Chi thường xuyên NSNN Chi thường xuyên ngân sách cấp huyện là quá trình phân phối, sử dụng nguồn lực tài chính của Nhà nước cấp huyện nhằm đáp ứng những nhu cầu của các cơ quan Nhà nước
Trang 1BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
PHẠM TẤT THÀNH
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN YÊN THỦY, TỈNH HÒA BÌNH
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
Những kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực, của tôi, không vi phạm bất cứ điều gì trong luật sở hữu trí tuệ và pháp luật Việt Nam Nếu sai, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật
Hà Nội , ngày 25 tháng 10 năm 2019
TÁC GIẢ
Phạm Tất Thành
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập, nghiên cứu Để hoàn thành luận văn này tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới:
Thầy giáo hướng dẫn: PGS,TS Nguyễn Văn Tuấn
Các thầy, cô giáo trong Trường Đại học Lâm nghiệp đã chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tận tình trong quá trình tôi thực hiện luận văn này
Sự giúp đỡ của Lãnh đạo, đồng nghiệp cơ quan và gia đình, bạn bè đã luôn quan tâm, động viên và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thực hiện
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội , ngày 25 tháng 10 năm 2019
TÁC GIẢ
Phạm Tất Thành
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 4
1.1 Cơ sở lý luận về quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước 4
1.1.1 Các khái niệm có liên quan 4
1.1.2 Nội dung quản lý chi thường xuyên ngân sach nhà nước 7
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý chi thường xuyên NSNN 13
1.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước 17
1.2.1 Kinh nghiệm của một số quốc gia 17
1.2.2 Kinh nghiệm của một số địa phương ở Việt Nam 19
1.2.3 Một số công trình nghiên cứu có liên quan 21
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA HUYỆN YÊN THỦY VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Yên Thủy 26
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 26
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 32
2.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ảnh hưởng đến qu ản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Yên Thủy33 2.2 Phương pháp nghiên cứu 35
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu và mẫu khảo sát 35
Trang 52.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 35
2.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 36
2.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá sử dụng trong luận văn 36
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36
3.1 Thực trạng công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại huyện Yên Thủy 38
3.1.1 Bộ máy quản lý ngân sách nhà nước huyện Yên Thủy 38
3.1.2 Thực trạng chi thường xuyên NSNN huyện Yên thủy 42
3.1.3 Thực trạng công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước huyện Yên Thủy 49
3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại huyện Yên Thủy 65
3.2.1 Nhân tố khách quan 65
3.2.2 Nhân tố chủ quan 68
3.3 Đánh giá chung về công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại huyện Yên Thủy 71
3.3.1 Những thành công 71
3.3.2 Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 72
3.3.3 Nguyên nhân của tồn tại 77
3.4 Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại huyện Yên Thủy 81
3.4.1 Mục tiêu hoàn thiện quản lý thường xuyên NSNN huyện Yên Thủy81 3.4.2 Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại huyện Yên Thủy 83
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91 PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CDCCKT Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
CNH-HĐT Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
TX NSNN Thường xuyên Ngân sách Nhà nước
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Hiện trạng sử dụng đất của huyện Yên Thủy năm 2018 28
Bảng 2.2 Giá trị sản xuất và cơ cấu kinh tế ngành huyện Yên Thủy 32
Bảng 3.1 Thu - Chi NSNN huyện Yên Thủy (giai đoạn 2016 - 2018) 43
Bảng 3.2 Tổng hợp các khoản chi NSNN tại Huyện Yên Thủy 44
Bảng 3.3 Cơ cấu chi NSNN theo phân cấp tại Huyện Yên Thủy 46
Bảng 3.4 Cơ cấu chi thường xuyên NSNN huyện Yên Thủy 48
Bảng 3.5 Dự toán chi thường xuyên ngân sách ở một số lĩnh vực 51
Bảng 3.6 Tình hình chấp hành dự toán chi TX NSNN huyện Yên Thủy 53
Bảng 3.7 Tình hình chi cho sự nghiệp giáo dục đào tạo Yên Thủy 54
Bảng 3.8 Tình hình chi sự nghiệp kinh tế Yên Thủy 56
Bảng 3.9 Chi quản lý hành chính, Đảng, đoàn thể 60
Bảng 3.10 Kết quả thanh tra, giám sát chi thường xuyên NSNN 64
Bảng 3.11 Đánh giá về phân cấp quản lý nhà nước trong hệ thống NSNN 67
Bảng 3.12 Kết quả đánh giá của đối tượng hưởng NSNN về trình độ cán bộ quản lý chi NSNN 70
DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 3.1 Bộ máy quản lý ngân sách nhà nước huyện Yên Thủy……… …39
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
Ngân sách nhà nước là khâu tài chính quan trọng nhất, là kế hoạch tài chính cơ bản trong hệ thống tài chính quốc gia Nó giữ vai trò chủ đạo trong
hệ thống tài chính, quyết định sự phát triển của nền kinh tế quốc dân Mọi hoạt động quản lý của nhà nước đều bị chi phối bởi khả năng và hoạt động có hiệu quả của ngân sách Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, ngân sách nhà nước được sử dụng như một công cụ điều tiết vĩ mô quan trọng để đảm bảo hiệu quả, công bằng và ổn định nền kinh tế và định hướng phát triển các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân
Ngân sách nhà nước với tư cách là phạm trù kinh tế đang tồn tại và được sử dụng mạnh mẽ trong sự nghiệp đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước, nhà nước sử dụng NSNN để tạo hành lang và môi trường cho sự phát triển KT-
XH, duy trì bộ máy quản lý nhà nước, hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị, giữ vững an ninh quốc phòng, đối ngoại, xây dựng kết cấu hạ tầng KT-XH, giải quyết các vấn đề dân sinh, xã hội khác
