Vai trò đó thể hiện trên các phương diện sau: - Phương diện kinh tế : Các khoản dự phòng giảm giá đảm bảo cho doanhngiệp phản ánh giá trị vật tư hàng hoá tồn kho, chứng khoán đầu tư và g
Trang 1MỞ ĐẦU
Trong những năm qua, cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước, mở cửa hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới, nền kinh tếViệt Nam đã có nhiều thay đổi sâu sắc, sự thay đổi này đòi hỏi phải có một cơ chếquản lý kinh tế phù hợp Một trong những công cụ quản lý kinh tế, tài chính có vaitrò tích cực chính là hạch toán kế toán Với tư cách là một công cụ quản lý, kế toánluôn phải tuân thủ một số nguyên tắc chung được thừa nhận (GAAP) nhằm đảmbảo cung cấp thông tin một cách chính xác và nhanh chóng cho các đối tượng sửdụng Một trong những nguyên tắc đó là nguyên tắc “thận trọng” Nguyên tắc nàyyêu cầu: khi có nghi ngờ về các nghiệp vụ không chắc chắn về những sự kiện sẽxảy ra trong tương lai, lúc đó kế toán cần thận trọng trong việc lùa chọn giải phápghi nhận nghiệp vụ, để đảm bảo rằng báo cáo tài chính không công bố tài sản vàthu nhập vượt qua khả năng thực tế, đồng thời công nợ và chi phí cũng không đượccông bố thấp hơn thực tế
Vận dụng nguyên tắc “thận trọng” vào công tác kế toán, tại thời điểm khóa sổ
kế toán để lập báo cáo tài chính, kế toán sẽ tiến hành lập dự phòng đối với nhữngkhoản mục tài sản có nguy cơ bị giảm giá trị hoặc lập dự phòng cho những khoảnchi phí và rủi ro sẽ phát sinh trong tương lai căn cứ theo những sự kiện xảy ratrong hiện tại Nói cách khác, về bản chất, dự phòng là sự xác nhận của kế toán vềmột khoản giảm giá trị tài sản hoặc một khoản chi phí sẽ phát sinh do nhữngnguyên nhân mà hậu quả của chúng không chắc chắn Khoản dự phòng được lập
sẽ giúp doanh nghiệp phản ánh đúng giá trị thực của tài sản trên sổ kế toán đồngthời là nguồn tài chính bù đắp tổn thất kinh doanh của doanh nghiệp khi tài sản củadoanh nghiệp thực sự giảm giá, bên cạnh đó việc lập dự phòng sẽ giúp doanhnghiệp nắm thế chủ động trong việc xử lý rủi ro xảy ra và có kế hoạch sản xuấtkinh doanh hợp lý để có thể luôn đứng vững trong môi trường có tính cạnh tranhcao của nền kinh tế Điều này chứng tỏ vai trò to lớn của dự phòng đối với cácdoanh nghiệp trong cơ chế thị trường
Trên thế giới, vấn đề trích lập và sử dụng các khoản dự phòng đã được quantâm nghiên cứu từ lâu Đặc biệt, Uỷ ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC) trựcthuộc Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) đã thiết lập và công bố chuẩn mực kế toánquốc tế về “Các khoản dự phòng, tài sản và công nợ bất thường” (IAS 37) Chuẩnmực này đã đề ra những nguyên tắc, những định hướng có căn cứ khoa học và thựctiễn về kế toán các khoản dự phòng, khuyến khích các quốc gia vận dụng, phù hợpvới điều kiện và hoàn cảnh của từng nước IAS 37 không chỉ giúp công tác kế toán
ở các quốc gia rút ngắn thời gian nghiên cứu, ứng dụng nội dung và các phươngpháp kế toán các khoản dự phòng trong những điều kiện kinh tế riêng biệt, mà còntạo ra được ngôn ngữ chung về kế toán trên toàn cầu; tăng tính so sánh thông tintrên các báo cáo tài chính; nâng cao tính khách quan và tính có thể tin cậy được
Trang 2của các thông tin tài chính, đảm bảo thông tin thích hợp và có tính hữu dụng chongười sử dông
Ở Việt Nam, dự phòng là một vấn đề còn khá mới mẻ đối với các doanhnghiệp Nó chỉ thực sự được quan tâm khi kinh nền kinh tế nước ta bước vào nềnkinh tế thị trường, một nền kinh tế có tính cạnh tranh cao và luôn luôn tiềm Ènnhững bất trắc và rủi ro trên thị trường Trong công tác kế toán tại Việt Nam, cáckhoản mục dự phòng chỉ mới được theo dõi và phản ánh trên sổ sách kế toán từ khi
