Mục đích nghiên cứu Một là, Một số vấn đề lý luận về quảng cáo thương mại và ho ạt động quảng cáo thương mại bị cấm Hai là, Thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật về quảng cáo t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO E-LEARNING
BÁO CÁO THỰC TẬP NGHỀ
Đề tài: THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT
VỀ QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI BỊ CẤM TẠI ĐỊA PHƯƠNG
Tp HCM, Tháng 11 năm 2020
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện: Ngày sinh:
Ngành đào tạo: Địa điểm học: Thời gian thực tập:
Mã course học:
Trang 2NHẬN XÉT CỦA ĐƠN VỊ THỰC TẬP
Trang 3
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 4
MỤC LỤC
PHẦN I: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1
1.1 Lý do lựa chọn đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 1
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1
1.4 Bố cục báo cáo 1
PHẦN II: THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI BỊ CẤM TẠI ĐỊA PHƯƠNG 2
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quảng cáo thương mại và hoạt động quảng cáo thương mại bị cấm 2
1.1 Khái quát chung về hoạt động quảng cáo thương mại 2
1.1.1 Khái niệm hoạt động quảng cáo thương mại 2
1.1.2 Đặc điểm hoạt động quảng cáo thương mại 5
1.1.3 Phân loại hoạt động quảng cáo thương mại 7
1.2 Khái niệm hoạt động quảng cáo thương mại bị cấm 8 CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT
VỀ QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI BỊ CẤM TẠI SỞ CÔNG THƯƠNG TẠI
TP.HCM Error! Bookmark not defined.
2.2 Thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật về quảng cáo thương
mại bị cấm tại TP.HCM Error! Bookmark not defined.
2.2.1 Quảng cáo làm tiết lộ bí mật Nhà nước, phương hại đến độc
lập, chủ quyền, an ninh quốc gia và trật tự xã hộiError! Bookmark not
defined.
2.2.2 Quảng cáo có sử dụng sản phẩm quảng cáo, phương tiện quảng cáo trái với truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ
tục Việt Nam và trái với quy định pháp luậtError! Bookmark not defined.
2.2.3 Quảng cáo hàng hóa, dịch vụ mà Nhà nước cấm kinh doanh,
hạn chế kinh doanh hoặc cấm quảng cáo Error! Bookmark not defined.
2.2.4 Quảng cáo sai sự thật về một trong các nội dung số lượng, chất lượng, giá, công dụng, kiểu dáng, xuất xứ hàng hóa, chủng loại, bao bì,
Trang 5phương thức phục vụ, thời hạn bảo hành của hàng hóa, dịch vụ Error!
Bookmark not defined.
2.2.5 Quảng cáo cho hoạt động kinh doanh của mình bằng cách sử dụng sản phẩm quảng cáo vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, sử dụng hình ảnh của tổ chức, cá nhân khác để quảng cáo khi chưa được tổ chức, cá nhân đó
đồng ý Error! Bookmark not defined.
not defined.
3.1 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt động quảng
cáo thương mại bị cấm Error! Bookmark not defined.
3.1.1 Thống nhất sự điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động quảng
cáo và quảng cáo thương mại Error! Bookmark not defined.
3.1.2 Hoàn thiện quy định của pháp luật đối với một số hoạt động
quảng cáo thương mại bị cấm Error! Bookmark not defined.
3.1.3 Hoàn thiện các quy định về xử phạt trong lĩnh vực quảng cáo
thương mại nói chung và quảng cáo thương mại bị cấm nói riêng Error!
Bookmark not defined.
3.2.Kết luận Error! Bookmark not defined TÀI LIỆU THAM KHẢO Error! Bookmark not defined.
