1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng giải thoát trong lịch sử triết học Ấn Độ cổ đại

17 91 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 200,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Triết học Ấn Độ cổ đại là một nền triết học phát triển khá phong phú về nội dung và hình thức. Nó đề cập đến hầu hết các lĩnh vực, các vấn đề khác nhau của triết học và trong đó có những lĩnh vực thể hiện trình độ tư duy phát triển tư duy logic sâu sắc của người Ấn Độ như vấn đề bản thể luận, nhận thức luận, logic học… Nhưng dù dưới hình thức muôn hình muôn vẻ như thế nào, tựu chung hầu như tất cả các trường phái triết học, tôn giáo đều tập trung lý giải một vấn đề then chốt nhất, đó là vấn đề về bản chất, ý nghĩa của đời sống, nguồn gốc nỗi khổ đau của con người và con đường, cách thức giải thoát cho con người khỏi bể trầm luân của cuộc đời. Hướng đến việc giải thoát luôn là mục đích, nhiệm vụ tối cao của các trường phái triết học tôn giáo Ấn Độ. Trong điều kiện hiện nay việc tìm hiểu những giá trị trong quá khứ sẽ là cần thiết nhằm phát huy giá trị tích cực, tạo nền tảng để xây dựng cuộc sống hiện tại. Những giá trị tích cực đó sẽ giúp chúng ta giải quyết những vấn đề bất cập, thoát ly được khổ đau, xóa vô minh và nhìn nhận lại bản ngã của chính mình để xây dựng cuộc sống hiện tại hạnh phúc và tốt đẹp. Vì vậy, việc nghiên cứu tư tưởng giải thoát trong lịch sử triết học Ấn Độ cổ đại là hết sức cần thiết. Trên cơ sở đó chúng ta hiểu rõ hơn, sâu sắc hơn về tư tưởng giải thoát, từ đó có cách nhìn, cách đánh giá đúng đắn khách quan nhằm tìm kiếm các giải pháp thích hợp, hạn chế giá trị tiêu cực, phát huy giá trị tích cực của nó.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH

BÀI TIỂU LUẬN

Chuyên ngành: Luật Kinh tế Học phần: Triết học

Hệ: Cao học Lớp: CH2LKT

Đề tài:

TƯ TƯỞNG GIẢI THOÁT TRONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC

ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI

MSHV : 020702210042

GVHD : TS Ông Văn Năm

TP HCM, tháng 07/2021

Trang 2

MỞ ĐẦU Triết học Ấn Độ cổ đại là một nền triết học phát triển khá phong phú về nội dung và hình thức Nó đề cập đến hầu hết các lĩnh vực, các vấn đề khác nhau của triết học và trong

đó có những lĩnh vực thể hiện trình độ tư duy phát triển tư duy logic sâu sắc của người Ấn

Độ như vấn đề bản thể luận, nhận thức luận, logic học… Nhưng dù dưới hình thức muôn hình muôn vẻ như thế nào, tựu chung hầu như tất cả các trường phái triết học, tôn giáo đều tập trung lý giải một vấn đề then chốt nhất, đó là vấn đề về bản chất, ý nghĩa của đời sống, nguồn gốc nỗi khổ đau của con người và con đường, cách thức giải thoát cho con người khỏi bể trầm luân của cuộc đời Hướng đến việc giải thoát luôn là mục đích, nhiệm

vụ tối cao của các trường phái triết học tôn giáo Ấn Độ

Trong điều kiện hiện nay việc tìm hiểu những giá trị trong quá khứ sẽ là cần thiết nhằm phát huy giá trị tích cực, tạo nền tảng để xây dựng cuộc sống hiện tại Những giá trị tích cực đó sẽ giúp chúng ta giải quyết những vấn đề bất cập, thoát ly được khổ đau, xóa

vô minh và nhìn nhận lại bản ngã của chính mình để xây dựng cuộc sống hiện tại hạnh phúc và tốt đẹp

Vì vậy, việc nghiên cứu tư tưởng giải thoát trong lịch sử triết học Ấn Độ cổ đại là hết sức cần thiết Trên cơ sở đó chúng ta hiểu rõ hơn, sâu sắc hơn về tư tưởng giải thoát,

từ đó có cách nhìn, cách đánh giá đúng đắn khách quan nhằm tìm kiếm các giải pháp thích hợp, hạn chế giá trị tiêu cực, phát huy giá trị tích cực của nó

Xuất phát từ những vấn đề trên, em chọn đề tài “Tư tưởng giải thoát trong lịch sử Triết học Ấn Độ cổ đại” làm đề tài tiểu luận của mình Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được bố cục gồm 3 chương:

Chương I: Cơ sở hình thành tư tưởng giải thoát trong lịch sử Triết học Ấn Độ cổ đại Chương II: Nội dung tư tưởng giải thoát trong lịch sử Triết học Ấn Độ cổ đại

Chương III: Giá trị và hạn chế của tư tưởng giải thoát trong lịch sử Triết học Ấn Độ

cổ đại

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG GIẢI THOÁT TRONG LỊCH SỬ ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI .3

I Sự hình thành và phát triển triết học Ấn Độ cổ đại 3

II Căn nguyên của tư tưởng giải thoát trong Triết học Ấn Độ cổ đại 4

1 Khái niệm giải thoát trong triết học Ấn Độ cổ đại 4

2 Căn nguyên của tư tưởng giải thoát trong lịch sử Triết học Ấn Độ cổ đại 4

CHƯƠNG II: NỘI DUNG TƯ TƯỞNG GIẢI THOÁT TRONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI 7

I Tư tưởng giải thoát trong thời kỳ Veda 7

1 Tư tưởng giải thoát kinh Veda 7

2 Tư tưởng giải thoát trong kinh Upanishad 7

II Tư tưởng giải thoát trong thời kỳ cổ điển hay thời kỳ phật giáo và Balamon 8

1 Tư tưởng giải thoát trong sáu trường phái triết học chính thống 8

2 Tư tưởng giải thoát trong các trường phái triết học và tôn giáo không chính thống 8

2.1 Trường phái triết học Jaina 8

2.2 Trường phái triết học Lokayata 9

2.3 Phật giáo 9

CHƯƠNG III GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA TƯ TƯỞNG GIẢI THOÁT TRONG TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI 12

I Giá trị tư tưởng giải trong triết học cổ đại 12

II Hạn chế của tư tưởng giải thoát trong Triết học Ấn Độ cổ đại 12

III Ảnh hưởng của tư tưởng giải thoát trong Triết học Ấn độ cổ đại đối với xã hội Việt Nam hiện nay 13 TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

Trang 4

CHƯƠNG I: CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG GIẢI THOÁT TRONG LỊCH SỬ ẤN

ĐỘ CỔ ĐẠI

I Sự hình thành và phát triển triết học Ấn Độ cổ đại

Sự hình thành và phát triển của triết học Ấn Độ có thể chia làm hai thời kỳ: Thời kỳ thứ nhất là thời kỳ Veda – Sử thi (khoảng từ năm 1.500 trước C.N đến năm 600 trước C.N) Đây là thời kỳ xuất hiện các quốc gia chiếm hữu nô lệ đầu tiên của người Aryan trên lưu vực Sông Hằng (Gange) Thời kỳ này, trình độ sản xuất và nhận thức còn thấp kém, người Ấn Độ chưa hoàn toàn tách mình ra khỏi sự chi phối của các lực lượng siêu nhiên, nên trong đời sống họ luôn sùng bái các hiện tượng thiên nhiên đầy bí ẩn và mạnh

mẽ Nên về phương diện tư tưởng, thế giới quan thần thoại, tín ngưỡng tôn giáo mang tính

đa thần Về sau cùng với sự phát triển của thực tiễn đời sống và trình độ nhận thức, người

Ấn Độ đã dần nhận thấy giữa các sự vật, hiện tượng phong phú và đa dạng của thế giới luôn có mối liên hệ và thống nhất đằng sau nó có sự chi phối của một lực lượng mạnh mẽ

vô hình, do đó quan niệm về các vị thần tượng trưng cho các hiện tượng ở thời kỳ dần mờ nhạt, thay vào đó là tư tưởng về nguyên lý đấng tối cao sáng tạo và chi phối vũ trụ vạn vật Người Ấn Độ đã bắt đầu ý thức sự tồn tại Họ suy nghĩ về cuộc đời, số phận và đi tìm

lẽ sống cho mình

Tiếp theo thời kỳ Veda là thời kỳ cổ điển hay thời kỳ Phật giáo, Balamon giáo Ở thời kỳ này, các trào lưu triết học đều bắt nguồn từ tư tưởng truyền thống Veda và chịu sự ảnh hưởng của triết lý Balamon Nhưng cũng chính thời kỳ này đã xuất hiện những học thuyết mới chống lại tư tưởng truyền thống và giáo lý của đạo Balamon đòi tự do tư tưởng và bình đẳng xã hội tiêu biểu là Phật giáo dù tư tưởng truyền thống Balamon vẫn chi phối đời sống tinh thần xã hội và đóng vai trò như bối cảnh chung cho sự hình thành các trào lưu triết học đương thời, nhưng do sự biến đổi trong đời sống xã hội nên đã phát sinh ra những học thuyết mới đầy sức sống dám đương đầu với những tư tưởng có kinh

Trang 5

niên Các trường phái triết học có tính thế giới quan và chủ trương tín ngưỡng khác nhau lần lượt xuất hiện, đặc biệt là tư tưởng triết lý, đạo đức nhân sinh mang tính nhân bản sâu sắc của Phật giáo và các môn phái triết học duy vật Dưới sự ảnh hưởng của tư tưởng triết

lý Veda và giáo lý đạo Balamon các trường phái triết học thời kỳ này tuy có nhiều xu hướng nhưng nhìn chung có thể chia thành hai hệ thống lớn: hệ thống triết học chính thống thừa nhận uy thế của kinh Veda và giáo lý đạo Balamon, bảo vệ cho chế độ phân biệt đẳng cấp và xã hội gồm 6 trường phái triết học Sankuya, Nyaya, Vaiseika, Yaga, Mimansa và Vankeda Đối lập 6 trường phái triết học trên là hệ thống triết học không chính thống, không thừa nhận quyền uy tối cao của kinh Vesda, phản đối chế độ phân biệt đẳng cấp xã hội gồm Phật giáo, đạo Jaina và môn phái “Lục sư ngoại đạo” nổi bật là phái Lokayata

II Căn nguyên của tư tưởng giải thoát trong Triết học Ấn Độ cổ đại

1 Khái niệm giải thoát trong triết học Ấn Độ cổ đại

Để lý giải căn nguyên của tư tưởng triết lý giải thoát trong triết học Ấn Độ, chúng ta hãy tìm hiểu những quan niệm khác nhau về sự giải thoát

“Giải thoát” tiếng Phạm là “Mouskha, mukti” được giải nghĩa như sau: “giải” nghĩa

là cởi ra, mở ra hay giải thích cho rõ, còn chữ “thoát” nghĩa là vượt ra khỏi sự trói buộc, vượt ra khỏi ràng buộc

Theo “Phật học từ điển“ của Đoàn Trung Còn, thì “Giải thoát“ (Morksha) cần được hiểu như sau: Giải là lìa khỏi sự trói buộc, được tự tại, mở những dây trói của nghiệp lầm Thoát là ra ngoài quả khổ tam giới (Dục, Sắc, Vô Sắc) Chẳng hạn như giải thoát đối với kết (thắt, buộc), hệ phược (trói buộc) Giải thoát có các nghĩa:

– Giải thoát là niết bàn, là thể niết bàn, vì lìa tất cả sự trói buộc (giải thoát khỏi ngũ uẩn cũng gọi là năm loại niết bàn);

– Giải thoát cũng là thiền định, vì nhờ thiền định mà thoát khỏi vòng trói buộc, trở nên tự tại (Chẳng hạn như Tam giải thoát, Bát giải thoát, Bất tư nghị giải thoát);

– Giải thoát là một phần trong Ngũ phần pháp thân

Trang 6

2 Căn nguyên của tư tưởng giải thoát trong lịch sử Triết học Ấn Độ cổ đại.

Trừ trường phái Lokayata còn hầu như tất cả các trường phái triết học Ấn Độ cổ đại đều cho rằng căn nguyên của tư tưởng giải thoát là xuất phát từ nổi khổ của cuộc đời con người, và điểm đạt tới của sự giải thoát là dập tắt ngọn lửa dục vọng, trở về với chân bản tính của mình, hòa nhập với thực tại tuyệt đối tối cao Brahama hay Niết bàn (Nirvana), Chân như Chính vì thế, trong bốn chân lý lớn của triết lý Phật giáo, Đức phật đã coi Khổ

đế (dukkja) là chân lý lớn đầu tiên

Như thế, nỗi khổ của cuộc đời thôi thúc con người vươn lên một cõi hạnh phúc, lý tưởng, tuy nhiên nó chỉ dừng lại ở chỗ xuất phát điểm của tư tưởng giải thoát là từ nỗi khổ của con người thì ta có thể tiếp tục câu hỏi “Nỗi khổ của cuộc đời – cái đã thôi thúc con người ta vươn tới khát vọng và ý hướng giải thoát là bắt nguồn từ đâu?”

Để trả lời câu hỏi đó các trường phái triết học cho rằng sở dĩ con người mắc vào sự trói buộc của nỗi khổ là do con người mê lầm, không nhận ra chân bản của mình và vạn vật vì con người không nhận thức được mọi sự vật, hiện tượng của thế giới này là vô thường, vô ngã luôn trong trạng thái biến chuyển không ngừng nên luôn nghĩ rằng cái gì cũng là của ta, do ta Do đó, nảy sinh những luyến ái, dục vọng thúc đẩy ta hành động theo đuổi vật chất, danh vọng, tiền tài vốn là cái hư ảo, tạo nên những nghiệp báo Tóm lại, nguồn gốc của nỗi khổ đều được các trường phái triết học quy về sự nhận thức hay trong lĩnh vực đời sống tinh thần, tâm lí, đạo đức…

Nhưng thực ra nỗi khổ của cuộc đời và khát vọng vươn lên giải thoát con người khỏi nỗi khổ là bắt nguồn từ đời sống của xã hội Ấn Độ cổ đại Suy cho cùng nó chính là sự phản ánh những đặc điểm của tính chất sinh hoạt xã hội và những mâu thuẫn, xu thế, yêu cầu tất yếu của đời sống xã hội Ấn Độ đương thời Vậy điều kiện sống ở Ấn Độ đã chi phối quá trình nảy sinh và phát triển của tư tưởng giải thoát trong triết học, tôn giáo Ấn

Độ như thế nào? Nói một cách khái quát, Ấn Độ là một đất nước có điều kiện địa lý và điều kiện tự nhiên phong phú, nhưng cũng rất phức tạp, đó cũng là nơi nảy sinh ra nhiều câu chuyện thần thoại truyền thuyết, những tín ngưỡng tôn giáo và triết lí đặc sắc với lối

Trang 7

tư duy trừu tượng để người Ấn Độ cổ gởi vào đó những ước mơ và lẽ sống, đi vào sâu đời sống tâm linh con người

Tóm lại, thiên nhiên bao la, hùng vĩ và đầy uy lực của Ấn Độ vốn là cái nôi của con người từ thủa khai sơ nhưng cũng thường gây ra cho cuộc sống của con người biết bao những bất trắc và hiểm họa đã khiến người Ấn Độ luôn mơ ước vươn tới viễn cảnh của cuộc sống an lành, tốt đẹp, vĩnh hằng, một cuộc sống với sự phù trợ của các đấng thần tiên, mà ở đó sự sống sẽ tiếp tục, sống mà không có chết , không có thiên tai, dịch bệnh, thú dữ và bất công đe doạ Đó chính là khát vọng giải thoát của người Ấn Độ cổ xưa Nhưng tư tưởng giải thoát trong triết học, tôn giáo Ấn Độ cổ không chỉ nảy sinh và mang đậm dấu ấn của đặc điểm điều kiện tự nhiên, mà nó còn bắt nguồn từ tính chất gia trưởng

bị kìm hãm bởi tính chất kiên cố của của tổ chức công xã nông thôn và chế độ phân biệt chủng tộc, màu da, đẳng cấp xã hội hết sức nghiệt ngã ở Ấn Độ cổ đại

Chế độ phân biệt đẳng cấp: có 4 đẳng cấp chính của xã hội Ấn Độ cổ đại

- Đứng đầu là đẳng cấp Brahamana (tức những tăng lữ, tu sĩ Bàlamon)

- Thứ hai là đẳng cấp Kshatriya (là những vương công, võ sĩ, tướng lĩnh)

- Thứ ba là đẳng cấpVaishya (gồm đa số những người dân Aryan, thương nhân và điền chủ)

- Thứ tư là đẳng cấp Shudra (gồm những tầng lớp tiện dân và nô lệ)

Trang 8

CHƯƠNG II: NỘI DUNG TƯ TƯỞNG GIẢI THOÁT TRONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC

ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI

I Tư tưởng giải thoát trong thời kỳ Veda

1 Tư tưởng giải thoát kinh Veda

Trong thời kỳ Veda, tư tưởng giải thoát bắt đầu manh nha từ Rig -Veda nhưng chỉ thực sự biểu hiện rõ nét ở giai đoạn cuối của Veda.Vào thời đại đó do trình độ sản xuất còn thấp kém, đời sống còn lạc hậu, người Ấn Độ cổ tính tình còn thuần phác, họ chưa hoàn toàn tách mình ra khỏi tự nhiên ,về mặt ý thức họ chưa cảm thấy những mâu thuẫn cũng như những đau khổ của cuộc đời Họ chưa bộc lộ những tư tưởng bi quan yếu thế để

tố cáo những khổ đau của cõi thế gian này Trong cuộc sống họ chủ yếu đối phó với sự đe dọa của những lực lượng tự nhiên đầy ma lực để sinh tồn Một mặt họ phải dựa vào tự nhiên để tồn tại và bị những quy luật của thế giới chi phối Nhưng mặt khác họ lại muốn thoát ra khỏi sự ràng buộc của các quy luật tự nhiên, để vươn lên tự khẳng định mình trước giới tự nhiên kỳ vĩ và khắc nghiệt ấy Cuộc sống đầy mâu thuẫn là nguồn gốc gây nên những nỗi lo âu, khổ não của dân Ấn Độ Vì thế ở thời kỳ này, họ buộc phải đi tìm sự

an lành của cuộc đời nhờ vào phù hộ của các lực lượng thiên nhiên đã được họ nhân hình hóa và thần thánh hóa, chủ yếu bằng lòng sùng bái và sự thờ phụng, cầu nguyện các đấng thần linh đại diện cho các thế lực mạnh mẽ của tự nhiên

2 Tư tưởng giải thoát trong kinh Upanishad

Upanishad là một trong những kinh quan trọng nhất của thánh kinh Veda Nó là những lời bình chú tôn giáo triết học về các lẽ thiết yếu và ý nghĩa triết lý sâu xa của các bài kinh thần thoại Veda Sự xuất hiện của kinh Upanishad đánh dấu bước chuyển từ tư duy thần thoại tôn giáo sang tư duy triết học Trước hết bàn về vấn đề bản thể luận, trả lời cho câu hỏi: “Cái gì là thực tại cao nhất mà khi nhận thức được nó người ta sẽ biết cả vũ trụ?” Upanishad đã đưa ra lời giải đáp rằng, đó là “Tinh thần vũ trụ tối cao” Brahman Brahaman là thực tại có trước nhất và thực tại duy nhất, tuyệt đối, tối cao, vĩnh viễn, vô danh, vô sắc, vô tính, vô hình, là bản chất của tất cả, xâm phạm và bao hàm tất cả, ở

Trang 9

ngoài giới hạn của không gian và thời gian Upanishad đã trình bày tư tưởng giải thoát với nhiều tính chất khác nhau Giải thoát là vượt ra ngoài sự chi phố của thời gian Giải thoát

là trạng thái chân như (turiya), vượt qua tất cả mọi giả tưởng, ảo ảnh, nhận thức được bản thể vũ trụ tuyệt đối tối cao và chân bản tính của con người Giải thoát là trạng thái tự do tuyệt đối, là thể nhập với bản thể vũ trụ tuyệt đối tối cao bất diệt, vượt qua mọi quan niệm sống chết, còn mất, tha ngã, thoát khỏi sự chi phối của quy luật nghiệp báo, luân hồi Tư tưởng triết lý giải thoát của Veda, đặc biệt là Upanishad không chỉ là nguồn gốc tư tưởng cho hầu hết các môn phái triết học, tôn giáo Ấn Độ sau này, mà còn chi phối và ảnh hưởng rất sâu rộng trong đời sống tinh thần, đạo đức của người Ấn Độ cổ đại

II Tư tưởng giải thoát trong thời kỳ cổ điển hay thời kỳ phật giáo và Balamon

1 Tư tưởng giải thoát trong sáu trường phái triết học chính thống

Trong hệ thống triết học chính thống có sáu trường phái chính là Samkhya Yoga,Vaisesika, Nyana, Mimansa và Védanta Tuy các trường phái này có những điểm chung như thừa nhận uy thế mặc khải của Veda và tư tưởng giải thoát của Upanishad, nhưng mỗi trường phái đó lại có những quan điểm và phương pháp giải thoát khác nhau

Có những trường phái chủ trương giải thoát bằng nghi thức tế tự, nhưng có trường phái lại chú trọng cách thức giải thoát bằng con đường tu luyện trí tuệ “thực nghiệm tâm linh”, có trường phái đề cao sự tu luyện hành động đạo đức với tinh thần, bổn phận xã hội và tôn giáo một cách vô tư theo đúng đạo pháp mà không cần quan tâm đến kết quả, có trường phái nhấn mạnh sự rèn luyện về thể xác, tinh thần nhằm diệt mọi dục vọng, đạt tới sự thanh khiết của tinh thần hay linh hồn

2 Tư tưởng giải thoát trong các trường phái triết học và tôn giáo không chính thống 2.1 Trường phái triết học Jaina

Trường phái này cho rằng nhiệm vụ chính của nó là chỉ ra con đường và phương tiện để giải phóng linh hồn bất tử khỏi những ràng buộc của thể xác và thế giới nhục dục Nhưng họ lại phủ nhận sự sáng tạo ra thế giới của thần linh hay của một lực lượng tinh thần tối cao, tuyệt đối như Brahman hay Phạm thiên nào đó Chính vì thế trường phái Jaina được xếp vào hệ thống triết học không chính thống

Trang 10

2.2 Trường phái triết học Lokayata.

Trên cơ sở thế giới quan triệt để duy vật và vô thần môn phái triết học Lokayata lại xuất một quan điểm sống một triết lý sống độc đáo chủ trương chấp nhận cuộc sống hiện thực với tất cả những quan hệ xã hội phức tạp có niềm vui và những nỗi cay đắng của nó

Đó là khuynh hướng hoàn toàn đối lập với quan điểm của các trường phái triết học tôn giáo đương thời Nó không thừa nhận Thượng đế thần linh hay Tinh thần vũ trụ tối cao sáng tạo chi phối thế giới Nó đã phá quan điểm về cái gọi là nghiệp báo luân hồi và sự giải thoát cuối cùng về thế giới bên kia nào đó mà các trường phái triết học tôn giáo Ấn

Độ thời đó chưa ra Đồng thời nó cũng phê phán kịch liệt chủ trương phương pháp tu luyện khổ hạnh, ép xác để cầu tới sự giải thoát của trường phái triết học Jaina

2.3 Phật giáo

Đỉnh cao của tư tưởng giải thoát trong triết học tôn giáo Ấn Độ cổ đại là triết lý giải thoát của Phật giáo Nó đã thừa kế, chắt lọc, dung hợp và hoàn thiện những mặt mạnh và mặt yếu của tất cả những quan điểm, phương pháp, chủ trương giải thoát của các trường phái triết học, tôn giáo đương thời, để cố gắng vượt lên những tư tưởng của các trường phái đó

Tư tưởng triết lí Phật giáo ban đầu chỉ là truyền miệng, sau đó được viết thành văn, thể hiện trong một khối lượng rất lớn gọi là “Tam tạng” gồm ba bộ phận:

1 Tạng kinh ghi những lời Phật dạy về đạo pháp;

2 Tạng luật gồm các giới luật của đạo Phật;

3 Tạng luận gồm các bài kinh, các tác phẩm luận giải, bình chú về giáo pháp của các cao tăng học giả về sau này

Trái với quan điểm của các thánh kinh Veda, Upanishad và các môn phái triết học đương thời thừa nhận sự tồn tại của một thực thể thiên nhiên tối cao, sáng tạo và chi phối

vũ trụ (Brahman), đạo Phật cho rằng vũ trụ này là vô thuỷ vô chung, vạn vật trong thế giới này chỉ là dòng biến hoá vô thường, vô định, không do vị thần nào sáng tạo nên cả

Sở dĩ tất cả các sự vật, hiện tượng trong vũ trụ (Vạn pháp) luôn biến đổi không ngừng

Ngày đăng: 19/09/2021, 13:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w