Bộ Tài chính ban hành Hệ thống kế toán doanh nghiệp áp dụng thống nhất trong cảnước từ ngày 01/01/1996 (theo Quyết định số 1141 TC/QĐ/CĐKT ngày1/11/1995) Từ đó đến nay, bộ Tài chính đã ban hành nhiều văn bản sửa đổi bổsung về chế độ kế toán doanh nghiệp nói chung, cũng như về phương pháp hạchtoán các khoản dự phòng nói riêng, để phù hợp với sự thay đổi của các chính sáchtài chính Tuy nhiên, bên cạnh một số ưu điểm, các quy định hiện hành đối với kếtoán các khoản dự phòng vẫn còn rất nhiều bất cập, vướng mắc, chưa phản ánhđược bản chất thực sự của dự phòng và không có tác dụng trên thực tế Do đó, kếtoán các nghiệp vụ dự phòng là một trong những nội dung đòi hỏi phải được hoànthiện để đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế thị trường, phù hợp với các thông lệ
và chuẩn mực kế toán quốc tế
Xuất phát từ nhận thức trên, qua nghiên cứu lý luận dưới sự giúp đỡ của côgiáo PGS.TS Phạm Thị Gái cùng với sự hiểu biết còn hạn chế của mình em xinđược thực hiện đề án môn học kế toán tài chính với đề tài:
"Một số vấn đề tổ chức vận dụng chế độ tài chính và kế toán các khoản dự
phòng hiện nay trong các doanh nghiệp"
để nghiên cứu với mong muốn hiểu rõ hơn về vấn đề dự phòng và xin được đónggóp một số ý kiến nhỏ bé của mình đối với việc hoàn thiện phương pháp hạch toáncác loại dự phòng tại Việt Nam
Nội dung bài viết của em gồm hai phần:
Phần I: Lý luận chung về tổ chức vận dụng và kế toán các khoản dự phòng
hiện nay trong các doanh nghiệp
Phần II: Quan điểm và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chế độ kế toán các
khoản dự phòng trong hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam
PHẦN I : LÍ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC VẬN DỤNG VÀ
Trang 3KẾ TOÁN CÁC KHOẢN DỰ PHÒNG HIỆN NAY
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
I ) KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÁC KHOẢN DỰ PHÒNG.
1) Khái niệm và vai trò của các khoản dự phòng.
Dự phòng giảm giá là sự xác nhận về phương diện kế toán một khoản giảmgiá trị tài sản do những nguyên nhân mà hậu quả của chúng không chắc chắn Cáckhoản dự phòng giảm giá có một vai trò quan trọng đối với doanh ngiệp Vai trò
đó thể hiện trên các phương diện sau:
- Phương diện kinh tế : Các khoản dự phòng giảm giá đảm bảo cho doanhngiệp phản ánh giá trị vật tư hàng hoá tồn kho, chứng khoán đầu tư và giá trị củacác khoản nợ phải thu không cao hơn giá cả trên thị trường hoặc giá trị có thể thuhồi được tại thời điểm lập báo cáo tài chính, nhờ đó mà bảng cân đối kế toán củadoanh nghiệp phản ánh chính xác hơn giá trị thực tế của tài sản Nhờ vậy, người sửdụng thông tin do kế toán cung cấp sẽ nắm rõ giá trị thực cũng như tình hình biếnđộng của tài sản mà doanh ngiệp nắm giữ để có thể ra quyết định phù hợp
- Phương diện tài chính : Do dự phòng giảm giá có tác dụng làm giảm lợinhuận của niên độ nên doanh nghiệp tiết kiệm được một số vốn đáng lẽ đã đượcphân chia Số vốn này được sử dụng để bù đắp các khoản giảm giá tài sản thực sựphát sinh và tài trợ các khoản chi phí hay lỗ đã được dự phòng khi các khoản đóphát sinh ở niên độ sau này Thực chất, các khoản dự phòng là một nguồn tài chínhcủa doanh nghiệp, tạm thời nằm trong các tài sản lưu động trước khi sử dụng thựcthụ
- Phương diện thuế : Các khoản dự phòng được ghi nhận là chi phí hợp lý
khi tính thuế, nhờ đó làm giảm thu nhập chịu thuế và giảm thuế mà doanh nghiệpphải nép
2) Phân loại dự phòng.
