1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề giai cấp và dân tộc trong cách mạng Việt Nam

26 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 179 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề giai cấp và dân tộc trong cách mạng Việt Nam. CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN VỀ VẤN ĐỀ GIAI CẤP VÀ DÂN TỘC 1. Quan điểm của Chủ nghĩa Mác Lênin về vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp: Từ việc phân tích kết cấu phương thức sản xuất, C.Mác đã có cách tiếp cận khoa học trong nghiên cứu về vến đề giai cấp. Đó là lấy lý luận về hình thái kinh tế xã hội làm cơ sở nghiên cứu xã hội. C.Mác đã tìm ra cái gốc của cơ cấu xã hội, cơ cấu giai cấp đó chính là kinh tế. Tuy không đưa ra định nghĩa hoàn chỉnh về giai cấp, nhưng trong thư gửi Vâyđờmâye ngày 531852, ông đã thể hiện tư tưởng về giai cấp như sau: Sự phát triển của các giai cấp chỉ gắn liền với những giai đoạn lịch sử nhất định của sự phát triển sản xuất. Đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn đến chuyên chính vô sản. Bản thân sự chuyển dịch này chỉ là bước quá độ tiến tới xoá bỏ mọi giai cấp và tiến lên xây dựng xã hội không có giai cấp. Trên cơ sở lý luận của C.Mác, trong tác phẩm “Sáng kiến vĩ đại”, V.I Lênin đã đưa ra định nghĩa giai cấp: “Người ta gọi giai cấp, những tập đoàn to lớn gồm những người khác nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử, khác nhau về quan hệ của họ (thường thường thì những quan hệ này được pháp luật qui định và thừa nhận) đối với những tư liệu sản xuất, về vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội, và như vậy là khác nhau về cách thức hưởng thụ và về phần của cải xã hội ít hoặc nhiều mà họ được hưởng. Giai cấp là những tập đoàn người mà tập đoàn này có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác, do chỗ các tập đoàn có địa vị khác nhau trong một chế độ kinh tế xã hội nhất định.” Theo định nghĩa giai cấp của V.I.Lênin thì giai cấp gắn liền với một hệ thống sản xuất nhất định và có địa vị khác nhau trong hệ thống sản xuất đó. Địa vị này do các quan hệ sản xuất quyết định. Các giai cấp khác nhau thì có quan hệ khác nhau đối với sở hữu tư liệu sản xuất. Những giai cấp như chủ nô (trong chế độ nô lệ), địa chủ (trong chế độ phong kiến), tư sản (trong chế độ tư bản) là những tập đoàn người giữ địa vị thống trị trong hệ thống kinh tế xã hội mà họ là đại biểu vì họ nắm được phương tiện, điều kiện vật chất quan trọng nhất (chiếm hữu tư liệu sản xuất xã hội) để chi phối lao động của tập đoàn người không có hoặc có rất ít tư liệu sản xuất. Những tập đoàn người bị mất tư liệu sản xuất như nô lệ (trong chế độ nô lệ), nông nô (trong chế độ phong kiến), vô sản (trong chế độ tư bản) buộc phải phụ thuộc về kinh tế vào các tập đoàn thống trị. Các giai cấp khác nhau cũng có vai trò khác nhau trong tổ chức, quản lý lao động xã hội: Tập đoàn nào chiếm hữu tư liệu sản xuất sẽ giữ vai trò lãnh đạo, chỉ huy hoạt động sản xuất và lưu thông trên qui mô toàn xã hội cũng như từng đơn vị kinh tế. Cuối cùng, các giai cấp khác nhau có phương thức và quy mô thu nhập của cải xã hội khác nhau. Là người chiếm hữu tư liệu sản xuất và tổ chức lãnh đạo sản xuất, tập đoàn thống trị đủ điều kiện thực hiện mục đích của mình trong sản xuất là chiếm đoạt sản phẩm thặng dư do các giai cấp lao động tạo ra. Địa vị khác nhau của giai cấp là cơ sở của quan hệ bóc lột giai cấp. Thực chất quan hệ giai cấp trong xã hội đối kháng là quan hệ bóc lột. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, nguồn gốc cơ bản hình thành giai cấp là chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Lực lượng sản xuất phát triển dẫn đến có sự phân công lao động, mang lại năng suất lao động cao hơn, từ đó dẫn đến sản phẩm thặng dư tương đối. Trong xã hội sẽ xuất hiện chế độ tư hữu. Từ đó hình thành nên giai cấp. Trong kết cấu giai cấp của xã hội bao gồm các giai cấp cơ bản đối lập nhau, các giai cấp không cơ bản và tầng lớp trung gian. Các giai cấp cơ bản đối lập nhau là các giai cấp do phương thức sản xuất của xã hội sinh ra. Đó là giai cấp chủ nô và nô lệ (phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ), giai cấp địa chủ và nông nô (phương thức sản xuất phong kiến), giai cấp tư sản và vô sản (phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa). Quan hệ giữa các giai cấp này là quan hệ bóc lột và bị bóc lột, thống trị và bị trị. Cuộc đấu tranh giữa các giai cấp cơ bản quyết định xu hướng tính chất của sự vận động xã hội. Các giai cấp không cơ bản là các giai cấp tàn dư của phương thức sản xuất cũ để lại. Các tầng lớp trung gian là sản phẩm của chính phương thức sản xuất đang thống trị, là kết quả của quá trình phân hóa xã hội không ngừng diễn ra như tầng lớp bình dân (phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ), tiểu tư sản (phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa) hay tầng lớp trí thức tồn tại trong bất kỳ xã hội có giai cấp nào. Trong xã hội có giai cấp tất yếu nảy sinh đấu tranh giai cấp. V.I. Lênin đã định nghĩa đấu tranh giai cấp: “Là cuộc đấu tranh của một bộ phận nhân dân này chống lại một bộ phận nhân dân khác, cuộc đấu tranh của quần chúng bị tước hết quyền bị áp bức và lao động chống lại bọn có đặc quyền, đặc lợi, bọn áp bức và bọn ăn bám, cuộc đấu tranh của những người công nhân làm thuê hay những người vô sản chống những người hữu sản hay giai cấp tư sản.” Thực chất của đấu tranh giai cấp là cuộc đấu tranh giải quyết mâu thuẫn về mặt địa vị và lợi ích giữa giai cấp bị trị và giai cấp thống trị. Đỉnh cao của đấu tranh giai cấp là những cuộc cách mạng xã hội. Nguyên nhân dẫn tới đấu tranh giai cấp là do sự đối lập về lợi ích cơ bản ( lợi ích về kinh tế) giữa các giai cấp trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định. Đấu tranh giai cấp có vai trò vô cùng quan trọng. Trong tuyên ngôn Đảng Cộng Sản của Mac – Ăngen: “Lịch sử xã hội loài người từ khi có giai cấp