Trong bối cảnh hiện nay, nguồn thu ngân sách nhà nước đang còn hạn hẹp, nhu cầu chi cho mọi lĩnh vực ngày càng tăng thì việc quản lý tăng thu ngân sách nhà nước và quản lý sử dụng các khoản chi như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất là vấn đề rất quan trọng
Trong hệ thống ngân sách nhà nước, ngân sách cấp huyện có vai trò cung cấp phương tiện vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của chính quyền huyện và cấp chính quyền cơ sở trực thuộc, đồng thời là công cụ để chính quyền cấp huyện thực hiện quản lý toàn diện các hoạt động kinh tế - xã hội trên địa bàn Tuy nhiên do ngân sách cấp huyện là một cấp ngân sách trung gian ở giữa ngân sách cấp tỉnh và ngân sách cấp xã nên vẫn còn tình trạng ngân sách cấp huyện chưa thể hiện được đầy đủ vai trò của mình đối với phát triển kinh tế - xã hội địa phương
Trang 9Do vậy để chính quyền cấp huyện thực thi có hiệu quả những nhiệm vụ chính trị được giao, thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn thì cần có một ngân sách cấp huyện đủ mạnh và phù hợp là một đòi hỏi thiết thực, là một mục tiêu phấn đấu đối với cấp huyện Vì thế khía cạnh hoàn thiện trong đổi mới công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách cấp huyện luôn là một nhiệm vụ được quan tâm
Xuất phát từ thực tế nêu trên, đề tài: “Hoàn thiện công tác quản lý chi
thường xuyên n n s ch nh nư c tr n ịa bàn huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình” được tác giả lựa chọn nghiên cứu nhằm đáp ứng yêu cầu đó
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng tới công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước trên địa bàn nghiên cứu, luận văn đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại huyện Yên Thủy tỉnh Hòa Bình
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu của ề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác quản lý chi thường xuyên NSNN và các yếu tố ảnh hưởng đến công tác này tại huyện Yên Thủy, Hòa Bình
Trang 103.2 Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi về nội dung:
Công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước được nghiên cứu trên các khía cạnh sau đây:
- Công tác lập dự toán chi TX NSNN;
- Công tác quản lý kiểm soát chi TX NSNN;
- Công tác thanh quyết toán chi TX NSNN;
- Công tác kiểm tra, giám sát chi TX NSNN
* Phạm vi về không gian:
Trên địa bàn huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình
* Phạm vi về thời gian:
Các số liệu thứ cấp của đề tài được thu thập từ năm 2016-2018,
Các số liệu sơ cấp được hảo sát năm 2019
Các giải pháp được đề xuất cho giai đoạn 2020-2025
4 Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cấp huyện
- Thực trạng công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách trên bàn huyện Yên Thủy
- Các yếu tố ảnh hưởng tới công tác quản lý chi TX NSNN huyện Yên Thủy
- Các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình
Trang 11Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CHI
THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1.1 Cơ sở lý luận về quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước
- Nhóm thứ hai, xem NSNN là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước
- Nhóm thứ ba, quan niệm NSNN là hệ thống các quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động và phân phối các nguồn tài chính
Với quan điểm thuộc nhóm thứ nhất, các nhà kinh tế học đã đưa ra được khái niệm chỉ ra được hình thức của ngân sách, nhưng định nghĩa đó
Trang 12chưa thể hiện được vị trí của NSNN trong nền kinh tế, hơn nữa NSNN là một quá trình liên tục, thường xuyên, việc giới hạn trong phạm vi thời gian một năm chỉ có thể xem như một quá trình của ngân sách
Với quan điểm thứ hai, mặc dù định nghĩa đã cụ thể hóa được cách hiểu
về NSNN và vị trí của nhà nước đối với quĩ ngân sách Tuy nhiên cách hiểu này lại chưa chỉ ra được sự khác biệt về vai trò của NSNN so với các quĩ tiền
tệ khác Với quan niệm của nhóm thứ ba, mặc dù định nghĩa đã nêu lên NSNN chứa đựng các mỗi quan hệ kinh tế nhưng nó lại hông đưa ra được định nghĩa về bản chất của NSNN
Luật NSNN năm 2015, tại điều 4 khoản 14 định nghĩa: NSNN là toàn
bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước [10]
Theo định nghĩa này: Về bản chất, NSNN phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ sở luật định
1.1.1.2 Chi thường xuyên NSNN
Chi thường xuyên ngân sách cấp huyện là quá trình phân phối, sử dụng nguồn lực tài chính của Nhà nước cấp huyện nhằm đáp ứng những nhu cầu của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội thuộc khu vực công tại huyện đó, qua đó thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước ở các hoạt động sự nghiệp kinh tế, giáo dục đào tạo, y tế, văn hóa, xã hội và các hoạt động sự nghiệp hác trên địa bàn
Chi thường xuyên ngân sách nhà nước cấp huyện có các đặc điểm sau:
- Hầu hết các khoản chi thường xuyên từ NSNN đều mang tính ổn định và có tính chu kỳ trong một khoảng thời gian nhất định trong một năm tài chính
Trang 13- Các khoản chi thường xuyên phần lớn nhằm mục đích tiêu dùng và trang trải cho các nhu cầu về quản lý hành chính, hoạt động sự nghiệp, về an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội và các hoạt động xã hội khác Các hoạt động này mặc dù không trực tiếp tạo ra lợi nhuận hay tạo ra sản phẩm vật chất nhưng những khoản chi thường xuyên này lại có tác dụng quan trọng đối với phát triển kinh tế vì nó tạo ra một hệ thống cơ sở hạ tầng, môi trường kinh tế ổn định góp phần nâng cao chất lượng lao động thông
- Chi thường xuyên NSNN gắn liền với cơ cấu tổ chức bộ máy Nhà nước và việc thực hiện các chính sách kinh tế, chính trị, xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ Phần lớn các khoản chi thường xuyên nhằm duy trì hoạt động, hiệu quả của bộ máy quản lý Nhà nước Việc sử dụng inh phí thường xuyên phải đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả
- Hiệu quả của chi thường xuyên không thể đánh giá, xác định cụ thể như chi cho đầu tư phát triển Hiệu quả của nó hông đơn thuần về mặt kinh
tế mà được thể hiện qua sự ổn định chính trị, xã hội từ đó thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước
Nhà nước bằng các khoản chi thường xuyên để đầu tư vào nguồn lực con người trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Bên cạnh đó, thông qua chính các khoản chi này thực hiện các chức năng văn hóa, giáo dục, quản lý,
an ninh - quốc phòng… Nguồn tài chính chi cho mục đích công cộng này có thể huy động từ nhiều nguồn vốn khác nhau: từ nguồn NSNN, nguồn tự tạo của các đơn vị thông qua hoạt động sự nghiệp, nguồn tài chính của các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp, của các tổ chức xã hội, nguồn huy động từ sự đóng góp của dân cư theo chính sách hoặc tự nguyện, biếu tặng và nguồn từ nước ngoài thông qua hợp tác trong hoạt động sự nghiệp…
Chi thường xuyên NSNN bao gồm các khoản chi cho tiêu dùng xã hội gắn liền với chức năng quản lý xã hội của nhà nước, khoản chi này được phân thành hai bộ phận: Thứ nhất, bộ phận phục vụ cho nhu cầu quản lý kinh tế xã
Trang 14hội chung của nhà nước Thứ hai, bộ phận vốn được sử dụng để đáp ứng nhu cầu của dân cư về phát triển văn hóa xã hội, nó có mối quan hệ trực tiếp đến thu nhập và nâng cao mức sống của dân cư và một bộ phận phục vụ cho nhu cầu quản lý kinh tế xã hội chung của nhà nước
Bằng vào các khoản chi tiêu dùng thường xuyên nhà nước thể hiện sự quan tâm của mình đến nhân tố con người trong quá trình phát triển kinh tế, đồng thời với các khoản chi này nhà nước thực hiện chức năng văn hóa, giáo dục, quản lý, an ninh quốc phòng
1.1.1.3 Quản lý chi ngân sách nhà nước cấp huyện
Quản lý chi NSNN là quá trình phân phối lại quỹ tiền tệ tập trung một cách có hiệu quả nhằm thực hiện chức năng của Nhà nước trên cơ sở sử dụng
hệ thống chính sách, pháp luật Quản lý chi NSNN có tốt sẽ quyết định hiệu
quả sử dụng vốn ngân sách
Quản lý chi NSNN là quá trình thực hiện có hệ thống các biện pháp phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung nhằm phục vụ chi tiêu cho bộ máy
và thực hiện các chức năng của Nhà nước Đây thực chất là quá trình sử dụng
các nguồn vốn chi tiêu của Nhà nước từ khâu lập kế hoạch đến khâu sử dụng nhằm đảm bảo quá trình chi tiết kiệm và có hiệu quả, phù hợp với yêu cầu của thực tế đặt ra theo đúng chính sách, chế độ của Nhà nước phục vụ các mục
tiêu KT-XH
Luật NSNN Số 83/2015/QH13 cũng chỉ rõ: Chi NSNN chỉ được thực hiện hi có đủ các điều kiện sau đây:
- Đã có trong dự toán ngân sách được giao;
- Đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định;
- Đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người được ủy quyền quyết định chi
Trang 15- Đối với những khoản chi cho công việc cần phải đấu thầu thì còn phải
tổ chức đấu thầu theo quy định của pháp luật về đấu thầu
Việc tổ chức quản lý giám sát các khoản chi phải vừa đảm bảo đáp ứng các điều kiện của luật ngân sách, vừa tiết kiệm và có hiệu quả cao, muốn vậy cần phải quan tâm các mặt sau:
- Quản lý chi phải gắn chặt với việc bố trí các khoản chi làm cơ sở cho việc quản lý xây dựng quy chế kiểm tra, kiểm soát
- Bảo đảm yêu cầu tiết kiệm và hiệu quả trong việc bố trí và quản lý các khoản chi tiêu NSNN
- Quản lý chi phải thực hiện các biện pháp đồng bộ, kiểm tra giám sát trước, trong và sau khi chi
- Phân cấp quản lý các khoản chi cho các cấp chính quyền địa phương
và các tổ chức trên cơ sở phải phân biệt rõ nhiệm vụ phát triển KT - XH của các cấp theo luật ngân sách để bố trí các khoản chi cho thích hợp
- Quản lý chi ngân sách phải kết hợp quản lý các khoản chi ngân sách thuộc vốn nhà nước với các khoản chi thuộc nguồn của các thành phần kinh tế
để tạo ra sức mạnh tổng hợp, nâng cao hiệu quả chi
1.1.1.4 Quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cấp huyện
Quản lý chi thường xuyên NSNN cấp huyện là quá trình quản lý hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình tạo lập, phân bổ và sử dụng quỹ tiền tệ của chính quyền Nhà nước; quản lý các khoản thu, chi của huyện đã dự toán và được thực hiện trọng một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình
Quản lý chi thường xuyên ngân sách là một nội dung trọng yếu của quản lý ngân sách, quản lý tài chính nói riêng và quản lý nhà nước nói chung, được điều hành bởi nhà nước và là một mắt xích quan trọng của quá trình quản lý kinh tế - xã hội
Trang 161.1.2 Nội dun quản lý chi thườn xuy n ngân sách nh nư c
1.1.2.1 Công tác lập dự toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước
Dự toán chi ngân sách là một bộ phận đặc biệt quan trọng trong dự toán ngân sách, nó là khâu mở đầu trong chu trình quản lý ngân sách Mục tiêu cơ bản của việc lập dự toán chi ngân sách là nhằm tính toán đúng đắn khả năng
và nhu cầu ngân sách trong kỳ kế hoạch, có căn cứ khoa học và thực tiễn các chỉ tiêu thu, chi của ngân sách trong kỳ kế hoạch
Lập dự toán chi thường xuyên ngân sách thực chất là lập kế hoạch chi thường xuyên ngân sách trong một năm ngân sách Kết quả của khâu này là
dự toán ngân sách được các cấp thẩm quyền quyết định
Ý nghĩa của lập dự toán chi thường xuyên:
- Dự toán là khâu mở đầu có tính chất quyết định đến hiệu quả trong quá trình điều hành, quản lý ngân sách, trong đó dự toán chi ngân sách là một mục quan trọng trong dự toán ngân sách, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng của dự toán cũng như hiệu quả của quá trình điều hành ngân sách
- Dự toán ngân sách còn là cơ sở, là cơ hội để kiểm tra lại tính đúng đắn hiện thực và cân đối của kế hoạch kinh tế - xã hội
- Dự toán là công cụ điều chính quá trình kinh tế - xã hội của Nhà nước; kiểm tra, đánh giá hiệu công việc của các bộ phận kế hoạch tài chính