Theo chế độ kế toán hiện hành tại Việt Nam, kế toán được phép trích lập 3loại dự phòng: dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng giảm giá chứng khoánđầu tư và dự phòng nợ phải thu khó đòi
- Dù phòng giảm giá hàng tồn kho : là dự phòng phần giá trị bị tổn thất do giảmgiá vật tư, thành phẩm, hàng hoá tồn kho có thể xảy ra trong năm kế hoạch
- Dù phòng giảm giá chứng khoán đầu tư : trong hoạt động tài chính: là dựphòng phần giá trị bị tổn thất do giảm giá các loại chứng khoán của doanh nghiệp
có thể xảy ra trong năm kế hoạch
Trang 4- Dù phòng nợ phải thu khó đòi : là dự phòng phần giá trị bị tổn thất củacác khoản nợ phải thu, có thể không đòi được do đơn vị nợ hoặc người nợ khôngcòn khả năng thanh toán trong năm kế hoạch.
3) Thời điểm và nguyên tắc lập dự phòng.
Việc trích lập và hoàn nhập các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dựphòng nợ phải thu khó đòi, dự phòng giảm giá chứng khoán trong hoạt động tàichính đều được thực hiện ở thời điểm khoá sổ kế toán để lập báo cáo tài chínhnăm Trên cơ sở các bằng chứng tin cậy về sự giảm giá của các đối tượng cụ thể,
kế toán sẽ xác nhận số dự phòng giảm giá cần lập cho niên độ tới với điều kiện: số
dự phòng không được vượt quá số lợi nhuận thực tế phát sinh của doanh nghiệp.Việc lập dự phòng phải tiến hành riêng cho từng loại vật tư, hàng hoá, từngloại chứng khoán bị giảm giá, từng khoản nợ phải thu khó đòi Sau đó phải tổnghợp toàn bộ các khoản dự phòng vào bảng kê chi tiết dự phòng từng loại Để thẩmđịnh mức độ giảm giá của các loại vật tư, hàng hoá, chứng khoán và xác định cáckhoản nợ phải thu khó đòi, doanh nghiệp phải thành lập hội đồng với các thànhviên bắt buộc là Giám đốc, Kế toán trưởng, Trưởng phòng vật tư (hoặc Trưởngphòng kinh doanh)
II - CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN CÁC KHOẢN DỰ PHÒNG.
1) Kế toán các khoản dự phòng tại Việt Nam.
Sau khi Hệ thống Kế toán Doanh nghiệp ra đời, Bộ Tài Chính đã ban hànhmột số văn bản hướng dẫn sửa đổi, bổ sung chế độ kế toán doanh nghiệp có liênquan đến hạch toán các khoản dự phòng từ 01/11/1995 đến 15/6/2003 như sau:
- Thông tư số 64 TC/TCDN ngày 15/9/1997 “Hướng dẫn chế độ trích lập và
sử dụng dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng công nợ khó đòi, dự phònggiảm giá chứng khoán tại doanh nghiệp Nhà nước”
- Thông tư số 33/1998/TC-BTC ngày 17/3/1998 “Hướng dẫn hạch toán tríchlập và sử dụng các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng công nợ khóđòi, dự phòng giảm giá chứng khoán tại doanh nghiệp Nhà nước” (theo thông tư số
64 TC/TCDN ngày 15/9/1997)
- Thông tư số 107/2001/TT-BTC ngày 31/12/2001 “Hướng dẫn chế độ tríchlập và sử dụng các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, giảm giá chứng khoánđầu tư, dự phòng công nợ khó đòi tại doanh nghiệp” (thay thế thông tư số 64TC/TCDN ngày 15/9/1997)
- Quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài chính số 149/2002/QĐ-BTC ngày31/12/2001 “Về việc ban hành và công bố bốn (04) chuẩn mực kế toán Việt Nam(đợt 1)”
Trang 5- Thụng tư số 89/2002/TT-BTC ngày 09/10/2002 “Hướng dẫn kế toỏn thựchiện bốn (04) chuẩn mực kế toỏn ban hành theo quyết định số 149/2001/QĐ-BTCngày 31/12/2001 của Bộ trưởng Bộ Tài chớnh”
Hiện tại, kế toỏn cỏc khoản dự phũng tại Việt Nam thực hiện theo hướng dẫntại thụng tư số 107/2001/TT-BTC ngày 31/12/2001 và thụng tư số 89/2002/TT-BTC, được quy định cụ thể như sau:
1.1) Kế toỏn dự phũng giảm giỏ chứng khoỏn đầu tư.
