“Quyền tự do kinh doanh” lần đầu tiên được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1992 và tiếp tục được tái khẳng định theo hướng rộng hơn trong Hiến pháp năm 2013: “Mọi người có quyền tự do kinh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - TÀI CHÍNH TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN VĂN A MSSV: ………
QUYỀN TỰ DO KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
TP.Hồ Chí Minh – Năm 2021
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - TÀI CHÍNH TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN VĂN A
MSSV: ………
KHÓA: 20 – 20
QUYỀN TỰ DO KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: ………
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
GVHD : TS Trần Thị B CBHD THỰC TẾ : Nguyễn Thị C
TP.Hồ Chí Minh – Năm 2021
Trang 3MỤC LỤC
PHẨN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
NỘI DUNG 4
Chương 1 4
QUYỀN TỰ DO KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 4
1.1 Khái niệm quyền tự do kinh doanh 4
1.2 Quy định của pháp luật Việt Nam về quyền tự do kinh doanh theo pháp luật hiện hành 6
1.3 Quy định về quyền tự do kinh doanh theo pháp luật Việt Nam hiện nay Error!
Bookmark not defined
Tiểu kết chương 1 Error! Bookmark not defined Chương 2 Error! Bookmark not defined
THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN TỰ DO KINH DOANH
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM Error! Bookmark not defined 2.1 Tình hình phát triển doanh nghiệp ở Việt Nam Error! Bookmark not defined
2.2 Thực trạng áp dụng pháp luật về quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp ở
Việt Nam hiện nay Error! Bookmark not defined 2.3 Hạn chế thực hiện pháp luật về quyền tự do kinh doanh Error! Bookmark not
defined
Tiểu kết chương 2 Error! Bookmark not defined Chương 3 Error! Bookmark not defined
QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN TỰ DO
KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM .Error!
Bookmark not defined
Trang 43.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về quyền tự do kinh doanh Error!
Bookmark not defined
3.2 Hoàn thiện hệ thống pháp luật về thực hiện quyền tự do kinh doanh của doanh
nghiệp Error! Bookmark not defined
3.3 Đổi mới tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức nói riêng và ngành chức năng nói chung nhằm đảm bảo quyền tự do kinh doanh của
doanh nghiệp trong giai đoạn mới Error! Bookmark not defined Tiểu kết chương 3 Error! Bookmark not defined KÊT LUẬN Error! Bookmark not defined TÀI LIỆU THAM KHẢO Error! Bookmark not defined
Trang 51
PHẨN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm qua đất nước ta thực hiện đường lối đổi mới đã đem lại những chuyển biến hết sức tích cực: kinh tế phát triển, lực lượng sản xuất được tăng cường; nghèo đói giảm nhanh, liên tục; đời sống nhân dân được cải thiện, nhiều vấn đề xã hội được giải quyết; chính trị, xã hội ổn định, an ninh được bảo đảm Cùng với sự phát triển của xã hội, quyền con người được xem là thước đo sự tiến bộ và trình độ văn minh của các xã hội, không phân biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển và bản sắc văn hóa Với vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi việc đảm bảo tốt hơn quyền con người là mục tiêu hướng tới của mình để xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân Hiện nay, trong bối cảnh Nhà nước ta đang tích cực hoàn thiện bộ máy nhà nước, hệ thống pháp luật theo tinh thần Hiến pháp năm 2013, trong đó có những bộ luật cơ bản nhằm thực hiện tốt quyền bảo
vệ quyền con người trong đó có quyền tự do kinh doanh Do đó, việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn về thực hiện quy định về quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp ở nước ta trong giai đoạn hiện nay là điều rất cần thiết, cả về mặt lý luận và thực tiễn ở nước ta nói chung trong giai đoạn hiện nay