Trang 61
PHẦN I: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1.1 Lý do lựa chọn đề tài
Cùng với sự phát triển của xã hội, qua các thời kỳ, quảng cáo ngày càng đa dạng về các hình thức và hiện đ ại hơn về cách thức lẫn phương tiện truyền tải Trước đây, quảng cáo chỉ mang tính tự phát, chủ yếu phục vụ cho nhu cầu đơn lẻ, ngày nay, quảng cáo đã dần phát triển thành một hoạt động kinh tế xã hội, một ngành nghề kinh doanh mang lại lợi nhuận, phục vụ nhu cầu của đông đ ảo các cá nhân, tổ chức Trước đây, phương thức quảng cáo phổ biến nhất là truyền miệng thì ngày nay, phương thức quảng cáo đã đa dạng và tân tiến hơn như tờ rơi, báo in, phương thức phát thanh, truyền hình thậm chí đang tiến đến các phương thức hiện đại như truyền thông vệ tinh, thông tin trực tuyến
1.2 Mục đích nghiên cứu
Một là, Một số vấn đề lý luận về quảng cáo thương mại và ho ạt động quảng cáo
thương mại bị cấm
Hai là, Thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật về quảng cáo thương mại bị
cấm tại địa phương
Ba là, Đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật về quảng cáo
thương mại bị cấm tại địa phương
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Các quy định pháp luật về quảng cáo Thương mại bị cấm tại TP.HCM
Các quy định pháp luật về quảng cáo thương mại bị cấm tại địa phương
1.4 Bố cục báo cáo
Phần I: Giới thiệu đề tài
Phần II: Thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật về quảng cáo thương mại bị cấm tại địa phương
Phần III: Kiến nghị và kết luận
Trang 72
PHẦN II: THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI BỊ CẤM TẠI ĐỊA
PHƯƠNG
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quảng cáo thương mại và hoạt động quảng cáo thương mại bị cấm
1.1 Khái quát chung về hoạt động quảng cáo thương mại
1.1.1 Khái niệm hoạt động quảng cáo thương mại
Ở Việt Nam, vào giữa những năm 90 của thế kỷ XX, cùng với đường lối của Đảng, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước, quảng cáo thương mại bắt đầu có mặt trên các trang báo, tạp chí, trong các chương trình phát thanh, truyền hình, nguồn kinh phí từ quảng cáo dần dần tăng lên, đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với các cơ quan truyền thông đại chúng ở nước ta Xuất phát từ tính chất kinh tế xã hội của quảng cáo, quảng cáo được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau, với nhiều định nghĩa khác nhau
Quảng cáo theo nghĩa Hán Việt tức là báo cho biết (cáo) một cách rộng rãi (quảng) đến nhiều người
Trong tiếng La tinh, “quảng cáo” được dịch là “adventure”, có nghĩa là sự thu hút lòng người, gây sự chú ý và gợi dẫn Thuật ngữ này được sử dụng trong tiếng Anh
là “advertise”, có nghĩa là gây sự chú ý cho người khác, thông báo cho người khác về
sự kiện nào đó
Theo Hiệp hội Quảng cáo Hoa Kỳ (AMA) thì “Quảng cáo là hoạt động truyền
bá thông tin, trong đó nói rõ ý đồ của chủ quảng cáo, tuyên truyền hàng hóa dịch vụ của chủ quảng cáo trên cơ sở có thu phí quảng cáo, không trực tiếp nhằm công kích người khác”
Theo tài liệu Kinh doanh quảng cáo ở Anh: “Quảng cáo là thông điệp được chi
trả phí bởi người gửi chúng đi, có mục đích và thông tin gây ảnh hưởng trên người nhận chúng”
Còn tại Việt Nam, khái niệm quảng cáo được quy định tại Pháp lệnh Quảng cáo
2001 Theo đó thì “Quảng cáo là giới thiệu đến người tiêu dùng về hoạt động kinh
doanh, hàng hóa, dịch vụ, bao gồm dịch vụ có mục đích sinh lời và dịch vụ không có mục đích sinh lời” (Điều 4)
Mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau về quảng cáo, tuy nhiên, các khái niệm này ít nhiều đều đã thể hiện các đặc điểm cơ bản của quảng cáo Đó là:
Trang 83
Quảng cáo không dành cho một cá nhân đơn lẻ mà quảng cáo dành cho số đông, quảng cáo mang tính đại chúng Ho ạt động quảng cáo có tính định hướng sự lựa chọn hàng hóa, dịch vụ của người tiêu dùng, do đó, mục đích của quảng cáo là đưa các thông tin đến với càng nhiều người càng tốt cho sự kinh doanh của nhà cung cấp dịch
