1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÍN DỤNG BẤT ĐỘNG SẢN TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2010 2020 THỰC TRẠNG VÀ KHUYẾN NGHỊ

11 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 246,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản (BĐS) bao gồm 2 phân khúc là tín dụng kinh doanh BĐS và tiêu dùng BĐS. Cho đến nay, cả hai phân khúc tín dụng này đều là kênh kiếm lời hiệu quả của các TCTD nhờ biên lãi ròng cao, giá trị vay lớn và thời gian vay dài (thường từ 10 năm trở lên). Tuy nhiên, đứng về mặt xã hội, tín dụng BĐS, đặc biệt là phân khúc tín dụng kinh doanh BĐS, lại không phải là ngành được ưu tiên trong tương quan so sánh với các ngành sản xuất, kinh doanh khác. Chính vì vậy mà tùy từng giai đoạn kinh tế xã hội, các chính sách về tín dụng BĐS (cùng một số các lĩnh vực không được ưu tiên khác như chứng khoán) sẽ được điều chỉnh phù hợp nhằm cân bằng lại danh mục cho vay, đảm bảo hai mục tiêu chính là phân phối vốn một cách hiệu quả nhất đến nền kinh tế và an toàn vĩ mô. Bài viết này phân tích và đánh giá thực trạng tín dụng BĐS tại Việt Nam giai đoạn 20102020, từ đó làm cơ sở đề xuất một số khuyến nghị chính sách.

Trang 1

TÍN DỤNG BẤT ĐỘNG SẢN TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2010 - 2020

- THỰC TRẠNG VÀ KHUYẾN NGHỊ

Tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản (BĐS) bao gồm 2 phân khúc là tín dụng kinh doanh BĐS và tiêu dùng BĐS Cho đến nay, cả hai phân khúc tín dụng này đều là kênh kiếm lời hiệu quả của các TCTD nhờ biên lãi ròng cao, giá trị vay lớn và thời gian vay dài (thường từ 10 năm trở lên) Tuy nhiên, đứng về mặt xã hội, tín dụng BĐS, đặc biệt là phân khúc tín dụng kinh doanh BĐS, lại không phải là ngành được ưu tiên trong tương quan so sánh với các ngành sản xuất, kinh doanh khác Chính vì vậy mà tùy từng giai đoạn kinh tế - xã hội, các chính sách về tín dụng BĐS (cùng một số các lĩnh vực không được ưu tiên khác như chứng khoán) sẽ được điều chỉnh phù hợp nhằm cân bằng lại danh mục cho vay, đảm bảo hai mục tiêu chính là phân phối vốn một cách hiệu quả nhất đến nền kinh tế và an toàn vĩ mô Bài viết này phân tích và đánh giá thực trạng tín dụng BĐS tại Việt Nam giai đoạn 2010-2020, từ đó làm cơ sở đề xuất một số khuyến nghị chính sách.

Từ khóa: Bất động sản, tín dụng, NHTM

1 Thực trạng tín dụng bất động sản tại Việt Nam

Tín dụng đối với lĩnh vực BĐS tiếp tục là nguồn vốn quan trọng đóng góp vào

sự phát triển của thị trường bất động sản, nhà ở nói chung, tại các đô thị nói riêng S ự tăng trưởng hoặc giảm sút của tín dụng bất động sản không những phụ thuộc vào hiệu quả cho vay của tổ chức tín dụng cũng như sức khỏe của thị trường BĐS, mà còn có

độ nhạy rất mạnh với các điều chỉnh trong chính sách của Chính phủ Nói cách khác,

sự biến động của tín dụng bất động sản qua các thời kì phản ánh sự thay đổi trong định hướng, chính sách của Chính phủ đối với thị trường bất động sản Nhờ các chính sách tín dụng bất động sản hợp lý, kết quả là tăng trưởng tín dụng đối với lĩnh vực BĐS diễn biến phù hợp với tăng trưởng tín dụng chung đối với nền kinh tế và mục tiêu điều hành của NHNN, qua đó hạn chế tăng trưởng nóng của thị trường bất động sản, góp phần giúp thị trường BĐS dần dần ổn định trở lại và phát triển bền vững hơn trong các giai đoạn sau này