đến nay là lịch sử đấu tranh giai cấp”. Đấu tranh giai cấp là một trong những động lực quan trọng của các xã hội có giai cấp đối kháng. Thông qua đấu tranh giai cấp, mâu thuẫn cơ bản giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất được giải quyết, từ đó thúc đẩy sự phát triển của toàn xã hội. Đấu tranh giai cấp dẫn đến chuyên chính vô sản công cụ xóa bỏ chế độ tư hữu và giai cấp, xây dựng chủ nghĩa cộng sản. 2.Quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề dân tộc và mối quan hệ giữa vấn đề giai cấp, dân tộc: Khái niệm dân tộc được dùng để chỉ một cộng đồng người ổn định làm thành nhân dân một nước có lãnh thổ quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung, có ý thức về sự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi những quyền lợi về chính trị, kinh tế, truyền thống, văn hóa, truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trình dựng nước và bảo vệ đất nước. Dân tộc có tính thống nhất cao thể hiện ở sự cộng đồng về lãnh thổ, về kinh tế, về ngôn ngữ và về văn hóa. Dân tộc có tính ổn định, bền vững, đảm bảo bởi nguyên tắc pháp lý cao, tôn trọng quyền tự quyết của mỗi dân tộc. Từ thế kỷ XIX, khi chủ nghĩa tư bản chưa trở thành chủ nghĩa đế quốc, vấn đề quan hệ giữa dân tộc, giai cấp và nhân loại được C.Mác và Ph.Ăngghen xem xét và giải quyết xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của cách mạng vô sản, cách mạng vô sản là điều kiện cơ bản nhất để thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc. Mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp đã được C.Mác và Ph.Ăngghen đề cập đến trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng Sản” tháng 2 năm 1848 như sau: “ Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản ở giai đoạn đầu mang tính chất dân tộc, vì phong trào vô sản là phong trào độc lập của khối đại đa số, mưu lợi ích cho khối đại đa số. Vì vậy, cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, không phải là cuộc đấu tranh dân tộc, nhưng lúc đầu lại mang hình thức dân tộc.” Như vậy, C.Mác và Ph.Ăngghen đã thấy được mối quan hệ gắn bó giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp. Hai ông không xem nhẹ vấn đề dân tộc. Tuy nhiên hai ông không đi sâu giải quyết vấn đề dân tộc vì: (1) Tại các nước này, mâu thuẩn cơ bản của xã hôi là mâu thuẫn giữa hai giai cấp đối kháng: tư sản và vô sản; (2) Về cơ bản, ở châu Âu, vấn đề dân tộc đã được giải quyết trong cách mạng tư sản; (3) Vào thời của C.Mác, hệ thống thuộc địa đã có, nhưng các cuộc đấu tranh giành độc lập chưa phát triển mạnh. Do vậy, trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, hai ông nhấn mạnh đến giải phóng giai cấp công nhân. C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Hãy xóa bỏ tình trạng người bóc lột người thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác sẽ được xóa bỏ” và “ Khi mà sự đối kháng giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc không còn nữa thì sự thù địch giữa các dân tộc cũng đồng thời mất theo.” ( “Tuyên ngôn của Đảng Cộng Sản “ – Tháng 21848). Như vậy, theo C.Mác và Ph.Ăngghen, để giải quyết sự đối kháng dân tộc, trước hết phải giải quyết sự đối kháng giai cấp, giải phóng giai cấp là nhiệm vụ trung tâm, là điều kiện để giải phóng dân tộc. V.I.Lênin từng nhận xét, đối với C.Mác so với vấn đề giai cấp vô sản thì vấn đề dân tộc chỉ là vấn đề thứ yếu thôi. Đến thời V.I. Lênin, khi chủ nghĩa đế quốc trở thành hệ thống thế giới, cách mạng giải phóng dân tộc trở thành một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới, Lênin mới có cơ sở thực tiễn để phát triển vấn đề dân tộc thuộc địa thành một hệ thống lý luận. V.I.Lênin cho rằng cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chính quốc sẽ không giành được thắng lợi, nếu nó không liên minh với cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức. V.I.Lênin phát triển chủ nghĩa Mác trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, từ thực tiễn tình hình nước Nga, V.I.Lênin đã nêu lên Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa. Đây được xem như là cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa MácLênin. Dân tộc là địa bàn trực tiếp của cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân. Mỗi dân tộc có nhiều giai cấp, cùng tồn tại và phát triển. Do đó “giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc”.( “Tuyên ngôn của Đảng Cộng Sản “ – Tháng 21848). Nếu như áp bức giai cấp là nguyên nhân sâu xa của áp bức dân tộc thì áp bức dân tộc tác động mạnh mẽ trở lại áp bức giai cấp. Áp bức dân tộc nuôi dưỡng áp bức giai cấp và làm sâu sắc thêm áp bức giai cấp. Đấu tranh giai cấp tác động vào đấu tranh dân tộc. Đấu tranh dân tộc tác động vào đấu tranh giai cấp. Nếu dân tộc chưa có độc lập thống nhất, thì giai cấp đại biểu cho phương thức sản xuất mới muốn trở thành “giai cấp dân tộc” phải đi đầu trong cách mạng giải phóng dân tộc, thực hiện nhiệm vụ đầu tiên là khôi phục độc lập dân tộc. Chừng nào trong xã hội còn đối kháng giai cấp, đấu tranh giai cấp, thì vấn đề quan hệ giai cấp và dân tộc được giải quyết trên lập trường giai cấp nhất định. Từ đó V.I.Lênin cùng với Quốc tế cộng sản bổ sung khẩu hiệu nêu trong “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”: Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại thành khẩu hiệu mới: “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại”. Đó là lời kêu gọi tập hợp lực lượng xung quanh giai cấp công nhân, tất cả các lực lượng có khả năng cách mạng, chống đế quốc của thời đại đấu tranh vì các mục tiêu độc lập dân tộc, dân chủ và CNXH. Tuy nhiên, sau khi V.I.Lênin mất Ban lãnh đạo Quốc tế cộng sản một thời gian dài đã nhấn mạnh vấn đề giai cấp, coi nhẹ vấn đề dân tộc, vì vậy không mấy quan tâm đến chủ nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc của các nước thuộc địa, thậm chí còn coi đó là biểu hiện của chủ nghĩa quốc gia hẹp hòi, trái với chủ nghĩa quốc tế vô sản.

