1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TRIẾT LÝ KINH DOANH, CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA SABECO

22 259 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 193,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Triết lý kinh doanh có vai trò to lớn trong hoạt động kinh doanh hiện nay. Nó giúp cho doanh nghiệp có được định hướng rõ ràng về hoạt động, đồng thời là hình ảnh của doanh nghiệp trong khách hàng và khẳng định mình trước đối thủ cạnh tranh. Triết lý kinh doanh ngày càng được xã hội hóa và mang tính khả thi hơn. Với VietinBank, Ngân hàng đã xây dựng cho mình một triết lý kinh doanh để khẳng định thương hiệu và bản sắc riêng có, triết lý kinh doanh của VietinBank mang nội dung phù hợp với xu hướng phát triển chung của ngành ngân hàng trong tương lai.Trong quá trình xây dựng triết lý kinh doanh của mình tuy còn một vài hạn chế song SABECO có thể xem là đã bước đầu thành công khi đã xây dựng được trong lòng khách hàng hình ảnh một ngân hàng hiện đại, tiện ích, hiệu quả cao, đáng tin cậy mà vẫn luôn thân thiện với khách hàng. Đây chính là một trong các yếu tố quan trọng góp phần cho sự phát triển bền vững của SABECO cả trong hiện tại và tương lai.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

VIỆN KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ

- -BÁO CÁO MÔN: VĂN HÓA KINH DOANH VÀ TINH THẦN KHỞI NGHIỆP

ĐỀ TÀI: TRIẾT LÝ KINH DOANH, CHIẾN LƯỢC KINH

DOANH CỦA SABECOGiảng viên: ThS Nguyễn Quang Chương

Mã lớp: 125504 Học kỳ: 20202

Người thực hiện: Dương Tùng Lâm 20191545

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Triết lý kinh doanh là lý tưởng, là phương châm hành động, là hệ giá trị và mục tiêu chung của doanh nghiệp chỉ dẫn cho hoạt động kinh doanh, nhằm làm cho doanh nghiệp đạt hiệu quả cao trong kinh doanh Triết lý kinh doanh cũng là cốt lõi của văn hóa doanh nghiệp, nó đề ra các mục tiêu và phương pháp mà cộng đồng nhân viên trong doanh nghiệp phải đạt tới Một kế hoạch mang tính chiến lược bắt đầu với việc xác định một triết lý kinh doanh rõ ràng Triết lý kinh doanh được xem là bước chuẩn bị đầu tiên trong quản lý của doanh nghiệp Vì vậy, trong môi trường cạnh tranh khốc liệt, mỗi doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển cần phải

có triết lý kinh doanh vững mạnh Trong giới hạn bài viết này em xin được đề cập đến các vấn đề như sau:

Phần 1: Lý luận chung về triết lý và triết lý kinh doanh

Phần 2: Triết lý kinh doanh của Công ty cổ phần bia rượu nước giải khát Sài Gòn-SABECO

PHẦN 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRIẾT LÝ VÀ TRIẾT LÝ KINH DOANH

I Triết lý

Khái niệm triết lý có quan hệ chặt chẽ với khái niệm triết học nhưng lại không hoàn toàn trùng nhau Vào thời kỳ cổ đại, triết học bao gồm toàn bộ tri thức của nhân loại Đến thời cận đại, triết học được coi là “khoa học của mọi khoa học”.

Trang 3

Triết học Mac vào thế kỷ XIX - triết học chỉ nghiên cứu vấn đề có tính thế giới quan Ngày nay, triết học là một môn khoa học về những nguyên lý, quy luật phổ biến của cả tự nhiên, xã hội, tư duy Nói một cách tổng quát, triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy Dù phương Đông hay phương Tây, người ta đều quan niệm triết học là đỉnh cao của trí tuệ, là sự nhận thức sâu sắc về thế giới, nắm bắt được chân lý, hiểu được bản chất của sự vật hiện tượng Nếu triết học là lý luận (khách quan) thì triết lý chỉ là lý lẽ chủ quan, do vậy sự đúng sai có thể do góc nhìn Nếu triết học hình thành do nghiên cứu thì triết lý do trải nghiệm trong cuộc sống nhằm ứng phó tối ưu với thực tiễn Tùy góc độ, một thực tiễn có thể sinh nhiều triết lý.