1.1 Diễn biến tín dụng bất động sản tại Việt Nam, giai đoạn 2010-2020

Trang 2

Tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản (BĐS) bao gồm 2 phân khúc là tín dụng kinh doanh BĐS và tiêu dùng BĐS Cho đến nay, cả hai phân khúc tín dụng này đều là kênh kiếm lời hiệu quả của các TCTD nhờ biên lãi ròng cao, giá trị vay lớn và thời gian vay dài (thường từ 10 năm trở lên) Tuy nhiên, đứng về mặt xã hội, tín dụng BĐS, đặc biệt là phân khúc tín dụng kinh doanh BĐS, lại không phải là ngành được ưu tiên trong tương quan so sánh với các ngành sản xuất, kinh doanh khác Nguyên nhân là do tín dụng vào lĩnh vực này không trực tiếp đưa vào sản xuất, lại hàm chứa nhiều rủi ro đối với TCTD Chính vì vậy mà tùy từng giai đoạn kinh tế - xã hội, các chính sách về tín dụng BĐS (cùng một số các lĩnh vực không được ưu tiên khác như chứng khoán)

sẽ được điều chỉnh phù hợp nhằm cân bằng lại danh mục cho vay, đảm bảo hai mục tiêu chính là phân phối vốn một cách hiệu quả nhất đến nền kinh tế và an toàn vĩ mô

Vì vậy, diễn biến về tín dụng bất động sản cũng có những thay đổi phù hợp với sự thay đổi trong chính sách tín dụng bất động sản tại Việt Nam

Hình 1 Tín dụng kinh doanh bất động sản giai đoạn 2010 - 2020

Nguồn: SBV

Dòng vốn tín dụng chảy vào kinh doanh BĐS trong những năm gần đây tăng mạnh, tuy nhiên tốc độ tăng trưởng tín dụng đối với lĩnh vực này không ổn định bằng

Trang 3

tốc độ tăng trưởng tín dụng của toàn hệ thống Theo thống kê của Ủy ban thanh tra Giám sát, tín dụng kinh doanh BĐS đã tăng từ mức đáy là 226,8 nghìn tỷ đồng năm

2011 lên mức 582,022 nghìn tỷ đồng năm 2019, chia thành 3 giai đoạn chủ yếu như

sau:

Giai đoạn 2010-2011: Trong bối cảnh nền kinh tế tăng trưởng nóng, thị trường

bất động sản “bóng bóng”, NHNN chủ trương thực hiện các giải pháp kiểm soát chặt chẽ tốc độ tăng trưởng tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản Cụ thể, sau giai đoạn bong bóng bất động sản, các ngân hàng đã siết hoạt động cho vay phi sản xuất trong

đó có bất động sản Nhờ đó, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống giảm từ 37,53% năm

2009 xuống 31,2% năm 2010 và 14,4% năm 2011; Tín dụng đối với lĩnh vực BĐS được kiểm soát chặt chẽ Cụ thể, dư nợ cho vay đối với lĩnh vực đầu tư, kinh doanh bất động sản năm 2011 đã được kiểm soát, giảm 14,87% so với năm 2010, tỷ trọng dư nợ cho vay đối với lĩnh vực đầu tư, kinh doanh bất động sản so với tổng dư nợ tín dụng toàn hệ thống năm 2011 giảm xuống còn 7,05%