Yêu cầu dự toán:
- Dự toán phải được lập theo đúng chế độ, tiêu chuẩn, thứ tự các nhiệm
vụ chi ưu tiên, định mức chi ngân sách hiện hành
- Dự toán được xây dựng căn cứ vào điều kiện và nguồn kinh phí, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
- Dự toán được lập phải đảm bảo thời gian quy định của Luật NSNN;
có cơ sở pháp lý và giải trình cụ thể
Căn cứ lập dự toán NSNN:
Trang 17- Căn cứ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng,
an ninh
- Tình hình thực hiện dự toán ngân sách năm trước và một số năm liền
kề, ước thực hiện ngân sách năm hiện hành
- Dự báo những xu hướng và tác động đến ngân sách năm dự toán
- Phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi
- Chế độ, chính sách, định mức phân bổ, định mức chi tiêu
Lập, quyết định, phân bổ dự toán
Sau khi UBNH cấp huyện, Thành phố trực thuộc Trung hướng dẫn và giao dự toán ngân sách cho cấp huyện, UBND cấp huyện sẽ tổ chức triển khai xây dựng dự toán ngân sách và giao số kiểm tra cho các đơn vị trực thuộc
Các phòng ban, đoàn thể sẽ lập dự toán chi thường xuyên của mình rồi làm việc cùng Phòng Tài chính - Kế hoạch về dự toán chi thường xuyên để tổng hợp và hoàn chỉnh dự toán chi thường xuyên Sau khi UBND huyện thông qua dự toán sẽ trình lên thường trực HĐND cùng cấp xem xét và cho ý kiến, căn cứ vào ý kiến của thường trực HĐND, UBND sẽ điều chỉnh lại dự toán và gửi Sở Tài chính - Kế hoạch Sau đó, Sở Tài chính - Kế hoạch sẽ làm việc với các đơn vị trực thuộc để điều chỉnh và tổng hợp sự toán chi thường xuyên của NSNN cấp huyện
Sở Tài chính - Kế hoạch giao dự toán chính thức cho huyện, căn cứ vào
đó UBND sẽ điều chỉnh lại ngân sách và gửi đại biểu HĐND huyện trước phiên họp HĐND về dự toán ngân sách để HĐND thảo luận, cho ý kiến và thông qua quyết toán Sau đó, UBND huyện giao dự toán cho các ban ngành, đoàn thể, đơn vị trực thuộc và thực hiện công khai dự toán ngân sách
1.1.2.2 Công tác quản lý chấp hành chi thường xuyên ngân sách nhà nước
Chấp hành dự toán NSNN là khâu cốt yếu có ý nghĩa quyết định với một chu trình ngân sách Thời gian tổ chức chấp hành NSNN ở nước ta được tính từ ngày 01 tháng 1 đến hết ngày 31 tháng 12 Mục tiêu của việc tổ chức chấp hành dự toán chi thường xuyên là nhằm đảm bảo đầy đủ, kịp thời nguồn
Trang 18kinh phí của NSNN cho công tác hoạt động thường xuyên của bộ máy nhà nước một cách hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả
Ý nghĩa của chấp hành dự toán:
- Chấp hành dự toán đúng đắn là tiền đề cơ sở bảo đảm điều kiện để thực hiện các khoản thu, chi đã đề ra trong kế hoạch nhằm phát triển kinh tế -
xã hội của địa phương
- Chấp hành NSNN là khâu quan trọng trong quá trình quản lý NSNN Thực hiện tốt khấp hành Ngân sách sẽ có tác động tích cực bảo đảm thăng bằng thu - chi ngân sách
Yêu cầu của chấp hành dự toán
- Việc phân phối nguồn vốn phải đảm bảo hợp lý, tập trung có trọng điểm trên cơ sở dự toán chi đã xác định
- Công tác cấp phát kinh phí phải được thực hiện kịp thời, chặt chẽ, tránh gây lãng phí thất thoát nguồn vốn của NSNN
- Tuân thủ nguyên tắc thanh toán trực tiếp qua kho bạc nhà nước
1.1.2.3 Công tác thanh toán, quyết toán chi thường xuyên NSNN
Quyết toán chi thường xuyên ngân sách huyện là công tác tổng kết quá trình thực hiện dự toán và đánh giá ết quả hoạt động của một năm tài chính, qua đó chỉ ra những điểm yếu, thiếu sót và rút ra kinh nghiệm trong công tác quản lý để nân cao hiệu quả công tác quản lý chi thường xuyên Ngân sách huyện trong những năm ế tiếp
Ý nghĩa của quyết toán chi thường xuyên ngân sách huyện
- Quyết toán là khâu cuối cùng của chu trình ngân sách, xác định kết quả thực hiện các khoản chi thường xuyên đã thực hiện trong năm tài chính
- Kết quả của khâu quyết toán NSNN là cơ sở để phân tích, đánh giá việc thực hiện các khoản chi thường xuyên đã thực hiện, qua đó rút ra được những bài học kinh nghiệm quản lý, điều hành NSNN trong những năm tiếp theo
Trang 19Yêu cầu với quyết toán chi thường xuyên ngân sách huyện
- Các chứng từ chi phải hợp pháp, số liệu trên sổ sách và báo cáo quyết toán phải khớp với chứng từ của Kho bạc nhà nước
- Việc xét duyệt quyết toán phải được diễn ra trên từng khoản phát sinh
ở đơn vị
- Các khoản chi phải hạch toán theo đúng chế độ, chuẩn mực kế toán và mục lục ngân sách, đúng niên độ, tiến độ và phải đủ các điều kiện chi
Nội dung quyết toán chi NSNN
- Sau khi thực hiện xong công tác khóa sổ ngày 31 tháng 12 dương lịch,
số liệu chứng từ, sổ sách của các đơn vị phải khớp với số liệu chứng từ của Kho bạc nhà nước cả về tổng thể và chi tiết Sau đó, các đơn vị tiến hành thực hiện quyết toán, lập báo cáo quyết toán và gửi đơn vị cấp trên
- Báo cáo quyết toán phải đảm bảo đầy đủ các biểu, mẫu theo chế độ quy định và chấp hành đúng quy định về thời hạn báo cáo kế toán, thời hạn chỉnh lý quyết toán, thời hạn báo cáo quyết toán năm
- Phòng tài chính - kế hoạch huyện có trách nhiệm thẩm định báo cáo quyết toán chi thường xuyên ngân sách trên địa bàn huyện để trình UBND xem xét để gửi Sở Tài chính - kế hoạch, đồng thời trình Hội đồng nhân dân huyện phê duyệt Sau khi Hội đồng nhân dân phê duyệt, báo cáo quyết toán năm sẽ được gửi đến các cơ quan liên quan có thẩm quyền và gửi Kho bạc nghị quyết phê chuẩn quyết toán của HĐND huyện
1.1.2.4 Công tác kiểm tra, giám sát chi thường xuyên NSNN
Trên cơ sở dự toán được duyệt và các chính sách chế độ chi thường xuyên NS huyện, thanh tra tài chính có nhiệm vụ thanh tra việc chấp hành chi thường xuyên và quản lý chi thường xuyên Ngân sách các ngành, các cấp, các đơn vị sử dụng NSNN Thực hiện kiểm tra, thanh tra theo định kỳ bằng việc thẩm định các báo cáo chi thường xuyên Ngân sách hàng quý của các đơn vị
Trang 20sử dụng NSNN thuộc huyện Thanh tra tài chính phải chịu trách nhiệm về kết luận thanh tra của mình