1.1.1) Đối tượng, điều kiện và phương phỏp trớch lập.
Cỏc khoản đầu tư ngắn hạn và dài hạn thường cú biến động về giỏ cả Để đốiphú với tỡnh trạng giảm giỏ cỏc khoản đầu tư này, doanh nghiệp tiến hành lập cỏckhoản dự phũng Đồng thời qua đú phản ỏnh được giỏ trị thực của cỏc khoản đầu
tư Giỏ trị thực của chứng khoỏn đầu tư là giỏ trị dự tớnh cú thể chuyển hoỏ thànhtiền của chứng khoỏn
Toàn bộ chứng khoỏn do doanh nghiệp đầu tư theo đỳng qui định của luậtphỏp, được mua bỏn tự do trờn thị trường mà tại thời điểm kiểm kờ cuối năm cú giỏtrị thị trường giảm so với giỏ đang hạch toỏn trờn sổ kế toỏn ( giỏ gốc ghi sổ ) đượcphộp trớch lập dự phũng Những chứng khoỏn khụng được phộp mua bỏn trờn thịtrường thỡ khụng được trớch lập dự phũng giảm giỏ
Mức dự phũng cần lập cho năm tới được xỏc định theo cụng thức:
Trong đú:
1.1.2 ) Tài khoản sử dụng và phương phỏp hạch toỏn.
Để theo dừi tỡnh hỡnh trớch lập và hoàn nhập dự phũng giảm giỏ chứng khoỏnđầu tư, kế toỏn sử dụng tài khoản 129 “Dự phũng giảm giỏ đầu tư ngắn hạn” và tài
Mức giảm giá
của chứng
Giá chứng khoán i thực tế trên thị trờng cuối niên độ kế toán
= Giá gốc ghi sổ kế toán của
x Mức giảm giá của chứng
khoán i
Trang 6
-khoản 229 “Dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn” Tài -khoản được mở chi tiết theotừng loại chứng khoán Nội dung và kết cấu của hai tài khoản này như sau:
- Bên Nợ: Hoàn nhập dự phòng giảm giá chứng khoán đầu tư không dùng đến
- Bên Có: Trích lập dự phòng giảm giá đầu tư vào cuối niên độ
- Sè dư bên Có : Giá trị dự phòng giảm giá chứng khoán đầu tư hiện còn Phương pháp hạch toán được tiến hành như sau:
Cuối năm tài chính, doanh nghiệp căn cứ vào tình hình giảm giá đầu tư ngắnhạn, dài hạn của các loại chứng khoán, các khoản đầu tư ngắn hạn, dài hạn hiện cótính đến 31/12 tính toán khoản phải lập dự phòng giảm giá cho các khoản đầu tưngắn hạn, dài hạn này, so sánh với số đã lập dự phòng giảm giá năm trước (nếu có)xác định số chênh lệch phải lập tăng thêm, hoặc giảm đi (nếu có):
- Trường hợp số dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán phải lập năm nay lớnhơn số dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán đã lập ở cuối niên độ kế toán nămtrước, thì số chênh lệch lớn hơn, ghi:
Nợ TK 635 - Chi phí tài chính
Có TK 129 - Dù phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn
Có TK 229 - Dù phòng giảm giá đầu tư dài hạn
- Trường hợp số dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán phải lập năm naynhỏ hơn số dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán đã lập ở cuối niên độ kế toánnăm trước, thì số chênh lệch phải được hoàn nhập, ghi:
Nợ TK 229 - Dù phòng giảm giá đầu tư dài hạn
Nợ TK 129 - Dù phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn
Có TK 635 - Chi phí tài chính
Phương pháp hạch toán được thể hiện qua sơ đồ 1
Sơ đồ 1: Kế toán dự phòng giảm giá chứng khoán đầu tư
Ghi chó:
(1) Trích lập dự phòng giảm giá chứng khoán đầu tư vào cuối niên độ kế toán, trước khi lập báo cáo tài chính (nếu số phải lập cuối kỳ kế toán năm nay lớn hơn số đã lập cuối kỳ kế toán năm trước)
(2)(1)
Trang 7(2) Hoàn nhập dự phòng giảm giá chứng khoán đầu tư vào cuối niên độ kế toán trước khi lập báo cáo tài chính (nếu số phải lập cuối kỳ kế toán năm nay nhỏ hơn số đã lập cuối kỳ kế toán năm trước).
