TRANG TÓM TẮT TIỂU LUẬN Dựa trên cơ sở lý thuyết về khởi nghiệp, nghiên cứu kiểm định tác động của các yếu tố chủ quan (kinh nghiệm, tài chính, quan điểm cá nhân) và các yếu tố khách quan (môi trường bên ngoài – gia đình, nhà trường, …) tới phương thức khởi nghiệp của các bạn sinh viên dựa trên các tiêu chí về “động lực khởi nghiệp” và “nguồn lực khởi nghiệp”. Thêm vào đó, đưa ra định hướng mang tính khách quan để phần nào giúp cho các bạn sinh viên nhìn nhận con đường khởi nghiệp đúng đắn hơn. Sử dụng số liệu điều tra bằng các bảng câu hỏi cho các sinh viên từ nhiều trường đại học trên địa bàn thành phố (đại học Sài Gòn, đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, đại học Văn Lang, ….). Bài nghiên cứu kiểm định các giả thuyết về động lực, hành trình của các bạn trẻ đang có ý định khởi nghiệp, những yếu tố tác động đến phương thức mà các bạn lựa chọn để khởi nghiệp. Cũng như mức độ tác động nhiều hay ít của từng yếu tố, từ đó, đưa ra các giải pháp cải thiện đánh mạnh vào các yếu tố có mức độ tác động cao. Thông qua bài nghiên cứu này chúng tôi sẽ giải đáp thắc mắc những vấn đề trong khởi nghiệp, cách thức để khởi nghiệp, đưa ra định hướng mang tính chủ quan để góp phần giúp con đường khởi nghiệp của sinh viên bớt đi phần nào khó khăn. Có thể thấy được qua những kết quả chung quy thì mức độ ảnh hưởng của những yếu tố khác nhau tới lựa chọn phương thức khởi nghiệp sẽ khác nhau. Song yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất là môi trường bên ngoài do nhân tố này có thể phần nào ảnh hưởng đến các nhân tố còn lại, ví dụ như: nếu người thân và gia đình ủng hộ ý định khởi nghiệp của sinh viên thì họ sẽ càng có động lực hơn để khởi nghiệp, tức là nhân tố môi trường bên ngoài có thể ảnh hưởng đến nhân tố động lực. Với mỗi sinh viên khác nhau sẽ có những tư tưởng khác nhau về mỗi nhân tố và từ đó sẽ có sự lựa chọn phương thức khởi nghiệp khác nhau. Vậy nên những đề xuất được đưa ra để cải thiện sẽ dựa hoàn toàn trên những kết quả thu được qua những bảng khảo sát với đối tượng được lựa chọn là các bạn sinh viên có ý định khởi nghiệp đang học tập và sinh sống trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. MỤC LỤC CHƯƠNG I. GIỚI THIỆU 5 1.1.LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 5 1.2.MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 6 1.3.ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 6 1.4.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6 CHƯƠNG II. CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7 2.1. KHỞI NGHIỆP LÀ GÌ? 7 2.2. THẾ NÀO LÀ NGƯỜI KHỞI NGHIỆP? 8 2.3. STARTUP LÀ GÌ? 8 2.4. SỰ KHÁC BIỆT GIỮA KHỞI NGHIỆP VÀ STARTUP? 8 2.5. QUY TRÌNH CÁC BƯỚC KHỞI NGHIỆP 9 2.6. CÁC LOẠI HÌNH KHỞI NGHIỆP 11 2.7. KHỞI NGHIỆP TRONG THỜI ĐẠI 4.0 13 2.8. VAI TRÒ CỦA KHỞI NGHIỆP 14 2.9. THẾ NÀO LÀ SINH VIÊN KHỞI NGHIỆP? 14 2.10. CÁC LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 14 2.10.1. THUYẾT HÀNH VI DỰ ĐỊNH (THEORY OF PLANNED BEHAVIOR – TPB) 14 2.10.2. LÝ THUYẾT SỰ KIỆN KHỞI NGHIỆP (THE ENTREPRENEUTRIAL EVENT–SEE) 15 2.11. MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT 18 CHƯƠNG III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20 3.1.THIẾT KẾ MẪU ĐIỀU TRA 20 3.2. QUY TRÌNH XÂY DỰNG PHIẾU ĐIỀU TRA 20 3.3. KẾT QUẢ ĐIỀU TRA SƠ BỘ 21 3.3.1. THÔNG TIN VỀ MẪU NGHIÊN CỨU SƠ BỘ 21 3.3.2. KẾT QUẢ THU ĐƯỢC 21 3.4. NỘI DUNG PHIẾU ĐIỀU TRA 23 3.5. CÁC BIẾN VÀ THANG ĐO 23 3.5.1. THANG ĐO ĐỘNG LỰC 24 3.5.2. THANG ĐO NĂNG LỰC CÁ NHÂN 24 3.5.3. THANG ĐO MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI 25 3.5.4. THANG ĐO TÀI CHÍNH 25 3.5.5. THANG ĐO MỤC TIÊU 25 3.5.6. THANG ĐO PHƯƠNG THỨC KHỞI NGHIỆP 26 3.6. PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU 26 CHƯƠNG IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU…………………………………………27 4.1.GIỚI THIỆU CHƯƠNG 4 27 4.2.THỐNG KÊ MÔ TẢ MẪU NGHIÊN CỨU 27 4.2.1. THỐNG KÊ TẦN SỐ 27 4.2.2. THỐNG KÊ TRUNG BÌNH 29 4.3. PHÂN TÍCH ĐỘ TIN CẬY THANG ĐO – CRONBACH’S ALPHA 32 4.4. PHÂN TÍCH NHÂN TỐ KHÁM PHÁ EFA 35 4.4.1. PHÂN TÍCH NHÂN TỐ KHÁM PHÁ EFA CHO CÁC BIẾN ĐỘC LẬP 35 4.4.2. PHÂN TÍCH NHÂN TỐ KHÁM PHÁ EFA CHO BIẾN PHỤ THUỘC 38 4.5. PHÂN TÍCH TƯƠNG QUAN (PEARSON) 39 4.6. PHÂN TÍCH HỒI QUY TUYẾN TÍNH VÀ KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH 40 4.7. PHƯƠNG TRÌNH HỒI QUY 41 4.8. KIỂM ĐỊNH CÁC GIẢ ĐỊNH HỒI QUY 42 4.8.1. PHÂN PHỐI CHUẨN CỦA PHẦN DƯ 42 4.8.2. LIÊN HỆ TUYẾN TÍNH GIỮA BIẾN PHỤ THUỘC VỚI BIẾN ĐỘC LẬP 43 CHƯƠNG V. KẾT LUẬN…………………………………………………………...45 5.1. KẾT LUẬN CHUNG 45 5.2. ĐỀ XUẤT PHƯƠNG THỨC KHỞI NGHIỆP 45 5.2.1. CẢI THIỆN CƠ HỘI LỰA CHỌN PHƯƠNG THỨC KHỞI NGHIỆP CỦA SINH VIÊN THÔNG QUA NHÂN TỐ “ĐỘNG LỰC” 46 5.2.2. CẢI THIỆN CƠ HỘI LỰA CHỌN PHƯƠNG THỨC KHỞI NGHIỆP CỦA SINH VIÊN THÔNG QUA NHÂN TỐ “NĂNG LỰC CÁ NHÂN” 47 5.2.3. CẢI THIỆN CƠ HỘI LỰA CHỌN PHƯƠNG THỨC KHỞI NGHIỆP CỦA SINH VIÊN THÔNG QUA NHÂN TỐ “MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI” 47 5.2.4. CẢI THIỆN CƠ HỘI LỰA CHỌN PHƯƠNG THỨC KHỞI NGHIỆP CỦA SINH VIÊN THÔNG QUA NHÂN TỐ “TÀI CHÍNH” 48 5.2.5. CẢI THIỆN CƠ HỘI LỰA CHỌN PHƯƠNG THỨC KHỞI NGHIỆP CỦA SINH VIÊN THÔNG QUA NHÂN TỐ “MỤC TIÊU” 48 5.3. HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 48 5.3.1. HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU 48 5.3.2. HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 49 PHỤ LỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO CHƯƠNG I. GIỚI THIỆU 1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Thời gian qua, khởi nghiệp đã trở thành một vấn đề nóng trong xã hội. Người người nói đến khởi nghiệp, nhà nhà nói đến khởi nghiệp. Mọi thông tin liên quan đến khởi nghiệp đều được đưa ra, như khởi nghiệp là gì, làm sao để khởi nghiệp thêm vào đó là các bí quyết để khởi nghiệp thành công được chia sẻ rộng rãi trên mạng. Khởi nghiệp đã thực sự trở thành một trào lưu thu hút sự quan tâm của đông đảo người dân, đặc biệt là giới trẻ. nhưng số người khởi nghiệp thành công lại khá ít ỏi. Trong vấn đề khởi nghiệp, không ít người trẻ đang mắc phải cùng một vấn đề đó là kinh nghiệm và kiến thức còn nhiều lỗ hổng nhưng vẫn chạy theo những mục tiêu quá lớn. Vì vậy khi gặp rủi ro họ thường bất ngờ và không thể tìm ra hướng giải quyết. Tuy nhiên, ta không thể chối bỏ những đóng góp của việc khởi nghiệp với nền kinh tế các nước. Ta dễ dàng nhận thấy các quốc gia, các vùng kinh tế có tỷ lệ doanh nghiệp càng cao thì nền kinh tế càng phát triền, thêm vào đó nếu sinh viên là đối tượng khởi nghiệp thì lại càng tăng thêm khả năng phát triển kinh tế sau này cho đất nước. Vì về cơ bản nhiệm vụ chính của sinh viên là học tập nhưng nếu họ bắt đầu khởi nghiệp thì đó như là một bước đệm cho con đường sự nghiệp sau khi ra trường. Hơn nữa ở sinh viên họ có nhiều thời gian hơn, có nhiều cơ hội hơn vì họ còn trẻ, còn sự nhiệt huyết, dù cho có vấp ngã thì họ vẫn còn chỗ dựa là gia đình, thầy cô, thêm vào đó tự bản thân tạo dựng nên một doanh nghiệp sẽ giúp họ tích góp kinh nghiệm cho những ý tưởng khởi nghiệp sau này. Trên thực tế chính phủ và nhà trường cũng ủng hộ cho việc sinh viên khởi nghiệp, với những chính sách hỗ trợ, những chương trình hội thảo nhằm khơi dậy tinh thần khởi nghiệp, giúp giải đáp những thắc mắc về khởi nghiệp cho sinh viên, những chương trình giúp cho sinh viên thể hiện các ý tưởng trước các “shark” để nhận được đánh giá và khả năng được hỗ trợ vốn nếu ý tưởng đó khả quan. Trên thế giới có rất nhiều những bài nghiên cứu về đề tài khởi nghiệp sinh viên. Tuy nhiên, đa phần các nhà nghiên cứu tập trung nhiều vào tinh thần khởi nghiệp của sinh viên, họ nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến suy nghĩ của sinh viên về khởi nghiệp. Song dự định chỉ là một dạng lý thuyết được dựng nên trong tư tưởng, còn muốn kiểm chứng nó thì phải dựa vào thực tiễn, phải xem xét nó trên nhiều góc độ và cách tốt nhất để thực hiện được việc này đó chính là bắt tay vào làm thử. Để hiểu hơn hướng đi sinh viên lựa chọn khởi nghiệp bài nghiên cứu này sẽ tập trung vào các hướng đi mà sinh viên sẽ lựa chọn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, từ đó, nhận định được hướng đi các bạn sinh viên đang có dự định khởi nghiệp. Trong thời đại công nghệ số, cơ hội khởi nghiệp được tăng cao, thì các hướng đi khởi nghiệp cho sinh viên cũng đa dạng hơn, việc này làm cho môi trường nghiên cứu sẽ rộng hơn các nghiên cứu ở thời kì trước. Việc làm nghiên cứu này giúp chúng ta hiểu được các phương thức khởi nghiệp được sinh viên lựa chọn, các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn, mức độ ảnh hưởn của từng yếu tố. Giúp chúng ta có cách nhìn nhận đúng hơn về lý thuyết khởi nghiệp đặc biệt là đối với các sinh viên đang nuôi cho mình ý tưởng khởi nghiệp. 1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU: Mục tiêu chung: Đưa ra các hàm ý phương pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong con đường khởi nghiệp của sinh viên. Mục tiêu cụ thể: Để đạt được mục tiêu chung, bài nghiên cứu này phải đạt các mục tiêu cụ thể sau: • Xác định yếu tố ảnh hưởng đến phương thức sinh viên khởi nghiệp • Đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố • Kiểm định về sự khác biệt phương thức khởi nghiệp của sinh viên theo đặc điểm cá nhân • Tìm ra những phương pháp để giúp cho con đường khởi nghiệp của sinh viên trở nên dễ dàng hơn. 1.3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU: Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố tác động tới lựa chọn phương thức khởi nghiệp của sinh viên. Phạm vi nghiên cứu: Khách thể nghiên cứu: Các bạn sinh viên đang có ý định khởi nghiệp, sinh sống và học tập tại Thành phố Hồ Chí Minh ở nhiều ngành khác nhau. Không gian nghiên cứu: Một số trường đại học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Vì văn hóa vùng miền và điều kiện môi trường kinh doanh khác nhau cũng có ảnh hưởng đến cách sinh viên khởi nghiệp nên đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu trong khu vực thành phố Hồ Chí Minh Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu được lên ý tưởng từ cuối tháng 12021 và bắt đầu thu thập dữ liệu từ giữa tháng 32021. 1.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: Sử dụng phương pháp phân tích so sánh và tổng hợp thông tin thứ cấp từ các tài liệu cần có trên hệ thống cơ sở dữ liệu. Thêm vào đó, đề tài còn sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua các bảng khảo sát, nhưng trước khi thực hiện nghiên cứu định lượng cần nghiên cứu định tính cơ bản để bổ sung thêm những yếu tố còn thiếu trong giả thuyết nghiên cứu. CHƯƠNG II. CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1. KHỞI NGHIỆP LÀ GÌ? Khởi nghiệp theo từ điển Tiếng Việt là bắt đầu một cái gì mới, là việc bắt đầu tạo lập một công việc kinh doanh mới. Trong lĩnh vực nghiên cứu học thuật đó là một khái niệm đa chiều. Khởi nghiệp là việc mở một doanh nghiệp mới, có thể là “start a new business” hay “new venture creation”, “tinh thần doanh nhân entrepreneurship” hay là tự làm chủ, tự kinh doanh (seft employment). Trên các góc độ nghiên cứu khác nhau thì khởi nghiệp được gắn với các thuật ngữ và lĩnh vực nghiên cứu rất khác nhau. Khởi nghiệp được gắn chủ yếu với hai nghĩa và hai hướng nghiên cứu chính sau: Các học giả trong lĩnh vực Kinh tế lao động thì cho rằng khởi nghiệp là một sự lựa chọn nghề nghiệp của cá nhân giữa việc đi làm thuê hoặc tự tạo việc làm cho mình nên họ gắn khởi nghiệp với thuật ngữ “tự tạo việc làm self employment” và các nghiên cứu về lựa chọn nghề nghiệp. Theo hướng nghiên cứu này khởi nghiệp là lựa chọn nghề nghiệp của những người không sợ rủi ro. Tự làm chủ công việc kinh doanh của chính mình và thuê người khác làm công cho họ. Làm thuê được hiểu là cá nhân sẽ làm việc cho một doanh nghiệp hoặc tổ chức do người khác làm chủ. Như vậy, khởi nghiệp được hiểu là tự tạo việc làm theo nghĩa trái với đi làm thuê, đó là tự làm chủ, tự mở doanh nghiệp và thuê người khác làm việc cho mình. Trong lĩnh vực Kinh tế và Quản trị kinh doanh, khởi nghiệp gắn với thuật ngữ “tinh thần doanh nhân – entrepreneurship” và các nghiên cứu trong lĩnh vực này. “Entrepreneurship tinh thần doanh nhân” cũng được hiểu và định nghĩa khác nhau. Nếu hiểu theo nghĩa hẹp “tinh thần doanh nhân” là việc một cá nhân bắt đầu khởi sự một công việc kinh doanh của riêng mình, hay là việc một cá nhân chấp nhận rủi ro để tạo lập một doanh nghiệp mới và tự làm chủ nhằm mục đích làm giàu, hoặc là việc bắt đầu tạo lập một công việc kinh doanh mới bằng đầu tư vốn kinh doanh, hay mở cửa hàng kinh doanh. Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì tinh thần doanh nhân lại là một thái độ làm việc đề cao tính tự chủ, sáng tạo, đổi mới và chấp nhận rủi ro để tạo ra các giá trị mới trong các doanh nghiệp hiện tại, là sự đổi mới, là một phong cách nhận thức và suy nghĩ, là dự định phát triển nhanh. Hiện nay, các nhà nghiên cứu lý thuyết lẫn thực tiễn rất đa dạng trong khái niệm và khuôn khổ nghiên cứu về tinh thần doanh nhân. Tinh thần doanh nhân với nghĩa rộng hơn thường được các học giả nghiên cứu trong lĩnh vực Quản trị kinh doanh và Quản trị chiến lược. Giữa khởi nghiệp theo nghĩa tự tạo việc làm và theo khái niệm tinh thần doanh nhân có sự khác biệt đôi chút. Tự tạo việc làm nhấn mạnh tới khía cạnh tự làm chủ chính mình, không đi làm thuê cho ai cả trong khi khởi nghiệp theo nghĩa tinh thần doanh nhân còn có thể bao gồm cả những người thành lập doanh nghiệp mới để tận dụng cơ hội thị trường nhưng lại không trực tiếp quản lý doanh nghiệp mà thuê người khác nên vẫn có thể đi làm thuê cho doanh nghiệp khác. Khởi nghiệp trong nghiên cứu này sẽ được hiểu theo nghĩa hẹp của tinh thần doanh nhân. Theo đó, khởi nghiệp là việc một hoặc một vài cá nhân (một mình hoặc hợp tác với người khác) tận dụng cơ hội thị trường tạo dựng một công việc kinh doanh mới. 2.2. THẾ NÀO LÀ NGƯỜI KHỞI NGHIỆP? Trong từ điển Webster Dictionary, người khởi nghiệp được định nghĩa là người tổ chức hoặc quản trị các doanh nghiệp, đặc biệt các công việc kinh doanh có nhiều rủi ro và sự không chắc chắn. Birs (1988) định nghĩa người khởi nghiệp là người bắt đầu (hoặc tạo dựng) một công việc kinh doanh mới. MacMillan và Katz (1992) cho rằng người khởi nghiệp là người kiếm tiền bằng cách bắt đầu hoặc quản trị công việc kinh doanh có tính rủi ro. Vậy ta đúc kết được người khởi nghiệp là người tạo dựng doanh nghiệp mới và phát triển kinh doanh, họ năng động trong các hoạt động kinh tế, quản trị các thay đổi về kỹ thuật và tổ chức trong doanh nghiệp, tạo dựng văn hóa đổi mới và học tập trong doanh nghiệp. Như vậy, trong bài nghiên cứu này, người khởi nghiệp là cá nhân tạo dựng doanh nghiệp mới. 2.3. STARTUP LÀ GÌ? Theo Investopedia, startup là công ty đang ở trong giai đoạn đầu của quá trình hoạt động. Những công ty đang ở trong giai đoạn này thường được cấp vốn bởi chính những người sáng lập viên để phát triển sản phẩm và dịch vụ mà họ tin rằng có nguồn cung. Do nguồn thu hạn hẹp và chi phí cao, hầu hết các startup với quy mô nhỏ thường không ổn định trong dài hạn nếu không có nguồn vốn hỗ trợ từ các quỹ đầu tư. Một số từ điển thông dụng của Mỹ và Anh giải nghĩa startup là một công ty mới thành lập. Nhưng cái khó ở đây là những nguồn này không ghi rõ “mới” là bao nhiêu. Điều đó khiến cho nhiều người hiểu lầm cho rằng startup có tuổi đời chỉ 12 năm. Theo Paul Graham – lập trình viên và nhà đầu tư mạo hiểm nổi tiếng với vai trò sáng lập viên của YCombinator (quỹ đầu tư mạo hiểm chỉ đầu tư cho các ý tưởng mới) – nhận định: “Một công ty 5 năm tuổi cũng có thể là một startup”. Theo Neil Blumenthal, Đồng Giám đốc điều hành của Warby Parky được trích dẫn trên tạp chí Forbes thì:” A startup is a company working to solve a problem where the solution is not obvious and success is not guaranteed.” (tạm dịch: Startup là một công ty hoạt động nhằm giải quyết một vấn đề mà giải pháp (đối với vấn đề đó) chưa rõ ràng và sự thành công không được đảm bảo). Theo Eric Ries, tác giả cuốn sách “The Lean Startup: How Constant Innovation Creates Radically Successful Businesses” một cuốn sách được coi là “cẩm nang gối đầu giường” của mọi công ty startup, thì: “A startup is a human institution designed to create new products and services under conditions of extreme uncertainty” (Startup là một định chếtổ chức con người được thiết kế nhằm mục đích tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mới trong các điều kiện cực kỳ không chắc chắn). Chung quy lại, có nhiều khái niệm khác nhau về “startup” nhưng hầu hết đều thống nhất với nhau rằng “Startup là một danh từ chỉ một nhóm người hoặc một công ty cùng nhau làm một điều chưa chắn chắn thành công.” 2.4. SỰ KHÁC BIỆT GIỮA KHỞI NGHIỆP VÀ STARTUP? Có một câu hỏi luôn khiến những người mới tìm hiểu về khởi nghiệp phải băng khoăng, đó là:” Startup có phải là khởi nghiệp hay không?” Câu trả lời là không, đây là 2 khái niệm với bản chất khác nhau nhưng lại bị nhiều người nhầm lẫn với nhau. Cụ thể: • Khởi nghiệp được hiểu là hành động bắt đầu một nghề nghiệp nào đó, hình thức phổ thông là thành lập một doanh nghiệp. • Startup được hiểu là một người hoặc một nhóm người hay một công ty nào đó thực hiện 1 điều nào đó nhưng chưa chắc chắn sẽ thành công. Như vậy nghĩa là bản chất của 2 khái niệm này là khác nhau. Khởi nghiệp là một động từ có thể dùng cho tất cả mọi người khi mở doanh nghiệp còn startup là một danh từ hay được dùng cho các công ty khi tạo ra một sản phẩm hay dịch vụ nào đó không chắc chắn thành công. 2.5. QUY TRÌNH CÁC BƯỚC KHỞI NGHIỆP: Bước 1: Xác định mục tiêu Để có một bảng kế hoạch thành công thì đầu tiên cần phải xác định đúng mục tiêu mà bạn và doanh nghiệp sẽ hướng đến. Mục tiêu ngắn hạn (2 – 3 năm) hoặc dài hạn (10 năm) doanh nghiệp sẽ đạt được những, mục đích kinh doanh của doanh nghiệp và giá trị cốt lõi mà doanh nghiệp hướng tới. Bước 2: Nghiên cứu lợi thế, khó khăn mà doanh nghiệp có thể gặp phải Khi kinh doanh chắc chắn sẽ không tránh khỏi những khó khăn hay việc kinh doanh không thuận lợi. Tuy nhiên, nhà quản trị giỏi sẽ là người dự đoán trước được những khó khăn đó. Họ sẽ biết cách giảm thiểu rủi ro, thiệt hại đến mức thấp nhất. Hãy có một cái nhìn tổng quan nhất về thị trường. Nghiên cứu đối thủ, chính sách sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến doanh nghiệp. Luôn có kế hoạch dự phòng hoặc khoản chi phí dự trù rủi ro để vượt qua những giai đoạn khó khăn trong kinh doanh. Bước 3: Tìm ý tưởng phù hợp Đây là một trong các bước khởi nghiệp không thể bỏ qua. Ý tưởng hay đôi khi sẽ không thể bằng một ý tưởng đúng và phù hợp. Hãy suy nghĩ đơn giản và bắt đầu từ những vấn đề của bản thân và những người xung quanh. Tìm ra giải pháp hoặc sản phẩm tối ưu nhất để giải quyết những điều đó. Đơn cử như Scrub Daddy – một trong những Startup có tốc độ phát triển nhanh nhất trong chương trình Shark Tank của Mỹ. Founder Aaron Krause đã phát minh ra một miếng bọt biển vệ sinh làm bằng một chất liệu đặc biệt, giúp việc cọ rửa trở nên dễ dàng hơn. Lưu ý, ý tưởng không nên quá viển vông hoặc quá vĩ đại về một lĩnh vực mà bản thân không có đủ kiến thức vì điều đó sẽ khiến cho ý tưởng dễ bị thất bại. Bước 4: Lấy ý tưởng từ việc phỏng vấn khách hàng Bất cứ ý tưởng nào cũng cần phải xuất phát từ nhu cầu thực tế của khách hàng. Chính vì thế, để có một ý tưởng hay cần tìm những người được xem là khách hàng tiềm năng, tiến hành phỏng vấn, khảo sát về nhu cầu, chất lượng sản phẩm mong muốn để có những thông tin cần thiết áp dụng vào thực tế. Có thể sử dụng sản phẩm mẫu, bản dùng thử để đo lường mức độ hài lòng của khách hàng. Ngoài ra phải xem xét đến mức độ phù hợp của những lợi ích từ sản phẩm, dịch vụ, ý tưởng khởi nghiệp cung cấp cho khách hàng, ghi chép lại những ý tưởng từ khách hàng từ đó có một chiến lược kinh doanh, chiến lược marketing hiệu quả. Bước 5: Lập kế hoạch kinh doanh Tiếp theo là bản dự án phác thảo chung về dự án khởi nghiệp của doanh nghiệp. Bản dự án kinh doanh sơ bộ sẽ giúp doanh nghiệp định hình được về tính khả thi của ý tưởng, mô hình khởi nghiệp, chiến lược chung, các vấn đề về thương hiệu, pháp lý, tài chính, lộ trình thực hiện, … Bên cạnh đó, để doanh nghiệp kinh doanh phát triển thì không thể thiếu các hoạt động tiếp thị như truyền thông, thiết kế nội dung, marketing, … Tuy nhiên, phải đảm bảo những hình thức tiếp thị này hợp lý để ý tưởng kinh doanh có thể được truyền đạt đến khách hàng một cách tốt nhất. Bước 6: Xây dựng bản kế hoạch chi tiết Sau khi có bản kế hoạch kinh doanh sơ bộ cần bắt đầu tiến hành xây dựng bản kế hoạch chi tiết cho từng giai đoạn. Đặt ra các mục tiêu ngắn hạn và phương pháp, thời gian hoàn thành từng mục tiêu đó sẽ giúp tiết kiệm được tối đa nguồn lực. Bước 7: Đo lường, đánh giá Trong suốt quá trình thực hiện, phải liên tục đo lường, đánh giá mức độ hoàn thành của mục tiêu nhằm tối ưu sao cho có được bản kế hoạch hoàn chỉnh nhất. Ghi nhận những đánh giá, phản hồi của khách hàng về chất lượng sản phẩm mẫu và có những cải tiến kịp thời trước khi đưa sản phẩm chính thức vào thị trường. Bước 8: Tiến hành xây dựng một đội ngũ nhân sự Sau khi ý tưởng kinh doanh đã hoàn chỉnh và khả thi thì công việc tiếp theo là tìm kiếm những cộng sự cùng phát triển ý tưởng đó. Đối với công ty khởi nghiệp, con người luôn là ưu tiên hàng đầu giúp Startup đó lớn mạnh. Tùy thuộc vào kinh nghiệm của mỗi cá nhân, hãy tìm kiếm những nhân sự xuất sắc có khả năng hỗ trợ trong các mảng như tài chính, marketing, dịch vụ, chăm sóc khách hàng, sản xuất, … Một quản trị gia giỏi là người biết tập hợp các cá nhân ưu tú thành một tập thể đoàn kết, vững mạnh và có năng lực chuyên môn tốt. Bước 9: Huy động và kêu gọi vốn Công ty khởi nghiệp phải luôn có vốn để mở rộng quy mô kinh doanh. Các công ty Startup thường mang đến những phương pháp giải quyết nhu cầu của người dùng nên “tốc độ phủ” thị trường phải cực nhanh. Và vốn là điều sẽ giúp cho mục tiêu này nhanh chóng đạt được. Lên một kế hoạch huy động và kêu gọi vốn kinh doanh cho từng vòng (round) là bước đi quan trọng giúp công ty Startup tồn tại được trong giai đoạn khởi đầu. Không giống như những năm trước, thời điểm này các nguồn cấp vốn đầu tư đang rất đa dạng. Từ các nhà đầu tư thiên thần (Angel Investor) – như trong chương trình Shark Tank Việt Nam, đến các quỹ đầu tư mạo hiểm (Venture Capitals). Thậm chí rất nhiều Startup công nghệ tại Việt Nam đã kêu gọi được vốn đầu tư từ Silicon Valley. Từ đó ta thấy doanh nghiệp sẽ được “rót” vốn ngay lập tức nếu ý tưởng được đưa ra hay và có đủ sức thuyết phục. Bước 10: Cơ cấu bộ máy doanh nghiệp và nhân sự Sau khi chuẩn bị các yếu tố từ ý tưởng, kế hoạch, nhân sự, nguồn vốn, … Bước tiếp theo cần giải quyết là chọn loại hình doanh nghiệp. Theo Luật Doanh nghiệp năm 2014, hiện nay có các loại hình sau: • Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH): gồm công ty TNNH 1 thành viên và 2 thành viên • Công ty Cổ phần • Doanh nghiệp nhà nước • Doanh nghiệp tư nhân • Công ty Hợp danh Tùy vào nguồn vốn và quy mô phát triển, cá nhân cần lựa chọn một loại hình doanh nghiệp phù hợp. Tuy nhiên, trước khi lựa chọn cần tìm hiểu kỹ các vấn đề liên quan đến loại hình doanh nghiệp và thủ tục pháp lý liên quan. Bước 11: Thiết lập ngân sách hoạt động Để công ty phát triển được, bạn cần lập ngân sách hoạt động của công ty. Cụ thể, bao gồm các khoản như chi phí marketing, tiền lương nhân viên công ty, chi phí mua sắm khác, …. Điều quan trọng là cần đảm bảo không lãng phí một đồng nào nhằm tiết kiệm tối đa chi phí nhưng vẫn đáp ứng được nguồn vốn khi cần. 2.6. CÁC LOẠI HÌNH KHỞI NGHIỆP: Theo tài liệu huấn luyện Phụ nữ trong khởi nghiệp của Hội LHPN Việt Nam, hiện nay có 6 cách tổ chức khởi nghiệp riêng biệt. Mỗi cá nhân đứng ra tổ chức doanh nghiệp của mình đều được gọi là các “doanh nhân”, tuy nhiên giữa mỗi nhóm ngành và hệ sinh thái hỗ trợ nó đều có các đặc điểm riêng cùng những sự khác biệt then chốt cần được nắm vững. Loại 1. Khởi nghiệp kinh doanh cá thể (hay còn gọi là sống là để hưởng thụ) Những nhà kinh doanh dạng này đều thuộc nhóm những người sống vì đam mê và thú vui cá nhân, làm không vì ai trừ chính bản thân họ, vừa làm vừa hưởng. Ví dụ như tại Silicon Valley hay còn được gọi là thung lũng silicon, có những lập trình viên hoặc thiết kế web tự do làm việc vì yêu công nghệ và làm việc chủ yếu để phục vụ sở thích cá nhân hơn là làm giàu. Loại 2 Khởi nghiệp kinh doanh nhỏ (lao động để nuôi sống gia đình) Hình thức kinh doanh này được tạo dựng không phải để mở rộng hay thay đổi quy mô trong tương lai mà nhằm vào mục tiêu chính của chủ sở hữu đó là nuôi sống bản thân và gia đình, nguồn vốn duy nhất của họ là khoản tiết kiệm tư nhân, tiền gửi ngân hàng, các khoản vay kinh doanh nhỏ và sổ tiết kiệm mượn từ người thân, họ hàng. Trong loại hình kinh doanh này nhà sáng lập cũng đồng thời là nhân công. Những nhà kinh doanh thuộc nhóm này thường không trở thành tỷ phú hay xuất hiện trên các tạp chí của người giàu. Tuy nhiên nhìn góc độ khác chính họ lại là minh chứng sống động nhất khi nói đến tinh thần kinh doanh hơn bất kỳ ai, đến từ bất kỳ nơi nào trong 6 nhóm loại hình khởi nghiệp. Ví dụ như các hình thức kinh doanh nhỏ lẻ bao gồm cửa hàng đồ gia dụng, thực phẩm, tiệm làm tóc, đại lý du lịch, chuyên gia tư vấn, cửa hàng dịch vụ Internet, … Loại 3 Khởi nghiệp có khả năng tăng trưởng (hay là tham vọng ông lớn) Đây là xu hướng chủ đạo mà các nhà kinh doanh và đầu tư liên doanh tại Silicon Valley hướng đến. Những dự án khởi nghiệp dạng này rất cần đến những nhà đầu tư mạo hiểm hỗ trợ hòng tìm ra những mô hình kinh doanh mới mẻ. Họ chỉ làm việc với những người giỏi nhất. Một khi đã tìm ra một sản phẩm và một mô hình kinh doanh phù hợp, họ lại càng tập trung hơn vào hướng mở rộng và ra sức kêu gọi vốn đầu tư để thúc đẩy tiến độ lên mức nhanh nhất. Dự án Khởi nghiệp hướng mở rộng thường tập trung quanh các “cluster” đầy đủ về vốn, nhân lực và “văn hóa” khởi nghiệp như Silicon Valley, Thượng Hải, New York hoặc Isarel … Tuy chiếm một phần rất nhỏ trong 6 hình thức khởi nghiệp, nhưng do lợi nhuận và hình ảnh mang lại, loại hình khởi nghiệp này thu hút mọi nguồn vốn mạo hiểm theo nguyên tắc: rủi ro tương đương với lợi nhuận. Những ví dụ cụ thể nhất chính là: Google, Skype, Facebook và Twitter. Loại 4 Khởi nghiệp hướng chuyển nhượng (hay gọi là từ núi này sang núi khác) Trong vòng 5 năm trở lại đây, ứng dụng web và di động đã vươn lên mạnh mẽ và việc chuyển nhượng các Khởi nghiệp dạng này đã trở nên hết sức phổ biến, tiêu biểu là việc Facebook mua lại Instagram. Chi phí khởi nghiệp cho các dự án đồng dạng ít hơn nhiều so với dạng truyền thống, yêu cầu sự giúp đỡ của các nhà đầu tư bên ngoài; lợi thế bên cạnh đó là giảm bớt thời gian cần thiết để đưa được sản phẩm ra thị trường và có bệ đỡ sẵn. Mục tiêu chính không phải là tạo lập các tập đoàn tỷ đô, mà là nuôi lớn ý tưởng rồi bán lại cho các bên kinh doanh lớn hơn. Loại 5 Khởi nghiệp trong công ty lớn (Đổi mới hoặc biến mất) Những công ty lớn sở hữu vòng đời hữu hạn. Trong hơn 1 thập kỉ qua, chúng lại càng thu hẹp hơn nữa. Đa phần chuyển hướng phát triển sang hình thái duy trì và tung ra các sản phẩm phụ bên cạnh sản phẩm chính. Sự thay đổi khẩu vị của khách hàng, sự tiến bộ của công nghệ, luật pháp, các đối thủ cạnh tranh v.v… là các tác nhân gây sức ép lên các công ty, đòi hỏi họ phải đưa ra các chính sách mới, tạo ra sản phẩm mới và tìm kiếm khách hàng mới tại các thị trường mới. Những công ty, tập đoàn hiện tại thực hiện điều đó bằng cách mua lại các công ty nhỏ hơn đang trên đà phát triển, hoặc tận lực chuyển hướng kinh doanh vốn có của họ. Bất hạnh thay, kích cỡ đồ sộ của chính họ lại làm cho quá trình này trở nên khó khăn hơn bao giờ hết. Ví dụ tiêu biểu đó là Google và Sony. Loại 6 Khởi nghiệp hướng xã hội (Tạo nên sự khác biệt) Những doanh nhân trong lĩnh vực xã hội là những con người sở hữu lòng nhiệt tình và nguồn nhiệt huyết không hề thua kém bất kì ai trong số những nhà sáng lập kể trên. Thế nhưng, khác với những dự án khởi nghiệp hướng mở rộng, mục tiêu của họ là biến thế giới thành một nơi tốt đẹp hơn, trội hẳn so với việc làm giàu. Những dự án kiểu này có thể thuộc dạng phi lợi nhuận hoặc chỉ thu về lợi nhuận nhược tiểu. Tổng kết, mỗi hình thức trong số 6 loại hình khởi nghiệp trên lại có các yêu cầu khác biệt lớn đối với hệ sinh thái kinh doanh, các phương pháp giáo dục đặc biệt, các ưu đãi kinh tế khác nhau (thuế má, giấy tờ, …) nơi ươm mầm và các nhà tư bản mạo hiểm. Một hệ sinh thái khởi nghiệp hệ mở rộng là phương thức tối thượng để thực thi tư bản chủ nghĩa. Đó không phải là việc thực thi “tính công bằng” hay ưu đãi. Thương trường là chiến trường, cuộc chơi đòi hỏi độ liều cao, đam mê và tầm nhìn. Kẻ chiến thắng chính là người hội đủ tất cả những yếu tố đó.
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN -
TÊN TIỂU LUẬNLỐI ĐI NÀO CHO SINH VIÊN KHỞI NGHIỆPMôn học: Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh
Năm học 2020-202
Trang 2TRANG TÓM TẮT TIỂU LUẬN
Dựa trên cơ sở lý thuyết về khởi nghiệp, nghiên cứu kiểm định tác động của cácyếu tố chủ quan (kinh nghiệm, tài chính, quan điểm cá nhân) và các yếu tố khách quan(môi trường bên ngoài – gia đình, nhà trường, …) tới phương thức khởi nghiệp của cácbạn sinh viên dựa trên các tiêu chí về “động lực khởi nghiệp” và “nguồn lực khởinghiệp” Thêm vào đó, đưa ra định hướng mang tính khách quan để phần nào giúp chocác bạn sinh viên nhìn nhận con đường khởi nghiệp đúng đắn hơn
Sử dụng số liệu điều tra bằng các bảng câu hỏi cho các sinh viên từ nhiều trườngđại học trên địa bàn thành phố (đại học Sài Gòn, đại học Sư phạm thành phố Hồ ChíMinh, đại học Văn Lang, ….) Bài nghiên cứu kiểm định các giả thuyết về động lực,hành trình của các bạn trẻ đang có ý định khởi nghiệp, những yếu tố tác động đếnphương thức mà các bạn lựa chọn để khởi nghiệp Cũng như mức độ tác động nhiềuhay ít của từng yếu tố, từ đó, đưa ra các giải pháp cải thiện đánh mạnh vào các yếu tố
có mức độ tác động cao
Thông qua bài nghiên cứu này chúng tôi sẽ giải đáp thắc mắc những vấn đề trongkhởi nghiệp, cách thức để khởi nghiệp, đưa ra định hướng mang tính chủ quan để gópphần giúp con đường khởi nghiệp của sinh viên bớt đi phần nào khó khăn Có thể thấyđược qua những kết quả chung quy thì mức độ ảnh hưởng của những yếu tố khác nhautới lựa chọn phương thức khởi nghiệp sẽ khác nhau Song yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất
là môi trường bên ngoài do nhân tố này có thể phần nào ảnh hưởng đến các nhân tốcòn lại, ví dụ như: nếu người thân và gia đình ủng hộ ý định khởi nghiệp của sinh viênthì họ sẽ càng có động lực hơn để khởi nghiệp, tức là nhân tố môi trường bên ngoài cóthể ảnh hưởng đến nhân tố động lực Với mỗi sinh viên khác nhau sẽ có những tưtưởng khác nhau về mỗi nhân tố và từ đó sẽ có sự lựa chọn phương thức khởi nghiệpkhác nhau Vậy nên những đề xuất được đưa ra để cải thiện sẽ dựa hoàn toàn trênnhững kết quả thu được qua những bảng khảo sát với đối tượng được lựa chọn là cácbạn sinh viên có ý định khởi nghiệp đang học tập và sinh sống trên địa bàn Thành phố
Hồ Chí Minh
Trang 3MỤC LỤC
CHƯƠNG I GIỚI THIỆU 5
1.1.LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 5
1.2.MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 6
1.3.ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 6
1.4.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6
CHƯƠNG II CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7
2.1 KHỞI NGHIỆP LÀ GÌ? 7
2.2 THẾ NÀO LÀ NGƯỜI KHỞI NGHIỆP? 8
2.3 STARTUP LÀ GÌ? 8
2.4 SỰ KHÁC BIỆT GIỮA KHỞI NGHIỆP VÀ START-UP? 8
2.5 QUY TRÌNH CÁC BƯỚC KHỞI NGHIỆP 9
2.6 CÁC LOẠI HÌNH KHỞI NGHIỆP 11
2.7 KHỞI NGHIỆP TRONG THỜI ĐẠI 4.0 13
2.8 VAI TRÒ CỦA KHỞI NGHIỆP 14
2.9 THẾ NÀO LÀ SINH VIÊN KHỞI NGHIỆP? 14
2.10 CÁC LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 14
2.10.1 THUYẾT HÀNH VI DỰ ĐỊNH (THEORY OF PLANNED BEHAVIOR – TPB) 14
2.10.2 LÝ THUYẾT SỰ KIỆN KHỞI NGHIỆP (THE ENTREPRENEUTRIAL EVENT–SEE) 15
2.11 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT 18
CHƯƠNG III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1.THIẾT KẾ MẪU ĐIỀU TRA 20
3.2 QUY TRÌNH XÂY DỰNG PHIẾU ĐIỀU TRA 20
3.3 KẾT QUẢ ĐIỀU TRA SƠ BỘ 21
3.3.1 THÔNG TIN VỀ MẪU NGHIÊN CỨU SƠ BỘ 21
3.3.2 KẾT QUẢ THU ĐƯỢC 21
3.4 NỘI DUNG PHIẾU ĐIỀU TRA 23
3.5 CÁC BIẾN VÀ THANG ĐO 23
CHƯƠNG IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU………27
CHƯƠNG V KẾT LUẬN……… 45
PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4CHƯƠNG I GIỚI THIỆU
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Thời gian qua, khởi nghiệp đã trở thành một vấn đề nóng trong xã hội Ngườingười nói đến khởi nghiệp, nhà nhà nói đến khởi nghiệp Mọi thông tin liên quan đếnkhởi nghiệp đều được đưa ra, như khởi nghiệp là gì, làm sao để khởi nghiệp thêm vào
đó là các bí quyết để khởi nghiệp thành công được chia sẻ rộng rãi trên mạng Khởinghiệp đã thực sự trở thành một trào lưu thu hút sự quan tâm của đông đảo người dân,đặc biệt là giới trẻ nhưng số người khởi nghiệp thành công lại khá ít ỏi Trong vấn đềkhởi nghiệp, không ít người trẻ đang mắc phải cùng một vấn đề đó là kinh nghiệm vàkiến thức còn nhiều lỗ hổng nhưng vẫn chạy theo những mục tiêu quá lớn Vì vậy khigặp rủi ro họ thường bất ngờ và không thể tìm ra hướng giải quyết
Tuy nhiên, ta không thể chối bỏ những đóng góp của việc khởi nghiệp với nền kinh
tế các nước Ta dễ dàng nhận thấy các quốc gia, các vùng kinh tế có tỷ lệ doanh nghiệpcàng cao thì nền kinh tế càng phát triền, thêm vào đó nếu sinh viên là đối tượng khởinghiệp thì lại càng tăng thêm khả năng phát triển kinh tế sau này cho đất nước Vì về
cơ bản nhiệm vụ chính của sinh viên là học tập nhưng nếu họ bắt đầu khởi nghiệp thì
đó như là một bước đệm cho con đường sự nghiệp sau khi ra trường Hơn nữa ở sinhviên họ có nhiều thời gian hơn, có nhiều cơ hội hơn vì họ còn trẻ, còn sự nhiệt huyết,
dù cho có vấp ngã thì họ vẫn còn chỗ dựa là gia đình, thầy cô, thêm vào đó tự bản thântạo dựng nên một doanh nghiệp sẽ giúp họ tích góp kinh nghiệm cho những ý tưởngkhởi nghiệp sau này Trên thực tế chính phủ và nhà trường cũng ủng hộ cho việc sinhviên khởi nghiệp, với những chính sách hỗ trợ, những chương trình hội thảo nhằmkhơi dậy tinh thần khởi nghiệp, giúp giải đáp những thắc mắc về khởi nghiệp cho sinhviên, những chương trình giúp cho sinh viên thể hiện các ý tưởng trước các “shark” đểnhận được đánh giá và khả năng được hỗ trợ vốn nếu ý tưởng đó khả quan
Trên thế giới có rất nhiều những bài nghiên cứu về đề tài khởi nghiệp sinh viên.Tuy nhiên, đa phần các nhà nghiên cứu tập trung nhiều vào tinh thần khởi nghiệp củasinh viên, họ nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến suy nghĩ của sinh viên về khởinghiệp Song dự định chỉ là một dạng lý thuyết được dựng nên trong tư tưởng, cònmuốn kiểm chứng nó thì phải dựa vào thực tiễn, phải xem xét nó trên nhiều góc độ vàcách tốt nhất để thực hiện được việc này đó chính là bắt tay vào làm thử Để hiểu hơnhướng đi sinh viên lựa chọn khởi nghiệp bài nghiên cứu này sẽ tập trung vào cáchướng đi mà sinh viên sẽ lựa chọn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, từ đó, nhậnđịnh được hướng đi các bạn sinh viên đang có dự định khởi nghiệp Trong thời đạicông nghệ số, cơ hội khởi nghiệp được tăng cao, thì các hướng đi khởi nghiệp cho sinh
Trang 5viên cũng đa dạng hơn, việc này làm cho môi trường nghiên cứu sẽ rộng hơn cácnghiên cứu ở thời kì trước.
Việc làm nghiên cứu này giúp chúng ta hiểu được các phương thức khởi nghiệpđược sinh viên lựa chọn, các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn, mức độ ảnh hưởncủa từng yếu tố Giúp chúng ta có cách nhìn nhận đúng hơn về lý thuyết khởi nghiệpđặc biệt là đối với các sinh viên đang nuôi cho mình ý tưởng khởi nghiệp
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:
Mục tiêu chung: Đưa ra các hàm ý phương pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong
con đường khởi nghiệp của sinh viên
Mục tiêu cụ thể: Để đạt được mục tiêu chung, bài nghiên cứu này phải đạt các
mục tiêu cụ thể sau:
Xác định yếu tố ảnh hưởng đến phương thức sinh viên khởi nghiệp
Đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố
Kiểm định về sự khác biệt phương thức khởi nghiệp của sinh viên theo đặcđiểm cá nhân
Tìm ra những phương pháp để giúp cho con đường khởi nghiệp của sinh viêntrở nên dễ dàng hơn
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố tác động tới lựa chọn phương thức khởi
nghiệp của sinh viên
Phạm vi nghiên cứu:
Khách thể nghiên cứu: Các bạn sinh viên đang có ý định khởi nghiệp, sinh sống và
học tập tại Thành phố Hồ Chí Minh ở nhiều ngành khác nhau
Không gian nghiên cứu: Một số trường đại học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí
Minh Vì văn hóa vùng miền và điều kiện môi trường kinh doanh khác nhau cũng cóảnh hưởng đến cách sinh viên khởi nghiệp nên đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu trongkhu vực thành phố Hồ Chí Minh
Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu được lên ý tưởng từ cuối tháng 1/2021 và bắt
đầu thu thập dữ liệu từ giữa tháng 3/2021
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Sử dụng phương pháp phân tích so sánh và tổng hợp thông tin thứ cấp từ các tàiliệu cần có trên hệ thống cơ sở dữ liệu Thêm vào đó, đề tài còn sử dụng phương phápnghiên cứu định lượng thông qua các bảng khảo sát, nhưng trước khi thực hiện nghiêncứu định lượng cần nghiên cứu định tính cơ bản để bổ sung thêm những yếu tố cònthiếu trong giả thuyết nghiên cứu
Trang 6CHƯƠNG II CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 KHỞI NGHIỆP LÀ GÌ?
Khởi nghiệp theo từ điển Tiếng Việt là bắt đầu một cái gì mới, là việc bắt đầu tạolập một công việc kinh doanh mới Trong lĩnh vực nghiên cứu học thuật đó là một kháiniệm đa chiều Khởi nghiệp là việc mở một doanh nghiệp mới, có thể là “start a newbusiness” hay “new venture creation”, “tinh thần doanh nhân - entrepreneurship” hay
là tự làm chủ, tự kinh doanh (seft - employment) Trên các góc độ nghiên cứu khácnhau thì khởi nghiệp được gắn với các thuật ngữ và lĩnh vực nghiên cứu rất khác nhau.Khởi nghiệp được gắn chủ yếu với hai nghĩa và hai hướng nghiên cứu chính sau: Các học giả trong lĩnh vực Kinh tế lao động thì cho rằng khởi nghiệp là một sự lựachọn nghề nghiệp của cá nhân giữa việc đi làm thuê hoặc tự tạo việc làm cho mình nên
họ gắn khởi nghiệp với thuật ngữ “tự tạo việc làm - self employment” và các nghiêncứu về lựa chọn nghề nghiệp Theo hướng nghiên cứu này khởi nghiệp là lựa chọnnghề nghiệp của những người không sợ rủi ro Tự làm chủ công việc kinh doanh củachính mình và thuê người khác làm công cho họ Làm thuê được hiểu là cá nhân sẽlàm việc cho một doanh nghiệp hoặc tổ chức do người khác làm chủ Như vậy, khởinghiệp được hiểu là tự tạo việc làm theo nghĩa trái với đi làm thuê, đó là tự làm chủ, tự
mở doanh nghiệp và thuê người khác làm việc cho mình
Trong lĩnh vực Kinh tế và Quản trị kinh doanh, khởi nghiệp gắn với thuật ngữ
“tinh thần doanh nhân – entrepreneurship” và các nghiên cứu trong lĩnh vực này
“Entrepreneurship - tinh thần doanh nhân” cũng được hiểu và định nghĩa khác nhau.Nếu hiểu theo nghĩa hẹp “tinh thần doanh nhân” là việc một cá nhân bắt đầu khởi sựmột công việc kinh doanh của riêng mình, hay là việc một cá nhân chấp nhận rủi ro đểtạo lập một doanh nghiệp mới và tự làm chủ nhằm mục đích làm giàu, hoặc là việc bắtđầu tạo lập một công việc kinh doanh mới bằng đầu tư vốn kinh doanh, hay mở cửahàng kinh doanh Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì tinh thần doanh nhân lại là một thái độlàm việc đề cao tính tự chủ, sáng tạo, đổi mới và chấp nhận rủi ro để tạo ra các giá trịmới trong các doanh nghiệp hiện tại, là sự đổi mới, là một phong cách nhận thức vàsuy nghĩ, là dự định phát triển nhanh Hiện nay, các nhà nghiên cứu lý thuyết lẫn thựctiễn rất đa dạng trong khái niệm và khuôn khổ nghiên cứu về tinh thần doanh nhân.Tinh thần doanh nhân với nghĩa rộng hơn thường được các học giả nghiên cứu tronglĩnh vực Quản trị kinh doanh và Quản trị chiến lược
Giữa khởi nghiệp theo nghĩa tự tạo việc làm và theo khái niệm tinh thần doanhnhân có sự khác biệt đôi chút Tự tạo việc làm nhấn mạnh tới khía cạnh tự làm chủchính mình, không đi làm thuê cho ai cả trong khi khởi nghiệp theo nghĩa tinh thầndoanh nhân còn có thể bao gồm cả những người thành lập doanh nghiệp mới để tậndụng cơ hội thị trường nhưng lại không trực tiếp quản lý doanh nghiệp mà thuê ngườikhác nên vẫn có thể đi làm thuê cho doanh nghiệp khác Khởi nghiệp trong nghiên cứunày sẽ được hiểu theo nghĩa hẹp của tinh thần doanh nhân Theo đó, khởi nghiệp làviệc một hoặc một vài cá nhân (một mình hoặc hợp tác với người khác) tận dụng cơhội thị trường tạo dựng một công việc kinh doanh mới
Trang 72.2 THẾ NÀO LÀ NGƯỜI KHỞI NGHIỆP?
Trong từ điển Webster Dictionary, người khởi nghiệp được định nghĩa là người tổchức hoặc quản trị các doanh nghiệp, đặc biệt các công việc kinh doanh có nhiều rủi ro
và sự không chắc chắn Birs (1988) định nghĩa người khởi nghiệp là người bắt đầu(hoặc tạo dựng) một công việc kinh doanh mới MacMillan và Katz (1992) cho rằngngười khởi nghiệp là người kiếm tiền bằng cách bắt đầu hoặc quản trị công việc kinhdoanh có tính rủi ro Vậy ta đúc kết được người khởi nghiệp là người tạo dựng doanhnghiệp mới và phát triển kinh doanh, họ năng động trong các hoạt động kinh tế, quảntrị các thay đổi về kỹ thuật và tổ chức trong doanh nghiệp, tạo dựng văn hóa đổi mới
và học tập trong doanh nghiệp Như vậy, trong bài nghiên cứu này, người khởi nghiệp
là cá nhân tạo dựng doanh nghiệp mới
2.3 STARTUP LÀ GÌ?
Theo Investopedia, startup là công ty đang ở trong giai đoạn đầu của quá trình hoạtđộng Những công ty đang ở trong giai đoạn này thường được cấp vốn bởi chínhnhững người sáng lập viên để phát triển sản phẩm và dịch vụ mà họ tin rằng có nguồncung Do nguồn thu hạn hẹp và chi phí cao, hầu hết các startup với quy mô nhỏ thườngkhông ổn định trong dài hạn nếu không có nguồn vốn hỗ trợ từ các quỹ đầu tư
Một số từ điển thông dụng của Mỹ và Anh giải nghĩa startup là một công ty mớithành lập Nhưng cái khó ở đây là những nguồn này không ghi rõ “mới” là bao nhiêu.Điều đó khiến cho nhiều người hiểu lầm cho rằng startup có tuổi đời chỉ 1-2 năm Theo Paul Graham – lập trình viên và nhà đầu tư mạo hiểm nổi tiếng với vai tròsáng lập viên của Y-Combinator (quỹ đầu tư mạo hiểm chỉ đầu tư cho các ý tưởngmới) – nhận định: “Một công ty 5 năm tuổi cũng có thể là một startup”
Theo Neil Blumenthal, Đồng Giám đốc điều hành của Warby Parky được trích dẫntrên tạp chí Forbes thì:” A startup is a company working to solve a problem where thesolution is not obvious and success is not guaranteed.” (tạm dịch: Startup là một công
ty hoạt động nhằm giải quyết một vấn đề mà giải pháp (đối với vấn đề đó) chưa rõràng và sự thành công không được đảm bảo)
Theo Eric Ries, tác giả cuốn sách “The Lean Startup: How Constant InnovationCreates Radically Successful Businesses” - một cuốn sách được coi là “cẩm nang gốiđầu giường” của mọi công ty startup, thì: “A startup is a human institution designed tocreate new products and services under conditions of extreme uncertainty” (Startup làmột định chế/tổ chức con người được thiết kế nhằm mục đích tạo ra những sản phẩm
và dịch vụ mới trong các điều kiện cực kỳ không chắc chắn)
Chung quy lại, có nhiều khái niệm khác nhau về “startup” nhưng hầu hết đều thốngnhất với nhau rằng “Startup là một danh từ chỉ một nhóm người hoặc một công ty cùngnhau làm một điều chưa chắn chắn thành công.”
2.4 SỰ KHÁC BIỆT GIỮA KHỞI NGHIỆP VÀ START-UP?
Có một câu hỏi luôn khiến những người mới tìm hiểu về khởi nghiệp phải băngkhoăng, đó là:” Startup có phải là khởi nghiệp hay không?” Câu trả lời là không, đây
là 2 khái niệm với bản chất khác nhau nhưng lại bị nhiều người nhầm lẫn với nhau Cụthể:
Trang 8 Khởi nghiệp được hiểu là hành động bắt đầu một nghề nghiệp nào đó, hình thứcphổ thông là thành lập một doanh nghiệp.
Startup được hiểu là một người hoặc một nhóm người hay một công ty nào đóthực hiện 1 điều nào đó nhưng chưa chắc chắn sẽ thành công
Như vậy nghĩa là bản chất của 2 khái niệm này là khác nhau Khởi nghiệp là mộtđộng từ có thể dùng cho tất cả mọi người khi mở doanh nghiệp còn startup là một danh
từ hay được dùng cho các công ty khi tạo ra một sản phẩm hay dịch vụ nào đó khôngchắc chắn thành công
2.5 QUY TRÌNH CÁC BƯỚC KHỞI NGHIỆP:
Bước 1: Xác định mục tiêu
Để có một bảng kế hoạch thành công thì đầu tiên cần phải xác định đúng mục tiêu
mà bạn và doanh nghiệp sẽ hướng đến Mục tiêu ngắn hạn (2 – 3 năm) hoặc dài hạn(10 năm) doanh nghiệp sẽ đạt được những, mục đích kinh doanh của doanh nghiệp vàgiá trị cốt lõi mà doanh nghiệp hướng tới
Bước 2: Nghiên cứu lợi thế, khó khăn mà doanh nghiệp có thể gặp phải
Khi kinh doanh chắc chắn sẽ không tránh khỏi những khó khăn hay việc kinhdoanh không thuận lợi Tuy nhiên, nhà quản trị giỏi sẽ là người dự đoán trước đượcnhững khó khăn đó Họ sẽ biết cách giảm thiểu rủi ro, thiệt hại đến mức thấp nhất Hãy
có một cái nhìn tổng quan nhất về thị trường Nghiên cứu đối thủ, chính sách sẽ ảnhhưởng trực tiếp đến doanh nghiệp Luôn có kế hoạch dự phòng hoặc khoản chi phí dựtrù rủi ro để vượt qua những giai đoạn khó khăn trong kinh doanh
Bước 3: Tìm ý tưởng phù hợp
Đây là một trong các bước khởi nghiệp không thể bỏ qua Ý tưởng hay đôi khi sẽkhông thể bằng một ý tưởng đúng và phù hợp Hãy suy nghĩ đơn giản và bắt đầu từnhững vấn đề của bản thân và những người xung quanh Tìm ra giải pháp hoặc sảnphẩm tối ưu nhất để giải quyết những điều đó Đơn cử như Scrub Daddy – một trongnhững Startup có tốc độ phát triển nhanh nhất trong chương trình Shark Tank của Mỹ.Founder Aaron Krause đã phát minh ra một miếng bọt biển vệ sinh làm bằng một chấtliệu đặc biệt, giúp việc cọ rửa trở nên dễ dàng hơn Lưu ý, ý tưởng không nên quá viểnvông hoặc quá vĩ đại về một lĩnh vực mà bản thân không có đủ kiến thức vì điều đó sẽkhiến cho ý tưởng dễ bị thất bại
Bước 4: Lấy ý tưởng từ việc phỏng vấn khách hàng
Bất cứ ý tưởng nào cũng cần phải xuất phát từ nhu cầu thực tế của khách hàng.Chính vì thế, để có một ý tưởng hay cần tìm những người được xem là khách hàngtiềm năng, tiến hành phỏng vấn, khảo sát về nhu cầu, chất lượng sản phẩm mong muốn
để có những thông tin cần thiết áp dụng vào thực tế Có thể sử dụng sản phẩm mẫu,bản dùng thử để đo lường mức độ hài lòng của khách hàng Ngoài ra phải xem xét đếnmức độ phù hợp của những lợi ích từ sản phẩm, dịch vụ, ý tưởng khởi nghiệp cung cấpcho khách hàng, ghi chép lại những ý tưởng từ khách hàng từ đó có một chiến lượckinh doanh, chiến lược marketing hiệu quả
Trang 9Bước 5: Lập kế hoạch kinh doanh
Tiếp theo là bản dự án phác thảo chung về dự án khởi nghiệp của doanh nghiệp.Bản dự án kinh doanh sơ bộ sẽ giúp doanh nghiệp định hình được về tính khả thi của ýtưởng, mô hình khởi nghiệp, chiến lược chung, các vấn đề về thương hiệu, pháp lý, tàichính, lộ trình thực hiện, … Bên cạnh đó, để doanh nghiệp kinh doanh phát triển thìkhông thể thiếu các hoạt động tiếp thị như truyền thông, thiết kế nội dung, marketing,
… Tuy nhiên, phải đảm bảo những hình thức tiếp thị này hợp lý để ý tưởng kinh doanh
có thể được truyền đạt đến khách hàng một cách tốt nhất
Bước 6: Xây dựng bản kế hoạch chi tiết
Sau khi có bản kế hoạch kinh doanh sơ bộ cần bắt đầu tiến hành xây dựng bản kếhoạch chi tiết cho từng giai đoạn Đặt ra các mục tiêu ngắn hạn và phương pháp, thờigian hoàn thành từng mục tiêu đó sẽ giúp tiết kiệm được tối đa nguồn lực
Bước 7: Đo lường, đánh giá
Trong suốt quá trình thực hiện, phải liên tục đo lường, đánh giá mức độ hoàn thànhcủa mục tiêu nhằm tối ưu sao cho có được bản kế hoạch hoàn chỉnh nhất Ghi nhậnnhững đánh giá, phản hồi của khách hàng về chất lượng sản phẩm mẫu và có nhữngcải tiến kịp thời trước khi đưa sản phẩm chính thức vào thị trường
Bước 8: Tiến hành xây dựng một đội ngũ nhân sự
Sau khi ý tưởng kinh doanh đã hoàn chỉnh và khả thi thì công việc tiếp theo là tìmkiếm những cộng sự cùng phát triển ý tưởng đó Đối với công ty khởi nghiệp, conngười luôn là ưu tiên hàng đầu giúp Startup đó lớn mạnh Tùy thuộc vào kinh nghiệmcủa mỗi cá nhân, hãy tìm kiếm những nhân sự xuất sắc có khả năng hỗ trợ trong cácmảng như tài chính, marketing, dịch vụ, chăm sóc khách hàng, sản xuất, … Một quảntrị gia giỏi là người biết tập hợp các cá nhân ưu tú thành một tập thể đoàn kết, vữngmạnh và có năng lực chuyên môn tốt
Bước 9: Huy động và kêu gọi vốn
Công ty khởi nghiệp phải luôn có vốn để mở rộng quy mô kinh doanh Các công tyStartup thường mang đến những phương pháp giải quyết nhu cầu của người dùng nên
“tốc độ phủ” thị trường phải cực nhanh Và vốn là điều sẽ giúp cho mục tiêu nàynhanh chóng đạt được Lên một kế hoạch huy động và kêu gọi vốn kinh doanh chotừng vòng (round) là bước đi quan trọng giúp công ty Startup tồn tại được trong giaiđoạn khởi đầu Không giống như những năm trước, thời điểm này các nguồn cấp vốnđầu tư đang rất đa dạng Từ các nhà đầu tư thiên thần (Angel Investor) – như trongchương trình Shark Tank Việt Nam, đến các quỹ đầu tư mạo hiểm (Venture Capitals).Thậm chí rất nhiều Startup công nghệ tại Việt Nam đã kêu gọi được vốn đầu tư từSilicon Valley Từ đó ta thấy doanh nghiệp sẽ được “rót” vốn ngay lập tức nếu ý tưởngđược đưa ra hay và có đủ sức thuyết phục
Bước 10: Cơ cấu bộ máy doanh nghiệp và nhân sự
Sau khi chuẩn bị các yếu tố từ ý tưởng, kế hoạch, nhân sự, nguồn vốn, … Bướctiếp theo cần giải quyết là chọn loại hình doanh nghiệp Theo Luật Doanh nghiệp năm
2014, hiện nay có các loại hình sau:
Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH): gồm công ty TNNH 1 thành viên và 2thành viên
Trang 10 Công ty Cổ phần
Doanh nghiệp nhà nước
Doanh nghiệp tư nhân
Công ty Hợp danh
Tùy vào nguồn vốn và quy mô phát triển, cá nhân cần lựa chọn một loại hìnhdoanh nghiệp phù hợp Tuy nhiên, trước khi lựa chọn cần tìm hiểu kỹ các vấn đề liênquan đến loại hình doanh nghiệp và thủ tục pháp lý liên quan
Bước 11: Thiết lập ngân sách hoạt động
Để công ty phát triển được, bạn cần lập ngân sách hoạt động của công ty Cụ thể,bao gồm các khoản như chi phí marketing, tiền lương nhân viên công ty, chi phí muasắm khác, … Điều quan trọng là cần đảm bảo không lãng phí một đồng nào nhằm tiếtkiệm tối đa chi phí nhưng vẫn đáp ứng được nguồn vốn khi cần
2.6 CÁC LOẠI HÌNH KHỞI NGHIỆP:
Theo tài liệu huấn luyện Phụ nữ trong khởi nghiệp của Hội LHPN Việt Nam, hiệnnay có 6 cách tổ chức khởi nghiệp riêng biệt Mỗi cá nhân đứng ra tổ chức doanhnghiệp của mình đều được gọi là các “doanh nhân”, tuy nhiên giữa mỗi nhóm ngành
và hệ sinh thái hỗ trợ nó đều có các đặc điểm riêng cùng những sự khác biệt then chốtcần được nắm vững
Loại 1 Khởi nghiệp kinh doanh cá thể (hay còn gọi là sống là để hưởng thụ)
Những nhà kinh doanh dạng này đều thuộc nhóm những người sống vì đam mê vàthú vui cá nhân, làm không vì ai trừ chính bản thân họ, vừa làm vừa hưởng
Ví dụ như tại Silicon Valley hay còn được gọi là thung lũng silicon, có những lậptrình viên hoặc thiết kế web tự do làm việc vì yêu công nghệ và làm việc chủ yếu đểphục vụ sở thích cá nhân hơn là làm giàu
Loại 2 Khởi nghiệp kinh doanh nhỏ (lao động để nuôi sống gia đình)
Hình thức kinh doanh này được tạo dựng không phải để mở rộng hay thay đổi quy
mô trong tương lai mà nhằm vào mục tiêu chính của chủ sở hữu đó là nuôi sống bảnthân và gia đình, nguồn vốn duy nhất của họ là khoản tiết kiệm tư nhân, tiền gửi ngânhàng, các khoản vay kinh doanh nhỏ và sổ tiết kiệm mượn từ người thân, họ hàng.Trong loại hình kinh doanh này nhà sáng lập cũng đồng thời là nhân công Những nhàkinh doanh thuộc nhóm này thường không trở thành tỷ phú hay xuất hiện trên các tạpchí của người giàu Tuy nhiên nhìn góc độ khác chính họ lại là minh chứng sống độngnhất khi nói đến tinh thần kinh doanh hơn bất kỳ ai, đến từ bất kỳ nơi nào trong 6nhóm loại hình khởi nghiệp
Ví dụ như các hình thức kinh doanh nhỏ lẻ bao gồm cửa hàng đồ gia dụng, thựcphẩm, tiệm làm tóc, đại lý du lịch, chuyên gia tư vấn, cửa hàng dịch vụ Internet, …
Loại 3 Khởi nghiệp có khả năng tăng trưởng (hay là tham vọng ông lớn)
Đây là xu hướng chủ đạo mà các nhà kinh doanh và đầu tư liên doanh tại SiliconValley hướng đến Những dự án khởi nghiệp dạng này rất cần đến những nhà đầu tưmạo hiểm hỗ trợ hòng tìm ra những mô hình kinh doanh mới mẻ Họ chỉ làm việc vớinhững người giỏi nhất Một khi đã tìm ra một sản phẩm và một mô hình kinh doanh
Trang 11phù hợp, họ lại càng tập trung hơn vào hướng mở rộng và ra sức kêu gọi vốn đầu tư đểthúc đẩy tiến độ lên mức nhanh nhất.
Dự án Khởi nghiệp hướng mở rộng thường tập trung quanh các “cluster” đầy đủ vềvốn, nhân lực và “văn hóa” khởi nghiệp như Silicon Valley, Thượng Hải, New Yorkhoặc Isarel … Tuy chiếm một phần rất nhỏ trong 6 hình thức khởi nghiệp, nhưng dolợi nhuận và hình ảnh mang lại, loại hình khởi nghiệp này thu hút mọi nguồn vốn mạohiểm theo nguyên tắc: rủi ro tương đương với lợi nhuận
Những ví dụ cụ thể nhất chính là: Google, Skype, Facebook và Twitter
Loại 4 Khởi nghiệp hướng chuyển nhượng (hay gọi là từ núi này sang núi khác)
Trong vòng 5 năm trở lại đây, ứng dụng web và di động đã vươn lên mạnh mẽ vàviệc chuyển nhượng các Khởi nghiệp dạng này đã trở nên hết sức phổ biến, tiêu biểu làviệc Facebook mua lại Instagram Chi phí khởi nghiệp cho các dự án đồng dạng ít hơnnhiều so với dạng truyền thống, yêu cầu sự giúp đỡ của các nhà đầu tư bên ngoài; lợithế bên cạnh đó là giảm bớt thời gian cần thiết để đưa được sản phẩm ra thị trường và
có bệ đỡ sẵn Mục tiêu chính không phải là tạo lập các tập đoàn tỷ đô, mà là nuôi lớn ýtưởng rồi bán lại cho các bên kinh doanh lớn hơn
Loại 5 Khởi nghiệp trong công ty lớn (Đổi mới hoặc biến mất)
Những công ty lớn sở hữu vòng đời hữu hạn Trong hơn 1 thập kỉ qua, chúng lạicàng thu hẹp hơn nữa Đa phần chuyển hướng phát triển sang hình thái duy trì và tung
ra các sản phẩm phụ bên cạnh sản phẩm chính Sự thay đổi khẩu vị của khách hàng, sựtiến bộ của công nghệ, luật pháp, các đối thủ cạnh tranh v.v… là các tác nhân gây sức
ép lên các công ty, đòi hỏi họ phải đưa ra các chính sách mới, tạo ra sản phẩm mới vàtìm kiếm khách hàng mới tại các thị trường mới
Những công ty, tập đoàn hiện tại thực hiện điều đó bằng cách mua lại các công tynhỏ hơn đang trên đà phát triển, hoặc tận lực chuyển hướng kinh doanh vốn có của họ.Bất hạnh thay, kích cỡ đồ sộ của chính họ lại làm cho quá trình này trở nên khó khănhơn bao giờ hết
Ví dụ tiêu biểu đó là Google và Sony
Loại 6 Khởi nghiệp hướng xã hội (Tạo nên sự khác biệt)
Những doanh nhân trong lĩnh vực xã hội là những con người sở hữu lòng nhiệt tình
và nguồn nhiệt huyết không hề thua kém bất kì ai trong số những nhà sáng lập kể trên.Thế nhưng, khác với những dự án khởi nghiệp hướng mở rộng, mục tiêu của họ là biếnthế giới thành một nơi tốt đẹp hơn, trội hẳn so với việc làm giàu Những dự án kiểunày có thể thuộc dạng phi lợi nhuận hoặc chỉ thu về lợi nhuận nhược tiểu
Tổng kết, mỗi hình thức trong số 6 loại hình khởi nghiệp trên lại có các yêu cầu
khác biệt lớn đối với hệ sinh thái kinh doanh, các phương pháp giáo dục đặc biệt, các
ưu đãi kinh tế khác nhau (thuế má, giấy tờ, …) nơi ươm mầm và các nhà tư bản mạohiểm Một hệ sinh thái khởi nghiệp hệ mở rộng là phương thức tối thượng để thực thi
tư bản chủ nghĩa Đó không phải là việc thực thi “tính công bằng” hay ưu đãi Thươngtrường là chiến trường, cuộc chơi đòi hỏi độ liều cao, đam mê và tầm nhìn Kẻ chiếnthắng chính là người hội đủ tất cả những yếu tố đó
Trang 122.7 KHỞI NGHIỆP TRONG THỜI ĐẠI 4.0
Thời đại 4.0 mở ra cơ hội kinh doanh không giới hạn cho mọi người Công nghệthông tin phát triển bùng nổ xóa bỏ mọi khoảng cách địa lý, đưa người tiêu dùng đếnvới mọi cửa hàng mà họ muốn đến, xem mọi hàng hóa họ muốn xem và tham khảo ýkiến của người mua khác Chính điều này mở ra cơ hội cho chủ cửa hàng đến gần hơnvới người tiêu dùng, giúp họ loại bỏ đi những khoản chi phí không cần thiết Nguồnvốn ban đầu để mở cửa hàng cũng trở nên mềm và nhẹ hơn những thập niên trước.Điều này cho thấy cơ hội và tiềm năng thời kỳ này mang lại là vô cùng lớn
Tuy vậy, nhưng vẫn tồn tại những chướng ngại mà những nhà kinh doanh tương laicần phải chú ý khi bước chân vào cuộc chơi của công nghệ số Đó có thể là sự cạnhtranh gay gắt, những quy định trong luật an ninh mạng và sự khó khăn trong việctương tác trực tiếp với khách hàng Vậy thì một nhà kinh doanh muốn tồn tại lâu bền
và phát triển phải có cho mình những bước chuẩn bị vững chắc:
Trước nhất là về sản phẩm lựa chọn kinh doanh, giữa hàng ngàn các shop online,làm sao để cửa hàng của mình trở nên nổi bật trong mắt khách hàng, đây mới thực sự
là thách thức của các chủ shop khi bắt đầu Điều đầu tiên phải luôn nghĩ tới là chọn lựasản phẩm phù hợp Sản phẩm đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng mới thực sự
là sản phẩm giúp shop trở nên nổi trội Để có thể tìm được đâu là nhu cầu thực sự củakhách hàng trong lĩnh vực muốn kinh doanh, là cả một quá trình tìm tòi, học hỏi củachính bản thân người chủ shop Thường xuyên cập nhật xu hướng trong ngành, tìmhiểu thông tin từ nhiều nguồn liên quan đến ngành đang kinh doanh để không tuột mất
cơ hội kinh doanh hấp dẫn
Ví dụ như ngành thời trang, cùng là một chiếc áo sơ mi, nhưng xu hướng thiết kế
và nhu cầu của người dùng sẽ thay đổi theo thời gian Nhiều người nghĩ rằng sơ minam thì bao năm vẫn vậy, nhưng chỉ những người tinh ý mới biết rằng, chất liệu thờitrang của sơ mi nam đang thay đổi, bớt cứng ngắc hơn và trở nên mềm mại hơn Haynhư thị trường son môi của nữ, mỗi tháng là sự ra đời của nhiều màu son khác nhau.Nếu chủ shop không thật sự nắm bắt được xu hướng thì rất khó để được lòng kháchhàng cũng như có kế hoạch cụ thể để nhập hàng về kịp thời Người tiêu dùng củanhững sản phẩm này không bao giờ chấp nhận sử dụng những sản phẩm lỗi mốt,không kịp xu hướng
Kinh doanh không phải là giấc mộng màu hồng Kinh doanh là một cuộc chiến,
mà người chiến thắng phải là người có kế hoạch tác chiến từng phút từng giây Nóinhư vậy, ý rằng để có thể trụ vững và phát triển kinh doanh thành công, người kinhdoanh phải có kế hoạch chi tiết cho mình Giả như việc chụp lookbook sản phẩm, phảichọn được thời điểm thích hợp để chụp và đăng trên trang chủ của shop, cân đo cácloại chi phí trong quá trình chụp hay các đợt khuyến mãi được tung ra phải đúng thờiđiểm … Từng yếu tố đều phải được các shop cân nhắc kỹ lưỡng
Và cuối cùng đó chính là việc vận chuyển, đây là khâu đặc thù trong việc kinhdoanh online Đối với kinh doanh truyền thống, thì khách hàng đến trực tiếp và muasản phẩm tại cửa hàng Nhưng trong thời đại công nghệ số, khách hàng có thể ngồi tại
Trang 13chỗ, xem và chọn hàng, mua hàng và nhận hàng tại nhà Đây là một khâu rất quantrọng và cũng là bài toán chi phí đắt đỏ Bởi lẽ, nếu không được tính toán cụ thể, chămsóc chu đáo, việc vận chuyển hàng hóa sẽ mang lại những trải nghiệm xấu đến chokhách hàng và khiến cho khách không muốn quay lại lần thứ hai Chính vì vậy, để trụvững được và phát triển lâu dài, các chủ shop online cần phải cân nhắc và lựa chọn cácđối tác vận chuyển hàng hóa kỹ càng Do đó, việc chọn lựa đối tác giao hàng nhanhchóng, chuyên nghiệp, với chi phí giao hàng hợp lý cũng là một bí quyết giúp nângcao khả năng thành công trong việc giữ chân khách hàng.
2.8 VAI TRÒ CỦA KHỞI NGHIỆP?
Đối với cá nhân theo đuổi việc khởi nghiệp, hoạt động này giúp họ tạo ra côngviệc, thu nhập cho chính mình mà không phải bắt đầu từ việc đi làm thuê Họ được tự
do trong công việc, và nếu công ty của họ phát triển tốt thì nguồn thu nhập của họ cóthể cao gấp nhiều lần so với thu nhập do đi làm thuê mang lại
Đối với xã hội và nền kinh tế thì các công ty khởi nghiệp tạo ra thêm nhiều công
ăn việc làm Điều này giúp đất nước giải quyết tình trạng thất nghiệp, tạo ra nguồn thunhập cho người lao động nuôi sống bản thân và gia đình
Bằng việc tạo ra lượng lớn công ăn việc làm cho người lao động, giữ tỉ lệ thấtnghiệp của nền kinh tế ở mức an toàn, khởi nghiệp thành công gián tiếp góp phần ổnđịnh xã hội, giảm thiểu các tệ nạn xã hội do thất nghiệp gây ra như trộm cắp, bài bạc,đua xe, ma túy… Khởi nghiệp cũng góp phần giảm áp lực lên nền kinh tế, trợ cấp xãhội, giúp đất nước ngày càng phát triển
2.9 THẾ NÀO LÀ SINH VIÊN KHỞI NGHIỆP?
Thời gian gần đây, cụm từ khởi nghiệp – startup đang nhận được sự quan tâm củasinh viên trên giảng đường đại học Đã có rất nhiều sinh viên thử sức mình với nhữngvai trò mới như là chủ quán cà phê, chủ cửa hàng quần áo, phụ kiện thời trang haykinh doanh các mặt hàng handmade, …
Sinh viên khởi nghiệp là khi sinh viên có ý tưởng kinh doanh một mặt hàng nào đó
và bắt tay tiến hành nhập hàng, bán hàng, quản lý hàng hóa, nhân sự, thu chi, … Đểkiếm lợi nhuận từ công việc đó Như vậy, tùy mô hình kinh doanh mà sinh viên khởinghiệp phải đầu tư thời gian, công sức vào việc quản lý hoặc trực tiếp làm tất cả cáckhâu để duy trì và phát triển công việc kinh doanh
2.10 CÁC LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU
2.10.1.Thuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behavior – TPB)
Thuyết hành vi dự định (TPB) (Ajzen, 1991), được phát triển từ lý thuyết hànhđộng hợp lí (TRA; Ajzen & Fishbein, 1975), giả định rằng một hành vi có thể được dựbáo hoặc giải thích bởi các xu hướng hành vi để thực hiện hành vi đó Các xu hướnghành vi được giả sử bao gồm các nhân tố tác động động cơ mà ảnh hưởng đến hành vi,
và được định nghĩa như mức độ nỗ lực mà mọi người cố gắng để thực hiện hành vi đó(Ajzen, 1991)
Trang 14(Nguồn: Ajzen, 1991)
Hình 2.1 Thuyết hành vi dự định TPB
Xu hướng hành vi lại là một hàm của 3 nhân tố:
Thái độ của cá nhân đối với hành vi (Attitude Toward Behavior): thể hiện mức
độ đánh giá cảm giác tiêu cực hay tích cực của các cá nhân về vấn đề khởi nghiệp.Cảm giác này bị ảnh hưởng bới các yếu tố tâm lý và các tình huống đang hiện hữu
Ví dụ: Một sinh viên có thái độ tích cực đối với việc khởi nghiệp vì ba mẹ sinh
viên đó là doanh nhân
Chuẩn chủ quan (Subjective Norm): còn được hiểu là ý kiến của mọi người xung
quanh, chuẩn chủ quan đo lường các áp lực xã hội mà một cá nhân tự cảm nhận đượctác động đến quyết định thực hiện hành vi hay không
Ví dụ: Ba mẹ từng gặp những vấn đề tiêu cực với ý định kinh doanh có thể tạo áp
lực, gây khó khăn cho con cái trong ý định khởi nghiệp của con cái họ
Nhận thức về khả năng kiểm soát hành vi (Percerived Behavior Control): phản
ánh cảm nhận của cá nhân về độ khó dễ trong việc thực hiện hành vi, yếu tố kiểm soáthành vi được nhìn nhận bao gồm 2 thành phần: yếu tố bên trong (đề cập đến sự tự tincủa cá nhân để thực hiện hành vi) và yếu tố bên ngoài (đề cập đến nguồn lực như tàichính, thời gian, môi trường…) Ajzen (1991) đề nghị rằng nhân tố kiểm soát hành vitác động trực tiếp đến xu hướng thực hiện hành vi, và nếu đương sự chính xác trongcảm nhận về mức độ kiểm soát của mình, thì kiểm soát hành vi còn dự báo cả hành vi
2.10.2.Lý thuyết sự kiện khởi nghiệp (The Entrepreneurial Event – SEE)
Mô hình sự kiện khởi nghiệp của Shapero và Sokol (1982) là một mô hình khá cổ
điển, tuy nhiên lại được trích dẫn và áp dụng khá nhiều trong các nghiên cứu về khởi
Thái độ
Xu hướnghành vi
Hành vi thậtsựChuẩn chủ quan
Kiểm soát hành vi
cảm nhận
Trang 15nghiệp bởi tính hữu dụng của nó Lý thuyết này chỉ ra rằng các yếu tố hoàn cảnh cánhân (displacement) và thái độ của cá nhân đó đối với việc khởi nghiệp (thể hiện bằnghai khía cạnh là cảm nhận của cá nhân về tính khả thi và cảm nhận của cá nhân vềmong muốn khởi nghiệp) sẽ ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn để thành lập mộtdoanh nghiệp của họ.
Theo mô hình này, dự định khởi sự kinh doanh sẽ xuất hiện khi một cá nhân pháthiện ra một cơ hội mà họ thấy có khả thi và mong muốn nắm lấy cơ hội đó Tuy nhiên
để dự định biến thành hành động thì cần có chất xúc tác Đó chính là những thay đổitrong cuộc sống con người Sự thay đổi có thể ở dưới dạng tiêu cực như li dị, mất việc,bất mãn công việc hiện tại… là các nhân tố đẩy hoặc dưới dạng tích cực như tìm đượcđối tác tốt, có hỗ trợ tài chính… là nhân tố kéo Ví dụ như một người bị đuổi việc,nhân tố đó sẽ thúc đẩy anh ta mở doanh nghiệp để tự làm chủ; hoặc như nếu tìm thấymột cơ hội kinh doanh tốt thì mặc dù công việc hiện tại không có gì đáng phàn nànnhưng cá nhân đó vẫn có thể sẽ thành lập doanh nghiệp kinh doanh của riêng mình
(Nguồn: Shapero và Sokol, 1982)
Hình 2.2 Thuyết sự kiện khởi nghiệp – SEE
Yếu tố hoàn cảnh
Theo mô hình, đa số cá nhân thường có xu hướng không muốn thay đổi trạng tháihiện tại cho đến khi phải đứng trước những sự lựa chọn khác nhau Shapero phát biểurằng phần lớn các “sự kiện khởi nghiệp” của các cá nhân khởi nguồn từ các yếu tốhoàn cảnh và có thể được chia thành ba nhóm: những thay đổi tiêu cực (negativedisplacement, hay còn gọi là các yếu tố đẩy: pushes) như bị đuổi việc, bất mãn côngviệc hiện tại, nhập cư, ly hôn…, những thay đổi tích cực (positive displacement, còn
Sự kiệnkhởi nghiệp
Cảm nhận về tính khả thi
Cảm nhận về mong muốn
Yếu tố hoàn cảnh
Nhân tố đẩy tiêu cực
Nhân tố đẩy tích cựcĐược đề nghị
Trang 16gọi là yếu tố kéo: pulls) như có được nguồn hỗ trợ tài chính, tìm được đối tác chiếnlược…, và yếu tố trung gian (between things) ví dụ như tốt nghiệp ra trường… Tuynhiên, quá trình nảy sinh ý định khởi nghiệp khi xuất hiện các yếu tố hoàn cảnh đếnlúc thực sự thành lập doanh nghiệp có sự tham gia của hai nhóm yếu tố trung gian làmong muốn (desirability) và khả thi (feasibility) Cả hai yếu tố này đều tùy thuộc vàonhận thức được hình thành từ môi trường văn hóa, xã hội, kinh tế của mỗi cá nhân.Nói cách khác, mỗi cá nhân phải cảm nhận hành vi khởi nghiệp là mong muốn và khảthi thì quyết định mới chính thức được hình thành.
Mong muốn (desirability)
Yếu tố cảm nhận về mong muốn khởi nghiệp thể hiện suy nghĩ của cá nhân về tínhhấp dẫn của việc khởi nghiệp, đồng thời hình thành hệ giá trị của cá nhân đó Hệ thốnggiá trị của mỗi cá nhân được hình thành từ những giá trị chung của văn hóa cộng đồng,
từ ảnh hưởng của gia đình, bạn bè, đồng nghiệp Theo Shapero, để một cá nhân cảmnhận khao khát và mong muốn khởi nghiệp, xã hội phải cho doanh nhân một vị trí vàhình ảnh tương xứng, đồng thời các giá trị như tính sáng tạo, tự chủ, dám mạo hiểm,
có trách nhiệm và chấp nhận rủi ro cần được đề cao Yếu tố cảm nhận về mong muốnkhởi nghiệp của Shapro khá tương đồng với yếu tố “thải độ” (tích cực) và “chuẩn chủquan” của Ajzen (1991)
Khả thi (feasibility)
Yếu tố hoàn cảnh và mong muốn vẫn chưa đủ thuyết phục để thiết lập ý định khởinghiệp của một cá nhân Vì vậy, cần thêm điều kiện thứ ba: nhìn nhận hành vi khởinghiệp là khả thi Theo Shapero, các nguồn lực, sự hỗ trợ từ bên ngoài như tài chính,phương tiện, thông tin, chính sách ưu đãi của chính phủ và địa phương, kinh nghiệmcủa những người đi trước, tư tưởng về vấn đề lập nghiệp của bố mẹ, kỹ năng cá nhân,góp phần làm tăng cảm nhận về tính khá thi của cá nhân Yếu tố này gần giống với yếu
tố “nhận thức về kiểm soát hành vi” của thuyết Ajzen Khái niệm “cảm nhận về mongmuốn khởi nghiệp” và “cảm nhận tính khả thi” có sự tương tác với nhau: nếu nhậnthức rằng việc khởi nghiệp là không khả thi thì cá nhân có thể không cảm thấy mongmuốn khởi nghiệp Xuất phát từ hai lĩnh vực khác nhau của hai mô hình nghiên cứutrên (thuyết hành vi dự kiến của Ajzen thuộc lĩnh vực tâm lý học xã hội, thuyết sự kiệnkhởi nghiệp của Shaped và Sokol thuộc lĩnh vực khởi nghiệp) đã cung cấp những kháiniệm tương đối tương đồng và một cơ sở lý luận đủ để nghiên cứu về “phương thứckhởi nghiệp"
Tổng kết lại, các mô hình lý thuyết về dự định khởi nghiệp đã được các nhà nghiên
cứu phát triển, kiểm định thực tế và trở thành phương pháp tiếp cận được chấp nhậnkhá phổ biển, có khả năng giải thích và độ tin cậy cao Các nghiên cứu về dự định khởinghiệp hiện nay được ứng dụng rộng rãi trong các nghiên cứu hàn lâm về hành vi khởinghiệp Tuy có các quan điểm khác nhau trong biến số dẫn đến dự định khởi nghiệp,nhưng các mô hình dự định đều cho phép kết hợp phân tích ba yếu tố quan trọng trongkhởi nghiệp bao gồm: cá nhân, môi trường và nguồn lực để giải thích các nguyên nhândẫn đến quyết định khởi nghiệp Do vậy, trong nghiên cứu này, dựa trên các lý thuyết
Trang 17khởi nghiệp để làm cơ sở lý luận nhằm đưa ra phân tích phương thức khởi nghiệp chosinh viên.
2.11 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT:
Dựa vào mô hình đề xuất, nhóm tác giả đưa ra các giả thiết:
H1: Động lực ảnh hưởng tích cực đến phương thức khởi nghiệp của sinh viên
H2: Năng lực cá nhân ảnh hưởng tích cực đến phương thức khởi nghiệp của sinhviên
H3: Môi trường bên ngoài ảnh hưởng tích cực đến phương thức khởi nghiệp củasinh viên
H4: Tài chính ảnh hưởng tích cực đến phương thức của sinh viên
H5: Mục tiêu ảnh hưởng tích cực đến phương thức của sinh viên
Hình 2.3 Mô hình nghiên cứu đề xuất
BẢNG 2.1 DIỄN GIẢI CÁC BIẾN TRONG MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Động lực DL1 Khởi nghiệp nếu thành công sẽ mang lại nguồn thu
nhập cao hơn làm công Likert 1-5
H 1
Phương thức khởi nghiệp
Môi trường bên ngoài
Trang 18DL2 Khởi nghiệp là đam mê của bạn Likert 1-5DL3 Bạn muốn khởi nghiệp do khởi nghiệp đang là mộtxu hướng Likert 1-5DL4 Bạn xem khởi nghiệp như một thử thách và muốnđược trải nghiệm nó Likert 1-5DL5 Bạn không thích làm nhân viên bình thường Likert 1-5Năng lực
cá nhân
NLCN1 Bạn chịu được áp lực cao
Likert 1-5NLCN2 Bạn có thể quản lý một số lượng người lớn Likert 1-5NLCN3 Bạn có nhiều mối quan hệ xã hội mà có thể trởthành đối tác trong tương lai Likert 1-5NLCN4 Bạn không ngại rủi ro trong kinh doanh Likert 1-5NLCN5 Bạn là một người có khả năng thuyết phục Likert 1-5Môi
MTBN2 Bạn có đủ các thông tin cần thiết để khởi nghiệp Likert 1-5
MTBN3 Những người xung quanh ủng hộ ý tưởng khởinghiệp của bạn Likert 1-5Tài chính TC1 Bạn có thể vay mượn từ người thân, bạn bè Likert 1-5
TC2 Bạn có thể tự tích lũy nguồn vốn cho bản thân (việc
làm thêm, tiền tiêu vặt,…)
Likert 1-5
TC3 Bạn sẽ thiết lập kế hoạch để huy động vốn từ các
nhà đầu tư
Likert 1-5
Mục tiêu MT1 Có một nguồn thu nhập cao Likert 1-5
MT2 Được làm chủ cuộc sống của bản thân Likert 1-5MT3 Bạn muốn đóng góp nhiều hơn cho xã hội nhờ
doanh nghiệp của mình
PTKN3 Bạn sẽ dùng tiền huy động được để mua lại một
doanh nghiệp khác và phát triển nó
Likert 1-5
PTKN4 Bạn sẽ mở một doanh nghiệp theo hướng xã hội, phi
lợi nhuận
Likert 1-5PTKN5 Bạn sẽ hợp tác với một người khác để khởi nghiệp Likert 1-5
Trang 19CHƯƠNG III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. THIẾT KẾ MẪU ĐIỀU TRA
Để tạo ra mẫu điều tra, nhóm tác giả bắt đầu với những nghiên cứu định lượng vàđịnh tính sơ bộ Việc này góp phần làm rõ và củng cố thêm cho các biến điều tra trongmẫu, giúp tăng độ chính xác cho mẫu điều tra Từ đó, kiểm định mối quan hệ giữa cácgiả thuyết trong mô hình nghiên cứu với thực tiễn môi trường của các khách thể điềutra là các sinh viên đang học tập tại các trường Đại học trên địa bàn Thành phố Hồ ChíMinh
3.2 QUY TRÌNH XÂY DỰNG PHIẾU ĐIỀU TRA
Nhóm tác giả sau khi quyết định đề tài và mô hình nghiên cứu, bước tiếp theo đó là
sâu
2 Thảo luận nhóm
4 Nghiên cứu định lượng sơ bộ
Nghiên cứutổng quan
Bảng khảo sát chínhBảng khảo sát sơ bộ
Xây dựng thang đo cho từng yếutố
Chọn những yếu tố cho mô hình
Trang 20Bước 1: Nghiên cứu tổng quan về các yếu tố liên quan đến đề tài và chọn nhữngyếu tố chủ chốt để đưa vào mô hình nghiên cứu.
Bước 2: Nghiên cứu định tính qua phỏng vấn 5 sinh viên nằm trong diện đối tượngnghiên cứu, chọn lọc và chỉnh sửa lại các biến đã chọn trước đó
Bước 3: Thảo luận nhóm để chọn lọc những biến cần thiết cho từng yếu tố tạo ramột bảng khảo sát sơ bộ
Bước 4: Nghiên cứu định lượng sơ bộ trên mẫu 30 sinh viên để kiểm tra đảm bảokhông có sự hiểu lầm, chỉnh sửa từ ngữ, thêm thắt và loại bỏ các yếu tố không cầnthiết
3.3 KẾT QUẢ KHẢO SÁT SƠ BỘ
3.3.1 Thông tin về mẫu nghiên cứu sơ bộ
Quá trình khảo sát được thực hiện từ ngày 22/02/2021 đến ngày 14/03/2021 Vớibảng câu hỏi được đăng tải trên page trường đại học SGU và gửi trực tiếp cho một số
cá nhân đạt yêu cầu Sau khi loại bỏ những phiếu trả lời không đạt yêu cầu do quá sơsài hay không nghiêm túc, số bản câu trả lời còn lại là 31 trên tổng số 31 người thamgia Trong đó, tất cả những người tham gia đều là sinh viên
3.3.2 Kết quả thu được
Hình 3.1 Quy trình thiết kế mẫu điều tra
Trang 21Bảng câu hỏi đã được gửi thông qua Internet, đồng thời kêu gọi mọi người thamgia trả lời bảng khảo sát cho những câu hỏi liên quan đến chủ đề sinh viên và khởinghiệp, và đây là kết quả thu được:
Theo đó, trong nhóm 31 câu trả lời được thông qua, có 51,6% sinh viên có ý địnhkhởi nghiệp và 12,9% sinh viên đang khởi nghiệp Trong đó, những đối tượng đangkhởi nghiệp đang kinh doanh, buôn bán những mặt hàng mà độ tuổi sinh viên, học sinhthường hay sử dụng như chun cột tóc scrunchies, đồ cài tóc, thuốc trị mụn hoặc là thức
ăn như bánh tráng, khô gà Đồng thời, trong nhóm được khảo sát thì những sinh viênkhông quan tâm đến vấn đề khởi nghiệp cũng chiếm một phần không ít - chiếm đến32,3%, tức là trong số 31 sinh viên tham gia khảo sát thì có đến 10 người không có ýđịnh khởi nghiệp và không quan tâm đến vấn đề khởi nghiệp
Những sinh viên tham gia vào cuộc khảo sát dù thuộc đối tượng có ý định khởinghiệp hay đang khởi nghiệp hoặc thậm chí đã từng khởi nghiệp đều có những y kiếnriêng biệt về những yếu tố tác động đến sự thất bại trong việc khởi nghiệp của sinhviên Hơn 80% các sinh viên cho rằng kinh nghiệm và tài chính của cá nhân hoặc giađình là yếu tố đóng vai trò quan trọng trong vấn đề ra quyết định khởi nghiệp của sinh
51.60%
12.90%
Đã từng khởi nghiệp; 3.20%;
3.20%
32.30%
Hình 3.2 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ các đối tượng tham gia khảo sát
Có ý định khởi nghiệp Đang khởi nghiệp
Đã từng khởi nghiệp Không quan tâm đến vấn đề khởi nghiệp
Trang 22viên, và 4% cho rằng yếu tố đam mê và sự ủng hộ từ gia đình, bạn bè thân thiết, nhữngngười xung quanh mới đóng vai trò quan trọng, trong khi 6% còn lại cho rằng sự kiêntrì, không ngại khó khăn, thách thức của những buổi đầu mới là yếu tố chính ảnhhưởng đến quyết định khởi nghiệp của sinh viên, và 10% sinh viên cho rằng áp lực vôhình từ việc học và thời gian khiến sinh viên đi đến quyết định không khởi nghiệp Từkết quả nghiên cứu trên cho thấy trong đối tượng nghiên cứu là sinh viên dù có ý địnhkhởi nghiệp hoặc đã từng khởi nghiệp vẫn chưa có cái nhìn khách quan đối với vấn đềkhởi nghiệp.
Khi được hỏi vì sao sinh viên lại đi đến quyết định khởi nghiệp thì có hơn 74,2%cho rằng yếu tố tài chính vẫn là yếu tố chính tác động đến quyết định khởi nghiệp, vìnhóm sinh viên này cho rằng bản thân sinh viên hoặc gia đình sinh viên có tài chính tốtthì mới có nguồn vốn để lập nghiệp, nhưng khi nhắc đến khởi nghiệp còn có khái niệmkhởi nghiệp kinh doanh nhỏ, ít vốn, trên các trang báo như adflex.vn,ceoclubvietnam.com, enternews.vn có hàng chục đến hàng trăm ý tưởng khác nhauliên quan đến khởi nghiệp với quy mô nhỏ như: bán đồ ăn sáng cho dân văn phòng,học sinh, sinh viên, tài xế, ; kinh doanh hàng thủ công mỹ nghệ như đan lát, tranhthêu thùa, gấu bông ; khởi nghiệp với cửa hàng bách hóa nhỏ, Ta cũng có thể hiểu tàichính theo nghĩa, sinh viên quyết định khởi nghiệp do tài chính là khi mục tiêu họhướng tới là kiếm được một khoản thu nhập cao với thời gian làm việc linh hoạt,không gò bó
Theo sơ đồ, thì có khoảng hơn 45% các bạn sinh viên lựa chọn yếu tố cốt lõi dẫnđến khởi nghiệp là sự yêu thích và đam mê Ta cũng có thể nhận thấy được mức độquan trọng của yếu tố này khi nhìn nhận khởi nghiệp trên một quãng đường dài Aicũng có thể bắt đầu nhưng không phải ai cũng duy trì được, nếu khởi nghiệp là đam
mê của cá nhân, họ sẽ có một ngọn lửa nhiệt huyết danh cho nó và chấp nhận đượcnhững khó khăn trên con đường khởi nghiệp
Trong bảng câu hỏi trên, có 29% sinh viên cho rằng sinh viên quyết định khởinghiệp là vì muốn thể hiện bản thân và thử sức bản thân trên một hay nhiều lĩnh vực.Nhưng trên thực tế, không ai mạo hiểm đầu tư hay kinh doanh một mặt hàng hay dịch
vụ nào đó bằng cả tâm sức lẫn tài chính chỉ vì muốn thể hiện bản thân bởi khởi nghiệp
là cả một quá trình dài, nếu chỉ vì ham muốn thử sức và thể hiện bản thân thì đến mộtlúc nào đó sẽ nguội tắt dần nếu không có đam mê chân chính cùng những hành độngthiết thực và sự kiên trì, nỗ lực
Các câu trả lời được có hơn 16% sinh viên cho rằng yếu tố ảnh hưởng nhiều nhấtđến quyết định khởi nghiệp của sinh viên chính là thích làm chủ hơn làm nhân viên.Trên thực tế người Việt chúng ta đặc biệt có xu hướng thích làm chủ kinh doanh mặthàng nào đó hơn là làm công cho người khác Hiện nay, số lượng cơ sở kinh doanhnhỏ lẻ hiện tại có hơn 1 triệu / 90 triệu dân, số lượng doanh nghiệp vừa & nhỏ khoảnghơn 300 ngàn Khi thăm dò lực lượng làm thuê, làm công ăn lương, phần đông đều cómong ước "sau này sẽ ra làm riêng, làm chủ cái gì đó", khi khảo sát nhỏ lực lượng laođộng tương lai như sinh viên, học sinh thì chiếm số đông là muốn tự kinh doanh cái gì
đó, muốn tự làm chủ Lực lượng tự kinh doanh, đặc biệt trên Internet chủ yếu là cácbạn sinh viên
Và yếu tố gây ảnh hưởng đến quyết định khởi nghiệp thấp nhất là “vì khởi nghiệpđang là xu hướng” với tỷ lệ 6.4% Có thể thấy do nếu chỉ xem khởi nghiệp như một xuhướng thì dù ta bắt đầu thì cũng khó lòng đi xa được do thiếu sự nhiệt huyết với nó
Trang 23Kết luận, từ bảng khảo sát sơ bộ ta nhận định được đam mê, tài chính, sở thích,
mong muốn được làm chủ là những yếu tố được xem là ảnh hưởng tới lựa chọn khởinghiệp Điều này, khá tương đồng với các yếu tố trong mô hình đề xuất, điều nàychứng minh thêm được tính khả quan của mô hình Từ đây, ta lấy kết quả và tạo nênđược bảng khảo sát chính thức
3.4 NỘI DUNG PHIẾU ĐIỀU TRA
Sau khi đã thu thập được những yếu tố cần và xây dựng được thang đo việc tiếp
theo là hình thành phiếu điều tra Cách đo lường trong nghiên cứu không chỉ môphỏng theo các nghiên cứu trước mà còn thêm nhiều những biến khác biệt, nhằm tạo rakết quả rõ ràng phục vụ cho mục tiêu của nghiên cứu – tìm ra hướng đi cho sinh viênkhởi nghiệp
Nội dung bảng câu hỏi bao gồm các phần sau:
Phần mở đầu: Giới thiệu mục đích nghiên cứu – giới thiệu ngắn gọn về mục đíchcủa bài nghiên cứu và các thông tin có liên quan, giúp cho người trả lời có thể hìnhdung được phần nào về mục tiêu bài nghiên cứu hướng đến
Phần 1: Thông tin chung Phần này để xác định thêm các đặc điểm nhân khẩu vàcác nội dung khác nhằm đảm bảo là người trả lời đáp ứng đủ các yêu cầu
Phần 2: Nội dung đánh giá chính bao gồm các câu hỏi liên quan tới các nhân tốảnh hưởng đến việc lựa chọn phương thức khởi nghiệp của sinh viên đang học tập tạicác trường Đại học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
3.5 CÁC BIẾN VÀ THANG ĐO
Các thang đo đa phần sử dụng thang đo Likert thang điểm đánh giá từ 1 đến 5, ứngvới 5 mức cảm nhận: sáu thang đo chính thức cho sáu biến trong mô hình được đưavào phiếu điều tra Để dễ phân biệt và thông kê các biến quan sát được gọi tắt bằngchữ cái đầu của các từ trong biến, được đánh số thứ tự ở cuối thể hiện thứ tự xuất hiệncủa các biến Thang đo được sử dụng trong phiếu điều tra để đo lường các biến cụ thểnhư sau:
3.5.1 Thang đo động lực
Tất cả mọi hành động đều bắt nguồn từ động lực, do đó thước đo này được nhóm
tác giả đề xuất nhằm biết được động lực của sinh viên khi khởi nghiệp Để xem xétrằng động lực có ảnh hưởng đến lựa chọn phương thức khởi nghiệp hay không, điềuthúc đẩy sinh viên khởi nghiệp là nhất thời hay là một yếu tố có thể ảnh hưởng lâu dài,
là đam mê thực sự hay chỉ là chạy theo xu thế
BẢNG 3.1 DIỄN ĐẠT THANG ĐO ĐỘNG LỰC
Thang đo động lực
DL1 Khởi nghiệp nếu thành công sẽ mang lại nguồn thu nhập cao hơn làm
công
DL2 Khởi nghiệp là đam mê của bạn
DL3 Bạn muốn khởi nghiệp do khởi nghiệp đang là một xu hướng
Trang 24DL4 Bạn xem khởi nghiệp như một thử thách và muốn được trải nghiệm nóDL5 Bạn không thích làm nhân viên bình thường
3.5.2 Thang đo năng lực cá nhân
Đây là thước đo để nhận định năng lực của bản thân sinh viên, đo lường nhận thứccủa sinh viên về khả năng của mình Các biến đo lường nhằm vào việc đưa ra một cáinhìn khách quan về cơ hội khởi nghiệp của sinh viên, dựa trên những năng lực cá nhân
để đánh giá phương thức khởi nghiệp của sinh viên Và hơn thế nữa thước đo này cũngđánh giá sự sẵn sàng về nguồn lực bên trong của bản thân sinh viên để giúp họ có cáchnhìn nhận rõ nét hơn con đường khởi nghiệp nên chọn
BẢNG 3.2 DIỄN ĐẠT THANG ĐO NĂNG LỰC CÁ NHÂN
Thang đo năng lực cá nhân
NLCN1 Bạn chịu được áp lực cao
NLCN2 Bạn có thể quản lý một số lượng người lớn
NLCN3 Bạn có nhiều mối quan hệ xã hội có thể trở thành đối tác trong tương laiNLCN4 Bạn không ngại rủi ro trong kinh doanh
NLCN5 Bạn là một người có khả năng thuyết phục
3.5.3 Thang đo môi trường bên ngoài
Nhận định về môi trường bên ngoài ảnh hưởng đến tâm lý cũng như sinh lý củasinh viên được hỏi Các biến trong môi trường bên ngoài hướng đến việc nhìn nhậnđược cơ hội khởi nghiệp của sinh viên do họ tự đánh giá
BẢNG 3.3 DIỄN ĐẠT THANG ĐO MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI
Thang đo môi trường bên ngoài
Ngành bạn đang theo học có cơ hội khởi nghiệp cao
3.5.4 Thang đo tài chính
Một yếu tố quan trọng trong công cuộc khởi nghiệp đó chính là tài chính Sinh viêncàng có nhiều nguồn để huy động vốn càng có nhiều cơ hội để mở một doanh nghiệp
có quy mô lớn Hơn nữa, số tiền có được càng lớn thì khoản dư so với hoạch định ban
Trang 25đầu càng lớn, số tiền này có thể dùng để mở rộng kinh doanh trong tương lai hay hỗtrợ giải quyết các khó khăn phát sinh bất ngờ trong quá trình khởi nghiệp.
BẢNG 3.4 DIỄN ĐẠT THANG ĐO TÀI CHÍNH
Thang đo tài chính
TC1 Bạn có thể vay mượn từ người thân, bạn bè
TC2 Bạn có thể tự tích lũy nguồn vốn cho bản thân (việc làm thêm, tiền tiêu
vặt,…)
TC3 Bạn sẽ thiết lập kế hoạch huy động vốn từ các nhà đầu tư
3.5.5 Thang đo mục tiêu
Mục tiêu của một cá nhân đánh giá được mức độ tham vọng của họ Với mục tiêuđược đưa ra càng cao thì con đường họ lựa chọn khởi nghiệp sẽ càng nghiêng vềhướng mở doanh nghiệp lớn, nhưng nếu mục tiêu đưa ra vừa đủ, thì ta thấy được họ sẽlựa chọn con đường ít rủi ro hơn nhưng lại bền vững và ổn định hơn Những mục tiêunày cũng thúc đẩy sự quyết tâm trong mỗi cá nhân với những lựa chọn khởi nghiệp
BẢNG 3.5 DIỄN ĐẠT THANG ĐO MỤC TIÊU
Thang đo mục tiêu
MT1 Có nguồn thu nhập cao
MT2 Được làm chủ cuộc sống của bản thân
MT3 Bạn muốn đóng góp nhiều hơn cho xã hội nhờ doanh nghiệp của mìnhMT4 Doanh nghiệp của bạn có thể vươn tầm quốc tế
3.5.6 Thang đo phương thức khởi nghiệp
Thước đo cuối cùng liên quan đến con đường sinh viên sẽ chọn để khởi nghiệp.Hiện nay, có rất nhiều con đường khởi nghiệp mà sinh viên có thể áp dụng cho bảnthân mình, có những con đường đầy rủi nhưng cũng có những con đường êm đềm hơn,nên lựa chọn con đường nào phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố khác trong mô hình
Từ lựa chọn trên biến này và các biến khác, ta sẽ nhìn nhận được nguyên nhân sinhviên lựa chọn con đường khởi nghiệp nào đó
BẢNG 3.6 DIỄN ĐẠT THANG ĐO PHƯƠNG THỨC KHỞI NGHIỆP
Thang đo phương thức khởi nghiệp của sinh viên
PTKN1 Bạn sẽ mở một doanh nghiệp bán sản phẩm do chính mình tạo ra
PTKN2 Bạn sẽ mở một doanh nghiệp và mua sản phẩm của người khác về bán lạiPTKN3 Bạn sẽ dùng tiền huy động được để mua lại một cửa hàng khác và phát
triển nó
PTKN4 Bạn sẽ mở một doanh nghiệp theo hướng xã hội, lợi nhuận không cao
nhưng mang đến nhiều lợi ích cho xã hội
PTKN5 Bạn sẽ hợp tác với một người khác để khởi nghiệp
Trang 263.6 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU
Nhóm tác giả lụa chọn thu thập số liệu qua các phiếu khảo sát đã được xây dựngbằng hình thức điền mẫu online Cụ thể, số mẫu phiếu được chọn theo hạn ngạch vớiđối tượng nghiên cứu là sinh viên các khoa của các trường đại học trên địa bàn Thànhphố Hồ Chí Minh Theo nhiều nhà nghiên cứu, kích thước mẫu càng lớn càng tốt(Nguyễn Đình Thọ 2011) Ngoài ra, Hair et al (2006) cho rằng để sử dụng phân tíchnhân tố khám phá (EFA), kích thước mẫu tối thiểu phải là 50, tốt hơn là 100 và tỉ lệquan sát/biến đo lường là 5:1, nghĩa là 1 biến đo lường cần tối thiểu 5 quan sát Cụ thể,trong mô hình nghiên cứu được đề xuất có 25 biến quan sát có thể được sử dụng trongphân tích khám phá Do đó, cỡ mẫu tới thiểu cần thiết của nghiên cứu là 25 x 5 = 125
CHƯƠNG IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1. GIỚI THIỆU CHƯƠNG 4
Sau khi tiếp nhận câu trả lời của các bạn sinh viên thông qua bảng khảo sát, cần
phải tổng hợp lại các câu trả lời và phân loại chúng, sau đó tiến hành các bước phântích cần thiết để đưa ra được kết quả cuối cùng Quá trình khảo sát được thực hiện bắtđầu từ ngày 5/4/2021 và kết thúc vào ngày 25/4/2021 Với bảng câu hỏi được đăng tảitrên trang trường đại học SGU, thêm vào đó các thành viên sẽ gửi trực tiếp bảng khảosát đến các sinh viên đáp ứng đủ yêu cầu với đề tài nghiên cứu “Lối đi nào cho sinhviên khởi nghiệp”, vì vậy nên đối tượng tham gia cuộc khảo sát này đều là sinh viêncủa các trường đại học, bảng câu hỏi được lập ra nhằm tham khảo ý kiến của sinh viên
từ đó nhận định được phương hướng khởi nghiệp dành cho sinh viên Sau khi loại bỏnhững phiếu trả lời không đạt yêu cầu do thiếu sót, số bản câu trả lời còn lại là 126trên tổng số 136 người tham gia, đạt yêu cầu của cỡ mẫu tối thiểu là 125
4.2 THỐNG KÊ MÔ TẢ MẪU NGHIÊN CỨU
Trang 27Trong 126 câu trả lời được
chọn lọc, chiếm hơn 81.7% giới
tính là nữ, 17.5% giới tính là
nam và 0.8% còn lại là giới tính
khác, từ số liệu cho thấy đối
tượng tham gia khảo sát nghiên
cứu khoa học này phần đông là
Công nghệ kỹ thuật điều khiển tự động hóa 2 1.6
Hình 4.1 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ giới tính sinh
viên tham gia khảo sát
81.70%
17.50%
Khác; 0.80%; 0.80%
Nữ Nam Khác
Trang 28Giáo dục tiểu học 2 1.6
Quản trị kinh doanh bất động sản 1 0.8Quản trị nhà hàng và dịch vụ ăn uống 1 0.8
Trang 29Sinh viên tham gia vào cuộc khảo sát này thuộc 43 ngành khác nhau, từ những ngànhhọc thuật như ngôn ngữ đến những ngành kinh tế như kinh doanh quốc tế và cao nhất
là sinh viên khoa quản trị kinh doanh với 36 sinh viên tham gia chiếm tỷ lệ 28.6% Từ
đó, ta sẽ có cái nhìn bao quát về những sinh viên có khả năng tiếp cận đến lĩnh vựckhởi nghiệp đến những sinh viên ít được tiếp xúc với những vấn đề liên quan đến khởinghiệp
BẢNG 4.2 KẾT QUẢ THỐNG KÊ TRUNG BÌNH THANG ĐO ĐỘNG LỰC
Thống kê trung bình thang đo động lực
bình
GTNN
GTLN
Độ lệchchuẩnDL1 Khởi nghiệp nếu thành công sẽ mang
lại nguồn thu nhập cao hơn làm công 3.18
DL2 Khởi nghiệp là đam mê của bạn
DL3 Bạn muốn khởi nghiệp do khởi
0.965DL4 Bạn xem khởi nghiệp như một thử
thách và muốn được trải nghiệm nó 3.02
1.149