Thực hiện kiểm tra, giám sát một cách đột xuất tại đơn vị bằng việc tổ chức thanh tra tài chính Hình thức này sẽ do cơ quan chức năng chuyên trách của ngành hoặc của Nhà nước thực hiện, mỗi khi phát hiện thấy có dấu hiệu không lành mạnh trong quản lý tài chính của đơn vị nào đó
Mục đích thực hiện thanh kiểm tra, kiểm soát là nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, phát hiện tham nhũng, lãng phí, phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền góp phần nâng cao hiệu quả quản
lý, bảo vệ lợi ích hợp pháp của tổ chức kinh tế và cá nhân
Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra việc chấp hành Ngân sách các đơn vị nhằm đảm bảo tính hiệu quả và trung thực trong quản lý NSNN, ngăn ngừa sai phạm, tiêu cực trong quản lý, điều hành và sử dụng NSNN góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế địa phương một cách bền vững hơn
1.1.3 C c nh n tố ảnh hưởn ến quản lý chi thườn xuy n NSNN
1.1.3.1 Nhóm các nhân tố khách quan
a Điều kiện tự nhiên, văn hóa tập quán
Điều kiện tự nhiên là yếu tố khách quyết định đến văn hóa, tập tục của mỗi địa phương Điều kiện tự nhiên và văn hóa, tập quán tại bản địa có ảnh hưởng đến hầu hết mọi hoạt động kinh tế -xã hội của một khu vực, địa phương Ở mỗi khu vực, mỗi vùng điều kiện tự nhiên là khác nhau, yếu tố văn hóa cũng có những đặc điểm riêng biệt do vậy cần phải có những chính sách, thiết kế, kiến trúc phù hợp với điều kiện tự nhiên và văn hóa của dân cư trên địa bàn
b Điều kiện kinh tế - xã hội
Về kinh tế, tình trạng kinh tế của địa phương có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các nguồn lực tài chính và các nguồn lực tài chính cũng tác động ngược
Trang 21trở lại hiệu quả quá trình đầu tư phát triển và hiện đại hóa nền kinh tế Kinh tế
ổn định, tăng trưởng và phát triển bền vững sẽ là cơ sở đảm bảo vững chắc của nền tài chính, mà trong đó NSNN giữ vị trí trung tâm, đòng vai trò trọng yếu trong quá trình phân phối các nguồn lực tài chính
c Trình độ phát triển kinh tế và mức thu nhập
Quản lý chi NSNN chịu ảnh hường lớn từ nhân tố mức thu nhập dân cư trên địa bàn và trình độ phát triển kinh tế, xã hội Khi kinh tế địa phương phát triền đi cùng với nó là mức thu nhập của người dân cũng tăng lên, điều đó tạo thuận lợi cho công việc huy động nguồn thu ngân sách và sử dụng Ngân sách
có hiệu quả, cùng với đó là yêu cầu vần phải có các chính sách, chế độ, định mức tài chính thay đổi phù hợp với sự phát triển kinh tế và đời sống của người dân Thực tế, khi mức độ phát triển kinh tế và thu nhập của dân cư trên địa bàn còn thấp thì sẽ rất dễ này sinh tư tưởng ỷ lại vào Nhà nước, ảnh hưởng đến hiệu quả của các khoản chi NSNN đặc biệt là chi thường xuyên
d Cơ chế chính sách và các quy định của nhà nước về quản lý chi NSNN
Trong kinh tế thị trường định hướng XHCN có sự điều tiết của nhà nước như hiện nay, pháp luật đã trở thành một bộ phận tối trọng yếu và không thể thiếu trong việc quản lý Nhà nước nói chung và quản lý chi NSNN nói riêng Hệ thống pháp luật có vai trò định hướng, hướng dẫn và tạo điều kiện cho tất cả các thành phần kinh tế trong xã hội hoạt động có qui luật, theo trật
tự, đảm bảo sự công bằng, tính hiệu quả và đồng bộ
Môi trường pháp lý là nhân tố có ảnh hưởng rất lớn tới quản lý thu, chi ngân sách nói chung cũng như riêng đối với chi thường xuyên NSNN Việc ban hành các định mức chi một cách khoa học, cụ thể, kịp thời sẽ góp phần không nhỏ trong việc quản lý chi tiêu NSNN được chặt chẽ hơn, hiệu quả
e Điều kiện về nguồn lực tài chính công
Dự toán về chi thường xuyên NSNN được lập dựa vào căn cứ là những tính toán về nguồn lực tài chính công huy động được một cách khoa học, căn
Trang 22cứ vào thực tế khả năng thu ngân sách năm kế hoạch, các năm trước cũng những dự báo biến động của các khoản thu trong năm nay đề dự báo số thu trong năm dự toán., Số chi NSNN hông được vượt quá nguồn thu huy động được, đồng thời cũng căn cứ vào nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương để lập dự toán chi Các địa phương có nguồn thu lớn se chủ động hơn trong việc lập dự toán chi tiêu, quản lý chi NSNN và ngược lại
1.1.3.2 Nhóm các nhân tố chủ quan
a Năng lực lãnh đạo, quản lý và trình độ chuyên môn của đội ngũ cán
bộ trong bộ máy Tài chính Công
Ở bất kỳ cấp nào, năng lực quản lý của người lãnh đạo và tổ chức bộ máy quản lý có tầm quan trọng đặc biệt đối với công tác quản lý tài chính công Nó quyết định sự hợp lý, phù hợp của các chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội, tác động trực tiếp đến hiệu quả của việc quản lý các nguồn lực công Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ làm công tác chuyên môn về quản lý tài chính là yếu tố quyết định đến hiệu quả thu, chi Ngân sách nói chung cũng như đối với chi thường xuyên nói riêng Việc sử dụng nguồn lực tài chính công đúng mục tiêu, đúng mức, đúng thời điểm để mang lại hiệu quả cao nhất là do khả năng chuyên môn của đội ngũ cán bộ tài chính trong quá trình sử dụng nguồn lực
b Tổ chức bộ máy quản lý chi NSNN
Tổ chức bộ máy quản lý chi thường xuyên NSNN tại địa phương và việc vận dụng quy trình nghiệp vụ quản lý vào thực tiễn địa phương có tác động rất lớn đến hiệu quả của hoạt động chi thường xuyên Tổ chức bộ máy cùng với quy trình quản lý, qui trình nghiệp vụ, quyền hạn trách nhiệm, mối quan hệ của từng bộ phận trong suốt quá trình từ lập, chấp hành đến quyết, kiểm toán chi thường xuyên có tác động rất lớn đến công tác quản lý chi thường xuyên; sự phù hợp của bổ chức bộ máy quản lý với thực tế sẽ nâng cao chất lượng quản lý, hạn chế tình trạng sai phạm trong quản lý Quy trình quản lý khoa học, rõ ràng sẽ góp phần nâng cao chất lượng các quyết định đối
Trang 23với quản lý chi thường xuyên NSNN và nâng cao được hiệu quả quản lý NSNN trên địa bàn địa phương
c Trang bị cơ sở vật chất cho công tác quản lý chi NSNN trên địa bàn địa phương
