1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận Triết lí kinh doanh của Tập đoàn sữa Vianmilk

27 52 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 135,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công ty cổ phần sữa Việt Nam ( Vinamilk ) hiện đang là công ty sữa hàng đầu Việt Nam. Với các dòng sản phẩm phong phú, Vinamilk đã dần chiếm lĩnh được thị trường trong nước và không ngừng vươn xxa ra thị trường nước ngoài. Trong hơn 30 năm xây dựng và phát triển công ty cổ phần sữa Việt Nam đã nhân được rất nhiều các giải thưởng lớn, tạo ra được sự phát biệt giữa doanh nghiệp mình với các doanh nghiệp khác. Có được thành tựu này là nhờ công ty đã xác định được mục tiêu, hướng đi đúng đắn với triết lí kinh doanh : “ Vinamilk mong muốn trở thành sản phẩm được yêu thích nhất ở mọi khu vực, lãnh thổ . Chất lượng và sáng tạo là bạn đồng hành của Vinamilk. Vinamilk xem khách hàng là trung tâm và cam kết đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng”.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

VIỆN KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ

o0o BÀI TẬP NHÓM VĂN HOÁ KINH DOANH VÀ TINH THẦN KHỞI

NGHIỆP

Đề

tài : Triết lí kinh doanh của Tập đoàn sữa Vianmilk

GVHD: Th S Nguyễn Quang Chương

Sinh viên thực hiện : Nguyễn Ngọc Toàn

Trang 2

MỤC LỤC

A Lời nói đầu

B Triết lí kinh doanh của Công ty cổ phần sữa Vinamilk

Phần 1 : Cơ sở lí thuyết

1.1 Khái niệm của Triết lí kinh doanh

1.2 Nội dung của triết lí kinh doanh trong doanh nghiệp

1.2.1 Sứ mệnh của doanh nghiệp

1.2.2 Các mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp

1.2.3 Hệ thống các giá trị của doanh nghiệp

1.3 Cách thức xây dựng triết lí kinh doanh của doanh nghiêp.

1.3.1 Những điều kiện cơ bản cho sự ra đời của triết lí doanh nghiệp

1.3.2 Cách thức xây dựng triết lí doanh nghiệp

Phần 2: Triết lí kinh doanh của Công ty cổ phần sữa Vinamilk

2.1 Đặc điểm của triết lí kinh doanh

2.1.1 Triết lí kinh doanh được thể hiện ở các văn bản và nghệ thuật khác nhau 2.1.2 Mục tiêu

2.1.3 Phương pháp thực hiện

2.1.4 Phân tích giá trị, hệ tư tưởng, lí tưởng phấn đấu, nguyên tắc hoạt động,

ddđđịnh hướng tổ chức theo mục tiêu

2.1.5 Tác động của môi trường đến triết lí kinh doanh

2.2 Mối quan hệ giữa triết lý kinh doanh với văn hóa quản lý.

C Kết luận

Trang 3

Lời nói đầu

Xu hướng toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, kinh tế xã hội ngày càng phát triển làm cho sức cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cũng không ngừng tăng lên Muốn tồn tại và phát triển các doanh nghiệp buộc phải thay đổi chiến lược kinh doanh, tìm ra mục tiêu và hướng đi đúng đắn cho mình Trong đó, quan trong là phảiđưa ra được triết lí kinh doanh cho doanh nghiệp mình bởi nó có vai trò như kim chi nam định hướng cho các hoạt động của mỗi doanh nghiệp Triết lí kinh doanh là những tư tưởng triết học phản ánh thực tiễn kinh doanh thông qua con đường trải nghiệm, suy ngâm, khái quát hóa của các chủ thể kinh doanh và chỉ dẫn cho hoạt động kinh doanh ( PGS.TS Đỗ Thị Doan & PGS Đỗ Minh Cường – Triết lí kinh doanh với quản lí doanh nghiệp )