1.2) Kế toán dự phòng nợ phải thu khó đòi.
1.2.1) Đối tượng, điều kiện và mức trích lập.
Dự phòng nợ phải thu khó đòi là dự phòng phần giá trị bị tổn thất của cáckhoản nợ phải thu, có thể không đòi được do đơn vị nợ hoặc người nợ không cókhả năng thanh toán trong năm kế hoạch Vì vậy, để dự phòng những tổn thất vềcác khoản phải thu khó đòi có thể xảy ra, bảo đảm phù hợp giữa doanh thu và chiphí trong kỳ, cuối niên độ, kế toán phải dự tính số nợ có khả năng khó đòi để lập
dự phòng
Theo qui định tại thông tư 107/2001/TT-BTC các khoản nợ phải thu khó đòiphải có tên, địa chỉ, nội dung từng khoản nợ, số tiền phải thu của từng con nợ,trong đó ghi rõ số nợ phải thu khó đòi Đồng thời doanh nghiệp phải có nhữngchứng từ gốc hoặc xác nhận của con nợ về số tiền còn nợ chưa trả, bao gồm: hợpđồng kinh tế, khế ước vay nợ, bản thanh lý hợp đồng, cam kết nợ, đối chiếu công
nợ Đây là các khoản nợ đã quá hạn 2 năm trở lên kể từ ngày đến hạn thu nợđược ghi trong hợp đồng kinh tế, các khế ước vay nợ hoặc các cam kết nợ, doanhnghiệp đã đòi nhiều lần nhưng vẫn chưa thu được nợ Trường hợp đặc biệt, tuychưa quá hạn 2 năm nhưng con nợ đang trong thời gian xem xét giải thể, phá sảnhoặc có các dấu hiệu khác như bỏ trèn, hoặc đang bị các cơ quan pháp luật giamgiữ, xét xử thì cũng được ghi nhận là khoản nợ khó đòi Tổng mức dự phòng cáckhoản nợ phải thu khó đòi tối đa không vượt quá 20% tổng số dư nợ phải thu củadoanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo tài chính năm Các khoản nợ khó đòi được
xử lý xoá sổ khi có bằng chứng sau:
- Đối với con nợ là pháp nhân : Phải có quyết định của Toà án cho xử lý phásản doanh nghiệp theo Luật phá sản hay quyết định của cấp có thẩm quyền về giảithể doanh nghiệp hoặc các quyết định khác của cơ quan có thẩm quyền theo quiđịnh của pháp luật
- Đối với con nợ là thể nhân : Con nợ đang tồn tại nhưng có đủ chứng minh
không có khả năng trả nợ hoặc có lệnh truy nã hay xác nhận của cơ quan pháp luậtđối với những con nợ đã bỏ trèn hoặc đang thi hành án hoặc con nợ đã chết, không
có khả năng trả nợ (kèm theo xác nhận của chính quyền địa phương)
Chuẩn mực kế toán Việt Nam về “ Doanh thu và Thu nhập khác ” (chuẩnmực số 14) không qui định chính xác mức lập dự phòng các khoản nợ phải thu khóđòi
1.2.2) Tài khoản sử dụng và phương pháp hạch toán.