Ngày nay, công nghệ thông tin được xem như một phần không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày, nó có mặt ở hầu hết tất cả các khía cạnh của cuộc sống xã hội Thực tế cho thấy, công nghệ thông tin giúp cho cuộc sống trở nên thuận lợi hơn, các việc xử lý các công việc cũng như đưa ra các quyết định hiệu quả và tiết kiệm thời gian hơn Việc ứng dụng công nghệ tin học vào trong công tác quản lý chi thường xuyên NSNN ở các địa phương sẽ giúp tiết kiệm được thời gian xử lý công việc, đảm bảo được tính chính xác, kịp thời và thống nhất về mặt dữ liệu, tạo cơ sở cải tiến phương pháp làm việc, qui trình nghiệp vụ ngày một có hiệu quả hơn Do đó ứng dụng công nghệ tin học
là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý chi thường xuyên
d Sự phối hợp với kho bạc nhà nước và các cơ quan chức năng
Một trong những chức năng quan trọng của kho bạc nhà nước là quản
lý quỹ NSNN Vì vậy, kho bạc nhà nước vừa có quyền, vừa có trách nhiệm phải kiểm soát chặt chẽ mọi khoản chi ngân sách nhà nước, đặc biệt là các khoản chi thường xuyên KBNN phải kiểm tra việc sử dụng kinh phí NSNN cấp cho các đơn vị, tổ chức kinh tế, bảo đảm đúng mục đích, đúng chế độ định mức chi tiêu của nhà nước chịu trách nhiệm về tính hợp pháp, hợp lệ của việc sử dụng Công việc kiểm tra đó được KBNN thực hiện thông qua việc xem xét các hồ sơ, tài liệu chi thường xuyên NSNN trên các phương diện như
dự toán NS được duyệt thẩm quyền chuẩn chi, chế độ, tiêu chuẩn định mức chicủa nhà nước Trong quá trình kiểm tra, nếu phát hiện thấy cơ quan, đơn vị
sử dụng kinh phí được NSNN không đúng mục đích, hông có hiệu quả hoặc hông đúng chế độ, chính sách của nhà nước thì KBNN từ chối cấp phát, thanh toán
Trang 24Như vậy, trong quá trình quản lý và điều hành NSNN, KBNN không thụ động thực hiện theo các lệnh của cơ quan tài chính, hoặc đơn vị thụ hưởng
NS một cách đơn thuần mà hoạt động có tính độc lập tương đối, theo cơ chế tác động trở lại đối với các cơ quan, đơn vị này Do đó, sự phối hợp giữa các
cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách và KBNN sẽ góp phần đảm bảo tính hợp pháp, hợp lý và góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý ngân sách
1.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước
1.2.1 Kinh n hiệm của một số quốc ia
a Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Tiết kiệm, hiệu quả, chống lãng phí là nguyên tắc căn bản trong quản lý,
sử dụng inh phí ngân sách nhà nước (NSNN) của nhiều nước trên thế giới Tại Hàn Quốc, từ năm 1961, Luật Quản lý tài chính đã có những quy định để điều chỉnh vấn đề này Đến nay, Luật Quản lý tài chính của Hàn Quốc đã được sửa đổi, bổ sung 25 lần nhằm cụ thể hoá hơn các quy định, đảm bảo tỉnh công khai, minh bạch, đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát của các cơ quan chức năng để nâng cao hiệu quả thực thi Luật
Các văn bản hướng dẫn triển khai của Chính phủ, của Bộ Tài chính Hàn Quốc đã đưa ra các quy định cụ thể nhằm kiểm soát ngay từ khâu phân
bổ ngân sách đảm bảo tập trung, không dàn trải Theo đó, việc bố trí ngân sách cho hoạt động của các cơ quan nhà nước phải gắn với chức năng, nhiệm
vụ của từng cơ quan, đơn vị Công tác lập dự toán inh phí hàng năm được xác định là khâu quan trọng Các cơ quan, đơn vị phải căn cứ vào hệ thống định mức chi tiêu quy định tại Luật Quản lý ngân sách và Các khoản trợ cấp, đồng thời được Bộ Tài chính phối hợp với các bộ, ngành xây dựng dự toán cho cơ quan, đơn vị mình Bộ Tài chính có trách nhiệm thẩm tra, thủ trưởng các cơ quan, đơn vị sử dụng kinh phí NSNN có trách nhiệm giải trình để làm
rõ từng nội dung, đồng thời chịu trách nhiệm cá nhân trong khâu tổ chức thực hiện dự toán bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả
Trang 25Đối với việc bố trí inh phí NSNN cho các chương trình, dự án, cơ quan, đơn vị chủ trì thực hiện phải thuyết minh làm rõ mục tiêu, lợi ích về kinh tế - xã hội và những tác động ảnh hưởng đến các vấn đề khác có liên quan để có căn cứ bố trí kinh phí thực hiện Việc giám sát thực hiện được chú trọng đến công tác giải ngân để đảm bảo theo đúng ế hoạch, hàng năm có đánh giá ết quả của chương trình, dự án so với mục tiêu đã đề ra Trường hợp giải ngân chậm hoặc kết quả hông đạt được mục tiêu sẽ thực hiện cắt giảm kinh phí, thậm chí dừng thực hiện chương trình, dự án kém hiệu quả Theo kinh nghiệm của Hàn Quốc thì nếu kiểm soát tốt việc thực hiện các chương trình, dự án như trên, ngoài ý nghĩa tiết kiệm còn chống được tình trạng lãng phí kinh phí NSNN
Ngoài ra, trong tổ chức thực hiện, việc tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị đồng thời có chế tài xử lý triệt để các hành vi
vi phạm trong thực hiện quy trình lập, phân bổ, quản lý, sử dụng NSNN là giải pháp quan trọng cho việc tiết kiệm, hiệu quả, chống lãng phí [13]
b Kinh nghiệm của Cộng hòa Liên bang Đức
Từ năm 2000, thông qua Ủy ban Ngân sách của Quốc hội Liên bang, nước này đã thí điểm thực hiện Dự án thử nghiệm độ tin cậy và tác dụng của ngân sách dựa trên sản phẩm đầu ra như là một công cụ điều hành định hướng đầu ra Ngân sách dựa trên đầu ra được coi như một Phụ lục cho kế hoạch ngân sách và nó có tác dụng cung cấp cho các nhà quản lý, các nghị sĩ những thông tin định hướng đầu ra Việc điều hành ngân sách theo định hướng kết quả đầu ra được xây dựng trên các điều luật nguyên tắc cơ bản, điều luật ngân sách Liên bang, quy định điều hành ngân sách thông qua kết quả được định nghĩa cả về số lượng và chất lượng
Tham gia dự án thí điểm này có 6 cơ quan của Liên bang Đức: Cục Thông tin báo chí, Trường Cao đẳng quản lý công, Cục Thống kê, Cục Giao thông đường bộ, Cục Đường sắt, Phòng Hải quan và Thuế tiêu thụ trực thuộc
Trang 26Cục Thuế Hamburg Ở cấp bang, phương thức điều hành mới trên được thí điểm tại bang Hessen với cơ chế khoán chi dựa trên kết quả, trong đó bao gồm: Phân cấp và gắn trách nhiệm chuyên môn với trách nhiệm tài chính, định hướng theo mục tiêu và hoạt động của cơ quan hành chính, cải cách ngân sách và kế toán…
Các đơn vị được giao nhiệm vụ xác định rõ ràng về trách nhiệm, kinh phí và thẩm quyền để thực hiện theo một hệ thống phân cấp trách nhiệm cho đơn vị đó trong huôn hổ tài chính của mình và với khối lượng kết quả quy định trước tự quyết định việc sử dụng kinh phí phù hợp nhu cầu về thời gian, bản chất và về nguyên tắc hông vượt quá khuôn khổ tài chính cho phép
Khi lập kế hoạch gắn với đầu ra, kế hoạch ngân sách bao gồm kế hoạch công việc, kế hoạch kết quả và kế hoạch tài chính Quyết toán ngân sách được thực hiện trên cơ sở chế độ kế toán kép có tính toán chi phí và hiệu quả thông qua quyết toán kết quả, tài sản và tài chính được bổ sung trên báo cáo về công việc [9]
1.2.2 Kinh n hiệm của một số ịa phươn ở Việt Nam
a Kinh nghiệm của Huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
Chi NSNN năm 2018 toàn huyện đạt 817.247 triệu đồng, đạt 129% dự toán huyện và tăng 9% so với năm 2017 Tiền Hải tập trung ưu tiên hàng đầu cho chi phát triển kinh tế (cả huyện và xã) với tổng số gần 198.000 triệu đồng Khoản chi này mặc dù chưa đạt kết quả do có nguyên nhân khách quan, như khoản di dân Ðông Long, tuy đã hoàn thành, nhưng yêu cầu chuyển thanh toán sang niên độ tài chính năm 2019 Các khoản chi cho phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới đều đạt và vượt dự toán
Nguyên nhân chi NSNN năm 2018 có kết quả nêu trên được huyện Tiền Hải rút ra: Căn cứ dự toán chi NSNN tỉnh giao, năm 2018 là năm huyện đã chủ động xây dựng dự toán và giao sớm hơn so với các năm trước đây để các ngành và các địa phương xây dựng dự toán và các chương trình
Trang 27hành động Từ công tác đôn đốc, kiểm soát chi cũng được tăng cường qua nhiều khâu
Phòng Tài chính huyện, một mặt tăng cường cán bộ giám sát, thường xuyên bồi dưỡng kiến thức cho xã có cán bộ tài chính còn yếu nghiệp vụ, đạt 100% cán bộ tài chính ở cấp xã, thị trấn qua đào tạo Huyện còn cung cấp phần mềm để cán bộ tài chính xã thực hiện công tác kế toán, hạch toán ngân sách
b Kinh nghiệm của Huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Với Luật NSNN được sửa đổi về đẩy mạnh phân cấp, tăng nguồn lực cho địa phương và các đơn vị khai thác nội lực nâng cao hiệu quả tiết kiệm, giảm bớt thủ tục hành chính Huyện Sơn Dương đã tổ chức thực hiện khác tốt công tác quản lý chi NSNN đáp ứng được các hoạt động phát triển kinh tế -
xã hội, đã tăng cường cụ thể hóa các quy định, đảm bảo tính công khai, minh bạch, đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát của các cơ quan chức năng để nâng cao hiệu quả thực thi Luật
Đối với văn bản hướng dẫn triển khai của Chính phủ, của Bộ Tài chính
đã đưa ra các quy định cụ thể nhằm kiểm soát ngay từ khâu phân bổ ngân sách đảm bảo tập trung, không dàn trải Theo đó, việc bố trí ngân sách cho hoạt động của các phòng ban chức năng, xã, thị trấn phải gắn với chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị Công tác lập dự toán inh phí hàng năm được xác định là khâu quan trọng Các đơn vị thụ hưởng ngân sách phải căn
cứ vào hệ thống định mức chi tiêu quy định tại Luật ngân sách nhà nước và các khoản trợ cấp, Sở Tài chính có trách nhiệm thẩm tra, thủ trưởng cấp huyện sử dụng kinh phí NSNN có trách nhiệm giải trình để làm rõ từng nội dung, đồng thời chịu trách nhiệm cá nhân trong khâu tổ chức thực hiện dự toán bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả
Trong điều hành chi ngân sách, cấp ủy, chính quyền các cấp ở Sơn Dương đã chỉ đạo chặt chẽ, sát sao, các cơ quan chuyên môn tăng cường công
Trang 28tác hướng dẫn, kiểm tra, giám sát ngay từ đầu năm nền việc chi tiêu NSNN được bám sát dự toán, bảo đảm cân đối tích cực Việc bố trí kinh phí NSNN cho các chương trình, dự án, cơ quan, đơn vị chủ trì thực hiện phải thuyết minh làm rõ mục tiêu, lợi ích về kinh tế - xã hội và để đảm bảo theo đúng ế hoạch, hàng năm có đánh giá kết quả của chương trình, dự án so với mục tiêu
đã đề ra Trường hợp giải ngân chậm hoặc kết quả hông đạt được mục tiêu huyện sẽ thực hiện cắt giảm kinh phí, thậm chí dừng thực hiện chương trình,
dự án kém hiệu quả, tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị đồng thời có chế tài xử lý triệt để các hành vi vi phạm trong thực hiện quy trình lập, phân bổ, quản lý, sử dụng NSNN
Theo kinh nghiệm của huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang thì nếu kiểm soát tốt việc thực hiện các chương trình, dự án như trên, ngoài ý nghĩa tiết kiệm còn chống được tình trạng lãng phí kinh phí NSNN Ngoài ra, trong
tổ chức thực hiện, việc tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị đồng thời có chế tài xử lý triệt để các hành vi vi phạm trong thực hiện quy trình lập, phân bổ, quản lý, sử dụng NSNN là giải pháp quan trọng cho việc tiết kiệm, hiệu quả, chống lãng phí nguồn kinh phí NSNN [12]
1.2.3 Một số côn trình n hi n cứu có liên quan
Trong thực tiễn đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề quản lý NSNN và riêng cho quản lý chi thường xuyên NSNN theo nhiều cách tiếp cận, đối tượng nghiên cứu, phân cấp ngân sách… Có thể kể đến một số công trình đã được công bố sau:
- Tác giả Vũ Thị Thu Trang, 2014 “Quản lý chi NSNN tỉnh Bắc Ninh”,
đã hệ thống hóa về lý luận chi NSNN khá toàn diện, từ những lý luận đó đánh giá thực trạng quản lý chi NSNN tại tỉnh Bắc Ninh và đề xuất ra các giải pháp hoàn thiện quản lý chi nhân sách nhà nước tỉnh Bắc Ninh, như: áp dụng qui trình lập dự toán và phân bổ trên cơ sở khuôn khổ chi tiêu trung hạn hướng theo kết quả đầu ra, lựa chọn danh mục và thứ tự ưu tiên các sản phẩm đầu ra….[13]
Trang 29- Tác giả Hồ Quốc Khánh (2012), trong đề tài “Hoàn thiện quản lý chi ngân sách địa phương tại một số tỉnh ven biển Miền Trung” đã phân tích thực trạng quản lý chi ngân sách địa phương tại các tỉnh vùng ven biển Nam Trung
