyến và vì thế cũng giảm mạnh việc sử dụng tiền mặt do cần hạn chế tiếp xúc trực tiếp Theo số liệu thống kê của Ngân hàng Nhà nước (2020) trong bốn tháng đầu năm, mức tăng trưởng về số lượng giao dịch so với cùng kì năm trước đạt 26,2% đối với thanh toán nội địa qua thẻ ngân hàng và 189% về số lượng và 166,1% về giá trị so với cùng kỳ năm trước đối với hình thức thanh toán bằng điện thoại di động Mức tăng trưởng này tiếp tục

có sự gia tăng trong ba tháng tiếp theo, với mức tăng tưởng so với cùng kì năm trước đạt 29,7% và 184,2% lần lượt với số lượng giao dịch qua thanh toán bằng thẻ

và bằng điện thoại di động Tuy nhiên, thói quen sử dụng tiền mặt và những e ngại đối với việc tiếp nhận hình thức thanh toán điện tử vẫn là những trở ngại cho sự phát triển thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam Do đó, việc nghiên cứu ý định hành vi khách hàng đối với phương thức thanh toán điện tử là cần thiết để phát hiện những yếu tố kiểm soát ý định hành vi của người dùng, đặc biệt là trong bối cảnh tác động của đại dịch Covid-19, từ đó, đề xuất các giải pháp có giá trị tham khảo cho các đơn vị cung cấp dịch vụ thanh toán điện tử nhằm nâng cao chất lượng và thúc đẩy sự phát triển của thanh toán điện tử tại Việt Nam Là một trong hai đầu tàu kinh tế của đất nước, Hà Nội có những điều kiện nhất định để đón đầu các xu thế công nghệ trên thế giới Vì vậy, bài viết lựa chọn Hà Nội là khu vực nghiên cứu bởi các lý do trên

Bên cạnh đó, có thể nói người dân sinh sống trên địa bàn Hà Nội có tính đại diện cao cho xu hướng sử dụng các hình thức thanh toán điện tử đang ngày càng phát triển ở Việt Nam, đặc biệt kể từ khi đại dịch Covid-19 bùng phát

2 Cơ sở lý thuyết

Các nghiên cứu trước đây đã xây dựng nhiều mô hình khác nhau về hành vi của người dùng như Lý thuyết hành động hợp lý TRA (Fishbein và Ajzen, 1975), Lý thuyết hành vi có hoạch định TPB (Ajzen, 1991), Mô hình chấp nhận công nghệ

Trang 3

TAM (Davis, 1989) hay UTAUT (Venkatesh và cộng sự, 2003) Trong đó,

UTAUT là mô hình quan trọng nhờ việc tích hợp tám lý thuyết lớn trước đó và

được kiểm nghiệm trên tập dữ liệu lớn (Im và cộng sự, 2011) Chính vì thế, bài viết

lựa chọn mô hình UTAUT làm cơ sở để tiến hành nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới ý định hành vi của người tiêu dùng đối với thanh toán điện tử, đồng thời,

mở rộng mô hình với yếu tố nhận thức về rủi ro được đề xuất bởi Bauer (1960) Cụ thể, các yếu tố được sử dụng trong bài nghiên cứu bao gồm:

a Hiệu quả kỳ vọng

Venkatesh và cộng sự (2003) định nghĩa hiệu quả kỳ vọng là mức độ một cá nhân

tin rằng sử dụng một hệ thống đặc thù sẽ giúp cá nhân đó tăng hiệu quả công việc

và đây được coi là yếu tố dự đoán chính xác nhất về ý định hành vi của người sử dụng Hiệu quả kỳ vọng là nhân tố tương tự với nhận thức về tính hữu dụng

(Venkatesh và cộng sự, 2011; Shaikh và cộng sự, 2018) trong mô hình TAM xây

dựng bởi Davis (1989) Theo Davis (1989), nhận thức về tính hữu dụng là mức độ

mà một cá nhân tin rằng việc sử dụng hệ thống công nghệ có thể nâng cao hiệu quả công việc của người đó Trong bối cảnh về thanh toán điện tử, người tiêu dùng sẽ

có hiệu quả kỳ vọng về những lợi ích mà họ nhận được khi sử dụng phương thức thanh toán này, như sự nhanh chóng, tiết kiệm thời gian và những trải nghiệm, dịch

vụ mới đi kèm với các chương trình ưu đãi hấp dẫn mà thanh toán bằng tiền mặt thông thường không có Đặc biệt, dưới tác động của đại dịch Covid-19, thanh toán điện tử được coi là phương thức hữu hiệu giúp giảm nguy cơ lây nhiễm dịch bệnh qua việc tiếp xúc gần và qua vật trung gian lây nhiễm là tiền mặt