Trang 8Các khoản dự phòng phải thu khó đòi được kế toán theo dõi trên tài khoản
139 “Dự phòng phải thu khó đòi” (chi tiết theo từng khách hàng), với nội dung vàkết cấu như sau:
- Bên Nợ: Bù đắp các khoản phải thu khó đòi được phép xoá nợ đã được lập
dự phòng; Hoàn nhập dự phòng phải thu khó đòi
- Bên Có: Trích lập dự phòng phải thu khó đòi
- Sè dư bên Có: Số dự phòng phải thu khó đòi hiện còn
Phương pháp hạch toán dự phòng phải thu khó đòi như sau:
- Cuối kỳ kế toán, căn cứ vào các khoản nợ phải thu khó đòi, kế toán xác định
số dự phòng cần trích lập Nếu số dự phòng phải thu khó đòi cần trích lập năm naylớn hơn số dư của khoản dự phòng phải thu khó đòi đã trích lập ở cuối niên độtrước chưa sử dụng hết, thì số chênh lệch lớn hơn được hạch toán vào chi phí quản
lý doanh nghiệp, ghi:
Nợ TK 642 - Chi phí quản lý doanh nghiệp
Có TK 159 - Dù phòng phải thu khó đòi
- Nếu số dự phòng phải thu khó đòi cần trích lập năm nay nhỏ hơn số dư củakhoản dự phòng phải thu khó đòi đã trích lập ở cuối niên độ trước chưa sử dụnghết, thì số chênh lệch được hoàn nhập ghi giảm chi phí quản lý doanh nghiệp, ghi:
Nợ TK 139 - Dù phòng phải thu khó đòi
Có TK 642 - Chi phí quản lý doanh nghiệp
- Các khoản nợ phải thu khó đòi khi xác định thực sự là không đòi được,được phép xoá nợ và được bù đắp bằng khoản dự phòng phải thu khó đòi Căn cứvào quyết định xoá nợ về các khoản nợ phải thu khó đòi, kế toán ghi:
Nợ TK 139 - Dù phòng phải thu khó đòi (nếu đã lập dự phòng)
Nợ TK 642 - Chi phí quản lý doanh nghiệp (phần chênh lệch giữa số nợ
phải thu khó đòi xoá nợ lớn hơn số lập dự phòng)
Có TK 131 - Phải thu của khách hàng
Có TK 138 - Phải thu khác
Đồng thời ghi vào bên Nợ TK 004 “Nợ khó đòi đã xử lý”
- Đối với những khoản phải thu khó đòi đã được xử lý xoá nợ, nếu sau đó lạithu hồi được nợ, kế toán căn cứ vào giá trị thực tế của khoản nợ đã thu hồi được, ghi:
Nợ TK 111, 112
Có TK 711 - Thu nhập khác
Đồng thời ghi vào bên Có TK 004 “Nợ khó đòi đã xử lý”
Trang 9Phương pháp hạch toán được thể hiện qua sơ đồ 2.
Sơ đồ 2: Kế toán dự phòng các khoản nợ phải thu khó đòi.
Ghi chó:
(1) Số nợ phải thu được xác định là không đòi được đã xử lý xoá sổ trong kỳ.
(2) Phần chênh lệch lớn hơn số dự phòng đã lập, tính vào chi phí quản lý doanh nghiệp (nếu có).
(3) Bù đắp khoản phải thu khó đòi xoá sổ, đã được lập dự phòng (nếu có)
(4) Trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi vào cuối niên độ kế toán, trước khi lập báo cáo tài chính (Nếu số dự phòng phải lập cho năm tới lớn hơn số dự phòng còn lại) (5) Hoàn nhập chênh lệch dự phòng nợ phải thu khó đòi vào cuối niên độ kế toán trước khi lập báo cáo tài chính (Nếu số dự phòng phải lập cho năm tới nhỏ hơn số dự phòng còn lại)
1.3) Kế toán dự phòng giảm giá hàng tồn kho.
1.3.1) Đối tượng, điều kiện và phương pháp lập.