Sự hình thành một triết lý thường có ý thức, nhưng cũng có thể vô thức Nếu lý luận triết học khó thay đổi thì triết lý có thể thay đổi rất nhanh khi thực tiễn thay đổi Các triết lý xuất hiện, phát triển và hoạt động trong đời sống xã hội và cá nhân, mỗi yếu tố đều hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp liên hệ với nhau Trong các triết lý đã thể hiện những quan niệm khác nhau về các yếu tố cơ bản và các mặt của hoạt động sống của con người Những quan niệm ấy ẩn chứa bên trong các nội dung, chương trình, phương thức hoạt động chung của xã hội và được cụ thể hóa bằng những quan niệm cụ thể hơn, định hướng cho hoạt động của các cá nhân và cộng đồng Về mục đích, triết học và triết lý đều là cơ sở định hướng cho hoạt động thực tiễn, hướng dẫn cho con người sống và hoạt động tốt hơn Tuy nhiên, triết học và triết lý vẫn tồn tại những điểm khác nhau nhưngcó mối quan hệ mật thiết với nhau thể hiện ở những khía cạnh sau:

Thứ nhất, về phạm vi khách thể, triết lý hẹp hơn triết học, nó là tư tưởng triết học ứng dụng trong một phạm vi nhất định của hiện thực có liên quan mật thiết đến đời sống con người.Xét trên nhiều khía cạnh, triết lý luôn ở tầm thấp hơn so với triết học, song nó chính là chất liệu của triết học.

Trang 4

Thứ hai, triết lý là những tư tưởng chưa được khái quát thành quy luật phổ biến như triết học mà được rút ra từ lĩnh vực hoạt động cụ thể của cuộc sống.Vì vậy, trong hoạt động thực tiễn sản xuất kinh doanh, hoạt động chính trị - xã hội có thể rút ra triết lý Chúng ta có thể thấy triết lý phát triển của một quốc gia, triết lý của một tổ chức, triết lý sống, triết lý quản lý, triết lý Marketing, triết lý kinh doanh, triết lý tuyển dụng nhân sự…

Thứ ba, xét về mặt lịch sử và văn minh thì triết lý có trước triết học.Các triết

lý có thể hoạt động và phát triển cả ở bên ngoài các hệ thống triết học, nhưng chúng lại vốn có trong các nền văn hóa mà ở đó chưa có những hình thức phát triển của các hệ thống triết học.

Thứ tư, triết lý là cái riêng, triết học là cái chung, triết lý phong phú hơn, biến đổi nhanh hơn so với triết học.

Thứ năm, triết học thiên về chức năng nhận thức, triết lý thiên về chức năng cải tạo.

Thứ sáu, khác với các hệ thống triết học bác học do các nhà tư tưởng, các nhà khoa học hoàn toàn xác định tạo ra, các triết lý, thường là vô danh, xuất hiện

và tồn tại trong các hình thức khác nhau Không thể xác định được chính xác thời gian ra đời của một triết lý cụ thể nào đó Nhưng có thể xác định được tác giả và thời gian xuất hiện của một hệ thống triết học cụ thể Những triết lý, những cái phong phú và đa dạng đó tồn tại lâu đời trong cuộc sống, nhưng chúng chỉ có thể tồn tại bên cạnh nhau, phản ánh các mặt, các quá trình cụ thể của đời sống xã hội

mà không thể tạo thành một hệ thống triết học có kết cấu logic bên trong, như một

lý thuyết hay hệ thống lý luận triết học Chúng không thể có tính khái quát cao và tính hệ thống chặt chẽ như các hệ thống triết học bác học.

Trang 5

II Triết lý kinh doanh

Triết lý kinh doanh là những tư tưởng có tính triết học mà chủ thể kinh doanh hình thành để hướng dẫn tư duy và hành động cho toàn thể các thành viên trong tổ chức Triết lý kinh doanh bắt nguồn từ thực tiễn cuộc sống, từ quá trình hoạt động sản xuất – kinh doanh… được con người tổng kết và rút ra những tư tưởng chủ đạo như là những nguyên tắc về đạo lý và phương pháp quản lý để dẫn dắt hành vi Triết lý kinh doanh thường thể hiện qua lý do tồn tại và các quan điểm hành động, liên quan đến các bộ phận chức năng, các đơn vị trong tổ chức Chẳng hạn trong quản trị nhân sự, quan điểm có tính triết lý như: “Con người là tài sản quý nhất của tổ chức”, nếu nhà quản trị hay chủ doanh nghiệp có quan điểm như vậy, họ luôn biết cách thu hút, sử dụng, đãi ngộ con người một cách hợp lý, giữ được lao động giỏi lâu dài Hoặc trong quản trị marketing, tư tưởng: “Khách hàng

là yếu tố quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp” là một trong những quan điểm dẫn dắt hành vi các thành viên của doanh nghiệp trong các mối quan hệ với khách hàng, họ luôn tìm cách đáp ứng tốt các nhu cầu và mong muốn của khách hàng để giữ được khách hàng lâu dài…

Như vậy, khi hình thành triết lý kinh doanh, các nhà quản trị chiến lược của

tổ chức đều xuất phát từ những lý do cơ bản như: Họ muốn tuyên bố lý do tồn tại của tổ chức, muốn khẳng định đặc trưng nổi bật của tổ chức này so với tổ chức khác về đạo lý kinh doanh và về biện pháp hành động, họ muốn phát triển và thành công lâu dài.

III Đặc điểm của triết lý kinh doanh

Triết lý kinh doanh chỉ nảy sinh trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh giữa nhiều thành phần kinh tế và các chủ thể kinh doanh khác nhau Triết lý kinh doanh được hình thành dần từ kinh nghiệm kinh doanh, nghĩa là những người

Trang 6

thành lập doanh nghiệp, sau một thời gian dài làm kinh doanh và quản lý, đã từ kinh nghiệm rút ra triết lý kinh doanh, hoặc là ngay thời kỳ đầu mới thành lập, những người lãnh đạo doanh nghiệp đã chủ động xây dựng triết lý làm định hướng phát triển Triết lý kinh doanh thường bao gồm ba bộ phận cơ bản có quan hệ mật thiết với nhau: Mục tiêu của doanh nghiệp; Phương thức hoạt động; Quan hệ của doanh nghiệp với môi trường kinh tế xã hội, nghĩa vụ chung của doanh nghiệp và nguyên tắc của thành viên trong doanh nghiệp Triết lý kinh doanh chứa đựng những chuẩn mực, giá trị, hệ tư tưởng, lý tưởng phấn đấu và nguyên tắc hành động của các thành viên, định hướng mọi người theo một mục tiêu đã đặt ra Triết lý kinh doanh tuy rất bền vững nhưng vẫn có thể thay đổi cho phù hợp với môi trường kinh doanh và đời sống.

IV Vai trò của triết lý kinh doanh trong quản trị doanh nghiệp:

1 Triết lý kinh doanh là cốt lõi của văn hóa doanh nghiệp

Triết lý kinh doanh là cốt lõi của văn hóa doanh nghiệp, tạo nên sự phát triển bền vững cho doanh nghiệp Để thấy được vai trò của triết lý kinh doanh trong văn hóa doanh nghiệp, trước hết phải hiểu thế nào là văn hoá kinh doanh và triết lý kinh doanh.Văn hoá kinh doanh là toàn bộ các nhân tố văn hoá được chủ thể kinh doanh chọn lọc, tạo ra, sử dụng và biểu hiện trong hoạt động kinh doanh tạo nên bản sắc kinh doanh của chủ thể đó Văn hoá kinh doanh bao gồm các yếu tố: triết lý kinh doanh, đạo đức kinh doanh, văn hoá doanh nhân, và các hình thức văn hoá khác Trong đó, Triết lý kinh doanh là những tư tưởng triết học phản ánh thực tiễn kinh

doanh thông qua con đường trải nghiệm, suy ngẫm và khái quát hoá của chủ thể kinh doanh.Từ đó, ta hiểu triết lý kinh doanh là lý tưởng, là phương châm hành động, là hệ giá trị và mục tiêu chung của doanh nghiệp chỉ dẫn cho hoạt động, nhằm làm cho doanh nghiệp đạt hiệu quả cao trong kinh doanh Triết lý kinh doanh

là cốt lõi của phong cách – phong thái của doanh nghiệp đó Triết lý kinh doanh ít

Trang 7

hiện hữu với xã hội bên ngoài, nó là tài sản tinh thần của doanh nghiệp, là cái tinh thần “thấm sâu vào toàn thể doanh nghiệp, từ đó hình thành sức mạnh thống nhất”,

tạo ra một hợp lực hướng tâm chung Do vậy, triết lý kinh doanh là công cụ tốt nhất của doanh nghiệp dể thống nhất hành động của người lao động trong một sự hiểu biết chung về mục đích và giá trị Triết lý kinh doanh góp phần tạo nên văn hóa doanh nghiệp, là yếu tố có vai trò quyết định trong việc thúc đẩy và bảo tồn nền văn hóa này, qua đó góp phần tạo nên một phần nội lực mạnh mẽ từ doanh nghiệp Triết lý kinh doanh có vị trí quan trọng nhất trong số các yếu tố hợp thành văn hóa doanh nghiệp.