b Nỗ lực kỳ vọng

Nỗ lực kỳ vọng được định nghĩa là mức độ dễ dàng trong việc sử dụng hệ thống

(Venkatesh và cộng sự, 2003), tương tự với yếu tố nhận thức về tính dễ sử dụng

trong mô hình TAM của Davis (1989), Shaikh và cộng sự (2018) Nhận thức về tính dễ sử dụng là mức độ mà một cá nhân tin rằng việc sử dụng hệ thống công nghệ không tốn sức lực của họ (Davis, 1989) Xét trên góc độ về nỗ lực kỳ vọng, người tiêu dùng sẽ đánh giá thời gian và nỗ lực để hình thành nên quan điểm về nỗ

lực tổng quát trong việc chấp nhận và sử dụng công nghệ (Venkatesh và cộng sự,

Trang 4

2011) Đối với thanh toán điện tử, nỗ lực kỳ vọng là cảm nhận của người tiêu dùng

về khả năng làm quen và sử dụng thành thạo phương thức thanh toán này

c Ảnh hưởng xã hội

Theo Venkatesh và cộng sự (2003), ảnh hưởng xã hội là mức độ một cá nhân nhận

thức rằng những người quan trọng với cá nhân đó tin rằng cá nhân đó nên sử dụng

hệ thống mới Shaikh và cộng sự (2018) cho rằng ảnh hưởng xã hội là yếu tố giống

với chuẩn mực chủ quan – một thành phần của lý thuyết TRA (Fishbein và Ajzen, 1975) và mô hình TAM (Davis, 1989) Theo đó, chuẩn mực chủ quan là nhận thức của cá nhân rằng phần lớn những người quan trọng với cá nhân đó nghĩ rằng cá nhân đó nên hoặc không nên thực hiện hành vi đang được cân nhắc (Fishbein và Ajzen, 1975) Ảnh hưởng xã hội trong bối cảnh về thanh toán điện tử đến từ việc những người quan trọng xung quanh người tiêu dùng, như người thân và bạn bè, nghĩ rằng họ nên sử dụng hình thức thanh toán này Thông tin quảng cáo đến từ các doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa, dịch vụ là một yếu tố không thể thiếu trong nhóm ảnh hưởng xã hội Đặc biệt, thông tin tuyên truyền đến từ các phương tiện truyền thông về lợi ích của thanh toán điện tử trong việc ngăn chặn sự lây nhiễm dịch Covid-19 cũng là yếu tố có thể có tác động đến hành vi người tiêu dùng

d Điều kiện sử dụng

Điều kiện sử dụng là mức độ một cá nhân tin rằng có cơ sở hạ tầng hỗ trợ việc sử

dụng hệ thống (Venkatesh và cộng sự, 2003) Yếu tố này có thể được coi là nhận

thức về kiểm soát hành vi trong mô hình TPB của Ajzen (1991) và ảnh hưởng tới

cả ý định lẫn hành vi của người tiêu dùng (Venkatesh và cộng sự, 2011; Shaikh và cộng sự, 2018) Ajzen (1991) định nghĩa nhận thức về kiểm soát hành vi là nhận

thức về mức độ dễ hoặc khó trong việc thực hiện hành vi Theo Taylor và Todd (1995), nhận thức về kiểm soát hành vi, khi nghiên cứu về hệ thống thông tin, là những nhận thức về những yếu tố bên trong và bên ngoài tác động lên hành vi Để

có thể sử dụng phương thức thanh toán điện tử, người tiêu dùng cần có phương tiện cần thiết như thẻ ngân hàng hoặc điện thoại thông minh, kiến thức cũng như sự hỗ trợ từ bộ phận chăm sóc khách hàng trong trường hợp xảy ra các vấn đề ngoài ý muốn

Trang 5

e Nhận thức về rủi ro

Nhận thức về rủi ro là một rào cản tới sự chấp nhận của người tiêu dùng đối với các dịch vụ điện tử (Featherman và Pavlou, 2003) Bauer (1960) không chỉ nhìn nhận nhận thức về rủi ro là yếu tố liên quan đến thời điểm trước khi người tiêu dùng đưa ra quyết định mà còn sau khi quyết định được hình thành Nhận thức về rủi ro được coi là yếu tố quan trọng khi xem xét các dịch vụ điện tử, đặc biệt ở các nước đang phát triển, nơi có mạng lưới viễn thông không chất lượng bằng các nước

phát triển khác và tồn tại nhiều mối lo ngại về bảo mật (Shaikh và cộng sự, 2018).

Rủi ro khi thanh toán điện tử có thể đề cập đến việc thông tin cá nhân và giao dịch

bị tiết lộ, hay mất tiền trong quá trình thực hiện các giao dịch thanh toán

3 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Ý định hành vi khách hàng đối với thanh toán điện tử nói chung và từng hình thức thanh toán điện tử cụ thể nói riêng là chủ đề thu hút được sự quan tâm của nhiều

nhà nghiên cứu Al-Saedi và cộng sự (2020) đã mở rộng mô hình UTAUT

(Venkatesh và cộng sự, 2003) để đánh giá sự tác động của nhận thức về rủi ro, nhận thức về lòng tin, nhận thức về chi phí, năng lực của bản thân, hiệu quả kỳ vọng, nỗ lực kỳ vọng và ảnh hưởng xã hội lên ý định hành vi sử dụng thanh toán bằng điện thoại di động tại Oman Các tác giả đã đưa ra kết luận rằng, ý định hành

vi sử dụng thanh toán qua điện thoại di động sẽ càng cao khi hệ thống thanh toán càng đáng tin, càng hiệu quả và càng dễ sử dụng Kết quả này đồng nhất với

nghiên cứu của Slade và cộng sự (2015) về các nhân tố ảnh hưởng đến ý định chấp

nhận thanh toán điện tử tại Vương Quốc Anh dựa trên mô hình UTAUT Tuy nhiên, nhận thức về rủi ro lại không có tác động lên ý định hành vi của người tiêu

dùng, trái với kết quả của các nghiên cứu khác, như Slade và cộng sự (2015), rằng

những rủi ro của hệ thống thanh toán sẽ tác động tiêu cực lên ý định hành vi sử

dụng hệ thống Ngược lại với một số kết quả nêu trên, Teo và cộng sự (2015) lại

không tìm thấy mối quan hệ giữa hiệu quả kỳ vọng và ảnh hưởng xã hội lên ý định thanh toán qua điện thoại di động của người tiêu dùng tại Malaysia

Sử dụng mô hình TAM mở rộng, Karim và cộng sự (2020) đã xác định được bốn yếu tố có tác động cùng chiều lên ý định sử dụng ví điện tử là nhận thức về tính

Trang 6

hữu dụng (tương đương với yếu tố hiệu quả kỳ vọng), nhận thức về tính dễ sử dụng (tương đương với yếu tố nỗ lực kỳ vọng), tính riêng tư và bảo mật Các tác giả cũng tìm ra tác động cùng chiều của nhận thức về tính dễ sử dụng lên nhận thức về tính hữu dụng Nếu ví điện tử càng dễ sử dụng, dịch vụ này càng có ích đối với người tiêu dùng Vì vậy, các nhà cung cấp dịch vụ ví điện tử cần cân nhắc rằng việc ứng dụng của họ không gây trở ngại khi sử dụng sẽ tác động tích cực đến ý định hành vi của khách hàng

Trong giai đoạn giãn cách xã hội do đại dịch Covid-19, nghiên cứu của Revathy và Balaji (2020) về ý định hành vi sử dụng ví điện tử tại Ấn Độ đã chứng minh được

sự tác động cùng chiều với ý định hành vi của các yếu tố nhận thức về bảo mật, ảnh hưởng xã hội và hiệu quả kỳ vọng, trong đó ảnh hưởng xã hội đến từ bạn bè và gia đình là hai nhân tố then chốt khiến các cá nhân sử dụng ví điện tử trong giai đoạn này Tuy nhiên, trái với kết quả của UTAUT, nỗ lực kỳ vọng không có tác động lên ý định hành vi trong nghiên cứu của Revathy và Balaji (2020)

Indrawati và Putri (2018) đã sử dụng UTAUT để nghiên cứu về ý định tiếp tục tiếp nhận thanh toán điện tử nói chung tại Indonesia với ứng dụng cụ thể là GoPay -một hệ thống tiền điện tử thuộc ứng dụng Go-jek giúp người tiêu dùng thực hiện các giao dịch tài chính Kết quả nghiên cứu chỉ ra đa số những người tham gia thực hiện khảo sát cảm thấy sử dụng ứng dụng Go-pay rất dễ dàng và thoải mái, đặc biệt khi nhận được chiết khấu cho giao dịch thanh toán thì lợi ích của việc sử dụng ứng dụng này càng lớn đối với họ bên cạnh những lợi ích khác về sự nhanh chóng và tiết kiệm thời gian

Cuộc cách mạng công nghệ 4.0 diễn ra mạnh mẽ không chỉ tại các nước phát triển

mà các nước đang phát triển như Việt Nam cũng chứng kiến những tiến bộ đáng

kể, kéo theo sự phát triển của thanh toán điện tử Vì vậy, nghiên cứu về ý định hành vi sử dụng phương thức thanh toán này cũng đã được tiến hành nghiên cứu với khách hàng Việt Nam Nghiên cứu về dịch vụ ngân hàng điện tử, Nguyễn Duy Thanh và Cao Hào Thi (2014) đã tìm ra rằng nhận thức về kiểm soát hành vi (tương đương với điều kiện sử dụng), tính tương hợp, hiệu quả kỳ vọng, hình ảnh ngân hàng và nhận thức về rủi ro trong giao dịch tác động lên việc tiếp nhận ngân hàng điện tử, trong đó nhận thức về kiểm soát hành vi có tác động lớn nhất và nhận

Trang 7

thức về rủi ro trong giao dịch có tác động nhỏ nhất Bên cạnh đó, Thi Thu Huyen

Trinh và cộng sự (2020) đã dựa trên mô hình UTAUT mở rộng (UTAUT 2) (Venkatesh và cộng sự, 2012), kết hợp với hai yếu tố mới là niềm tin và nhận thức

về tính bảo mật, nghiên cứu về các nhân tố tác động lên ý định sử dụng của khách hàng tư nhân trên ba miền Bắc, Trung và Nam tại Việt Nam Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng nhận thức về tính bảo mật là yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất tới ý định sử dụng ngân hàng di động Bên cạnh đó, niềm tin và lợi ích kì vọng càng cao cũng như nhận thức về tính dễ sử dụng càng rõ rệt thì ý định sử dụng của khách hàng sẽ càng cao Tuy nhiên, trái ngược với kết quả nghiên cứu của UTAUT ban đầu, điều kiện sử dụng hoàn toàn không tác động lên ý định hành vi hay hành vi sử dụng ngân hàng di động của khách hàng tư nhân tại Việt Nam

Bằng chứng thực nghiệm từ nghiên cứu về ý định và sự tiếp nhận thẻ tín dụng tại Việt Nam của hai tác giả Oanh Dinh Yen Nguyen và John F Cassidy (2018) đã chứng minh rằng nhận thức về tính hữu dụng là nhân tố có tác động lớn nhất tới ý định hành vi và tác động lên cả nhận thức về tính dễ sử dụng Kết quả về tác động của nhận thức về tính hữu dụng lên ý định hành vi cũng được chứng minh trong nghiên cứu trước đó về ý định sử dụng thẻ tín dụng tại Việt Nam của Vuong Duc Hoang Quan và Trinh Hoang Nam (2017), và nghiên cứu của Hoang Nam Trinh và

cộng sự (2020) cũng tìm ra kết quả tương tự

Về thanh toán điện tử tại Việt Nam nói chung, nghiên cứu của Thanh D Nguyen

và Phuc A Huynh (2018) tìm ra mối quan hệ ảnh hưởng cùng chiều của nhận thức tính hữu dụng và tính dễ sử dụng lên việc chấp nhận thanh toán điện tử Điều này đồng nghĩa với việc nếu người tiêu dùng càng cảm thấy sử dụng thanh toán điện tử đem lại nhiều lợi ích cho họ và không tạo khó khăn khi sử dụng thì ý định sử dụng

thanh toán điện tử càng tăng Theo Huu Nghi Phan và cộng sự (2020), đây là hai

yếu tố hàng đầu mà khách hàng tiềm năng hoặc khách hàng hiện tại sẽ cân nhắc trước khi quyết định lựa chọn một sản phẩm, dịch vụ Ngoài ra, đối với thanh toán

di động, Huu Nghi Phan và cộng sự (2020) đã chỉ ra rằng khách hàng cũng quan

tâm đến sự an toàn và bảo mật của dịch vụ, do lo sợ dữ liệu và thông tin cá nhân có thể bị tiết lộ hoặc đánh cắp trong quá trình giao dịch Kết quả này thể hiện thói

Trang 8

quen của người tiêu dùng Việt Nam khi lựa chọn thanh toán bằng tiền mặt vì cảm thấy tiền mặt an toàn hơn các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt

Từ việc nghiên cứu tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố, bài viết tìm ra khoảng trống nghiên cứu về hành vi người dùng đối với thanh toán điện tử tại Việt Nam, trong đó Hà Nội có tính đại diện cao, đặc biệt trong giai đoạn nền kinh tế chịu nhiều tác động của đại dịch Covid-19