Trong hệ thống tạo nên văn hóa kinh doanh, triết lí kinh doanh giữ vị trí hang đầu

và cũng là vị trí quan trọng quyết định giá trị của tổ chức Trong quá trình thực hiện

hệ triết lí này, khách hàng, đối tác và các nhân viên trong tổ chức sẽ nhận ra những “ đặc sắc, độc đáo “ tạo nên sự khác biệt trong doanh nghiệp

Công ty cổ phần sữa Việt Nam ( Vinamilk ) hiện đang là công ty sữa hàng đầu Việt Nam Với các dòng sản phẩm phong phú, Vinamilk đã dần chiếm lĩnh được thị

trường trong nước và không ngừng vươn xxa ra thị trường nước ngoài Trong hơn 30năm xây dựng và phát triển công ty cổ phần sữa Việt Nam đã nhân được rất nhiều các giải thưởng lớn, tạo ra được sự phát biệt giữa doanh nghiệp mình với các doanh nghiệp khác Có được thành tựu này là nhờ công ty đã xác định được mục tiêu, hướng đi đúng đắn với triết lí kinh doanh : “ Vinamilk mong muốn trở thành sản phẩm được yêu thích nhất ở mọi khu vực, lãnh thổ Chất lượng và sáng tạo là bạn đồng hành của Vinamilk Vinamilk xem khách hàng là trung tâm và cam kết đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng”

Trang 4

Phần 1 Cơ sở lí thuyết

1.1 Khái niệm Triết lí kinh doanh

- Định nghĩa theo vai trò: Triết lí kinh doanh là những tư tưởng chỉ đạo, định hướng, dẫn dắt hoạt động kinh doanh

- Định nghĩa theo cách thức hình thành : Triết lí kinh doanh là những tư tưởng triết học phản ánh thực tiễn kinh doanh qua con đường trải nghiệm, suy ngẫm

và khái quát hóa của các chủ thể kinh doanh và chỉ dẫn cho hoạt động kinh doanh Con đường chung của sự hình thành các triết lí kinh doanh là sự tổng kết kinh nghiệp thực tế để đi đến các tư tưởng triết học về kinh doanh bằng triết lí kinh doanh, tác giả của triết lí kinh doanh thường là những người hoạt động kinh doanh – doanh nhân từng trải

+ Triết lí kinh doanh là một trong những biểu hiện của văn hóa trong hoạt độn kinh doanh Mỗi doanh nhân , mỗi doanh nghiệp cần xây dựng triết lí kinh doanh cho mình như là kim chỉ nam định hướng cho hoạt động kinh doanh đạt được mụcđích theo đuổi

+ Triết lí kinh doanh rất phong phú và nhiều loại khác nhau Dựa vào quy mô của các chủ thể kinh doanh- quy mô tổ chức người- có thể chia các triết lí kinh doanh làm 3 loại cơ bản :

1 Triết lí áp dụng cho các cá nhân kinh doanh

2 Triết lí cho các tổ chức kinh doanh, chủ yếu là triết lí về quản lí của doanh nghiệp

3 Triết lí vừa có thể áp dụng cho các cá nhân vừa có thể áp dụng cho các tổ chức kinh doanh

1.2 Nội dung triết lí kinh doanh của doanh nghiệp

Thông thường, triết lý kinh doanh của doanh nghiệp gồm ba nội dung chính sau: sứ mệnh, mục tiêu của doanh nghiệp và hệ thống các giá trị của doanh

nghiệp

1.2.1 Sứ mệnh của doanh nghiệp

- Thế nào là bản tuyên bố sứ mệnh (sứ mệnh) hay bản tuyên bố nhiệm vụ của

doanh nghiệp?

Một văn bản triết lý doanh nghiệp thường bắt đầu bằng việc nêu ra sứmệnh của doanh nghiệp hay còn gọi là tôn chỉ, mục đích của nó Đây là phần nộidung có tính khái quát cao, giàu tính triết học Sứ mệnh kinh doanh là một bảntuyên bố “lý do tồn tại” của doanh nghiệp, còn gọi là quan điểm, tôn chỉ, tín điều,nguyên tắc, mục đích kinh doanh của doanh nghiệp Sứ mệnh là phát biểu của

Trang 5

doanh nghiệp mô tả doanh nghiệp là ai, doanh nghiệp làm những gì, làm vì ai vàlàm như thế nào.