Trang 2

MỤC LỤC MỤC LỤC 1 PHẦN MỞ ĐẦU 2 CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC- LÊNIN VỀ VẤN ĐỀ GIAI CẤP VÀ DÂN TỘC 3

1 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp: 3 2.Quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề dân tộc và mối quan hệ giữa vấn đề giai cấp, dân tộc: 5 CHƯƠNG II: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ GIAI CẤP VÀ DÂN TỘC TRONG CÁCH MẠNG VIỆT NAM 8

1 Khái quát về tư tưởng Hồ Chí Minh 8

2 Quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề giai cấp, dân tộc 8

3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề giai cấp và dân tộc trong cách mạng Việt Nam: 10 3.1.Vấn đề dân tộc thuộc địa 10 3.2.Chủ trương kết hợp nhuần nhuyễn dân tộc với giai cấp, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế 11 3.3 Cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới phải do Đảng Cộng sản lãnh đạo và lực lượng của cách mạng giải phóng dân tộc bao gồm toàn dân tộc 15 3.4 Về kết hợp sức mạnh Dân tộc với sức mạnh thời đại 17 CHƯƠNG III: VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ GIAI CẤP VÀ DÂN TỘC TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY 19 KẾT LUẬN 24

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn, vị lãnh tụ

vĩ đại của dân tộc Việt Nam Cả cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người là tấmgương mẫu mực về sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội cho cácthế hệ con người Việt Nam nói chung và cho Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng, kế thừa

và phát huy trong mọi điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể Hệ thống tư tưởng của Ngườitrên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đã được lịch sử minh chứng một cách sinh động Cóthể nói Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà hoạt động thực tiễn, nhà lý luận tiên phong về dântộc, về giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội Trong hệ thống tư tưởng củaNgười, không thể không kể đến tư tưởng về vấn đề giai cấp, dân tộc, nhân loại và vai tròquan trọng của tư tưởng đó đối với cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam

Nhìn lại lịch sử dân tộc Việt Nam trong suốt thời gian qua, đặc biệt là trong thế kỷ