4 Xây dựng mô hình nghiên cứu

4.1 Giả thuyết nghiên cứu

Dựa trên cơ sở lý thuyết và tổng quan các nội dung nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan, bài viết đưa ra các giả thuyết nghiên cứu như sau:

Bảng 1 Bảng tổng hợp giả thuyết nghiên cứu

Giả

thuyết

Nội dung giả thuyết Các nghiên cứu trước

H1 Hiệu quả kỳ vọng tác

động cùng chiều lên ý

định hành vi

Indrawati và Putri (2018); Nguyễn Duy

Thanh và Cao Hào Thi (2014); Slade và cộng

sự (2015); Huu Nghi Phan và cộng sự (2020); Al-Saedi và cộng sự (2020); Revathy và

Balaji (2020) H2a Nỗ lực kỳ vọng tác

động cùng chiều lên

hiệu quả kỳ vọng

Teo và cộng sự (2015); Karim và cộng sự

(2020)

H2b Nỗ lực kỳ vọng tác

động cùng chiều lên ý

định hành vi

Al-Saedi và cộng sự (2020); Huu Nghi Phan

và cộng sự (2020); Teo và cộng sự (2015); Karim và cộng sự (2020); Thi Thu Huyen Trinh và cộng sự (2020)

H3 Ảnh hưởng xã hội tác

động cùng chiều lên ý

định hành vi

Indrawati và Putri (2018); Slade và cộng sự (2015); Al-Saedi và cộng sự (2020); Huu Nghi Phan và cộng sự (2020); Hoang Nam Trinh và cộng sự (2020); Revathy và Balaji (2020); Thi Thu Huyen Trinh và cộng sự

(2020) H4 Điều kiện sử dụng tác

động cùng chiều lên ý

định hành vi

Teo và cộng sự (2015); Nguyễn Duy Thanh

và Cao Hào Thi (2014)

Trang 9

H5 Nhận thức về rủi ro

tác động ngược chiều

lên ý định hành vi

Thanh D Nguyen và Phuc A Huynh (2018);

Slade và cộng sự (2015); Nguyễn Duy Thanh

và Cao Hào Thi (2014); Hoang Nam Trinh và

cộng sự (2020)

4.2 Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu sử dụng cho nghiên cứu được thu thập bằng phương pháp khảo sát người dân tại khu vực thành phố Hà Nội dưới hai hình thức từ phiếu khảo sát bản mềm (trực tuyến) thông qua nền tảng Google Forms và phiếu khảo sát bản cứng Đối tượng tham gia khảo sát là những người đã từng hoặc chưa từng sử dụng phương thức thanh toán điện tử Tổng số lượng người tham gia khảo sát là 414 người, trong

đó 6 phiếu trả lời bị loại bỏ do câu trả lời không đầy đủ, dẫn tới kết quả thu về 408 phiếu trả lời hợp lệ Trong đó, nam giới chiếm 39,46% và nữ giới chiếm 60,54%

Độ tuổi tham gia khảo sát phần lớn là độ tuổi từ 18 đến 30 tuổi (chiếm 81,86%) do nhóm thế hệ trẻ có khả năng dễ dàng tiếp cận những xu hướng mới nhất về công nghệ, trong đó có công nghệ thanh toán, và vì thế, có xu hướng tiếp xúc với thanh toán điện tử đầu tiên trong xã hội so với các thế hệ khác

Bảng 2 Thông tin nhân khẩu học của đối tượng tham gia khảo sát

Độ tuổi

Giới tính

Nguồn: Kết quả khảo sát của nhóm tác giả

Bài viết sử dụng mô hình phương trình cấu trúc bình phương nhỏ nhất từng phần PLS-SEM với dữ liệu của nghiên cứu được xử lý bởi phần mềm SmartPLS 3.3.2

4.3 Mô hình nghiên cứu đề xuất

Trang 10

Khung mô hình đề xuất gồm 6 nhân tố là Hiệu quả kỳ vọng (PE), Nỗ lực kỳ vọng (EE), Ảnh hưởng xã hội (SI), Điều kiện sử dụng (FC), Nhận thức về rủi ro (PR) và

Ý định hành vi (BI) Hình 1 dưới đây mô tả mô hình nghiên cứu đề xuất với sáu nhóm biến:

Hình 1 Mô hình nghiên cứu đề xuất

5 Kết quả nghiên cứu

Từ mô hình nghiên cứu đề xuất, nhóm tác giả tiến hành kiểm định mô hình PLS-SEM

Ngày đăng: 20/09/2021, 14:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w