Bản tuyên bố sứ mệnh hay còn gọi là bản tuyên bố nhiệm vụ phải xác định những

gì mà doanh nghiệp (tổ chức) đang phấn đấu vươn tới trong thời gian lâu dài Về

cơ bản, bản tuyên bố nhiệm vụ xác định phương hướng chỉ đạo của tổ chức vànhững mục đích độc đáo làm cho doanh nghiệp đó khác biệt với các doanh nghiệptương tự khác

Sứ mệnh thể hiện vai trò quan trọng của nó ở việc xác định phương hướng củadoanh nghiệp một cách quán triệt và truyền tải ý nghĩa đó tới tất cả các thành viêncủa tổ chức ở mọi cấp, từ đó giúp cho các thành viên có định hướng rõ ràng và gắnkết công việc của họ với phương hướng của tổ chức Thông thường, bản tuyên bố

sứ mệnh xác định lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp, nêu rõ tầm nhìn và thểhiện các giá trị pháp lý, đạo đức kinh doanh cơ bản

- Các yếu tố cơ bản khi xây dựng sứ mệnh

(1) Lịch sử : Mọi tổ chức cho dù lớn hay nhỏ đều có một lịch sử về các mục tiêu, thành tích, sai lầm và chính sách Vì vậy, nghiên cứu lịch sử của tổ chức trước

khi xây dựng bản tuyên bố sứ mệnh sẽ cho phép thấy được những đặc điểm và sự

kiện quan trọng trong quá khứ cần lưu ý khi xây dựng định hướng chiến lược

tương lai

(2) Những năng lực đặc biệt: Một tổ chức có thể làm được nhiều việc, tuy

nhiên nó phải nhận diện được điểm mạnh nổi trội của mình làm việc gì tốt nhất.

Những năng lực đặc biệt là những gì mà một tổ chức làm tốt đến mức trên thực tếchúng tạo ra một lợi thế hơn các tổ chức tương tự

(3) Môi trường: Môi trường của tổ chức quyết định những cơ hội, những

hạn chế và những mối đe dọa, do vậy cần nhận dạng trước khi xây dựng bản tuyên

bố sứ mệnh

- Đặc điểm của một bản tuyên bố sứ mệnh (bản tuyên bố nhiệm vụ)

(1) Tập trung vào thị trường chứ không phải sản phẩm cụ thể: Những

doanh nghiệp xác định nhiệm vụ theo sản phẩm họ làm ra gặp trở ngại khi sản

phẩm và công nghệ bị lạc hậu, nhiệm vụ đã đặt ra không còn thích hợp và tên củanhững tổ chức đó không còn mô tả được những gì họ làm ra nữa Vì vậy, một đặc

Trang 6

trưng cơ bản của bản tuyên bố sứ mệnh tập trung vào một lớp rất rộng các nhucầu mà tổ chức đang tìm cách thỏa mãn, chứ không phải vào sản phẩm vật chấthay dịch vụ mà tổ chức đó hiện đang cung cấp.

(2)Khả thi: Bản tuyên bố sứ mệnh đòi hỏi doanh nghiệp phải luôn nỗ lực và

phấn đấu để đạt được nhiệm vụ đã đặt ra, tuy nhiên những nhiệm vụ này cũng

phải mang tính hiện thực và khả thi Nói cách khác, nó phải mở ra một tầm nhìntới những cơ hội mới, nhưng không được dẫn dắt doanh nghiệp vào những cuộcphiêu lưu không hiện thực vượt quá năng lực của nó

(3) Cụ thể: Bản tuyến bố sứ mệnh phải cụ thể và xác định phương hướng,

phương châm chỉ đạo để ban lãnh đạo lựa chọn các phương án hành động, không

được quá rộng và chung chung Đồng thời, sứ mệnh của doanh nghiệp cũng khôngnên xác định quá hẹp Điều đó có thể kìm chế sự phát triển của doanh nghiệptrong tương lai

1.2.2 Các mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp

Sứ mệnh của doanh nghiệp thường được cụ thể hóa bằng các mục tiêu chính,

có tính chiến lược của nó Các mục tiêu là những điểm cuối của nhiệm vụ củadoanh nghiệp; mang tính cụ thể và khả thi cần thực hiện thông qua các hoạt độngcủa doanh nghiệp Việc xây dựng các mục tiêu cơ bản rất có ý nghĩa đối với sựthành công và tồn tại lâu dài của doanh nghiệp Những mục tiêu này thường tậptrung ở các vấn đề như: vị thế của doanh nghiệp trên thị trường, những sự đổimới, năng suất, các nguồn tài nguyên vật chất và tài chính, khả năng sinh lời,thành tích và trách nhiệm của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp, thành tích và thái

độ của công nhân và trách nhiệm xã hội

- Đặc điểm của các mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp:

(3) Thiết lập thứ tự ưu tiên lâu dài trong doanh nghiệp

Tạo thuận lợi cho việc kiểm tra quản trị, bởi những mục tiêu cơ bản chính lànhững tiêu chuẩn để đánh giá thành tích chung của toàn tổ chức

Trang 7

1.2.3 Hệ thống các giá trị của doanh nghiệp

Giá trị của một doanh nghiệp là những niềm tin căn bản thường khôngđược nói ra của những người làm việc trong doanh nghiệp Hệ thống các giá trịcủa doanh nghiệp xác định thái độ của doanh nghiệp với những người sở hữu,những nhà quản trị, đội ngũ những người lao động, khách hàng và các đối tượnghữu quan Những con người cụ thể dù là lãnh đạo hay người lao động đều cónghĩa vụ thực hiện triệt để các giá trị đã được xậy dựng Những giá trị này baogồm:

- Những nguyên tắc của doanh nghiệp (ví dụ như chính sách xã hội, các chính sách đối với khách hàng)

Mỗi công ty thành đạt đều có các giá trị văn hóa của nó Các giá trị này đượcsắp xếp theo một thang bậc nhất định tùy thuộc vào tầm quan trọng của nó tạonên một hệ thống các giá trị của công ty Khái niệm giá trị ở đây được hiểu lànhững phẩm chất, năng lực tốt đẹp có tính chuẩn mực mà mỗi thành viên cũngnhư toàn công ty cần phấn đấu để đạt tới và phải bảo vệ, giữ gìn Các giá trị vừa

có tính pháp quy vừa có tính giáo quy, song tính giáo quy – định hướng và giáodục bằng văn hóa có vai trò quan trọng hơn Hệ thống giá trị là cơ sở để quy định,xác lập nên các tiêu chuẩn về đạo đức trong hoạt động của công ty Nói đơn giảnhơn, nó là một bảng các tiêu chuẩn đạo đức trong kinh doanh của công ty

Trong một nền văn hóa thì hệ thống các giá trị là thành phần cốt lõi của nó

và là cái rất ít biến đổi Các doanh nghiệp kinh doanh có văn hóa đều có đặc điểmchung là đề cao nguồn lực con người, coi trọng các đức tính trung thực, kinhdoanh chính đáng, chất lượng, như là những mục tiêu cao cả, cần vươn tới Đóchính là những giá trị chung của lối kinh doanh có văn hóa phù hợp với đạo lý xãhội Đó cũng chính là những chuẩn mực chung định hướng cho các hoạt động củatất cả các thành viên trong một doanh nghiệ

Trang 8

1.3 Cách thức xây dựng triết lý kinh doanh của doanh nghiệp

1.3.1 Những điều kiện cơ bản cho sự ra đời của triết lý doanh nghiệp

- Điều kiện về cơ chế pháp luật

Triết lý kinh doanh là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa, thậm trí có từ nềnkinh tế tự sản tự tiêu.Triết lý doanh nghiệp là sản phẩm của nền kinh tế thịtrường; nó ra đời khi nền kinh tế thị trường đã trải qua giai đoạn sơ khai, đến giaiđoạn phát triển, xuất hiện tính chất cạnh tranh công bằng thì cũng xuất hiện nhucầu về lối kinh doanh hợp đạo lý, có văn hóa đối với các doanh nghiệp

Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, các hoạt động kinh tế thiếu tính kinhdoanh nên không có nhu cầu hoạt động kinh doanh và quản lý doanh nghiệp, dovậy triết lý kinh doanh và triết lý doanh nghiệp không xuất hiện trong giai đoạnnày

Thể chế kinh tế thị trường được xây dựng tương đối hoàn thiện tạo ra điềukiện cạnh tranh công bằng, minh bạch sẽ khuyến khích các doanh nghiệp kinhdoanh có văn hóa, có triết lý tốt đẹp, cao cả

- Điều kiện về thời gian hoạt động của doanh nghiệp và kinh nghiệm của người lãnh đạo

Các doanh nghiệp độc lập (khác với công ty con của các tập đoàn lớn) trongnhững tháng năm đầu tiên chưa đặt ra vấn đề về triết lý kinh doanh Thời gian đó,

do mới thành lập, doanh nghiệp thường xuyên phải đối mặt với thách thức có tồntại được hay không và gặp phải những khó khăn chồng chất

Một số doanh nghiệp sau khi qua giai đoạn đầu buộc phải tìm cách phát huymọi nguồn lực của mình để phát triển; cùng với việc đẩy mạnh, mở rộng đầu tư,phát triển công nghệ và nâng cao hiệu suất, nó cũng cần xác định bản sắc văn hóacủa mình, trong đó có vấn đề triết lý doanh nghiệp Khi doanh nghiệp tồn tại, pháttriển lâu dài, số nhân viên của nó càng nhiều hơn thì vấn đề văn hóa kinh doanh vàtriết lý kinh doanh của nó càng trở nên cấp bách hơn

Các nhà sáng lập và lãnh đạo doanh nghiệp có vai trò quyết định đối với việctạo lập một triết lý doanh nghiệp cụ thể Bản thân những người này cũng cần cókinh nghiệm và thời gian để phát hiện các tư tưởng về quản trị doanh nghiệp vàcần thêm nhiều thời gian nữa để kiểm nghiệm, đánh giá về giá trị của các tư tưởngnày trước khi có thể công bố trước nhâ viên Kinh nghệm, “độ chín” của các tư

Trang 9

tưởng kinh doanh và quản lý doanh nghiệp là yếu tố chủ quan song không thểthiếu đối với việc tạo lập một triết lý doanh nghiệp.

- Điều kiện về bản lĩnh và năng lực của người lãnh đạo doanh nghiệp

Triết lý doanh nghiệp là sản phẩm của một doanh nghiệp nhưng các ý tưởng cơbản của nó bao giờ cũng xuất phát từ người sáng lập và lãnh đạo doanh nghiệp.Các nhà lãnh đạo doanh nghiệp đòi hỏi phải thực sự có văn hóa, trí tuệ, lòng dũngcảm và tài năng bởi bản chất của văn hóa kinh doanh nói chung và triết lý kinhdoanh nói riêng là làm cho cái lợi gắn với cái đúng, cái tốt và cái đẹp Nhân cách vàphong thái của nhà sáng lập doanh nghiệp thường được in đậm trong sắc thái củatriết lý doanh nghiệp

Trong nhân cách của nhà doanh nghiệp thì các yếu tố bản lĩnh và phẩm chấtđạo đức có tác động trực tiếp tới sự ra đời và nội dung của triết lý kinh doanh do

họ đề xuất Nếu một nhà kinh doanh kém năng lực thì sẽ không có cơ hội rút racác triết lý kinh doanh Trường hợp khác, nếu nhà doanh nghiệp có năng lực kinhdoanh, thậm chí giỏi cả về quản lý, song nếu không dám hoặc không muốn nói lênquan điểm cá nhân, chủ kiến của bản thân về công việc kinh doanh của công ty thìcũng không có được triết lý của công ty

Trường hợp lý tưởng nhất cho triết lý doanh nghiệp ra đời, về phía chủ thểkinh doanh, là người lãnh đạo vừa có năng lực vừa có đủ bản lĩnh và nhiệt tìnhtruyền bá những nguyên tắc, giá trị của mình tới mọi nhân viên Trong thực tế,những nhà quản trị doanh nghiệp này có phong thái như một nhà truyền giáo, rấtsay sưa với sứ mệnh và có niềm tự hào về truyền thống thành đạt của công tytheo một triết lý đặc thù của doanh nghiệp đó

Tuy nhiên, khi nói về năng lực của người lãnh đạo cũng cần kể đến năng lựckhái quát hóa và năng lực trình bày tư tưởng kinh doanh của họ Bên cạnh nhữngngười “nói được nhưng không làm được” còn có số người “làm được nhưngkhông nói được”, trong trường hợp này, sự trình bày của triết lý doanh nghiệpluôn đòi hỏi sự ngắn gọn, khúc triết và dễ hiểu Triết lý doanh nghiệp là sản phẩmcủa những người làm (kinh doanh) giỏi và nói, viết giỏi

- Điều kiện về sự chấp nhận tự giác của đội ngũ cán bộ, công nhân viên

Trang 10

Tuy tác giả của triết lý doanh nghiệp thuộc về tầng lớp lãnh đạo, quản lý,nhưng nó chỉ thực sự là triết lý kinh doanh chung của doanh nghiệp khi được toànthể nhân sự (cán bộ, công nhân viên) trong doanh nghiệp đó tự nguyện, tự giácchấp nhận.

Muốn vậy các cấp lãnh đạo phải thực hiện nguyên tắc nói đi đôi với làm,phải gương mẫu và kiên trì trong việc thực hiện triết lý trước nhân viên Mọi triết

lý doanh nghiệp do bộ phận lãnh đạo ban hành một cách cưỡng bức hoặc quá vộivàng sẽ không có giá trị, nó chỉ tồn tại về mựt hình thức Muốn làm được điều nàythì nội dung của bản triết lý, trong phần mục tiêu, các giá trị và phương thức hoạtđộng của nó, phải đảm bảo được lợi ích của tầng lớp người lao động, chứ khôngchỉ lợi ích của tầng lớp quản lý và các nhà đầu tư; nó phải khẳng định được rằngcác lợi ích mà nhân viên thu được sẽ tỷ lệ thuận với sự đóng góp của họ và nhờvậy, công ty sẽ có một tương lai lâu dài, tươi sáng

Tính đồng thuận của đội ngũ cán bộ, công nhân viên đối với sự ra đời và nộidung của triết lý doanh nghiệp sẽ cao hơn nếu mọi người có quyền thảo luận,tham gia vào việc xây dựng văn bản này Nói khác đi, quá trình hoàn thiện văn bảntriết lý doanh nghiệp phải diễn ra công khai, dân chủ mở rộng Yêu cầu này có liênquan tới điều kiện 3 đã nói trên: Muốn có sự đồng thuận của nhân viên đối vớitriết lý thì những tác giả đầu tiên của nó – bộ phận lãnh đạo, quản lý donah nghiệp– phải có đủ uy tín và chiến được lòng tin, tình cảm quý trọng của những ngườicòn lại trong công ty Như vậy, doanh nghiệp cần có một môi trường bên tronglành mạnh và nền văn hóa doanh nghiệp tốt đẹp

Trang 11

1.3.2 Cách thức xây dựng triết lý doanh nghiệp

Việc xây dựng triết lý kinh doanh, với tư cách là tài sản tinh thần của doanhnghiệp không phải là một điều dễ dàng mà nó phải là sự nỗ lực của người lãnh đạo

và các thành viên của doanh nghiệp Thông thường, triết lý kinh doanh của doanhnghiệp có thể hình thành theo ba cách:

(1) Triết lý kinh doanh được hình thành dần từ kinh nghiệm kinh doanh

Đây là con đường hình thành triết lý của hầu hết các doanh nghiệp lớn cótruyền thống lâu đời và tiếp tục thành đạt cho đến hôm nay Đây là triết lý kinhdoanh do những người sáng lập (hoặc lãnh đạo) doanh nghiệp sau một thời giandài làm kinh doanh và quản lý đã từ kinh nghiệm, từ thực tiễn thành công nhấtđịnh của doanh nghiệp đã rút ra triết lý kinh doanh cho doanh nghiệp Họ đã kiểmnghiệm rồi đi đến một sự tin tưởng rằng doanh nghiệp của họ cần có một cươnglĩnh, một cách thức kinh doanh riêng và việc truyền bá, phát triển cương lĩnh, cáchthức này là yếu tố rất quan trọng để tiếp tục thành công; cần phải có một triết họcquản lý được thể hiện bằng văn bản, gửi đến tất cả các nhân viên như một vănbản đạo lý giáo dục cho tất cả cán bộ nhân viên trong doanh nghiệp

(2)Triết lý kinh doanh được tạo lập theo kế hoạch của Ban lãnh đạo

Ở một số doanh nghiệp, do nhận thức được vai trò của văn hóa kinh doanh,

có nhu cầu cấp thiết phải xây dựng triết lý kinh doanh, người chủ doanh nghiệphoặc bộ phận chuyên trách sẽ soạn thảo triết lý kinh doanh của doanh nghiệp, sau

đó lấy ý kiến đóng góp của tập thể thành viên của doanh nghiệp để hoàn thiện

Theo cách này, người chủ doanh nghiệp hoặc bộ phận soạn thảo sẽ nghiêncứu toàn diện các đặc trưng nổi bật của doanh nghiệp, các giá tị cốt lõi mà doanhnghiệp theo đuổi, các quan niệm về đạo đức, các nguyên tắc kinh doanh, mục tiêucủa doanh nghiệp Sau đó, họ có thể tập hợp thành văn bản và gửi xuống cácphòng ban, các đơn vị trực thuộc để khuyến khích mọi người thảo luận, góp ýhoàn chỉnh Những vấn đề thống nhất sẽ được phê chuẩn và ban hành để mọingười thực hiện Thông qua thảo luận, góp ý kiến của mọi người, triết lý kinhdoanh sẽ trở nên hoàn thiện dần và tạo được sự nhất trí cao, dễ được mọi ngườichấp nhận và hoàn thiện Tuy nhiên, triết lý kinh doanh được soạn thảo theo sốđông có thể sẽ thiếu tính độc đáo, sâu sắc Phương pháp này thường áp dụng ở

Trang 12

các doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Tây, rút ngắn được thờigian xây dựng.

(3) Xây dựng triết lý kinh doanh bằng cách mời chuyên gia tư vấn, là những người am hiểu và có kinh nghiệm xây dựng văn hóa doanh nghiệp

Để có thể tư vấn xây dựng triết lý kinh doanh cho doanh nghiệp, các chuyêngia sẽ đến tìm hiểu về các hoạt động của doanh nghiệp, tìm hiểu phong cách lãnhđạo, định hướng giá trị của doanh nghiệp, lắng nghe tâm tư, tình cảm của lãnhđạo doanh nghiệp và của cả các thành viên của doanh nghiệp

Sau đó, dựa trên kiến thức và kinh nghiệm đã có, các chuyên gia sẽ đưa ramột số phương án để doanh nghiệp lựa chọn bằng cách thảo luận giữa nhữngngười trong ban lãnh đạo của doanh nghiệp hoặc tham khảo ý kiến rộng rãi củacác thành viên trong doanh nghiệp

1.4 Các hình thức thể hiện của triết lý doanh nghiệp

Hình thức tồn tại của văn bản triết lý kinh doanh rất phong phú đa dạng Triết lý kinh doanh được thể hiện bằng nhiều hình thức và mức độ khác nhau

- Có nhiều văn bản triết lý doanh nghiệp được in ra trong các cuốn sách nhỏphát cho nhân viên; có thể là một văn bản nêu rõ thành từng mục; một số doanhnghiệp chỉ có triết lý kinh doanh dưới dạng một vài câu khẩu hiệu chứ khôngthành văn bản Thậm chí có công ty còn rút gọn triết lý của mình trong một chữ

