Việc đưa dạy học tự chọn vào chương trình phổ thông ngay từ bậctiểu học dựa trên những kết quả nghiên cứu và thử nghiệm trong nhiềunăm qua về sự phát triển của học sinh tiểu học trong qu
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Một trong những điểm mới của chương trình tiểu học hiện hành làđưa dạy học tự chọn thành một bộ phận của chương trình giáo dục phổthông Dạy học tự chọn xuất phát từ sự biện chứng của thống nhất và phânhoá, từ yêu cầu đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu dạy học đối với tất cảmọi học sinh, đồng thời khuyến khích phát triển tối đa và tối ưu những khảnăng của học sinh, là một hình thức tổ chức dạy học phân hóa phù hợp với
xu thế chung của thế giới
Việc đưa dạy học tự chọn vào chương trình phổ thông ngay từ bậctiểu học dựa trên những kết quả nghiên cứu và thử nghiệm trong nhiềunăm qua về sự phát triển của học sinh tiểu học trong quá trình giáo dục vàkhả năng thực hiện giáo dục toàn diện ở tiểu học đang trở thành hiện thực Tuy nhiên, quá trình triển khai dạy học tự chọn còn gặp không ít khókhăn, đặc biệt đối với khâu biên soạn tài liệu dạy học tự chọn Vì vậy, thiết
kế tài liệu dạy học cho giờ học tự chọn ở tiểu học là một hướng đi có nhiềutriển vọng góp phần đổi mới nội dung và phương pháp dạy học
Một trong những mục tiêu chính của dạy học tự chọn là nhằm hỗ trợviệc dạy học chương trình chính khóa, do đó chúng tôi lựa chọn hướng xâydựng nội dung dạy học tự chọn dựa trên những mạch kiến thức, kĩ năngcủa chương trình chuẩn
Các lớp từ vựng là thuật ngữ chúng tôi tạm dùng để chỉ mạch kiếnthức, kĩ năng về từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ đồng âm và từ đa nghĩađược dạy trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5 Việc tổ chức dạy học nộidung này trong giờ tự chọn một mặt sẽ giúp học sinh khắc sâu kiến thức líthuyết, thực hành, vận dụng thành thục trong giao tiếp, mặt khác bồi
Trang 2dưỡng cho học sinh thêm yêu tiếng Việt đồng thời học tốt phân môn Tậpđọc và Tập làm văn
Như vậy, thông qua nghiên cứu khả năng ứng dụng cụ thể, thiết thựccủa vấn đề, trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ chúng tôi đã mạnh dạn
lựa chọn đề tài: “Thiết kế tài liệu dạy học các lớp từ vựng cho giờ học tự
chọn môn Tiếng Việt lớp 5”.
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm thiết kế một tài liệu dạy học giúp giáo viên
và học sinh thực hiện dạy học các lớp từ vựng trong giờ học tự chọn mộtcách có hiệu quả
3 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học mạch kiến thức “Các lớp từ vựng” ở lớp 5
4 Đối tượng nghiên cứu
Tài liệu dạy học “ các lớp từ vựng” cho giờ học tự chọn trong mônTiếng Việt lớp 5
5 Giả thuyết khoa học
Nếu chúng ta thiết kế được một tài liệu dạy học các lớp từ vựng chogiờ tự chọn bảo đảm chuẩn kiến thức và kĩ năng đã quy định trong chươngtrình hiện hành, đặc biệt khai thác được sự thú vị và những lợi ích của cáclớp từ đó trong sử dụng ngôn ngữ, trên cơ sở tính toán đầy đủ đến việcphân hóa trình độ của học sinh thì sẽ tăng cường hứng thú học tập của các
em, từ đó nâng cao hiệu quả dạy học nội dung này ở Tiểu học
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở khoa học của việc thiết kế tài liệu dạy học cáclớp từ vựng cho giờ tự chọn
Trang 3- Thiết kế tài liệu dạy học các lớp từ vựng cho giờ học tự chọn trongmôn Tiếng Việt lớp 5.
- Thử nghiệm sư phạm nhằm kiểm nghiệm tính khả thi của tài liệudạy học đã xây dựng
7 Phạm vi nghiên cứu
Thiết kế tài liệu dạy học nội dung “ các lớp từ vựng” sử dụng tronggiờ học tự chọn cho học sinh lớp 5
8 Phương pháp nghiên cứu
1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
2 Phương pháp điều tra
3 Phương pháp thực nghiệm
4 Phương pháp toán học thống kê
9 Những đóng góp mới của luận văn
9.1 Làm sáng tỏ những vấn đề lí luận và thực tiễn của việc thiết kế tài liệudạy học các lớp từ vựng cho giờ học tự chọn môn Tiếng Việt lớp 5
9.2 Đưa ra tổ hợp bài tập dành cho hai đối tượng học sinh trên chuẩn vàdưới chuẩn dựa trên cơ sở chương trình chuẩn
9.3 Gợi ý, hướng dẫn giảng dạy dành cho giáo viên
10 Bố cục luận văn
Luận văn gồm 3 phần :
Phần mở đầu: Lí do chọn đề tài, mục đích, nhiệm vụ, đối tượng,
khách thể, phạm vi nghiên cứu, giả thuyết khoa học, phương pháp nghiêncứu, đóng góp của luận văn và bố cục luận văn
Phần nội dung
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc thiết kế tài liệu dạy
học các lớp từ vựng cho giờ học tự chọn môn Tiếng Việt lớp 5
Trang 4Chương 2: Thiết kế tài liệu dạy học tự chọn các lớp từ vựng cho giờ
học tự chọn môn Tiếng Việt lớp 5
Chương 3: Thử nghiêm sư phạm
Phần kết luận
CHƯƠNG 1
Cơ sở khoa học của việc thiết kế tài liệu dạy học các lớp từ vựng cho
giờ học tự chọn môn Tiếng Việt 5 1.1 Dạy học tự chọn ở tiểu học
1.1.1 Quan niệm về dạy học tự chọn ở tiểu học:
Loại nội dung không bắt buộc với mọi HS do người học tự chọn đểphát triển năng lực cá nhân, gọi chung là nội dung dạy học tự chọn
1.1.2 Lí do của việc tổ chức dạy học tự chọn ở tiểu học
Tổ chức dạy học tự chọn trong trường phổ thông là một giải pháp đểthực hiện dạy học phân hoá theo đối tượng, linh hoạt về nội dung, phươngpháp, thời gian học, làm cho việc học trở nên thiết thực, thích thú, đạt chấtlượng và hiệu quả cao hơn đối với mỗi cá nhân người học
1.1.3 Mục tiêu dạy học tự chọn ở tiểu học
Dạy học tự chọn ở tiểu học nhằm giúp học sinh :
- Phát triển năng lực của cá nhân trong một số lĩnh vực học tập
- Góp phần bồi dưỡng tài năng theo đặc điểm của cấp tiểu học và củađịa phương
- Đạt được mục tiêu của giáo dục tiểu học
1.1.4 Nguyên tắc chung của dạy học tự chọn ở tiểu học :
- Chương trình dạy học tự chọn là sự phát triển theo chiều sâu của cáckiến thức, kĩ năng cơ bản trong chương trình tiểu học hiện hành ở các lớp
3, 4, 5 ( trừ môn tiếng anh và môn tin học có chương trình độc lập )
Trang 5- Tăng cường khả năng vận dụng, thực hành các kiến thức kĩ năng cơbản để giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội, …gần gũi trong đời sống HS
- Tài liệu dạy học tự chọn biên soạn theo chương trình dạy học tự chọn,được thẩm định và ban hành theo quy định của Bộ GD - ĐT và do hiệutrưởng trường tiểu học lựa chọn
Để tăng khả năng lựa chọn tài liệu học tập theo đặc điểm cá nhân, nênkhuyến khích có nhiều tài liệu của cùng một chuơng trình tự chọn
- Phương pháp dạy học tự chọn phải phát huy tính chủ động, linh hoạt,sáng tạo, tư duy phê phán, tinh thần tự học của HS
- Phát huy thế mạnh truyền thống của điạ phương, đất nước, từng bướctiến kịp trình độ giáo dục tiểu học của các quốc gia phát triển trong khuvực, trên thế giới
1.1.5 Các hình thức dạy học tự chọn ở tiểu học
Trong chương trình giáo dục phổ thông do Bộ giáo dục và Đào tạo
(GD - ĐT) ban hành ngày 5/5/2006 có hai hình thức dạy học tự chọn : Tự
chọn bắt buộc và tự chọn không bắt buộc
1.1.6 Kế hoạch dạy học tự chọn
- Thời lượng học tự chọn của mỗi HS tối đa là 4 tiết mỗi tuần và một HS
có thể chọn tối đa 2 hoặc 3 môn học (hoặc nội dung) tự chọn
- Ngay trong nội dung tự chọn của một môn học, học sinh có thể lựachọn một số chủ đề, mô dun … thích hợp ở từng lớp
- Hiệu trưởng căn cứ vào điều kiện cụ thể của từng nhà trường, từng lớp
có thể lựa chọn từ 2 đến nhiều môn học ( hoặc lĩnh vực học tập ) tự chọn
1.1.7 Dạy học tự chọn môn Tiếng Việt ở tiểu học
1.1.7.1 Mục tiêu dạy học tự chọn môn Tiếng Việt ở tiểu học
a) Bổ sung và khai thác sâu chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học
Trang 6b) Đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng học tập của các đối tượng học sinhkhác nhau:
c) Phát huy và bồi dưỡng cho học sinh tính tích cực, tự giác, tự lậptrong học tập và khả năng tự học
1.1.7.2 Định hướng nội dung dạy học tự chọn môn Tiếng Việt ở tiểu học
+ Hỗ trợ các HS có hoàn cảnh khó khăn đạt chuẩn kiến thức kỹ năngcủa giai đoạn các lớp 1, 2, 3 (tập trung ở lớp 3 ) và của giai đoạn các lớp 4, 5 + Phát triển các kiến thức, kỹ năng cơ bản theo chiều sâu và rộng,đạt trình độ giỏi của quốc gia và quốc tế
1.1.7.3 Nội dung dạy học tự chọn môn Tiếng Việt ở tiểu học
Đáp ứng các mục tiêu trên, các chủ đề tự chọn trong môn Tiếng Việtgồm 2 loại:
+ Loại củng cố phục vụ cho việc ôn luyện, thực hành, củng cố, hệ thống hoá, khắc sâu kiến thức và kĩ năng đã học Loại chủ đề này dành cho
những học sinh dưới chuẩn
+ Loại nâng cao với những kiến thức mở rộng, sâu sắc hơn so vớichương trình giáo dục phổ thông song vẫn gắn kết với chương trình, giúphọc sinh mở rộng đào sâu hơn những kiến thức, kĩ năng đã học Loại nàydành cho các học sinh khá, giỏi
1.2 Cơ sở Việt ngữ học của việc thiết kế tài liệu dạy học các lớp từ vựng cho giờ học tự chọn môn Tiếng Việt lớp 5
1.2.1 Từ đồng nghĩa
1.2.1.1 Quan niệm về từ đồng nghĩa
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về từ đồng nghĩa nhưng về cơ bản đều
thống nhất với nhau ở một điểm: từ đồng nghĩa là những từ có hình thức ngữ âm khác nhau nhưng có quan hệ tương đồng về nghĩa biểu niệm
Trang 71.2.1.2 Phân loại từ đồng nghĩa
Căn cứ vào mức độ đồng nhất về nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm vànghĩa biểu thái, có thể chia từ đồng nghĩa thành hai loại lớn: đồng nghĩatuyệt đối và đồng nghĩa tương đối
1.2.1.3 Giá trị của từ đồng nghĩa
- Cung cấp cho người sử dụng ngôn ngữ những phương tiện ngôn ngữ đểbiểu thị các sự vật, hiện tượng trong những biểu hiện phong phú, sinhđộng, đa dạng của nó trong thực tế khách quan
- Sự tồn tại của các từ đồng nghĩa còn là biểu hiện của sự phát triển, sựphong phú của một ngôn ngữ nào đó
- Từ đồng nghĩa có giá trị tu từ học rất lớn Vì vậy, trong ngôn ngữ thơ ca,người ta sử dụng khá nhiều các từ, các cách nói đồng nghĩa
1.2.2.Từ trái nghĩa
1.2.2.1 Quan niệm về từ trái nghĩa
Từ trái nghĩa là những từ có một số nét nghĩa khái quát trong cấu trúcbiểu niệm giống nhau, bên cạnh đó, nổi bật lên ít nhất một nét nghĩa đối lập
1.2.2.2 Phân loại từ trái nghĩa
Từ sự khảo sát trên, có thể thấy hiện tượng trái nghĩa xảy ra ở hai mức độkhác nhau: trái nghĩa tuyệt đối và trái nghĩa tương đối
1.2.2.3 Giá trị của từ trái nghĩa
- Quan hệ trái nghĩa giúp ta hiểu sâu thêm nghĩa của từ
- Trong các tác phẩm văn chương, người ta sử dụng khá nhiều các cặp tráinghĩa, vì chúng có sức biểu hiện, biểu cảm rất lớn, tạo ra các hình tượngtương phản, gây ấn tượng mạnh
- Từ trái nghĩa là cơ sở để tạo ra phép đối được sử dụng khá nhiều trongvăn thơ
Trang 81.2.3.Từ đa nghĩa (từ nhiều nghĩa)
1.2.3.1 Quan niệm về từ đa nghĩa
Trong các sách lí luận ngôn ngữ học, các định nghĩa về từ đa nghĩa, tuycách diễn đạt có thể khác nhau nhưng cốt lõi vẫn chỉ là “hiện tượng một từ
có nhiều ý nghĩa, giữa các ý nghĩa này có mối liên hệ với nhau còn nhận rađược, thường được gọi là từ đa nghĩa
1.2.3.2 Phân loại các nghĩa trong từ đa nghĩa
a) Phân loại theo quan điểm lịch đại
Theo cách này, người ta chia nghĩa của từ đa nghĩa thành hai loại : nghĩagốc và nghĩa phái sinh
b) Phân loại theo quan điểm đồng đại
Người ta phân các nghĩa khác nhau của từ đa nghĩa thành ba loại :nghĩa chính, nghĩa phụ và nghĩa tu từ
1.2.3.3 Mối liên hệ giữa các ý nghĩa khác nhau trong một từ đa nghĩa
Mối liên hệ khác nhau giữa các ý nghĩa của các từ đa nghĩa được biểuhiện ra qua các kiểu loại quy luật chuyển nghĩa của từ
1.2.3.4 Các quy luật chuyển nghĩa của từ
b) Chuyển tên gọi bằng ẩn dụ hoặc hoán dụ
- Ẩn dụ là sự chuyển đổi dựa vào sự giống nhau giữa các sự vật hiệntượng được so sánh với nhau
Trang 9- Hoán dụ: hiện tượng chuyển tên gọi từ sự vật hiện tượng này sang sự vậthiện tượng khác dựa trên mối quan hệ gần nhau chúng trong không gian vàthời gian
1.2.3.5 Giá trị của từ đa nghĩa
- Các từ đa nghĩa giúp chúng ta diễn đạt được một cách vừa chính xác lạivừa đa dạng, phong phú nhận thức của mình về thế giới hiện thực kháchquan
- Từ đa nghĩa thể hiện quy luật tiết kiệm vô cùng kì diệu trong ngôn ngữ
1.2.4 Từ đồng âm
1.2.4.1 Quan niệm về từ đồng âm
Trong ngôn ngữ học, thuật ngữ từ đồng âm được dùng để chỉ những từ
có hình thức ngữ âm giống nhau nhưng có nghĩa hoàn toàn khác biệt nhau
và không hề liên quan với nhau
1.2.4.2 Phân loại từ đồng âm
Dựa vào cấp độ các đơn vị đồng âm có thể phân hiện tượng đồng âmtrong tiếng Việt thành các loại sau: Đồng âm giữa từ với từ và đồng âmgiữa từ với tiếng
1.2.4.3 Giá trị của từ đồng âm
- Từ đồng âm trong Tiếng Việt có giá trị tu từ học rất lớn Nó là cơ sở, làchỗ dựa cho nghệ thuật chơi chữ trong các tác phẩm văn chương
- Các từ đồng âm giúp chúng ta biểu thị những sự vật, hiện tượng phongphú, đa dạng của hiện thực khách quan bằng một số lượng hữu hạn vỏ âmthanh ngôn ngữ
1.3 Thực trạng dạy học“ Các lớp từ vựng” trong chương trình Tiếng Việt lớp 5
Trang 101.3.1 Vị trí của dạy học các lớp từ vựng trong chương trình phân môn Luyện từ và câu lớp 5
1.3.1.1 Mục tiêu phân môn Luyện từ và câu
1.3.1.2 Nội dung và thời lượng dạy học phân môn Luyện từ và câu trongmôn Tiếng Việt 5
Phân môn Luyên từ và câu lớp 5 (62 tiết: 32 tiết học kì I, 30 tiết học kìII), trong đó thời lượng dành cho dạy học các lớp từ vựng ở lớp 5 là 11tiết Cụ thể: Từ đồng nghĩa (4tiết),Từ trái nghĩa (2tiết),Từ đồng âm(2tiết),Từ nhiều nghĩa (3tiết)
1.3.3 Những yêu cầu cơ bản về kiến thức và kĩ năng
- Hiểu và bước đầu vận dụng được kiến thức về nghĩa của từ (đồng nghĩa,trái nghĩa, đồng âm, hiện tượng chuyển nghĩa) vào việc hiểu văn bản vănhọc và thực hành nói viết
1.3.4 Tài liệu dạy học
1.3.4.1 Sách giáo khoa(SGK)
Nhìn chung, lượng kiến thức cũng như mức độ kiến thức về các lớp từvựng là vừa đủ, cơ bản, cần thiết cho học sinh tiểu học diện đại trà Kiếnthức được trình bày, diễn đạt nhìn chung rõ ràng, dễ hiểu, đảm bảo chínhxác ( ở mức độ cho phép)
Trang 11Cách bố trí thời lượng, sắp xếp các đơn vị kiến thức và các kiểu bàiđều không tập trung vào việc nhận diện các hiện tượng ngôn ngữ mà chútrọng rèn luyện khả năng sử dụng từ ngữ phục vụ giao tiếp.
1.3.4.2.Sách giáo viên (SGV)
1.3.5 Những khó khăn của giáo viên và học sinh
1.3.5.1 Những khó khăn của giáo viên
GV nắm kiến thức về các lớp từ vựng chưa chắc chắn, chưa nắm đượcphương pháp tổ chức, phải tự biên soạn tài liệu học tập cho giờ học tựchọn ở tiểu học
1.3.5.2 Những khó khăn của học sinh
Học sinh tiểu học thường mắc những sai lầm phổ biến trong việc hiểunghĩa của từ, dùng từ thiếu chính xác, khả năng vận dụng các lớp từ vựngtrong giao tiếp chưa có kết quả như mong muốn
CHƯƠNG 2
Thiết kế tài liệu dạy học “các lớp từ vựng”cho giờ tự học
trong môn Tiếng Việt lớp 5 2.1 Mục tiêu của việc thiết kế tài liệu dạy học các lớp từ vựng cho giờ
Trang 122.2.1 Bám sát mục tiêu, chương trình Tiếng Việt ở tiểu học
Việc dạy học các lớp từ vựng trong giờ tự chọn nhằm giúp cho học sinhhiểu biết sâu sắc hơn về các lớp từ, thực hành thành thục hơn những kĩ năngTiếng Việt mà chương trình đã đề ra chứ không cung cấp, không dạy thêmnhững kiến thức mới, không dạy trước những nội dung dạy học của lớp trên
2.2.2 Nguyên tắc đề cao sự sáng tạo, tính tích cực của học sinh
Tuân thủ nguyên tắc này nghĩa là phải triệt để sử dụng những kiếnthức, kĩ năng các em đã có khi học chương trình cơ bản để dạy học chươngtrình tự chọn
2.2.3 Nguyên tắc bảo đảm tính hấp dẫn
Chương trình dạy học tự chọn với nguyên tắc cơ bản là tự nguyệnđặc biệt đề cao nguyên tắc đảm bảo tính hấp dẫn Nguyên tắc này đòi hỏiviệc tổ chức dạy học phải thiết thực hóa, thú vị hóa và phải đảm bảo tínhvừa sức
2.3 Các bước soạn thảo tài liệu dạy học các lớp từ vựng cho giờ học tự chọn
2.3.1 Xây dựng chương trình khung
Dựa trên thời lượng dành cho dạy học nội dung các lớp từ vựngthuộc phân môn Luyện từ và câu theo chương trình chuẩn (11tiết/ 62 tiết)cũng như tầm quan trọng của nội dung này chúng tôi đề xuất thời lượngdành cho dạy học tự chọn nội dung các lớp từ vựng là 5 tiết, được dạy ởhọc kì 1
Trang 132.3.2 Xây dựng nội dung dạy học tự chọn các lớp từ vựng
Xuất phát từ quan điểm giao tiếp, chúng tôi xây dựng nội dung dạyhọc tự chọn các lớp từ vựng là tổ hợp bài tập bổ trợ và bài tập nâng caodành cho hai đối tượng học sinh
2.3.2.1 Các bước cần thực hiện để xây dựng một bài tập
2.3.2.2 Tổ hợp bài tập dành cho hai đối tượng học sinh
Nhóm 1: Bài tập nhận diện và hệ thống hóa vốn từ
* Bài tập cho sẵn từ yêu cầu xác định lớp từ
Để giảm độ khó của bài tập này chúng tôi bổ sung thêm một số chỉ dẫnnhư nêu sẵn số lượng từ đồng nghĩa trong câu hoặc gợi ý sẵn từ trung tâm
Để tăng độ thú vị hơn của bài tập, chúng tôi chọn các ngữ liệu có tần số
sử dụng các từ đồng nghĩa cao hoặc bổ sung thêm yêu cầu
* Bài tập tìm từ cùng lớp với từ cho sẵn
đồng nghĩa với từ nhỏ ( nhỏ bé, nho nhỏ, nhỏ nhắn, nhỏ nhoi ), yêu cầu
học sinh phân biệt nghĩa và cách dùng của chúng
* Bài tập phân loại từ theo các lớp từ vựng
Để giảm độ khó của bài tập, cần chọn ngữ liệu cụ thể, dễ hiểu, có dunglượng hạn chế (số lượng từ đưa ra ít) và nên “ cảnh báo”, chỉ dẫn để họcsinh lưu ý, ví dụ cho chỉ dẫn số nhóm từ phân loại được ở lệnh bài tập
Trang 14Đối với đối tượng học sinh trên chuẩn chúng ta lại phải điều chỉnh tăng
độ thú vị của bài tập bằng cách bổ sung thêm yêu câu cho lệnh bài tậphoặc chọn ngữ liệu thú vị hơn Ví dụ bổ sung thêm yêu cầu chỉ ra nét nghĩachung hoặc chọn ngữ liệu là các thành ngữ, tuch ngữ
Nhóm 2 Bài tập dạy nghĩa
* Bài tập yêu cầu xác định nghĩa của từ
Đối với học sinh dưới chuẩn có thể xây dựng một số dạng bài tập như:bài tập nối từ cho sẵn với hình vẽ tương ứng, bài tập dựa vào tranh tìm từtương ứng, bài tập cho sẵn từ và nghĩa của từ, yêu cầu HS xác lập sự tươngứng
Đối với bài tập dành cho học sinh trên chuẩn, ngữ liệu được chọnthường là những từ đa nghĩa, đồng âm
* Bài tập yêu cầu chỉ ra nét nghĩa chung
Khi xây dựng bài tập dành cho học sinh dưới chuẩn, đối với dạng bàitập này cần cung cấp sẵn các nghĩa của các từ hoặc cho sẵn một số đáp án
để học sinh lựa chọn đáp án
* Bài tập yêu cầu xác định nghĩa gốc, nghĩa chuyển
Để giảm độ khó của bài tập, khi yêu cầu học sinh chỉ rõ nghĩa chuyểnđược dùng của từ, GV nên nêu nghĩa chính trước
* Bài tập yêu cầu chỉ ra thế đối lập về nghĩa
Ngữ liệu nâng cao của dạng bài tập này là những từ đa nghĩa hoặcnhững từ đồng nghĩa, đặc biệt là những từ đồng nghĩa tương đối có gốcHán
Nhóm 3 Bài tập sử dụng từ
* Bài tập điền từ