vụ Tất cả mọi người đều tiếp xúc với thông tin mà nhà cung c ấp hàng hóa, dịch vụ đưa ra chính là điều mà nhà quảng cáo mong muốn
Quảng cáo là sự truyền tin một chiều, mang tính đơn phương xuất phát từ người cung cấp thông tin đến những đối tượng, chủ yếu là người tiêu dùng
Quảng cáo phải thực hiện thông qua các phương tiện trung gian Để truyền tải các thông tin đến đối tượng, nhà quảng cáo phải sử dụng các phương tiện truyền tải như báo chí, băng rôn, tờ rơi, phát thanh, truyền hình… nhằm đảm bảo thông tin được truyền tải đúng dụng ý của nhà quảng cáo và thông tin lan rộng nhất có thể
Đa số pháp luật các nước trên thế giới đều không đưa ra khái niệm quảng cáo thương mại mà chỉ đề cập đến khái niệm quảng cáo Sở dĩ như vậy là vì mặc dù quảng cáo bao gồm cả quảng cáo không mang tính thương mại, nhưng đặc trưng của quảng cáo ngày nay là gắn liền với lợi nhuận, với thương nhân, mang tính thương mại và trở thành một trong những hoạt động thương mại điển hình
Theo Chỉ thị số 84/450/EEC ngày 10/9/1984 của Hội đồng và Nghị viện Châu
Âu liên quan đến quảng cáo gây nhầm lẫn và quảng cáo so sánh, quảng cáo được hiểu
là “đưa ra sự tuyên bố dưới bất kỳ hình thức nào liên quan đến hoạt động thương mại,
kinh doanh, nghề thủ công, nghề chuyên nghiệp nhằm xúc tiến việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ; bao gồm cả bất động sản, quyền và nghĩa vụ” (Điều 1) Chỉ thị số 97/360 CE
của Hội đồng và Nghị viện Châu Âu cũng nêu rõ: “Quảng cáo không bao gồm các
thông tin do cơ quan phát thanh phát có liên quan tới chương trình của cơ quan và các sản phẩm phụ trực tiếp của các chương trình này; các thông tin về dịch vụ công cộng và các lời kêu gọi cho việc làm từ thiện miễn phí” (Điều 18)
Luật quảng cáo của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ngày 27-10-1994 (có hiệu
lực từ ngày 01-2-1995) quy định tại Điều 2: “Quảng cáo” được hiểu là một quảng cáo
mang tính thương mại mà người cung cấp hàng hóa, dịch vụ giới thiệu cho hàng hóa dịch vụ của mình, cho dù là trực tiếp hay gián tiếp, thông qua các hình thức thông tin công cộng”; “người quảng cáo được hiểu là một tư cách pháp nhân, dù là tổ chức kinh tế hay pháp nhân mà mục đích của họ là bán các mặt hàng, dịch vụ thiết kế, sản xuất hay xuất bản thuộc lĩnh vực quảng cáo”
Ở Hoa Kỳ, hoạt động quảng cáo được điều chỉnh bởi rất nhiều quy định pháp luật của các bang và liên bang Luật Lanham 15 U.S.C, một văn bản quan trọng trong
Trang 94
số đó, có nội dung quy định quảng cáo: “bao gồm phát ngôn thương mại mà một
người cạnh tranh sử dụng thể hiện mục đích gây ảnh hưởng tới người tiêu dung để mua hàng hóa hay dịch vụ của mình” Cơ quan liên bang có thẩm quyền điều tiết hoạt
động quảng cáo là Hội đồng thương mại liên bang
Luật về quảng cáo và khuyến mại của Anh, Luật quảng cáo của Xingapo, Luật quảng cáo c ủa Philippin… đều có nội dung quy định các vấn đề liên quan đến quảng cáo thương mại
Như vậy, luật pháp nhiều nước trên thế giới coi quảng cáo không phải là một hoạt động thông tin đơn thuần mà là một hoạt động thông tin mang tính thương mại Bản thân khái niệm “quảng cáo” khi được sử dụng trong pháp luật của các nước đã có
ý nghĩa là “quảng cáo thương mại”, vì nó được thực hiện bởi thương nhân và có nội dung quảng cáo về hàng hóa, dịch vụ của thương nhân Các điều ước quốc tế song phương và đa phương cũng ghi nhận quảng cáo là một hoạt động thương mại và đưa vào nội dung đàm phán Như vậy có thể thấy luật pháp của hầu hết các nước đều coi quảng cáo là hoạt động thương mại, “quảng cáo” được đồng nghĩa với “quảng cáo thương mại” và không hình thành khái niệm “quảng cáo phi thương mại”
Pháp luật hiện hành của Việt Nam có sự không đồng nhất trong khái niệm quảng cáo và quảng cáo thương mại như đa số pháp luật các nước trên thế giới
Từ điển Luật học của Viện khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp đưa ra hai khái niệm
“quảng cáo” và “quảng cáo thương mại” Theo đó thì “quảng cáo” đước hiểu là “hoạt
động giới thiệu đến người tiêu dùng về hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, bao gồm dịch vụ có mục đích sinh lời và dịch vụ không có mục đích sinh lời nhằm tạo ra
sự hấp dẫn và kích thích người tiêu dùng thu hút người tiêu dùng quan tâm đến sản phẩm của mình” Còn “quảng cáo thương mại” được hiểu là “hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm giới thiệu với khách hàng về hoạt động kinh doanh, hàng hóa, dịch vụ”
Tuy nhiên, theo Đại Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và văn hóa
Việt Nam thì quảng cáo được hiểu là: “tuyên truyền, giới thiệu bằng nhiều hình thức
về hàng hóa, dịch vụ hay về hãng kinh doanh những hàng hóa đó nhằm hấp dẫn và thuyết phục người mua để đẩy mạnh việc tiêu thụ hàng hóa” và theo Từ điển Tiếng
Việt của Viện Ngôn ngữ thì quảng cáo là: “trình bày để giới thiệu rộng rãi cho nhiều
người biết nhằm tranh thủ được nhiều khách hàng” Như vậy, quảng cáo theo nghĩa
thông dụng nhất, thường được hiểu là quảng cáo thương mại
Luật Thương mại năm 2005 thì “Quảng cáo thương mại là hoạt động xúc tiến
thương mại của thương nhân để giới thiệu với khách hàng về hoạt động kinh doanh
Trang 105
hàng hóa của mình” (Điều 102)
Tuy nhiên, theo Pháp lệnh quảng cáo năm 2001 định nghĩa “Quảng cáo là giới
thiệu đến người tiêu dùng về hoạt động kinh doanh, hàng hóa, dịch vụ, bao gồm dịch
vụ có mục đích sinh lời và dịch vụ không có mục đích sinh lời Dịch vụ có mục đích sinh lời là dịch vụ nhằm tạo ra lợi nhuận cho tổ chức, cá nhân cung ứng dịch vụ Dịch
vụ không có mục đích sinh lời là dịch vụ không nhằm tạo ra lợi nhuận cho tổ chức, cá nhân cung ứng dịch vụ” (Điều 4)
Như vậy, có thể hiểu đối tượng của hoạt động quảng cáo có thể là hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có khả năng mang lại lợi nhuận cho tổ chức, cá nhân hoặc các dịch vụ, thông tin nhằm thực hiện một mục tiêu chính trị, văn hóa, xã hội Tổ chức, cá nhân có nhu cầu quảng cáo có thể là thương nhân ho ặc không phải thương nhân Nói cách khác, theo quy định của pháp luật Việt Nam, quảng cáo gồm hai loại: quảng cáo không có mục đích sinh lời - “quảng cáo phi thương mại” và quảng cáo có mục đích sinh lời - “quảng cáo thương mại” Nói cách khác, quảng cáo thương mại hay còn gọi là quảng cáo có mục đích sinh lời, chỉ là một bộ phận trong quảng cáo nói chung
1.1.2 Đặc điểm hoạt động quảng cáo thương mại
Quảng cáo thương mại ngoài những đặc điểm chung vốn có của hoạt động quảng cáo thì còn có các đặc điểm riêng sau đây:
Thứ nhất, quảng cáo thương mại trước hết là một hoạt động thương mại
Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị cũng như truyền thống lịch sử, văn hóa ở mỗi nước là khác nhau, pháp luật quy định về hành vi thương mại cũng có những nét khác biệt Ở Đức, việc quy định một hành vi có được coi là hành vi thương mại hay không phụ thuộc vào chủ thể thực hiện hành vi đó có phải là thương nhân hay không Như vậy, để xác định một hành vi là hành thương mại, pháp luật Đức căn cứ vào yếu tố chủ thể Khác với nước Đức, pháp luật của Pháp không đưa ra một định nghĩa chung thống nhất về hành vi thương mại mà liệt kê ra các hành vi thương mại cụ thể làm cơ sở phân biệt Luật thương mại Việt Nam 2005 tuy không đưa ra định nghĩa
cụ thể thế nào là hành vi thương mại nhưng đã nêu khái niệm cụ thể về hoạt động thương mại Khoản 1, điều 3 luật Thương Mại Việt Nam 2005 quy định: hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác Hành vi thương mại hiểu theo nghĩa rộng hơn luôn gắn liền với hoạt động thương mại Như vậy, có thể hiểu hành vi thương mại là hành vi của thương nhân được thực hiện trong hoạt động thương mại nhằm mưu cầu lợi nhuận