2 Triết lý kinh doanh là công cụ định hướng

Triết lý kinh doanh là công cụ định hướng và là cơ sở để quản lý chiến lược của doanh nghiệp Triết lý kinh doanh thể hiện quan điểm chủ đạo của những người sáng lập về sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Đồng thời, triết lý kinh doanhcũng thể hiện vai trò như kim chỉ nam định hướng cho doanh nghiệp, các bộ phận cũng như các cá nhân trong doanh nghiệp Tính định tính, sự trừu tượng của triết lý kinh doanh cho phép doanh nghiệp có sự linh hoạt nhiều hơn trong việc thích nghi với môi trường đang thay đổi và các hoạt động bên trong Nó tạo ra sự linh động trong việc thực hiện, sự mềm dẻo trong kinh doanh Nó chính là một hệ thống các nguyên tắc tạo nên cái “dĩ bất biến ứng vạn biến” của doanh nghiệp Sự trung thành với triết lý kinh doanh còn làm cho nó thích ứng với những nền văn hóa khác nhau ở các quốc gia khác nhau Triết lý kinh doanh là cơ sở để quản lý chiến lược của doanh nghiệp Nó là cơ sở văn hóa để doanh nghiệp đưa ra những quyết định quản lý quan trọng, có tính chiến lược, trong những tình huống mà sự phân tích kinh tế lỗ - lãi vẫn chưa giải quyết được.

Trang 8

3 Triết lý kinh doanh là một phương tiện để giáo dục

Phát triển nguồn nhân lực và tạo ra một phong cách làm việc đặc thù của doanh nghiệp Triết lý kinh doanhcung cấp các giá trị, chuẩn mực hành vi nhằm tạo nên một phong cách làm việc chung của doanh nghiệp, đậm đà bản sắc văn hóa của doanh nghiệp Với việc vạch ra lý tưởng và mục tiêu kinh doanh (thể hiện rõ ở phần sứ mệnh), triết lý kinh doanh giáo dục cho công nhân viên chức đầy đủ về lý tưởng, về công việc và trong một môi trường văn hóa tốt, nhân viên sẽ tự giác hoạt động, phấn đấu vươn lên, ở họ có lòng trung thành và tinh thần lao động hết mình

vì doanh nghiệp Do triết lý kinh doanh đề ra một hệ giá trị đạo đức chuẩn làm căn

cứ đánh giá hành vi của mọi thành viên nên nó có vai trò điều chỉnh hành vi của nhân viên qua việc xác định bổn phận nghĩa vụ của mỗi thành viên đối với doanh nghiệp Trong triết lý của các công ty ưu tú, những đức tính tốt như: trung thực,

liêm chính, tính đồng đội và sẵn sàng hợp tác, tôn trọng cá nhân, tôn trọng kỷ luật… thường được nêu ra Nhờ có hệ thống giá trị được tôn trọng, triết lý kinh doanhcó tác dụng bảo vệ nhân viên của doanh nghiệp, những người dễ bị thương tổn, thiệt thòi khi người quản lý của họ lạm dụng chức quyền Ngoài ra, triết lý kinh doanhcòn có vai trò to lớn trong việc tuyên truyền sứ mệnh của mình tới khách hàng, để họ hiểu, tin và nhớ về doanh nghiệp với những nét đặc trưng nhất Triết lý kinh doanh cũng chính là thông điệp mà doanh nghiệp muốn gửi tới khách hàng của mình Để minh chứng cho những lý giải trên, em xin đi sâu vào phân tích Triết lý kinh doanh của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (VietinBank) ở Phần 2 của Tiểu luận này.

PHẦN 2: TRIẾT LÝ KINH DOANH CỦA SABECO

I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CTY BIA-RƯỢU-NGK SÀI GÒN SABECO

Trang 9

_Lịch sử phát triển của Sabeco gắn liền với quá trình phát triển mạnh mẽ và bền vữngcủa thương hiệu bia Sài Gòn, thương hiệu dẫn đầu của Việt Nam

_01/06/1977 Cty Rượu Bia Miền Nam chính thức tiếp nhận và Quản ly Nhà máy BiaChợ Lớn từ hãng BGI và hình thành nên nhà máy bia Sài Gòn

_Năm 1993 phát triển thành Công ty Bia Sài Gòn với 5 thành viên mới

_Đến năm 2004 Thành lập Tổng công ty Bia-Rượu-NGK Sài Gòn ,SABECO chuyểnsang tổ chức và hoạt động theo mô hình Công ty mẹ-công ty con theo quyết định số37/2004/QĐ-BCN của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp

_Năm 2006 Hoàn chỉnh hệ thống phân phối trên toàn quốc với 8 Công ty CPTMSABECO khu vực

_Hiện nay Tổng công ty Bia-Rượu-NGK Sài Gòn SABECO có tổng cộng 28 thànhviên

Lĩnh vực kinh doanh:

_Sản xuất, mua bán bia rượu, nước giải khát, cồn, nước khoáng…

_Mua bán vật tư, nguyên liệu, thiết bị ngành bia-rượu-nước giải khát.

_Hiện nay đang đầu tư vào lĩnh vực Tài chính, Bất động sản

II PHÂN TÍCH MÔI TR ƯỜNG KINH DOANH

1 MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ:

1.1Các yếu tố kinh tế:

 Trong giai đoạn hiện nay nền kinh đang chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tàichính thế giới, người tiêu dùng có khuynh hướng tiết kiệm, họ sẽ chi tiêu ít hơn cho tất cảcác mặt hàng trong đó có nước giải khát,điều này gây khó khăn cho công ty đặc biệt làđối với dòng sản phẩm bia, rượu vì đây không phải là những mặt hàng thiết yếu

 Hàng chục năm nay, chưa bao giờ các doanh nghiệp lại phải đối mặt với việc giá

cả tăng đột biến và khó kiểm soát như những tháng đầu năm 2008 Đối với Sabeco, ảnhhưởng của lạm phát cùng với sự tăng giá mạnh mẽ của các loại hình dịch vụ, đặc biệt là

40 mặt hàng nguyên vật liệu chính đầu vào phục vụ cho sản xuất kinh doanh đã dẫn đếnchi phí vận chuyển cũng bị tăng khiến cho hoạt động sản xuất của Tổng công ty gặp rấtnhiều khó khăn Bên cạnh việc tăng giá của các nguyên liệu đầu vào phục vụ cho sảnxuất kinh doanh, tình hình tăng giá sắt, thép, xi măng, cùng việc tăng lãi xuất ngân hàng

đã ảnh hưởng lớn đến tiến độ thực hiện các dự án đầu tư của Sabeco

Trang 10

 Việt Nam gia nhập vào Tổ chức thương mại thế giới (WTO) mở ra cơ hội nhưngcũng mang lại không ít khó khăn cho các doanh nghiệp Việt Nam và ngành nước giảikhát cũng không ngoại lệ khi phải cạnh tranh gay gắt với các công ty nước ngoài có nănglực mạnh về thương hiệu,tài chính,công nghệ và trình độ quản lý.

1.2 Các yếu tố chính trị:

 Việt Nam có nền chính trị tương đối ổn định so với các nước nên việc phát triểnkinh doanh cúa Sabeco cung không gặp khó khăn gì so với một số doanh nghiệp tại cácnước khác

 Hệ thống luật pháp ở nước ta còn một số điểm chưa rõ ràng nên cũng ảnh hưởngnhiều đến việc bảo vệ bản quyền cũng như những công ty cạnh tranh không lành mạnhtác động xấu đến việc phát triển của công ty

 Tình hình thiên tai bão lũ gây khó khăn cho công tác vận chuyển từ nơi sản xuấtđến nơi tiêu thụ

1.4Yếu tố công nghệ:

Trong thời buổi cạnh tranh như ngày nay, chất lượng sản phẩm là yếu tố cơ bản bắt buộcdoanh nghiệp nào cũng phải có nếu muốn tồn tại Do vậy, để có thể thành công,phải taonên sự khác biệt vượt trội Sử dụng công nghệ sản xuất hiện đại sẽ giúp doanh nghiệp đạtđược mục tiêu trên Việc đầu tư công nghệ,kỹ thuật tiên tiến trên thế giới sẽ ngày càng rútngắn khoảng cách giữa Việt Nam và các nước phát triển

 Xuất phát từ nhu cầu nâng cao chất lượng lao động thực tế, cung cấp cán bộ quản

lý, cán bộ kỹ thuật và công nhân kỹ thuật lành nghề cho hệ thống SABECO và cho xãhội, SABECO đã mạnh dạn lập đề án thành lập Trung tâm Đào tạo – Nghiên cứu Côngnghệ đồ uống và thực phẩm SABECO trình Bộ Công Thương và đã được Bộ phê duyệtngày 4/5/2007

 Công ty Bia – Rượu – NGK Sài Gòn (SABECO) luôn đặt lên hàng đầu việc đảmbảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm trong quy trình sản xuất các sản phẩm củamình.Tất cả nguyên liệu đầu vào, các hóa chất phụ gia và hỗ trợ chế biến luôn được Tổngcông ty kiểm tra chặt chẽ và đều phải có giấy chứng nhận của Bộ Y tế cho phép sử dụng,hoặc nằm trong “Danh mục các chất phụ gia được phép sử dụng trong thực phẩm”

Trang 11

Nguồn nước sử dụng để nấu bia và pha bia là nguồn nước máy của thành phố được qua

hệ thống xử lý nhằm đảm bảo đạt tiêu chuẩn nước nấu bia và vệ sinh an toàn thực phẩm

Hệ thống máy móc thiết bị hiện đại khép kín cũng như sự kiểm soát chặt chẽ trong quytrình sản xuất sẽ đảm bảo tuyệt đối bán thành phẩm và thành phẩm xuất xưởng luôn đạtyêu cầu về các chỉ tiêu vi sinh Chai, lon, nắp chai, nắp lon trước khi đưa vào quy trìnhchiết rót cũng được xử lý và kiểm tra nhằm đảm bảo không có sự xâm nhập của các visinh vật vào sản phẩm Tổng công ty đã thực hiện việc công bố tiêu chuẩn chất lượng, vệsinh an toàn thực phẩm đối với các sản phẩm của mình và định kỳ 06 tháng/lần gửi mẫuthành phẩm kiểm tra các chỉ tiêu hóa lý và vi sinh tại Trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đolường chất lượng 3

2 MÔI TRƯỜNG TÁC NGHIỆP:

2.1 Đối thủ cạnh tranh:

Hiện nay, thị trường bia VN đang thu hút rất nhiều nhà đầu tư mới tham gia, nhưZorok, Budweiser, Kronenberg 1664… Các hãng bia trong nươc cũng đang đẩy mạnh sảnlượng để đáp ứng nhu cầu thị trương Mặt khác, thị trường bán lẻ VN cũng đang hấp dẫncác nhà cung cấp thực phẩm, nước giải khát.Hiện các tập đoàn bán lẻ tên tuổi đã và đangxúc tiến vào VN, như Wall Mart, Home Mart, Lotte Mart, Dairy Fram Điều này chothấy, sự cạnh tranh trên thị trường bia, nước giải khát sẽ ngày càng gay gắt, nhất là thờiđiểm mở của hoàn toàn ngành bán lẻ đang đến rất gần (từ ngày 01/01/2009), và các hãngbia đối thủ đang có nhiều chiêu thức cạnh tranh , thực hiện nhiều chương trình khuyễnmãi lôi kéo khách hàng

Theo ông Nguyễn Quang Minh, Tổng giám đốc Sabeco, khi vào WTO là phải cạnhtranh sòng phẳng với toàn cầu, với mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước Đối vớingành bia - rượu - nước giải khát, trước khi Việt Nam là thành viên WTO, đã phải cạnhtranh quyết liệt với các thương hiệu bia - nước giải khát lớn trên thế giới như: Coca Cola,Pepsi, Tiger, Heneken, Foster, Samiguel… Nay sẽ có thêm nhiều thương hiệu nữa trênthế giới xâm nhập vào thị trường trong nước, vì Việt Nam với hơn 80 triệu dân và khí hậunhiệt đới là mảnh đất màu mỡ cho các thương hiệu kinh doanh, phân phối rượu - bia -nước giải khát Vì thế, sản xuất bia - rượu - nước giải khát tại Việt Nam hiện tại và tươnglai sẽ chịu sức cạnh tranh vô cùng khốc liệt

2.2 Người cung ứng:

Ngày đăng: 19/09/2021, 21:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w