Hàng tồn kho là khoản mục chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản và nằm ởnhiều khâu trong quá trình cung ứng, sản xuất, dự trữ và lưu thông của doanhnghiệp Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam về “Hàng tồn kho” (VAS 02), hàng tồnkho bao gồm:
- Hàng hoá mua về để bán: hàng hoá tồn kho, hàng mua đang đi đường, hànggửi đi gia công chế biến
- Thành phẩm tồn kho và thành phẩm gửi bán
- Sản phẩm dở dang: sản phẩm chưa hoàn thành và sản phẩm hoàn thànhchưa đủ làm thủ tục nhập kho thành phẩm
- Nguyên liệu vật liệu, công cụ, dụng cụ tồn kho, gửi đi gia công chế biến và
đã mua đang đi trên đường
Trang 10giá hàng tồn kho Dự phòng giảm giá hàng tồn kho được lập vào cuối niên độ kếtoán nhằm ghi nhận bộ phận giá trị dự tính giảm sút so với giá gốc ( giá thực tế )của hàng tồn kho nhưng chưa chắc chắn Qua đó, phản ánh được giá trị thực hiệnthuần tuý của hàng tồn kho trên báo cáo tài chính:
Đối tượng lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho là tất cả các loại hàng tồn khocủa doanh nghiệp có giá trị thuần có thể thực hiện được nhỏ hơn giá gốc vào cuối
kỳ kế toán năm
Giá trị thuần có thể thực hiện được là giá bán ước tính của hàng tồn kho trong
kỳ sản xuất, kinh doanh bình thường trừ (-) chi phí ước tính để hoàn thành sảnphẩm và chi phí ước tính cần thiết cho việc tiêu thụ Việc ước tính giá trị thuần cóthể thực hiện được của hàng tồn kho phải dùa trên bằng chứng tin cậy thu thậpđược tại thời điểm ước tính
Điều kiện trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho: phải có hoá đơn, chứng
từ hợp pháp hoặc các bằng chứng khác chứng minh giá gốc; hàng tồn kho phảithuộc sở hữu của doanh nghiệp, vào thời điểm lập báo cáo tài chính có giá gốc lớnhơn giá trị thuần có thể thực hiện được Trường hợp nguyên vật liệu, công cụ dụng
cụ dự trữ phục vụ cho sản xuất sản phẩm có dấu hiệu giảm giá nhưng giá thành sảnxuất thấp hơn giá trị thuần có thể thực hiện được thì không được trích lập dựphòng
Việc lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho được thực hiện trên cơ sở từng mặthàng tồn kho Đối với dịch vụ cung cấp dở dang, việc lập dự phòng được tính theotừng loại dịch vụ có mức giá riêng biệt Đối với nguyên liệu, vật liệu, công cụdụng cụ chỉ được lập dự phòng khi giá thành sản phẩm sản xuất ra từ chúng caohơn giá trị thuần có thể thực hiện được Mức lập dự phòng giảm giá hàng tồn khođược xác định theo công thức sau:
1.3.2) Tài khoản sử dụng và phương pháp hạch toán.
Để theo dõi tình hình trích lập và hoàn nhập dự phòng giảm giá hàng tồn kho,
kế toán sử dụng tài khoản 159 “Dự phòng giảm giá hàng tồn kho” Kết cấu và nộidung phản ánh của tài khoản 159 như sau:
Møc dù phßng gi¶m gi¸ hµng tån
Gi¸ gèc hµng tån
-Gi¸ trÞ thuÇn cã thÓ thùc hiÖn ® îc cña hµng tån kho
Gi¸ trÞ thùc hiÖn
thuÇn tuý cña
Gi¸ gèc cña hµng tån kho -
Dù phßng gi¶m gi¸ hµng tån kho
Trang 11- Bên Nợ: Hoàn nhập dự phòng giảm giá.