“Quyền tự do kinh doanh” lần đầu tiên được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1992
và tiếp tục được tái khẳng định theo hướng rộng hơn trong Hiến pháp năm 2013: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm” Quy định này thể hiện sự cởi mở và khuyến khích của Nhà nước đối với các hoạt động kinh doanh của người dân, doanh nghiệp Đây cũng là tiền đề quan trọng để thay đổi
về tư duy quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh Và thực tế, hệ thống pháp luật kinh doanh của nước ta trong vài năm gần đây đã có những chuyển mình mạnh
mẽ, theo hướng tích cực, tạo quản lý doanh nghiệp kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp Điều này thể hiện rõ nhất ở hai văn bản quan trọng là Luật doanh nghiệp 2014 nay là Luật doanh nghiệp 2020, Luật đầu tư 2014 và hàng loạt chính sách “cởi trói” cho doanh nghiệp đã được ban hành, các giấy phép con bị bãi bỏ, thủ tục gia nhập thị trường đơn giản, thuận tiện hơn nhiều, các thủ tục hành chính dần được tinh giản và tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp…Thời gian qua đã có nhiều công trình
Trang 62
nghiên cứu liên quan đến vấn đề Quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện nay bảo luôn được thực hiện một cách nghiêm túc, song trên thực
tế còn nhiều vướng mắc trong quá trình áp dụng Vì những lý do nêu trên, tác giả chọn
đề tài: “Quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam” làm
báo cáo tốt nghiệp Đây là vấn đề có tính cấp thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Xung quanh báo cáo thực tập, đã có một số công trình khoa học và bài viết nghiên cứu đề cập đến trên nhiều phạm vi và lĩnh vực khác nhau, trong đó nổi lên một
số đề tài sau:
Quyền con người trong thế giới hiện đại do TS Phạm Khiêm Ích và GS.TS Hoàng Văn Hảo chủ biên, NXB Chính trị Quốc gia;
Pháp luật trong cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước của PGS.TS Trần Ngọc Đường, NXB Tư pháp;
Quan điểm pháp luật kinh tế trong nền kinh tế thị trường của PGS.TS Trần Trọng Hựu xuất bản năm 2015 tại NXB Tri thức;
Một số vấn đề cấp thiết cần giải quyết để đảm bảo quyền tự do kinh doanh của
TS Dương Đăng Huệ xuất bản năm 2013, NBX Tư pháp;
Pháp luật kinh tế nước ta trong bước chuyển sang kinh tế thị trường của TS Nguyễn Như Phát xuất bản năm 2014, NBX KHXH;
Môi trường pháp luật kinh tế đầy đủ phù hợp với cơ chế thị trường của TS Hoàng Thế Liên; Pháp luật và quyền tự do kinh doanh của PGS.TS Lê Hồng Hạnh; Hoàn thiện luật kinh tế ở Việt Nam trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Quyền tự do kinh doanh trong pháp luật kinh tế Việt Nam;
Qua khảo sát, cho thấy: nhiều công trình đã làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản
về quyền tự do kinh doanh nói chung ở nước ta hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của báo cáo là quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện nay
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 73
- Phạm vi không gian: nước Việt Nam
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu trong thời gian 05 năm gần đây (từ năm 2016
đến năm 2020)
4 Phương pháp nghiên cứu
Báo cáo được thực hiện dựa trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
về quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp để phân tích, lý giải các vấn đề
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: tác giả sử dụng phương pháp này để nghiên cứu các văn bản pháp luật có liên quan đến quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện nay; các đề tài khoa học, chương trình, dự án, các bài báo đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành được thể hiện trong chương 1, 2 và
3
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: tác giả sử dụng phương pháp này để nêu lên
cơ sở lý thuyết về quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện nay và đánh giá, khái quát thành những quan điểm, luận điểm làm nền tảng lý
luận cho báo cáo
- Phương pháp thống kê: tác giả sử dụng phương pháp này chủ yếu ở chương 2
và 3 báo cáo, các số liệu thu thập, điều tra được tổng hợp, phân tích làm cơ sở đánh giá thực trạng qua đó đánh giá về thành tựu, hạn chế để đưa ra những giải pháp giải quyết vấn đề một cách cụ thể
5 Kết cấu chung của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận thì phần nội dung gồm 03 chương, cụ thể:
- Chương 1: Quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam
- Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật về quyền tự do kinh doanh theo pháp luật Việt Nam
- Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam
Trang 84
NỘI DUNG Chương 1 QUYỀN TỰ DO KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM
1.1 Khái niệm quyền tự do kinh doanh
Có rất nhiều định nghĩa về quyền tự do kinh doanh và mỗi định nghĩa đều mang một nội dung nhất định, bởi lẽ mỗi tác giả đứng trên nhiều quan điểm khác nhau khi tiếp cận nghiên cứu để đưa ra những khái niệm khác nhau, song tựu chung lại thì đa phần các khái niệm đều hiểu: “Quyền tự do kinh doanh là quyền của công dân lụa chọn hình thức tổ chức kinh tế, ngành nghề và quy mô kinh doanh”1
Từ điển Luật học ghi nhận:”Quyền tự do kinh doanh là một trong những quyền công dân được Hiến pháp, Bộ Luật dân sự, Luật thương mại, Luật doanh nghiệp quy định nội dung: mọi công dân có quyền lựa chọn ngành, nghề, hình thức tổ chức doanh nghiệp sản xuất, buôn bán, dịch vụ, đầu tư để sinh lợi Kinh doanh có thể hiểu là thực hiện một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản
Quyền tự do kinh doanh là một bộ phận hợp thành trong hệ thống các quyền cơ
nhiều phương diện Góc độ chủ quan đã được thể hiện quyền tự do kinh doanh là quyền được hành động một cách có ý thức của các chủ thể là cá nhân hoặc pháp nhân được thực hiện trong hoạt động sản xuất kinh doanh4.” “Khía cạnh này thể hiện qua một số hành vi quan trọng như: quyền tự do đầu tư tiền vốn để thành lập doanh nghiệp,
tự do lựa chọn mô hình tổ chức kinh doanh, tự do lựa chọn đối tác để thiết lập quan hệ kinh doanh, tự do lựa chọn khách hàng, tự do lựa chọn cách thức giải quyết tranh chấp,
https://thcsnguyenduq1.hcm.edu.vn/gdcd/gdcd9-bai-13-quyen-tu-do-kinh-doanh-va-nghia-vu-dong-thue-cm44180-103414.asp x
2 Từ điển Luật học (1999), NXB Từ điển Bách k hoa, Hà Nội, tr 249
3 Đỗ Thị Thúy Hằng (2019) Quyền tự do kinh doanh theo pháp luật Việt Nam, qua thực tiễn tại tỉnh Quảng Trị - Luận văn thạc sỹ
4 Đỗ Thị Thúy Hằng (2019) Quyền tự do kinh doanh theo pháp luật Việt Nam, qua thực tiễn tại tỉnh Quảng Trị - Luận văn thạc sỹ
Trang 95
tự do cạnh tranh Những khả năng xử sự này là thuộc tính tự nhiên của chủ thể chứ
Dưới góc độ khách quan thì quyền tự do kinh doanh là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm tạo điều kiện cho các cá nhân, tổ chức thực hiện được trên thực tế quyền được tự do kinh doanh của mình Theo nghĩa này, quyền
tự do kinh doanh chính là một chế định pháp luật Như vậy, theo quan niệm này, quyền tự do kinh doanh không chỉ bao gồm những quyền của cá nhân hoặc pháp nhân được hưởng mà bao hàm cả trách nhiệm pháp lý của cơ quan nhà nước, cá nhân hoặc pháp nhân thực hiện các quyền đó6
Theo các quy định pháp luật Việt Nam quy định Quyền tự do kinh doanh lần đầu tiên được ghi nhận chính thức tại điều 57, Hiến pháp 1992 Kế thừa tinh thần đó, điều
33 Hiến pháp 2013 khẳng định người dân có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm7 Cụ thể hóa, Luật Doanh nghiệp 2020 và Luật đầu tư 2014 khẳng định “doanh nghiệp có quyền tự do kinh doanh trong những ngành,
doanh trong các ngành, nghề mà Luật này không cấm”9 Quyền tự do thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh được chi tiết trong Luật đầu tư 2014 như: Nhà đầu tư được tự chủ quyết định hoạt động đầu tư kinh doanh theo quy định của Luật đầu tư và quy định khác của pháp luật có liên quan; được tiếp cận, sử dụng các nguồn vốn tín dụng, quỹ
hỗ trợ, sử dụng đất đai và tài nguyên khác theo quy định của pháp luật Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu về tài sản, vốn đầu tư, thu nhập và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của nhà đầu tư10
Như vậy, quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp là được hiểu là một chế
định pháp luật với các quy định thể hiện những quyền của cá nhân hoặc pháp nhân
5 Đỗ Thị Thúy Hằng (2019) Quyền tự do kinh doanh theo pháp luật Việt Nam, qua thực tiễn tại tỉnh Quảng Trị - Luận văn thạc sỹ
6 Đỗ Thị Thúy Hằng (2019) Quyền tự do kinh doanh theo pháp luật Việt Nam, qua thực tiễn tại tỉnh Quảng Trị - Luận văn thạc sỹ
7 https://lawkey.vn/quyen-tu-do-kinh-doanh/[truy cập ngày 10/01/2021]
9 https://lawkey.vn/quyen-tu-do-kinh-doanh/[truy cập ngày 10/01/2021]
10 https://lawkey.vn/quyen-tu-do-kinh-doanh/[truy cập ngày 10/01/2021]
Trang 106
được hưởng mà bao hàm cả trách nhiệm pháp lý của cơ quan nhà nước, cá nhân hoặc pháp nhân thực hiện các quyền đó trong hoạt động kinh doanh
1.2 Quy định của pháp luật Việt Nam về quyền tự do kinh doanh theo pháp luật hiện hành
Quyền con người, quyền công dân đã được cụ thể hóa thành các quyền, trong đó lần đầu tiên quyền tự do kinh doanh đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1992 Mặc
dù còn hạn chế ở phạm vi quyền tự do kinh doanh khi các chủ thể chỉ được tự do kinh doanh ở những lĩnh vực mà pháp luật cho phép, nhưng so với các quan điểm quản lý kinh tế thời kì trước đó, đây được xem là bước tiến đặc biệt quan trọng trong việc ghi nhận quyền tự do kinh doanh ở Việt Nam Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 thừa nhận quyền tự do kinh doanh là một trong những quyền cơ bản của con người Cụ thể: Điều
33 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã nêu rõ: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm” Khoản 1 Điều 7 Luật Doanh nghiệp năm 2020 cũng quy định một trong các quyền của doanh nghiệp là “Tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà luật không cấm”
Từ quy định trong Hiến pháp 2013, quyền tự do kinh doanh đã được hiện thực hóa trong hệ thống pháp luật về kinh doanh, nhất là ở các văn bản luật gốc, có tác động lớn đến cộng đồng doanh nghiệp như Luật Doanh nghiệp 2029 Đồng thời, kể từ khi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực thi hành (01/1/2021), các yêu cầu về điều kiện kinh doanh tại thời điểm đăng ký thành lập doanh nghiệp như chứng chỉ hành nghề, xác nhận vốn pháp định đã được bãi bỏ Ngoài ra, doanh nghiệp được trao quyền tự quyết định về nội dung, hình thức, số lượng con dấu thay vì phải đăng ký mẫu dấu với
cơ quan công an như trước đây
Điều 1 Nghị định số 01/2021/NĐ-CP ngày 04/01/2021 của Chính phủ về đăng
ký doanh nghiệp cũng quy định: “Thành lập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật
là quyền của cá nhân, tổ chức và được Nhà nước bảo hộ”, kể cảđối với những ngành, nghề kinh doanh không có trong Hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam và chưa được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật khác thìcơ quan đăng ký kinh doanh vẫn
“ghi nhận ngành, nghề kinh doanh này vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp nếu không thuộc ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh, đồng thời thông báo cho