Giai đoạn 2012- 2014: Đây là giai đoạn mà NHNN linh hoạt điều chỉnh chính

sách kiểm soát tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản, triển khai các giải pháp hỗ trợ phục hồi thị trường BĐS Cụ thể, kể từ đầu năm 2012, NHNN đã thực hiện quyết liệt các giải pháp nhằm ổn định thị trường tiền tệ; điều hành linh hoạt, đồng bộ các công

cụ chính sách tiền tệ, khơi thông dòng vốn tín dụng phục vụ phát triển kinh tế- xã hội Các chính sách của NHNN đã hướng đến tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn tín dụng phát triển sản xuất – kinh doanh, trong đó các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bất động sản Đặc biệt, riêng với thị trường bất động sản, NHNN

đã triển khai nhiều chính sách thiết thực để tháo gỡ khó khăn cho thị trường, hỗ trợ cho doanh nghiệp và tạo điều kiện cho người dân có thu nhập thấp, trung bình được cải thiện về nhà ở Chính vì vậy, dư nợ cho vay đầu tư kinh doanh BĐS năm 2012 tăng 14,06% so với cuối năm 2011, chiếm tỷ trọng 3,41% tổng dư nợ đối với nền kinh tế; tín dụng tiêu dùng BĐS tăng nhẹ ở mức 0,27% so với cuối năm 2012 Tốc độ tăng trưởng chung của lĩnh vực BĐS là 10,14%, đảm bảo đúng mục tiêu điều hành của NHNN kiểm soát tỷ trọng của 03 lĩnh vực không khuyến khích (Tiêu dùng, kinh doanh BĐS và chứng khoán) ở mức dưới 16% Tín dụng đầu tư, kinh doanh BĐS tăng dần đều ở mức 14,73% trong năm 2013 và 19,24% trong năm 2014, chiếm tỷ trọng 77,6%

và 74,8% so với tổng dư nợ tín dụng lĩnh vực BĐS; Tỷ lệ nợ xấu lần lượt là 3,38% và

Trang 4

3,86%, giảm so với mức 5,39% năm 2012.

Giai đoạn 2015-2020: Bắt đầu từ năm 2015 đến nay, tình hình kinh tế vĩ mô có

xu hướng ổn định trở lại, lạm phát duy trì ở mức thấp; lãi suất thị trường có xu hướng giảm; tăng trưởng tín dụng chung đối với nền kinh tế được kiểm soát phù hợp với tăng trưởng của nền kinh tế, tỷ lệ nợ xấu giảm và không còn tình trạng tăng trưởng nóng như các giai đoạn trước; doanh nghiệp nói chung ổn định được hoạt động sản xuất -kinh doanh và có điều kiện phát triển Giai đoạn sau, 2017-2019, tín dụng BĐS hạ nhiệt sau khi NHNN phát đi những tín hiệu về việc siết lại hoạt động cho vay BĐS, tốc

độ tăng trưởng bình quân giảm còn 6,85% Dù vậy, đến 2019, tỷ trong tín dụng BĐS vẫn chiếm 7,1% tổng tín dụng Tỷ lệ này mới chỉ tính tới phân khúc tín dụng kinh doanh BĐS, nếu tính thêm cả tín dụng tiêu dùng BĐS (trước đây vốn xếp vào tín dụng tiêu dùng), thì con số có thể lên tới 19,74% (11/2020) Độ lệch chuẩn của tốc độ tăng trưởng tín dụng BĐS, thể hiện cho mức độ giao động trong 10 năm, đạt 13,3% Nếu so sánh với tăng trưởng tổng tín dụng chung, thì mức biến thiên của tín dụng BĐS cao gấp 2,2 lần

Năm 2020, dù chịu ảnh hưởng của dịch Covid 19, tín dụng BĐS vẫn đạt mức tăng trưởng tương đối Đến 30/11/2020, dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực BĐS là 1.752.975 tỷ đồng, tăng 9,14% so với tháng 12/2019 chiếm tỷ trọng 19,74% dư nợ nền kinh tế Trong đó, tín dụng bất động sản tập trung chủ yếu vào nhu cầu tiêu dùng, tự sử dụng BĐS (chiếm 65,06% dư nợ tín dụng BĐS), kinh doanh BĐS (chiếm 34,94% dư

nợ tín dụng BĐS)

1.2 Đánh giá chung về tín dụng bất động sản giai đoạn 2010-2020

Thứ nhất, trong giai đoạn 2010-2020, tín dụng BĐS tại các NHTM Việt Nam được điều tiết thận trọng theo chỉ đạo của Chính phủ

Tại Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam luôn chủ động theo sát tình hình diễn biến của thị trường bất động sản, kịp thời đưa ra các chính sách điều hành phù hợp Trong giai đoạn 2010-2020, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành 11 thông tư cùng nhiều chỉ thị, văn bản điều hành khác liên quan đến chính sách tín dụng bất động sản Trong đó, các công cụ chính được sử dụng để điều chỉnh thị trường tín dụng bất động sản như sau: tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động,

hệ số rủi ro của các khoản vay liên quan đến bất động sản, tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn Đáng chú ý, có 6/11 thông tư

Trang 5

của giai đoạn này đề cập đến vấn đề về lộ trình áp dụng tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn, 4/11 thông tư điều chỉnh hệ

số rủi ro của các khoản vay liên quan đến bất động sản, 2/11 thông tư điều chỉnh tỷ lệ

an toàn vốn tối thiểu

Do đó, mặc dù giao dịch tích cực trở lại trong những năm gần đây, dư nợ trong lĩnh vực BĐS vẫn được kiểm soát chặt và thận trọng nhờ các quy định về tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn, các chỉ tiêu an toàn tài chính và kiểm soát nợ xấu của Ngân hàng Đơn cử, ngay sau đợt tăng trưởng nhanh trong giai đoạn 2015-2016, NHNN đã siết lại tín dụng thông qua tăng hệ số rủi ro đối với kinh doanh BĐS (từ cuối 2016) và đối với tín dụng tiêu dùng BĐS (từ 2019), đồng thời giảm tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn theo lộ trình dần từ mức 60% (2016) xuống mức 50%(2017), 45%(2018), và 40%(2019), tiến tới mức 30% (2023) Những chính sách của Chính phủ, thông qua NHNN, đã có tác động tích cực trong việc kiểm soát tăng trưởng tín dụng Kết quả là, kể từ 2011, cơ cấu tín dụng kinh doanh BĐS trên tổng tín dụng chung dù có biến động nhưng luôn duy trì ở mức thấp hơn 10% Với ước tính đến 40% giá trị xây dựng BĐS được giải ngân trực tiếp từ ngân hàng hoặc thông qua các khoản vay mua nhà (VN direct research, 2017), thị trường BĐS hiện nay đang phụ thuộc rất lớn vào hệ thống tổ chức tín dụng Vì thế, kể từ giai đoạn khủng hoảng 2010 -2013, Chính phủ đã tập trung hơn vào kiểm soát thị trường tín dụng BDS và cố gắng kiềm chế nợ xấu

Hình 2 Dư nợ kinh doanh bất động sản và tỷ trọng trên tổng dư nợ

Trang 6

0

10

20

30

40

50

60

0% 5% 10% 15% 20% 25% 30% 35%

2019 Dư nợ 2018 Dư nợ 2019 Tỷ trọng 2018 Tỷ trọng

Nguồn: Báo cáo tài chính các NHTM Thứ hai, cơ cấu tín dụng dịch chuyển từ nhu cầu kinh doanh sang nhu cầu tiêu dùng, từ phía tạo cung sang phía tạo cầu BĐS

Quan ngại việc dòng vốn tín dụng đổ mạnh vào lĩnh vực bất động sản sẽ tạo nên rủi ro cho nền kinh tế, kể từ 2017, tăng trưởng tín dụng đối với lĩnh vực BĐS đã được NHNN kiểm soát theo hướng giảm dần tỷ trọng cấp tín dụng kinh doanh bất động sản, tăng dần tỷ trọng dư nợ tín dụng tiêu dùng bất động sản, hướng nguồn vốn đến phân khúc nhà ở, đáp ứng nhu cầu thực của người dân Cơ cấu tín dụng BĐS xuất hiện sự đảo chiều từ khoảng cuối năm 2016 Từ chiếm tỷ trọng đến 66% năm 2010, thì đến 2019, tín dụng kinh doanh BĐS chỉ còn chiếm khoảng 32% tổng tín dụng Ngược lại, tỷ trọng tín dụng tiêu dùng BĐS tăng từ 34% tới 68%, trở thành phân khúc cho vay BĐS chủ yếu đối với tổ chức tín dụng Trong 11 tháng đầu năm 2020, dưới ảnh hưởng của dịch Covid, mức tăng trưởng của dư nợ tín dụng bất động sản phục vụ mục đích kinh doanh duy trì mức tăng trưởng khá, trong khi tín dụng bất động sản phục vụ mục đích tự sử dụng giảm so với năm 2019 Dù vậy, tính đến 30/11/2020, tín dụng phục vụ nhà để ở vẫn chiếm tới 65,06% tổng dư nợ (tăng 7% so với 12/2019), còn tín dụng bất động sản kinh doanh tăng 5%, chiếm 34,94% tổng dư nợ tín dụng BĐS

Hình 3 Cơ cấu tín dụng BĐS giai đoạn 2012 - 2019

Trang 7

2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019 44136 0

200 400 600 800 1,000 1,200 1,400 1,600 1,800 2,000

346.1 397.2 466.5

586.3

777.9

1,232.7 1,279.3

1,812.0 1,752.9

Tiêu dùng BĐS Kinh doanh BĐS Tổng dư nợ kinh doanh BĐS

Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Cùng với sự dịch chuyển từ nhu cầu kinh doanh sang tiêu dùng, dòng vốn tín dụng chứng kiến sự dịch chuyển từ phía tạo cung sang phía tạo cầu bất động sản trong giai đoạn 2011-2019 Vốn tín dụng chảy vào thị trường bất động sản Việt Nam

có thể phân chia theo hai nhóm: nhóm vay để tạo cung cho thị trường bất động sản như các công ty kinh doanh bất động sản, nhà đầu tư; nhóm thứ hai vay để tạo nên cầu bất động sản, đại diện là các hộ gia đình Năm 2010, theo báo cáo Báo cáo thống kê của

Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia (UBGSTCQG) và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho thấy trong tổng vốn tín dụng bất động sản 235.276 tỷ đồng (đến tháng 12/2010), thì có 60,63% (142.650 tỷ đồng) dòng vốn tín dụng chảy vào nhóm tạo cung bất động sản, còn lại 39,37% (92.626 tỷ đồng) chảy vào nhóm tạo cầu bất động sản Nguồn vốn tín dụng bơm vào thị trường BĐS theo xu hướng tạo cung nhiều hơn tạo cầu trong một thời gian dài là một trong những nguyên nhân quan trọng tạo ra sự mất cân đối giữa cung và cầu (Lê Hà Diễm Chi, 2014) Đến giai đoạn 2013-2015, với sự khởi đầu của gói cứu trợ 30.000 tỷ đồng, người mua nhà cũng đã được hưởng lợi từ các khoản vay

ưu đãi để được phép sở hữu nhà một cách dễ dàng hơn Cũng kể từ đó, hướng của tín dụng bất động sản cho phía tạo cung và cầu bất động sản có sự đảo chiều Việc các ngân hàng chuyển dịch từ cho vay đối với chủ đầu tư sang cho vay người mua nhà góp phần tăng tính thanh khoản của các dự án bất động sản

Thứ ba, lãi suất trên thị trường giảm Trong đó, lãi suất tại các NHTM nước ngoài thấp nhất, tại các NHTM CP cao nhất, tuy nhiên độ chênh lệch không nhiều.

Kể từ mức 16%/năm – 20%/năm vào 2010 (UBGSTCQG, 2012), lãi suất tín

dụng BĐS đã liên tục giảm trong giai đoạn 10 năm trở lại đây theo đà giảm chung của lãi suất cho vay, nhờ chính sách hạ lãi suất để kích thích tăng trưởng kinh tế của Chính

Trang 8

phủ Dù có xu hướng tăng nhẹ từ giữa 2018, nhưng đến 2019, lãi suất tín dụng BĐS trung bình chỉ ở mức 7-10%/năm, tức là chỉ bằng một nửa so với đỉnh 2010 Đà giảm này tiếp tục mạnh mẽ hơn trong năm 2020, dưới tác động của dịch Covid khiến vốn tại các ngân hàng thương mại gặp dư thừa Kể từ tháng 6/2020, hàng loạt ngân hàng đã đồng loạt gắt giảm lãi suất vay nhà trả góp, đây là mức lãi suất cho vay mua nhà thấp nhất trong vòng 10 năm trở lại đây Tính đến 10/2020, trung bình các ngân hàng đã điều chỉnh giảm lãi suất cố định năm đầu tiên cho khách hàng vay tiền mua nhà so với đầu năm từ 1-2%/năm (Ngân hàng Nhà nước, 2020)

Hình 4 Diễn biến lãi suất cho vay mua nhà 8 tháng đầu năm 2020

(lãi suất ưu đãi 12 tháng, %)

7

8

9

10

11

12

Nguồn: Nhóm nghiên cứu tổng hợp Lãi suất cho vay có sự biến động nhẹ giữa các nhóm ngân hàng, phân thành 3 nhóm chính Trong đó, lãi suất vay mua nhà thấp nhất thuộc về nhóm các ngân hàng

nước ngoài, tiếp đến là các NHTM Nhà nước, cao nhất là các NHTM CP Đây là xu hướng chính đã duy trì trong giai đoạn dài kể từ 2010 Theo số liệu thu thập vào tháng 4/2020, lãi suất vay mua nhà ưu đãi trong 12 tháng tại các ngân hàng nước ngoài như Standard Chartered, Hong Leong Bank…, là 6,79% - 7,99%, và 9 - 10,75% sau ưu đãi Nhóm NHTM Nhà nước có lãi suất ưu đãi khoảng 8%-8,1% và sau ưu đãi là 10,5%-11% Nhóm NHTM CP có mức lãi suất cao nhất, dao động trong khoảng từ 8%-12% trước ưu đãi và từ 11%-12,5% sau ưu đãi

Hình 5 Mặt bằng lãi suất tín dụng BĐS tháng 4/2020 (%)

Trang 9

Nguồn: Tác giả tổng hợp

2 Khuyến nghị chính sách

Dù đã có những bước phát triển nổi bật trong 10 năm trở lại đây, tín dụng bất động sản vẫn cần được tiếp tục giám sát và quản lý chặt chẽ bởi các cơ quan chính phủ Để việc điều hành chính sách tín dụng BĐS được kịp thời, phù hợp, vừa đảm bảo

an toàn hệ thống, vừa tạo động lực phát triển cho thị trường BĐS nói riêng và cho tăng trường kinh tế nói chung, một số khuyến nghị được đề xuất, bao gồm:

Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp lý liên quan đến thị trường bất động sản,

minh bạch hóa các thông tin về quy hoạch, chiến lược phát triển thị trường bất động sản Hiện hoạt động đầu tư xây dựng chịu sự điều chỉnh của khoảng 12 Luật khác nhau

và hàng trăm Nghị định, Nghị quyết của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Thông tư hướng dẫn của các bộ, ngành Nhiều quy định pháp luật về đầu tư, xây dựng, kinh doanh, vận hành bất động sản còn nhiều điểm chồng chéo, mâu thuẫn, bất cập Ngoài

ra, còn thiếu các quy định của pháp luật trong việc điều chỉnh các sản phẩm bất động sản mới xuất hiện trên thị trường như bất động sản du lịch (biệt thự du lịch, căn hộ du lịch, nhà phố du lịch) Chính sự không thống nhất, minh bạch trong các quy định của chính phủ liên quan tới thị trường bất động sản đã tạo ra những rủi ro nhất định đối với việc cấp tín dụng cho thị trường này

Do đó, Bộ Xây dựng cần phối hợp với các bộ ngành có liên quan đề xuất sửa đổi các Luật có liên quan đến thị trường bất động sản, cụ thể: (i) rà soát, chỉnh sửa các quy định của Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản và các Nghị định hướng dẫn,

Trang 10

nhằm đảm bảo sự thống nhất giữa các quy định pháp luật; tháo gỡ vướng mắc cho doanh nghiệp bất động sản, người mua nhà và hệ thống tổ chức tín dụng trong quá trình tham gia cấp tín dụng, cung cấp vốn cho thị trường bất động sản; (ii) Tăng cường công tác truyền thông, công khai minh bạch hoá thông tin thị trường, đặc biệt là thông tin về quy hoạch, các dự án hạ tầng giao thông và BĐS ở các địa phương, chủ động, kịp thời nắm bắt và có biện pháp can thiệp, điều chỉnh phù hợp đối với các thông tin sai lệch trên thị trường

Thứ hai, đa dạng hóa các dòng vốn cho thị trường bất động sản, đặc biệt là

thu hút dòng vốn FDI vào lĩnh vực bất động sản Tuy nhiên cần kiểm soát chặt chẽ hiện tượng người nước ngoài “nấp bóng” người Việt hoặc doanh nghiệp Việt để “mua chiu, thâu tóm” đất đai ở các vị trí “nhạy cảm” có liên quan đến quốc phòng, an ninh như Bộ Quốc phòng đã cảnh báo Hoặc hiện tượng doanh nghiệp có liên hệ mật thiết với các nhà đầu tư nước ngoài, thực hiện “mua góm đất vàng” ở các thành phố lớn, có đáu hiệu đầu cơ đất đai, hoặc tích tụ các quỹ đất lớn tại các vị trí đắc địa Ngoài ra, có thể cân đối, bố trí nguồn vốn từ ngân sách nhà nước hoặc có các giải pháp huy động nguồn vốn phát triển nhà ở xã hội, nhà ở thương mại giá rẻ

Tiếp tục thúc đẩy phát triển thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu và các hình thức huy động vốn khác, tạo nguồn vốn dài hạn cho thị trường bất động sản, giảm

sự phụ thuộc vào nguồn vốn tín dụng; góp phần thúc đẩy thị trường bất động sản và hệ thống ngân hàng phát triển lành mạnh, bền vững

Thứ ba, Xây dựng và hoàn thiện hệ thống thông tin về thị trường bất động sản,

hệ thống quản lý và dự báo về thị trường bất động sản; đảm bảo tính công khai, minh bạch của thị trường bất động sản và phục vụ cho công tác chỉ đạo, điều hành thị trường bất động sản giúp lãnh đạo ra quyết định diều chỉnh và định hướng thị trường bất động sản phát triển bền vững

Tăng cường trao đổi thông tin giữa các Bộ, ngành, tỉnh, thành phố về tình hình thị trường bất động sản; công khai thông tin về quy hoạch, xây dựng, các dự án đủ điều kiện mở bán, thông tin về tài sản thế chấp, tạo điều kiện cho công tác thẩm định cấp tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản

Tài liệu tham khảo

Ngày đăng: 20/09/2021, 14:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w