- Bên Có: Trích lập dự phòng giảm giá
- Sè dư bên Có: Giá trị dự phòng giảm giá hàng tồn kho hiện còn
Vào cuối kỳ kế toán năm, khi giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồnkho nhỏ hơn giá gốc thì phải trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho theo quyđịnh sau:
- Nếu số dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải lập ở cuối kỳ kế toán năm naylớn hơn khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho đã lập ở cuối kỳ kế toán năm trướcthì số chênh lệch được trích thêm vào giá vốn hàng bán, ghi:
Nợ TK 632 - Giá vốn hàng bán
Có TK 159 - Dù phòng giảm giá hàng tồn kho
- Nếu số dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải lập ở cuối kỳ kế toán năm naynhỏ hơn khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho đã lập ở cuối kỳ kế toán nămtrước thì số chênh lệch được hoàn nhập vào giá vốn hàng bán, ghi:
Nợ TK 159 - Dù phòng giảm giá hàng tồn kho
kế toán năm trước)
(2) Hoàn nhập dự phòng giảm giá hàng tồn kho vào cuối niên độ kế toán trước khi lập báo cáo tài chính (Nếu số phải lập cuối kỳ kế toán năm nay nhỏ hơn số đã lập cuối
kỳ kế toán năm trước)
2) Kế toán các khoản dự phòng theo chuẩn mực kế toán quốc tế.
Về vấn đề dự phòng, Uỷ ban chuẩn mực kế toán quốc tế đã công bố chuẩnmực kế toán quốc tế về “Các khoản dự phòng, tài sản và công nợ bất thường” (IAS37) Chuẩn mực này quy định những nội dung chủ yếu sau:
(1)(2)
Trang 12- Mét khoản dự phòng là một khoản nợ phải trả có thời gian và giá trị khôngxác định.
- Mét khoản dự phòng chỉ được ghi nhận khi: doanh nghiệp có một nghĩa vụhiện tại phát sinh từ một sự kiện trong quá khứ, có thể có sự mất đi các nguồn lựcgắn liền với các lợi Ých kinh tế để thanh toán khoản nghĩa vụ, và có thể ước tínhmột cách tin cậy về giá trị của nghĩa vụ đó
- Trong một số Ýt trường hợp (ví dụ trong một vụ kiện), có thể không rõ làliệu doanh nghiệp có nghĩa vụ hiện tại hay không Trong những trường hợp nhưvậy, một sự kiện trong quá khứ được coi là làm phát sinh nghĩa vụ hiện tại nếu khảnăng có nghĩa vụ hiện tại vào ngày lập bảng cân đối kế toán là nhiều hơn khả năngkhông có nghĩa vụ
- Giá trị của khoản dự phòng phải là một ước tính tốt nhất về những chi phícần có để thanh toán các nghĩa vụ hiện tại vào ngày lập bảng cân đối tài sản.Doanh nghiệp phải tính toán các rủi ro và những vấn đề bất trắc có thể xảy ra,nhưng không được dùa vào đó mà đưa ra khoản dự phòng quá mức hoặc khai tăngcông nợ một cách có chủ ý
- Các khoản dự phòng cần phải được xem xét lại vào ngày lập bảng cân đối
kế toán hàng năm và được điều chỉnh để phản ánh mức ước tính tốt nhất theo hiệntại
- Mét khoản dự phòng chỉ được sử dụng cho các khoản chi tiêu mà khoản dựphòng được lập cho và được hoàn nhập lại nếu không sử dụng
Việc nghiên cứu chuẩn mực kế toán về vấn đề dự phòng và đối chiếu với chế
độ kế toán các khoản dự phòng ở Việt Nam theo quy định hiện hành là cơ sở đểđánh giá mức độ hài hoà giữa hệ thống kế toán Việt Nam và hệ thống kế toán thếgiới, để từ đó đề ra những biện pháp hoàn thiện thích hợp
3) Đánh giá về kế toán các khoản dự phòng trong hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam theo quy định hiện hành.
3.1) Một số ưu điểm của chế độ kế toán các khoản dự phòng theo quy định hiện hành.
Việc đưa khoản mục dự phòng vào theo dõi trên sổ sách kế toán từ năm 1996
là một bước thay đổi lớn trong quá trình hoàn thiện hệ thống kế toán Việt Nam,giúp kế toán phản ánh được sự biến động về giá trị thực của tài sản, giúp doanhnghiệp chủ động đối phó với những bất trắc của nền kinh tế thị trường, cung cấpthông tin chính xác cho các đối tượng sử dụng và đáp ứng nhu cầu của nền kinh tếthị trường
Trong quá trình hoàn thiện kế toán các khoản dự phòng, đặc biệt sau khi một
số chuẩn mực kế toán Việt Nam được công bố, nội dung và phương pháp kế toán
dự phòng đã có một số thay đổi khá hợp lý: