Ở Việt Nam, nhận thức về thực hiện đạo đức kinh doanh để xây dựng thương hiệu cho doanh nghiệp chưa thực sự đầy đủ, từ đó dẫn đến việc vi phạm đạo đức kinh doanh ở những mức độ khác nhau. Vậy các doanh nghiệp phải xây dựng đạo đức kinh doanh như thế nào? Và các doanh nghiệp ở Việt Nam đang xây dựng đạo đức kinh doanh cho doanh nghiệp mình ra sao. Để trả lời cho các câu hỏi đó chúng ta cùng nhau tìm hiểu về chủ đề”: Đạo đức kinh doanh ở các doanh nghiệp hiện nay mà cụ thể là đạo đức kinh doanh của Công ty cổ phần Sữa Việt Nam Vinamilk.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
Trang 2và đạo đức kinh doanh Quan niệm chung trên thế giới hiện nay đều khẳng định rằng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong môi trường toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế chính là cạnh tranh về văn hóa, trong đó đạo đức kinh doanh, trách nhiệm xã hội là một yếu tố có ý nghĩa quyết
định Như vậy, đạo đức kinh doanh và thương hiệu của doanh nghiệp có sự gắn bó hữu cơ với nhau Trong hoạt động của mình, doanh nghiệp cần có ý thức rõ ràng về sự gắn bó hữu cơ này để tạo động lực cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp Đạo đức kinh doanh trở thành một yếu tố tạo ra sự khác biệt, tính thân thiện của một doanh nghiệp đối với cộng đồng, khách
hàng Với doanh nghiệp, lợi nhuận là mục đích quan trọng Nhưng thực tế đã chứng minh
rằng lợi nhuận doanh nghiệp gắn liền với đạo đức, mức độ tăng lợi nhuận gắn với mức độ tăng đạo đức Vì vậy đạo đức kinh doanh có vai trò vô cùng quan trọng, khi không hiểu được vai trò của đạo đức kinh doanh, không có ý thức xây dựng đạo đức kinh doanh thì doanh nghiệp sẽ rất khó thành công Ở Việt Nam, nhận thức về thực hiện đạo đức kinh doanh để xây dựng thương hiệu cho doanh nghiệp chưa thực sự đầy đủ, từ đó dẫn đến việc vi phạm đạo đức kinh doanh ở những mức độ khác nhau Vậy các doanh nghiệp phải xây dựng đạo đức kinh doanh như thế nào? Và các doanh nghiệp ở Việt Nam đang xây dựng đạo đức kinh doanh cho doanh nghiệp mình ra sao Để trả lời cho các câu hỏi đó chúng ta cùng nhau tìm hiểu về chủ đề”: Đạo đức kinh doanh ở các doanh nghiệp hiện nay mà cụ thể là đạo đức kinh doanh của Công ty cổ phần Sữa Việt Nam Vinamilk
Trang 3Phần 1: Cơ sở lý thuyết về văn hóa kinh doah của doanh nghiệp Vinamilk
1.1 Khái niệm văn hóa kinh doanh
Văn hóa là những giá trị, thái độ hành vi giao tiếp được đa số thành viên của một nhóm người cần chia sẻ và phân định nhóm này với nhóm khác Văn hóa là quá trình thích nghi với môi trường, quá trình học hỏi, hình thành thói quen, lối ứng xử của con người Theo
đó, văn hóa kinh doanh là lối ứng xử của cá nhân, tổ chức làm kinh tế với tất cả những gì liên quan, phù hợp với xu thế thời đại Do vậy, theo nghĩa hẹp có thể hiểu:
Văn hóa kinh doanh là một hệ thống các giá trị, chuẩn mực các quan niệm hành vi do chủ thể kinh doanh tạo ra trong quá trình kinh doanh, được thể hiện trong cách ứng xử của họ với xã hội, với tự nhiên ở một công đồng hay một khu vực
Bản chất của văn hóa kinh doanh là làm cho cái lợi gắn bó chặt chẽ với cái dụng, cái tốt
và cái đẹp Văn hóa kinh doanh là một phương diện của văn hóa xã hội, kinh doanh có văn hóa đòi hỏi chủ thể của nó không chỉ đạt được mục tiêu lợi nhuận cá nhân mà còn mang đến cái lợi, cái thiện, cái đẹp cho khách hàng, đối tác và xã hội
Văn hóa kinh doanh được cấu thành bởi các yếu tố chính là triết lí kinh doanh, đạo đức kinh doanh, văn hóa doanh nhân, văn hóa doanh nghiệp và văn hóa ứng xử trong hoạt động kinh doanh
1.2 Các đặc trưng của văn hóa kinh doanh
- Tính tập quán: hệ thống các giá trị của văn hóa kinh doanh sẽ quy định những hành
vi được chấp nhận hay không được chấp nhận trong một hoạt động hay môi trường kinh doanh cụ thể
- Tính cộng đồng: kinh doanh bao gồm một hệ thống các hoạt động có tính chất đặc trưng với mục tiêu và lợi nhuận của chủ và các nhu cầu đáp ứng của khách hàng, kinh doanh không thể tồn tại do chính bản thân nó mà phải dựa vào sự tạo dựng, tác động qua lại và củng cố của mọi thành viên tham gia trong quá trình hoạt động Do
đó, văn hóa kinh doanh - thuộc tính vốn có của kinh doanh- sẽ là sự quy ước chung cho các thành viên trong cộng đồng kinh doanh
Trang 4- Tính dân tộc: tính dân tộc là một đặc trưng tất yếu của văn hóa kinh doanh, vì bản thân văn hóa kinh doanh là một tiểu văn hóa nằm trong văn hóa dân tộc và mỗi chủ thể kinh doanh đều thuộc về một dân tộc cụ thể với một phần nhân cách tuân theo các giá trị của văn hóa dân tộc
- Tính khách quan: mặc dù văn hóa kinh doanh là sự thể hiện qua điểm chủ quan cửa từng chủ thể kinh doanh, nhưng do được hình thành trong cả một quá trình với sự tác động của nhiều nhân tố bên ngoài như xã hội, lịch sử, hội nhập nên văn hóa kinh doanh tồn tại khách quan ngay với chính chủ thể kinh doanh
- Tính kế thừa: cũng giống như văn hóa, văn hóa kinh doanh là sự tích tụ của tất cả các hoàn cảnh Trong quá trình kinh doanh mỗi thế hệ sẽ cộng thêm các đặc trưng riêng biệt của mình vào hệ thống văn hóa kinh doanh trước khi truyền lại cho thế hệ sau Thời gian qua đi, những cái cũ có thể bị loại trừ nhưng sự sàng lọc tích tụ qua thời gian sẽ làm cho các gái trị của văn hóa kinh doanh trở nên giàu, có phong phú và tinh khiết hơn
- Tính học hỏi: có những giá trị văn hóa kinh doanh không thuộc về văn hóa dân tộc hay văn hóa xã hội và cùng không phải do các nhà lãnh đạo sáng lập ra Những giá trị đó có thể dược hình thành từ kinh ngiệm xử lí các vấn đề, từ kết quả của quá trình nghiên cứu thị trường, nghiêm cứu đối thủ cạnh tranh hoặc được tiếp nhận trong quá trình giao lưu với nền văn hóa khác Tất cả các giá trị đó được tạo nên bởi tinh thần học hỏi của văn hóa kinh doanh
- Tính tiến hóa: kinh doanh rất sôi động và luôn luôn thay đổi, do đó, văn hóa kinh doanh với tư cách là bản sắc của chủ thể kinh doanh cũng luôn tự điểu chỉnh cho phù hợp với trình độ kinh doanh và tình hình mới Đặc biệt trong thời đại hội nhập, việc giao thoa các sắc thái kinh doanh của các chủ thể khác để trao đổi và tiếp thu các gái trị tiến bộ là điều tất yếu
1.3 Vai trò của văn hóa kinh doanh
Dưới ảnh hưởng của mỗi nền văn hóa mà nhân cách, đạo đức, niềm tin thái độ, hệ thống các giá trị Ở mỗi người, mỗi doanh nghiệp, mỗi tổ chức được hình thành và phát triển
Do đó, phong cách cùng phương pháp quản trị ở mỗi chủ thể kinh doanh nói riêng sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp bởi những nên văn hóa mà họ thuộc về Cùng với đó, tình cảm gia
Trang 5đình, sự hiểu biết xã hội, trình độ học vấn, cũng sẽ chi phối việc soạn thaoe chiến lược sách lược kinh doanh ở mỗi chủ thể kinh doanh
1.3.1 Văn hóa kinh doanh là phương thức phát triển sản xuất kinh doanh bền vững Thứ nhất, động cơ khiến cho các nhà kinh doanh kiếm lợi nhuận không chỉ là các nhu cầu sinh lí và bản năng mà nó còn do các nhu cầu cấp cao hơn (hay có tính văn hóa hơn) đó là nhu cầu mong muốn được xã hội tôn trọng, mong muốn được tự thể hiện và sáng tạo Thứ hai, lợi nhuận dù quan trọng - song không phải là vật chuẩn và vật hướng dẫn duy nhất đối với hoạt động kinh doanh, vì lợi nhuận ra còn có pháp luật và văn hóa điều chỉnh
Từ hai lí do trên ta thấy kinh doanh và văn hóa có mối quan hệ biện chứng với nhau trong
đó kinh doanh có văn hóa là lối kinh doanh có mục đích và theo phương thức cùng đạt tới cái lợi, cái thiện, cái đẹp, và trái với nó là lối kinh doanh phi văn hóa sẵn sàng chà đạp lên mọi giá trị và không từ bất kì thủ đoạn nào để kiếm lời
1.3.2 Văn hóa kinh doanh là nguồn lực phát triển kinh doanh
Thứ nhất, trong tổ chức và quản lí kinh doanh
Vai trò của văn hóa thể hiện sự lựa chọn phương hướng kinh doanh, sự hiểu biết về sản phẩm dịch vụ, về những mối quan hệ giữa người với người trong tổ chức, về việc biết tuân theo các quy tắc và quy luật của thị trường; ở việc phát triển và bảo hộ những hàng hóa có bản sắc văn hóa dân tộc Ngoài ra văn hóa kinh doanh còn được thể hiển thông qua việc hướng dẫn và định hướng tiêu dùng; thông qua chỉ đạo, tổ chức, hướng dẫn một phong cách văn hóa trong kinh doanh
Thứ hai, văn hóa trong giao lưu, giao tiếp kinh doanh
Văn hóa kinh doanh hướng dẫn toàn bộ hoạt động giao lưu, giao tiếp trong kinh doanh Đặc biệt là trong mối quan hệ giữa mua và bán, khi giao tiếp với khách hàng, chúng ta có những lời chào và lời nói tế nhị, nhã nhặn và lịch sự, có những dịch vụ hậu mãi thích hợp thì sẽ tạo được những mối quan hệ lâu dài với khách hàng và lúc này văn hóa kinh doanh thực sự trở thành nguồn lực vô cùng quan trọng đối với chủ thể kinh doanh trong quá trình hoạt động Ngoài ra, trong thái độ với đối tác làm ăn, với đối thủ cạnh tranh mà có văn hóa thì chúng ta sẽ tạo ra được môi trường cạnh tranh lành mạnh, tạo ra các cơ hội cho sự tồn tại và phát triển lâu dài
Trang 6Thứ ba, văn hóa trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội của chủ thể kinh doanh
Trước hết, trách nhiệm xã hội của chủ thể kinh doanh là sự gánh vác tự nguyện những nghĩa vụ, trách nhiệm vượt lên trên những trách nhiệm về kinh tế pháp lý và thỏa mãn được những mong muốn của xã hội Kinh doanh không chỉ chú trọng đến lợi nhuận đơn thuần mà còn phải quan tâm thích đáng đến trách nhiệm xã hội của các chủ thể kinh doanh
Mặt khác trách nhiệm xã hội của các chủ thể kinh doanh còn là việc chi phối từ khâu xây dựng kế hoạch, hình thành chiến lược kinh doanh, chiến lược phát triển đến việc tổ chức kinh doanh và phân phối lợi nhuận, tham gia các hoạt động xã hội tự thiện, bảo vệ môi trường sinh thái
1.3.3 Văn hóa kinh doanh là đẩy mạnh kinh doanh quốc tế
Khi trao đổi thương mại buôn bán quốc tế đương nhiên sẽ tạo cơ hội tiếp xúc giữa các nên văn hóa khác nhau của các nước Và việc hiểu văn hóa của quốc gia đến kinh doanh
là một điều kiện quan trọng của thành công trong kinh doanh quốc tế Quốc gia bán hàng
và dịch vụ, trên chừng mực nào đó đưa văn hóa của mình đến nước đó và đồng thời cũng phải có sự hiểu biết nhất định về văn hóa của nước sở tại như phong tục tập quán để trên
cơ sở đó có nhũng phương diện tiếp xúc khi giao dịch, khi đàm phán thương mai phù hợp với nền văn hóa của quốc gia đó
PHẦN 2: ĐẠO ĐỨC KINH DOANH
2.1 Khái niêm đạo đức kinh doanh
Nghiên cứu về đạo đức là một truyền thống lâu đời của xã hội loài người, bắt nguồn từ những niềm tin về tôn giáo, văn hóa và tư tưởng triết học Đạo đức là tập hợp các nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh, đánh giá hành vi của con người đối với bản thân và trong mối quan hệ với người khác, với xã hội Trong đó các chuẩn mực đạo đức bao gồm: độ lượng, khiêm tốn, dũng cảm, chính trực, tín, thiện…
Nhiều nước trên thế giới từ lâu đã chú trọng vấn đề đạo đức kinh doanh Đạo đức kinh doanh xuất phát từ thực tiễn kinh doanh Ở phương Tây Đạo đức kinh doanh xuất phát từ những tín điều trong tôn giáo: sự trung thực, sự sẻ chia…Những năm 70s trở thành vấn đề được nghiên cứu, giảng dạy liên quan đến hối lộ, quảng cáo lừa gạt, an toàn sản phẩm… Đạo đức kinh doanh
là một loại đạo đức nghề nghiệp, tuy nhiên, vì gắn với yếu tố kinh doanh, lợi nhuận nên đạo đức kinh doanh có những đặc thù riêng Các nhà nghiên cứu như Phillip V Lewis, Ferrels và John
Trang 7Fraedrich đã đưa ra nhiều quan điểm về vấn đề đạo đức kinh doanh Giáo sư Phillip V Lewis, sau khi đúc rút từ 185 định nghĩa khác nhau về đạo đức kinh doanh, đã đưa ra định nghĩa: “Đạo đức kinh doanh là tất cả những quy tắc, tiêu chuẩn, chuẩn mực đạo đức hoặc luật lệ để cung cấp chỉ dẫn về hành vi ứng xử chuẩn mực và sự trung thực (của một tổ chức) trong những trường hợp nhất định”
Có nhiều định nghĩa về đạo đức kinh doanh, tuy nhiên có thể hiểu đơn giản và định nghĩa khái quát như sau:
Đạo đức kinh doanh là tập hợp các nguyên tắc, chuẩn mực có tác dụng điều chỉnh, đánh giá, hướng dẫn và kiểm soát hành vi của các chủ thể kinh doanh Theo nghĩa rộng thì đó là tất cả những ai là chủ thể của các quan hệ và hành vi kinh doanh: doanh nhân, khách hàng và các chủ thể khác có liên quan
Đạo đức kinh doanh là một dạng đạo đức nghề nghiệp: Đạo đức kinh doanh có tính đặc thù của hoạt động kinh doanh – do kinh doanh là hoạt động gắn liền với các lợi ích kinh tế, do vậy khía cạnh thể hiện trong ứng xử về đạo đức không hoàn toàn không hoàn toàn giống các hoạt động khác: Tính thực dụng, sự coi trọng hiệu quả kinh tế là nhứng đức tính tốt của giới kinh doanh nhưng nếu áp dụng sang lĩnh vực khác như giáo dục, y tế hoặc sang các quan hệ xã hội
khácnhư vợ chồng, cha mẹ con cái thì đó lại là nhừng thói xấu bị xã hội phê phán Song cần lưu
ý rằng đạo đức kinh doanh vẫn luôn phải chịu sự chi phối bởi một hệ giá trị và chuẩn mực đạo đức xã hội chung
2.2 Các nguyên tắc và chuẩn mực của đạo đức kinh doanh
Nền đạo đức kinh doanh có những nguyên tắc, chuẩn mực và đặc trưng riêng của nó Khi đánh giá đạo đức kinh doanh người ta thường dựa vào các nguyên tắc và chuẩn mực về:
Trang 8quyền sở hữu trí tuệ, nhãn mác và xuất xứ hàng hóa Chủ thể kinh doanh phải chấp hành nghiêm luật pháp của Nhà nước, theo đó doanh nghiệp, doanh nhân không trốn thuế, lậu thuế, sản xuất kinh doanh những mặt hàng quốc cấm
- Tôn trọng con người
Đối với những cộng sự, những người làm trong đơn vị kinh doanh của mình một sự biết
ơn, tôn trọng phẩm giá, quyền lợi chính đáng, quan tâm đúng mức, tạo điều kiện phát triển, tôn trọng quyền tự do và các quyền hạn hợp pháp khác
Đối với khách hàng: tôn trọng sở thích, nhu cầu và tâm lí khách hàng
Đối với công ty đối thủ cạnh tranh: sòng phẳng, tôn trọng lợi ích của đối thủ, tạo không khí hợp tác và cạnh tranh lành mạnh
Gắn lợi ích của doanh nghiệp với lợi ích của khách hàng và xã hội
Lợi ích cộng đồng ở đây phải được tính đến cả về trước mắt và lâu dài Vì vậy, việc hoạch định chiến lược kinh doanh và mở rộng kinh doanh phải đảm bảo lợi ích chung của cộng đồng trên cả phương diện lợi ích vật chất lẫn lợi ích tinh thần, cả về chất lượng sản phẩm lẫn vấn đề đảm bảo môi trường sinh thái cho cộng đồng
- Bí mật và trung thành với các trách nhiệm đặc biệt
Thực hiện nguyên tắc này chính là đảm bảo sự phát triển bền vững cho doanh nghiệp trong kinh doanh
2.3 Vai trò của đạo đức kinh doanh
Thực tế cho thấy mức độ phát triển bền vững của doanh nghiệp phụ thuộc vào đạo đức kinh doanh và sự tăng trưởng về lợi nhuận thu được gắn liền với việc thực hành đạo đức kinh doanh Đạo đức kinh doanh như một bộ phận cấu thành quan trọng nhất của văn hóa kinh doanh, là yếu tố nền tảng tạo nên sự tin cậy của đối tác, khách hàng và người tiêu dùng đối với doanh nghiệp
- Góp phần điều chỉnh hành vi của các chủ thể kinh doanh
Đạo đức kinh doanh là tổng hợp những quy tắc, luật lệ có tác dụng điều chỉnh, kiểm soát hành vi của con người mà cụ thể ở đây là các chủ thể kinh doanh Chính vì vậy, đạo đức kinh doanh có vai trò quan trọng giúp định hướng con người không làm những việc sai trái,
vi phạm pháp luật cũng như làm trái với chuẩn mực đạo đức của con người
- Góp phần làm tăng chất lượng hoạt động của doanh nghiệp
Trang 9Một doanh nghiệp có chất lượng sẽ tạo được sự tin tưởng cho khách hàng cũng như các đối tác làm việc Bởi lẽ, khách hàng thường có xu hướng lựa chọn những công ty có uy tín, chất lượng hơn là những công ty làm ăn không rõ ràng cho dù chất lượng cũng như giá cả của sản phẩm, dịch vụ công ty bạn có thể cũng chỉ ngang bằng so với các đối thủ khác trong cùng ngành
Đối với các nhà đầu tư, họ cũng sẽ ưu tiên hợp tác, làm việc với các công ty có đạo đức kinh doanh Bởi lẽ, các nhà đầu tư tin rằng, đạo đức kinh doanh quyết định trực tiếp đến hiệu quả và lợi nhuận kinh doanh của doanh nghiệp
- Góp phần vào làm tăng sự cam kết và tận tâm của nhân viên với công việc
Một nhân viên luôn có xu hướng gắn bó, tận tâm với công ty hơn khi họ tin rằng lợi ích của họ gắn liền với lợi ích của doanh nghiệp đồng thời nhận được sự tin tưởng, quan tâm đối đãi phù hợp từ cấp trên Những sự quan tâm đó được thể hiện ở việc tạo môi trường làm việc năng động, an toàn; trả thù lao hợp lý cũng như thực hiện đúng theo những điều
đã ghi trong hợp đồng lao động Khi mà môi trường đạo đức trong công ty được thực hiện cũng sẽ thúc đẩy đội ngũ công nhân viên làm việc hăng say, tăng năng suất lao động Chính vì vậy, đạo đức kinh doanh là sợi dây liên kết vững chắc nhất giữa nhà quản lý và người lao động, thúc đẩy tinh thần làm việc và tăng năng suất
- Làm cho khách hàng hài lòng
- Tạo ra lợi nhuận bền vững cho doanh nghiệp
Một công ty có đạo đức kinh doanh sẽ tạo được lòng tin đối với khách hàng nên sẽ bán được nhiều sản phẩm, dịch vụ hơn, từ đó thu về lợi nhuận cũng sẽ tốt hơn Mặt khác, đối với các công ty đã niêm yết trên thị trường chứng khoán, đạo đức kinh doanh cũng ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị cổ phiếu Trong trường hợp thị trường có biến động thì những công ty có đạo đức kinh doanh cũng có thể thu về lợi nhuận tốt do đạt được sự tín nhiệm từ phía khách hàng và các nhà đầu tư
- Góp phần làm tăng uy tín, sự vững mạnh của thương hiệu quốc gia
Tại sao đạo đức kinh doanh lại ảnh hưởng đến sự vững mạnh của quốc gia? Tại sao các nhà đầu tư lại có xu hướng đầu tư vào nền kinh tế của nước này thay vì nước khác? Một trong những lý do quan trọng ảnh hưởng đến quyết định đó chính là đạo đức kinh doanh Một nền kinh tế có thể chế chính trị rõ ràng, trung thực, sự phát triển về kinh tế đem lại những lợi ích về xã hội, không có tham nhũng tạo niềm tin cho các nhà đầu tư trong và
Trang 10ngoài nước Từ đó mà nền kinh tế chung của đất nước cũng ngày càng phát triển vững mạnh
Chúng ta vẫn thường được nghe rằng: “Gieo suy nghĩ gặt hành động, gieo hành động gặt thói quen, gieo thói quen gặt tính cách, gieo tính cách gặt số phận” Và trong kinh doanh cũng vậy Chính vì vậy, nếu là chủ doanh nghiệp dù mới thành lập hay đang trên đà phát triển thì đừng quên rằng hãy xây dựng cho công ty mình một chuẩn mực đạo đức kinh doanh phù hợp để đưa công ty ngày càng tiến xa hơn trong nền kinh tế toàn cầu này nhé
PHẦN 3: THỰC TRẠNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA VIỆT NAM - VINAMILK
- Tăng trưởng doanh thu ổn định & biên lợi nhuận gộp cao (trên 47%/năm)
- Tình hình tài chính lành mạnh: Hệ số nợ/tổng tài sản và tình hình nợ vay thấp, làm giảm áp lực tài chính
- Tỷ lệ cổ tức bằng tiền mặt ổn định và cao (dao động 40-50%/năm)
- Tiềm năng phát triển:
+ Mở rộng thị phần miền Bắc sau khi sáp nhập với GTN
+ Triển vọng thị trường xuất khẩu năm 2020 khả quan (nhờ thị trường Trung Đông & Trung Quốc)
+ Triển vọng ngành sữa vẫn khá tiềm năng do mức tiêu thụ sữa trên đầu người ở VN còn thấp
+ Nhu cầu đối với sản phẩm sữa có giá trị cao đựợc dự báo tăng mạnh
+ Giá sữa nguyên liệu có xu hướng giảm
3.2 Tình hình hoạt động kinh doanh
3.2.1 Sản phẩm và thị phần
Trang 11- Vinamilk là công ty sữa lớn nhất Việt Nam với thị phần là hơn 50% trong ngành sữa Việt Nam
- Sản phẩm của Vinamilk khá đa dạng với các dòng sản phẩm: sữa nước, sữa bột, bột dinh dưỡng, sữa chua ăn/uống, thức uống năng lượng và nước giải khát, sữa đặc & kem… •
- Hệ thống phân phối của Vinamilk rộng khắp cả nước với hơn 200 nhà phân phối bao phủ 251,000 điểm bán lẻ Hiện có trên 3,250 siêu thị và cửa hàng tiện lợi trên toàn quốc bán các sản phẩm Vinamilk Sản phẩm của Vinamilk được xuất khẩu trực tiếp đến 53 nước trên thế giới
3.2.2 Nguyên liệu và hệ thống sản xuất công nghệ
- Năm 2006, Vinamilk là doanh nghiệp tiên phong phát triển trang trại bò sữa với quy mô công nghiệp hiện đại bậc nhất lúc bấy giờ với tổng số tiền đầu tư lên đến 500 tỷ đồng Toàn bộ hệ thống trang trại được xây dựng khép kín, tự động hóa với giống bò được tuyển chọn kỹ lưỡng nhằm đem đến năng suất sữa cao nhất Toàn bộ bò sữa của Vinamilk đều là giống HF thuần chủng được nhập khẩu từ Úc, Mỹ, và New Zealand
- Tính đến cuối năm 2019, Vinamilk sở hữu 12 trang trại chuẩn Global Gap với tổng đàn bò sữa đạt 130,000 con Công ty cũng đang xây dựng trang trại đầu tiên có quy mô 8,000 con thuộc Tổ hợp trang trại bò sữa Lao-Jagro tại Lào với quy mô 24,000 con (giai đoạn 1) Việc sở hữu 75% cổ phần của CTCP GTNFoods cũng giúp Vinamilk có quyền chi phối tại CTCP Sữa Mộc Châu với đàn bò 25,000 con tại cao nguyên Mộc Châu có thổ nhưỡng rất phù hợp với chăn nuôi bò sữa Quy mô đàn bò Mộc Châu tăng trưởng bình quân 14%/năm
và năng suất bình quân đạt 25 lít sữa/con/ngày
Dự kiến trong quý 2/2020, công ty hoàn thiện và đưa vào hoạt động trang trại bò sữa Quảng Ngãi Công ty cũng dự kiến khởi công xây dựng thêm các trang trại bò sữa tại Đồng Nai, Cần Thơ và Lào
Tập trung các sản phẩm có biên lợi nhuận gộp cao hơn
3.3 Nghĩa vụ của công ty
Trách nhiệm xã hội của một doanh nghiệp là những nghĩa vụ một doanh nghiệp phải thực hiện nhằm đạt được nhiều nhất những tác động tích cực và hạn chế đến mức thấp nhất những tác động tiêu cực đối với xã hội