Có khi là một bài hát hoặc bộ luật đạo lý, có khi là một công thức, có khi thể hiệnqua những chiến lược chính của doanh nghiệp, có khi được trình bày qua các quytắc của công ty

Một văn bản triết lý doanh nghiệp đầy đủ thường bao gồm cả sứ mệnh, hệthống mục tiêu, hệ thống giá trị của doanh nghiệp, ngoài ra, nó còn thêm phần nộidung giải đáp những thắc mắc của nhân viên liên quan tới việc thực hiện các hành

vi phù hợp với giá trị và chuẩn mực (đạo đức) của doanh nghiệp Văn bản triết lýdoanh nghiệp như trên được in thành một cuốn sách riêng; trong khi đó, một sốdoanh nghiệp chỉ nêu một số nội dung triết lý của nó như phần sứ mệnh, mụctiêu, các giá trị và in liền các nội dung này trong cuốn Sổ tay nhân viên

- Tính chất triết học của văn bản triết lý doanh nghiệp không chỉ khác nhaugiữa các công ty mà còn khác nhau giữa các phần nội dung của một bản triết lý.Thông thường, phần nội dung sứ mệnh – mục đích và các giá trị là những phần có

Trang 13

độ đậm đặc về triết lý nhiều nhất, song cũng có những văn bản có tính triết họcnhiều ở phần phương thức thực hiện.

- Độ dài của văn bản triết lý cũng rất khác nhau giữa các chủ thể công ty và điều này cong phụ thuộc vào nền văn hóa dân tộc của họ

- Văn phong của các bản triết lý doanh nghiệp thường giản dị mà hùng hồn,ngắn gọn mà sâu lắng, dễ hiểu và dễ nhớ Để tạo ấn tượng, có công ty nêu triết lýkinh doanh nhấn mạnh vào tính độc đáo, khác thường của mình Triết lý công tynhư vậy giống như các thông điệp quảng cáo

1.5 Vai trò của triết lý doanh nghiệp trong quản lý và phát triển doanh nghiệp

- Triết lý doanh nghiệp là cốt lõi của văn hóa doanh nghiệp, tạo ra phương thức phát triển bền vững của nó

Văn hóa doanh nghiệp là cơ sở đảm bảo cho một doanh nghiệp kinh doanh

có văn hóa và bằng phương thức này, nó có thể phát triển một cách bền vững

Văn hóa doanh nghiệp gồm nhiều yếu tố cấu thành, mỗi thành tố của vănhóa doanh nghiệp có một vị trí, vai trò khác nhau trong một hệ thống chung.Trong đó, hạt nhân của nó là các triết lý và hệ giá trị

Do vạch ra sứ mệnh – mục tiêu, phương thức thực hiện mục tiêu, một hệthống các giá trị có tính pháp lý và đạo lý, chủ yếu là giá trị đạo đức của doanhnghiệp nên triết lý doanh nghiệp tạo nên một phong thái văn hóa đặc thù của

doanh nghiệp Nói gọn hơn, triết lý doanh nghiệp là cốt lõi của phong cách –

phong thái của doanh nghiệp đó.

Triết lý doanh nghiệp là cái ổn định, rất khó thay đổi, nó phản ánh cái tinhthần – ý thức của doanh nghiệp ở trình độ bản chất, có tính khái quát, cô đọng và

hệ thống hơn so với các yếu tố ý thức đời thường và tâm lý xã hội Một khi đãphát huy được tác dụng thì triết lý doanh nghiệp trở thành ý thức luận và hệ tư

tưởng chung của doanh nghiệp, bất kể có sự thay đổi về lãnh đạo Dó đó, triết lý

doanh nghiệp là cơ sở bảo tồn phong thái và bản sắc văn hóa của doanh nghiệp.

Triết lý doanh nghiệp ít hiện hữu với xã hội bên ngoài; nó là tài sản tinh thầncủa doanh nghiệp, là cái tinh thần “thấm sâu vào toàn thể doanh nghiệp, từ đó

Ngày đăng: 19/09/2021, 21:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w