XX, một thế kỷ đầy biến động nhanh chóng và phức tạp của tình hình quốc tế, chúng tacàng thấy sự đúng đắn và vận dụng sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với vấn đề dântộc, giai cấp và nhân loại Sự vận dụng đúng đắn và sáng tạo này đã được kiểm nghiệmbằng thực tế qua quá trình lịch sử lâu dài kể từ những cuộc chiến tranh ác liệt giành độclập dân tộc và giải phóng đất nước cho đến tận thời bình trong công cuộc xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chỉ ra rằng, bất kể thời điểm nào và ở bất

cứ đâu, nếu vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp không được kết hợp một cách hài hòa, đúngđắn mà bị vận dụng một cách giáo điều, cứng nhắc hay chỉ xem trọng một vấn đề mà coinhẹ vấn đề kia, thì cách mạng ở đó sẽ rơi vào hoàn cảnh khó khăn, không có hướng đi,thậm chí là bị tổn thất nặng nề Vì vậy, việc nghiên cứu vấn đề dân tộc, giai cấp, nhân loạitrong tư tưởng Hồ Chí Minh và vận dụng tư tưởng đó vào thực tiễn công cuộc xây dựng

và bảo vệ đất nước là vô cùng cần thiết, đặc biệt là trước những khó khăn và thách thứctrong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế ngày nay

Đề tài: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề giai cấp và dân tộc trong cách mạng Việt Nam”

Bài tiểu luận gồm có 3 chương:

Chương I: Lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề giai cấp và dân tộc

Chương II: Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề giai cấp và dân tộc trong cách mạngViệt Nam

Chương III: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề giai cấp và dân tộc thời đạingày nay

Trang 4

CHƯƠNG I:

LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC- LÊNIN VỀ VẤN ĐỀ GIAI CẤP VÀ DÂN TỘC

1 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp:

Từ việc phân tích kết cấu phương thức sản xuất, C.Mác đã có cách tiếp cận khoahọc trong nghiên cứu về vến đề giai cấp Đó là lấy lý luận về hình thái kinh tế - xã hộilàm cơ sở nghiên cứu xã hội C.Mác đã tìm ra cái gốc của cơ cấu xã hội, cơ cấu giaicấp đó chính là kinh tế Tuy không đưa ra định nghĩa hoàn chỉnh về giai cấp, nhưngtrong thư gửi Vây-đờ-mây-e ngày 5/3/1852, ông đã thể hiện tư tưởng về giai cấp nhưsau:

- Sự phát triển của các giai cấp chỉ gắn liền với những giai đoạn lịch sử nhấtđịnh của sự phát triển sản xuất

- Đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn đến chuyên chính vô sản

- Bản thân sự chuyển dịch này chỉ là bước quá độ tiến tới xoá bỏ mọi giai cấp vàtiến lên xây dựng xã hội không có giai cấp

Trên cơ sở lý luận của C.Mác, trong tác phẩm “Sáng kiến vĩ đại”, V.I Lênin đã

đưa ra định nghĩa giai cấp: “Người ta gọi giai cấp, những tập đoàn to lớn gồm những người khác nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử, khác nhau về quan hệ của họ (thường thường thì những quan hệ này được pháp luật qui định và thừa nhận) đối với những tư liệu sản xuất, về vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội, và như vậy là khác nhau về cách thức hưởng thụ và về phần của cải xã hội ít hoặc nhiều mà họ được hưởng Giai cấp là những tập đoàn người mà tập đoàn này có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác, do chỗ các tập đoàn có địa vị khác nhau trong một chế độ kinh tế - xã hội nhất định.”

Theo định nghĩa giai cấp của V.I.Lênin thì giai cấp gắn liền với một hệ thống sảnxuất nhất định và có địa vị khác nhau trong hệ thống sản xuất đó Địa vị này do cácquan hệ sản xuất quyết định Các giai cấp khác nhau thì có quan hệ khác nhau đối với

sở hữu tư liệu sản xuất Những giai cấp như chủ nô (trong chế độ nô lệ), địa chủ (trongchế độ phong kiến), tư sản (trong chế độ tư bản) là những tập đoàn người giữ địa vịthống trị trong hệ thống kinh tế - xã hội mà họ là đại biểu vì họ nắm được phương tiện,điều kiện vật chất quan trọng nhất (chiếm hữu tư liệu sản xuất xã hội) để chi phối lao

Trang 5

động của tập đoàn người không có hoặc có rất ít tư liệu sản xuất Những tập đoànngười bị mất tư liệu sản xuất như nô lệ (trong chế độ nô lệ), nông nô (trong chế độphong kiến), vô sản (trong chế độ tư bản) buộc phải phụ thuộc về kinh tế vào các tậpđoàn thống trị Các giai cấp khác nhau cũng có vai trò khác nhau trong tổ chức, quản

lý lao động xã hội: Tập đoàn nào chiếm hữu tư liệu sản xuất sẽ giữ vai trò lãnh đạo,chỉ huy hoạt động sản xuất và lưu thông trên qui mô toàn xã hội cũng như từng đơn vịkinh tế Cuối cùng, các giai cấp khác nhau có phương thức và quy mô thu nhập của cải

xã hội khác nhau Là người chiếm hữu tư liệu sản xuất và tổ chức lãnh đạo sản xuất,tập đoàn thống trị đủ điều kiện thực hiện mục đích của mình trong sản xuất là chiếmđoạt sản phẩm thặng dư do các giai cấp lao động tạo ra Địa vị khác nhau của giai cấp

là cơ sở của quan hệ bóc lột giai cấp Thực chất quan hệ giai cấp trong xã hội đốikháng là quan hệ bóc lột

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, nguồn gốc cơ bản hình thành giaicấp là chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất Lực lượng sản xuất phát triển dẫn

đến có sự phân công lao động, mang lại năng suất lao động cao hơn, từ đó dẫn đến sản

phẩm thặng dư tương đối Trong xã hội sẽ xuất hiện chế độ tư hữu Từ đó hình thànhnên giai cấp

Trong kết cấu giai cấp của xã hội bao gồm các giai cấp cơ bản đối lập nhau, các

giai cấp không cơ bản và tầng lớp trung gian Các giai cấp cơ bản đối lập nhau là các

giai cấp do phương thức sản xuất của xã hội sinh ra Đó là giai cấp chủ nô và nô lệ

(phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ), giai cấp địa chủ và nông nô (phương thức sảnxuất phong kiến), giai cấp tư sản và vô sản (phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa).Quan hệ giữa các giai cấp này là quan hệ bóc lột và bị bóc lột, thống trị và bị trị Cuộcđấu tranh giữa các giai cấp cơ bản quyết định xu hướng tính chất của sự vận động xãhội Các giai cấp không cơ bản là các giai cấp tàn dư của phương thức sản xuất cũ đểlại Các tầng lớp trung gian là sản phẩm của chính phương thức sản xuất đang thốngtrị, là kết quả của quá trình phân hóa xã hội không ngừng diễn ra như tầng lớp bìnhdân (phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ), tiểu tư sản (phương thức sản xuất tư bảnchủ nghĩa) hay tầng lớp trí thức tồn tại trong bất kỳ xã hội có giai cấp nào

Trong xã hội có giai cấp tất yếu nảy sinh đấu tranh giai cấp V.I Lênin đã định

nghĩa đấu tranh giai cấp: “Là cuộc đấu tranh của một bộ phận nhân dân này chống lại

Trang 6

một bộ phận nhân dân khác, cuộc đấu tranh của quần chúng bị tước hết quyền bị áp bức và lao động chống lại bọn có đặc quyền, đặc lợi, bọn áp bức và bọn ăn bám, cuộc đấu tranh của những người công nhân làm thuê hay những người vô sản chống những người hữu sản hay giai cấp tư sản.”

Thực chất của đấu tranh giai cấp là cuộc đấu tranh giải quyết mâu thuẫn về mặtđịa vị và lợi ích giữa giai cấp bị trị và giai cấp thống trị Đỉnh cao của đấu tranh giaicấp là những cuộc cách mạng xã hội Nguyên nhân dẫn tới đấu tranh giai cấp là do sựđối lập về lợi ích cơ bản ( lợi ích về kinh tế) giữa các giai cấp trong một hệ thống sảnxuất xã hội nhất định

Đấu tranh giai cấp có vai trò vô cùng quan trọng Trong tuyên ngôn Đảng Cộng

Sản của Mac – Ăngen: “Lịch sử xã hội loài người từ khi có giai cấp đến nay là lịch sử đấu tranh giai cấp” Đấu tranh giai cấp là một trong những động lực quan trọng của

các xã hội có giai cấp đối kháng Thông qua đấu tranh giai cấp, mâu thuẫn cơ bản giữalực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất được giải quyết, từ đó thúc đẩy sự phát triển

của toàn xã hội Đấu tranh giai cấp dẫn đến chuyên chính vô sản - công cụ xóa bỏ chế

độ tư hữu và giai cấp, xây dựng chủ nghĩa cộng sản

2.Quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề dân tộc và mối quan hệ giữa vấn đề giai cấp, dân tộc:

Khái niệm dân tộc được dùng để chỉ một cộng đồng người ổn định làm thànhnhân dân một nước có lãnh thổ quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung, có ýthức về sự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi những quyền lợi về chính trị,kinh tế, truyền thống, văn hóa, truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trình dựngnước và bảo vệ đất nước

Dân tộc có tính thống nhất cao thể hiện ở sự cộng đồng về lãnh thổ, về kinh tế, vềngôn ngữ và về văn hóa Dân tộc có tính ổn định, bền vững, đảm bảo bởi nguyên tắcpháp lý cao, tôn trọng quyền tự quyết của mỗi dân tộc

Từ thế kỷ XIX, khi chủ nghĩa tư bản chưa trở thành chủ nghĩa đế quốc, vấn đềquan hệ giữa dân tộc, giai cấp và nhân loại được C.Mác và Ph.Ăngghen xem xét vàgiải quyết xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của cách mạng vô sản, cách mạng vô sản làđiều kiện cơ bản nhất để thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc Mối quan hệ giữa vấn

đề dân tộc và vấn đề giai cấp đã được C.Mác và Ph.Ăngghen đề cập đến trong “Tuyên

Trang 7

ngôn của Đảng Cộng Sản” tháng 2 năm 1848 như sau: “ Cuộc đấu tranh của giai cấp

vô sản ở giai đoạn đầu mang tính chất dân tộc, vì phong trào vô sản là phong trào độc lập của khối đại đa số, mưu lợi ích cho khối đại đa số Vì vậy, cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, không phải là cuộc đấu tranh dân tộc, nhưng lúc đầu lại mang hình thức dân tộc.” Như vậy, C.Mác và Ph.Ăngghen đã thấy được mối

quan hệ gắn bó giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp Hai ông không xem nhẹ vấn đềdân tộc Tuy nhiên hai ông không đi sâu giải quyết vấn đề dân tộc vì: (1) Tại các nướcnày, mâu thuẩn cơ bản của xã hôi là mâu thuẫn giữa hai giai cấp đối kháng: tư sản và

vô sản; (2) Về cơ bản, ở châu Âu, vấn đề dân tộc đã được giải quyết trong cách mạng

tư sản; (3) Vào thời của C.Mác, hệ thống thuộc địa đã có, nhưng các cuộc đấu tranhgiành độc lập chưa phát triển mạnh

Do vậy, trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, hai ông nhấn mạnh đến giải phóng

giai cấp công nhân C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Hãy xóa bỏ tình trạng người bóc lột người thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác sẽ được xóa bỏ” và “ Khi mà sự đối kháng giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc không còn nữa thì sự thù địch giữa các dân tộc cũng đồng thời mất theo.” ( “Tuyên ngôn của Đảng Cộng Sản “ – Tháng

2/1848) Như vậy, theo C.Mác và Ph.Ăngghen, để giải quyết sự đối kháng dân tộc,trước hết phải giải quyết sự đối kháng giai cấp, giải phóng giai cấp là nhiệm vụ trungtâm, là điều kiện để giải phóng dân tộc V.I.Lênin từng nhận xét, đối với C.Mác so vớivấn đề giai cấp vô sản thì vấn đề dân tộc chỉ là vấn đề thứ yếu thôi

Đến thời V.I Lênin, khi chủ nghĩa đế quốc trở thành hệ thống thế giới, cáchmạng giải phóng dân tộc trở thành một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới, Lêninmới có cơ sở thực tiễn để phát triển vấn đề dân tộc thuộc địa thành một hệ thống lýluận V.I.Lênin cho rằng cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chính quốc sẽ không giànhđược thắng lợi, nếu nó không liên minh với cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức.V.I.Lênin phát triển chủ nghĩa Mác trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, từ thực tiễn tìnhhình nước Nga, V.I.Lênin đã nêu lên Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộcđịa Đây được xem như là cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác-Lênin Dân tộc là địabàn trực tiếp của cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân Mỗi dân tộc có nhiều

giai cấp, cùng tồn tại và phát triển Do đó “giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải tự

Trang 8

vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc”.( “Tuyên ngôn của

Đảng Cộng Sản “ – Tháng 2/1848)

Nếu như áp bức giai cấp là nguyên nhân sâu xa của áp bức dân tộc thì áp bức

dân tộc tác động mạnh mẽ trở lại áp bức giai cấp Áp bức dân tộc nuôi dưỡng áp bứcgiai cấp và làm sâu sắc thêm áp bức giai cấp Đấu tranh giai cấp tác động vào đấutranh dân tộc Đấu tranh dân tộc tác động vào đấu tranh giai cấp Nếu dân tộc chưa cóđộc lập thống nhất, thì giai cấp đại biểu cho phương thức sản xuất mới muốn trở thành

“giai cấp dân tộc” phải đi đầu trong cách mạng giải phóng dân tộc, thực hiện nhiệm vụđầu tiên là khôi phục độc lập dân tộc Chừng nào trong xã hội còn đối kháng giai cấp,đấu tranh giai cấp, thì vấn đề quan hệ giai cấp và dân tộc được giải quyết trên lậptrường giai cấp nhất định Từ đó V.I.Lênin cùng với Quốc tế cộng sản bổ sung khẩu

hiệu nêu trong “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”: "Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại!" thành khẩu hiệu mới: “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại!”.

Đó là lời kêu gọi tập hợp lực lượng xung quanh giai cấp công nhân, tất cả các lực

lượng có khả năng cách mạng, chống đế quốc của thời đại đấu tranh vì các mục tiêuđộc lập dân tộc, dân chủ và CNXH

Tuy nhiên, sau khi V.I.Lênin mất Ban lãnh đạo Quốc tế cộng sản một thời giandài đã nhấn mạnh vấn đề giai cấp, coi nhẹ vấn đề dân tộc, vì vậy không mấy quan tâmđến chủ nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc của các nước thuộc địa, thậm chí còn coi đó

là biểu hiện của chủ nghĩa quốc gia hẹp hòi, trái với chủ nghĩa quốc tế vô sản

Trang 9

CHƯƠNG II:

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ GIAI CẤP VÀ DÂN TỘC

TRONG CÁCH MẠNG VIỆT NAM

1 Khái quát về tư tưởng Hồ Chí Minh

Đại hội Đảng lần thứ IX (2001) đã đưa ra khái niệm: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về vấn đề cơ bản của Cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng

2. Quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề giai cấp, dân tộc

Quá trình hình thành tư tưởng về vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc của Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã gắn liền với cuộc đời hoạt động cách mạng của Người ngay từ nhữngnăm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Trước khi học thuyết Mác – Lênin được truyền

bá vào Việt Nam thì các phong trào yêu nước của người Việt Nam chống thực dânPháp liên tục nổ ra, nhưng kết cục đều thất bại Nguyên nhân quan trọng nhất khiếncho các phong trào đó thất bại chính là do bế tắc về đường lối Mặc dù các bậc lãnh tụcủa những phong trào yêu nước ấy đã dành nhiều tâm huyết cho sự nghiệp của mình,nhưng do họ không nhận thức được xu thế của thời đại, nên không thấy được giai cấptrung tâm của thời đại lúc này là giai cấp công nhân - giai cấp đại biểu cho mộtphương thức sản xuất mới, một lực lượng tiến bộ xã hội Do đó, mục tiêu đi tới củanhững phong trào ấy không phản ánh đúng xu thế vận động của lịch sử và thời đại, nênkhông thể đem lại kết quả và triển vọng tốt đẹp cho sự phát triển của xã hội Việt Nam.Trước yêu cầu bức xúc của vấn đề giải phóng dân tộc, từ chủ nghĩa yêu nước,người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã quyết định ra đi tìm đường cứu

Trang 10

nước Công lao to lớn đầu tiên của Người đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam là đãtìm ra con đường cứu nước, khai phá con đường giải phóng dân tộc và các dân tộc bị

áp bức trên thế giới Trong quá trình ra đi tìm đường cứu nước, qua khảo sát thực tế ở

các nước trên các châu lục Âu, Phi, Mỹ và ngay cả trên đất Pháp, Nguyễn Ái Quốc đãrút ra nhận xét: chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa thực dân là nguồn gốc mọi sự đau khổ củacông nhân, nông dân lao động ở cả chính quốccũng như ở thuộc địa Nghiên cứu cáccuộc cách mạng dân chủ tư sản Mỹ (1776), Pháp (1789), Nguyễn Ái Quốc nhận thấycác cuộc cách mạng này tuy nêu khẩu hiệu “tự do”, “bình đẳng”, nhưng không đưa lại

tự do, bình đẳng thực sự cho quần chúng lao động Người viết: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng

là cộng hoà và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa.”( Tác phẩm “Đường Kách mênh” – Năm 1927) Tuy khâm phục các cuộc

cách mạng ấy, nhưng Nguyễn Ái Quốc cho rằng đó là cách mạng chưa đến nơi Vì thế,Nguyễn Ái Quốc đã tích cực tham gia hoạt động đấu tranh trong phong trào giải phóngcủa các dân tộc bị áp bức, phong trào giải phóng giai cấp công nhân ở các nước tư bản.Nguyễn Ái Quốc đã tìm đến với cách mạng Tháng Mười Nga, đến với V.I Lênin.Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi là một sự kiện chính trị đặc biệt quan trọngtrong quá trình hoạt động tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc Đặc biệt, sau khiđọc “Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về dân tộc và thuộc địa” của V.I Lênin,Nguyễn Ái Quốc đã thấy rõ hơn con đường đúng đắn mà cách mạng Việt Nam sẽ trải

qua Người khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”, và:

“Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” Kết luận trên đây của Nguyễn Ái Quốc là sự khẳng định một

hướng đi mới, nguyên tắc chiến lược mới, mục tiêu và giải pháp hoàn toàn mới, khác

về căn bản so với các lãnh tụ của các phong trào yêu nước trước đó ở Việt Nam.Người đã có công đưa cách mạng giải phóng dân tộc vào quỹ đạo của cách mạng vôsản, tức là sự nghiệp cách mạng ấy phải do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo, lấy

hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng Vì vậy, con đường phát triển tấtyếu của cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng XHCN Người

Trang 11

chỉ rõ: “Cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn”.

3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề giai cấp và dân tộc trong cách mạng Việt Nam:

Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện thực tiễn của cách mạngViệt Nam, Hồ Chí Minh đã có nhiều quan điểm sâu sắc về mối quan hệ giai cấp, dântộc, nhân loại, đáp ứng yêu cầu mới của thực tiễn cách mạng Việt Nam trong thời đạingày nay

3.1.Vấn đề dân tộc thuộc địa

Vấn đề dân tộc thuộc địa thực chất là vấn đề đấu tranh giải phóng dân tộc thuộcđịa nhằm thủ tiêu sự thống trị của nước ngoài, giành độc lập dân tộc, xoá bỏ ách ápbức, bóc lột thực dân, thực hiện quyền dân tộc tự quyết, thành lập nhà nước dân tộcđộc lập

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Độc lập, tự do là quyền thiêng liêng bấtkhả xâm phạm của các dân tộc

Giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam - một nước thuộc địa nửa phong kiến,trước hết phải tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, đánh đuổi quân xâm lược,đánh đổ bọn tay sai, giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân, hoà bình và thốngnhất đất nước Độc lập, tự do, hoà bình và thống nhất đất nước là khát vọng cháy bỏngcủa người dân mất nước Mất nước là mất tự do Khi mất nước, con người không chỉmất quyền bình đẳng, tự do dân chủ mà ngay cả quyền sống của họ cũng bị đe dọa

Chính vì vậy mà “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, một trong những tư tưởng lớn

của Hồ Chí Minh trong cách mạng Việt Nam đã trở thành chân lý của dân tộc ViệtNam và của cả nhân loại có lương tri

Độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân – tư tưởng đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã trở thành mục tiêu hàng đầu của cách mạng Việt Nam Tư tưởng đó được quán triệttrong toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam và nó được thể hiện nổi bật trong các thờiđiểm có tính bước ngoặt lịch sử

Phát biểu trong buổi họp đầu tiên của Ủy ban Nghiên cứu kế hoạch kiến quốc,

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chúng ta đã hi sinh phấn đấu giành độc lập Chúng ta đã giành được rồi Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ

Trang 12

chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì Dân chỉ biết rõ giá trị của tự

do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ” Tư tưởng này thể hiện tính nhân văn

cao cả và triệt để cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh Độc lập tự do là quyền tựnhiên của dân tộc, thiêng liêng và vô cùng quý giá Với việc tiếp xúc với các tác phẩm

“Tuyên ngôn độc lập” của Mỹ 1776 và “Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền” của

Pháp 1791, Người đã khái quát chân lý: “Tất cả các dân tộc trên thế giới sinh ra đều

có quyền bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”

Mục tiêu của cách mạng Việt Nam là: đánh đổ Đế quốc Pháp và phong kiến, làmcho nước Nam hoàn toàn độc lập Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Hồ Chí

Minh đã đọc bản tuyên ngôn độc lập và khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng

tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ quyền tự do độc lập ấy”.

Người khẳng định chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn ở các nước đang đấutranh giành độc lập Do kinh tế lạc hậu, sự phân hoá giai cấp chưa triệt để, vì thế cuộcđấu tranh giai cấp ở các nước thuộc địa không diễn ra giống như ở phương Tây Đốivới với các dân tộc thuộc địa có sự tương đồng lớn, dù là ai, cũng đều là nô lệ mấtnước Chủ nghĩa dân tộc bản xứ là chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa dân tộc chânchính, là động lực to lớn để phát triển đất nước

3.2.Chủ trương kết hợp nhuần nhuyễn dân tộc với giai cấp, độc lập dân tộc

và chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế.

Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin khi Hồ Chí Minh bàn đến vấn đề dântộc và cách mạng giải phóng dân tộc thì độc lập dân tộc phải gắn với CNXH, mối quan

hệ dân tộc và giai cấp được đặt ra

Vấn đề dân tộc bao giờ cũng được nhận thức và giải quyết theo lập trường củamột giai cấp nhất định Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, chỉ trên lập trườngcủa giai cấp vô sản, cách mạng vô sản mới giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc

Thất bại của các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp ở Việt Nam cuối thế

kỷ XIX đầu thế kỷ XX chứng tỏ rằng, những con đường giải phóng dân tộc dưới ngọn

cờ tư tưởng phong kiến hoặc tư tưởng tư sản là không đáp ứng được yêu cầu khách

Trang 13

quan là giành độc lập, tự do của dân tộc do lịch sử đặt ra Chủ tịch Hồ Chí Minh rấtkhâm phục tinh thần cứu nước của ông cha, nhưng Người không tán thành các conđường cứu nước ấy, mà quyết tâm ra đi tìm một con đường cứu nước mới.

Vượt qua sự hạn chế về tư tưởng của các sĩ phu và của các nhà cách mạng có xuhướng tư sản đương thời, Người đã đến với học thuyết cách mạng của chủ nghĩa Mác– Lênin và lựa chọn con đường cách mạng vô sản

Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, đãnhận thức được mối quan hệ chặt chẽ giữa dân tộc và giai cấp, dân tộc và quốc tế, độclập dân tộc và CNXH, lựa chọn cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cáchmạng vô sản Người nêu, các nước thuộc địa phương Đông không phải làm ngay cáchmạng vô sản, mà trước hết giành độc lập dân tộc Có độc lập dân tộc rồi mới bàn đếncách mạng XHCN Từ thực tiễn của đấu tranh cách mạng, Người đã phê phán quanđiểm của các đảng cộng sản Tây Âu không đánh giá đúng vai trò, vị trí, tương lai của

cách mạng thuộc địa và từ đó đi đến luận điểm: “Các dân tộc thuộc địa phải dựa vào sức mình là chính, đồng thời biết tranh thủ sự đoàn kết, ủng hộ của giai cấp vô sản và nhân dân lao động thế giới để phải đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, từ cách mạng giải phóng dân tộc tiến lên làm cách mạng XHCN.”

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu quan điểm: giải phóng giai cấp kết hợp chặt chẽvới giải phóng dân tộc, độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội Trong tưtưởng Hồ Chí Minh, cách mạng vô sản ở các nước tư bản va cách mạng giải phóngdân tộc ở các nước thuộc địa có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, và cùng là động lực cơbản cho cách mạng thế giới Cách mạng vô sản ở các nước tư bản tạo điều kiện chocách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa giành thắng lợi Ngược lại, cáchmạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa cũng thúc đẩy cách mạng vô sản ở cácnước tư bản phát triển, và đóng góp vào thắng lợi của các cuộc cách mạng vô sản đó.Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát triển hơn nữa quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin vềvai trò của cách mạng giải phóng dân tộc Quan điểm của C.Mác đã khái quát thực tiễncủa thế kỷ XIX và cho rằng: xóa bỏ nạn bóc lột giai cấp là điều kiện cơ bản để xóa bỏ

áp bức dân tộc Nhưng C.Mác lại chưa đề cập đến chiều ngược lại, đó là tác động củacách mạng giải phóng dân tộc đối với cách mạng vô sản ở các nước tư bản ĐếnV.I.Lênin, ông đã phát triển lý luận của C.Mác vào điều kiện xã hội những năm đầu

Ngày đăng: 19/09/2021, 20:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w