Bộ, đánh giá những kết quả đã đạt được, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế, như: Phương pháp quản lý mang tính thủ công, trình độ năng lực của cán bộ quản lý chưa đồng đều… mà nguyên nhân là do hệ thống thông tin, cơ sở hạ tầng, chính sách pháp luật chưa theo kịp tình hình thực tế… từ đó đưa ra các biện pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách đối với một số tỉnh ven biển Miền Trung, như: Hoàn thiện hệ thống thông tin, phương tiện quản
lý, nâng cao chất lượng thanh tra giám sát, hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý, nâng cao trình độ cán bộ….[7]
- Tác giả Đặng Hữu Nghĩa (2014) trong đề tài “Nâng cao hiệu quả quản
lý chi thường xuyên NSNN tỉnh Vĩnh Phúc” đã nghiên cứu về thực trạng công tác quản lý chi thường xuyên NSNN cấp tỉnh ở tỉnh Vĩnh Phúc trong thời gian
từ 2009 đến 2014 Tác giả đã chỉ ra được những bất cập hiện có trong công tác quản lý chi thường xuyên trên địa bàn nghiên cứu, đưa ra những dự báo về thuận lợi cũng như hó hăn trong phát triển kinh tế thời gian tới có tác động đến công tác quản lý chi thường xuyên Từ những cảnh báo đó đưa ra những hướng giải quyết và nâng cao chất lượng công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách cho địa phương [9]
- Các tác giả Trần Vũ Hải và Hoàng Minh Thái (2014)trong công trình nghiên cứu “Thực trạng và phương hướng hoàn thiện pháp luật về giám sát tài chính công ở Việt Nam” đã phân tích về thực trạng pháp lý về giám sát tài chính khu vực công chỉ ra những bất cập, hạn chế như: Sự khác biệt về chuẩn mực kế toán công ở Việt Nam so với các tiêu chuẩn quốc tế, pháp luật hiện hành chưa tách biệt chức năng ế toán công ra khỏi chức năng ngân quỹ đối với Kho bạc nhà nước…, đồng thời đưa ra các phương hướng khắc phục, hoàn thiện [4]
Trang 30Mặc dù trong các công trình khoa học đã được công bố, vấn đề về quản
lý chi thường xuyên ngân sách cấp huyện đã được rất nhiều tác giả để cập và
đi vào nghiên cứu Tuy nhiên, mỗi tác giả có cách tiếp cận và nội dung nghiên cứu khác nhau, mục đích và đối tượng cũng như hoàn cảnh cụ thể của địa bàn nghiên cứu, thời gian nghiên cứu khác nhau, các ý kiến đánh giá và những đề xuất đưa ra chỉ áp dụng cho từng địa phương cụ thể không thể áp dụng đại trà cho toàn thể
1.2.4 Bài học kinh nghiệm cho huyện Yên Thủy
Qua nghiên cứu kinh nghiệm cải cách ngân sách của một số địa phương
có thể rút ra một vài kinh nghiệm thiết thựclàm bài học cho huyện Yên Thủy trong công tác quản lý chi thường xuyên như sau:
Một là, huyện cần tuân thủ và thực hiện quản lý NSNN theo luật và các
văn bản hướng dẫn, ban hành các văn bản pháp luật quy định cụ thể về mục tiêu, cách thức cũng như biện pháp thực hiện Việc quy định rõ, minh bạch các
cơ chế, giải pháp, biện pháp trong quản lý, sử dụng các nguồn lực sẽ làm tăng tính hiệu quả, hiệu lực của các biện pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí
Hai là, coi trọng cải cách hành chính trong lĩnh vực quản lý ngân sách
gồm: Cải cách chủ thể, cơ chế quản lý thu, chi cho phù hợp với tiến trình phát triển chung; cải tiến các quy trình, thủ tục hành chính và tinh giản bộ máy quản lý thu, khai thác có hiệu quả nguồn thu ngân sách, huy động các nguồn lực trong dân và các tổ chức trong và ngoài nước cho đầu tư phát triển; hướng quản lý chi ngân sách theo kết quả đầu ra Mỗi địa bàn hác nhau có đặc điểm kinh tế - xã hội hác nhau nhưng đều phải coi trọng cải cách hành chính trong lĩnh vực quản lý ngân sách
Ba là, chính quyền cấp huyện cần coi trọng vai trò công tác phân tích,
dự báo kinh tế phục vụ cho việc hoạch định chính sách kinh tế và các chính sách liên quan đến thu, chi ngân sách nhằm phát triển KT-XH một cách toàn
Trang 31diện và vững chắc, vì NSNN liên quan đến nhiều tổ chức, đối tượng, chịu tác động của nhiều nhân tố ảnh hưởng
Bốn là, thống nhất chỉ đạo và mạnh dạn phân cấp quản lý kinh tế, quản
lý chi ngân sách cho các cấp chính quyền địa phương trên cơ sở thống nhất chính sách, chế độ Quy định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị trong quy trình ngân sách từ khâu lập dự toán phải căn cứ vào hệ thống định mức chi tiêu ngân sách; đồng thời thủ trưởng cơ quan, đơn vị sử dụng kinh phí NSNN có trách nhiệm giải trình để làm rõ từng nội dung của bảng dự toán và phải chịu trách nhiệm cá nhân trong khâu tổ chức thực hiện dự toán bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả
Năm là, thực hiện các biện pháp quản lý chặt chẽ thu, chi ngân sách
xuyên suốt chu trình quản lý ngân sách từ lập dự toán, chấp hành dự toán, quyết toán và kiểm tra, thanh tra số liệu báo cáo quyết toán ngân sách hàng năm Ban hành đồng bộ, đầy đủ các tiêu chuẩn, định mức, chế độ, chuẩn mực hợp lý, đầy đủ cho từng ngành, lĩnh vực và thường xuyên thực hiện rà soát, sửa đổi cho phù hợp với thực tế biến động của thị trường, sự phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ được coi là xương sống bảo đảm việc sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn lực, là cơ sở để thực hiện kiểm soát, xử lý hành vi gây lãng phí
Thứ sáu, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí phải được xác định rõ về
mục tiêu, chỉ tiêu và có chương trình cụ thể cho từng giai đoạn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Điều này không những giúp cho việc định lượng mức độ tiết kiệm so với định mức, tiêu chuẩn, chế độ mà còn tạo thuận lợi cho việc kiểm tra, giám sát nhằm ngăn ngừa tình trạng thất thoát, lãng phí Việc ban hành các chương trình, mục tiêu, chỉ tiêu, định mức, chế độ tiết kiệm, phải có các giải pháp, chính sách hỗ trợ, hen thưởng, khuyến khích nhằm tạo động lực thúc đẩy triển khai hiệu quả việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí
Trang 32Thứ bảy, việc áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý, sử dụng và
điều hành hoạt động chi tiêu NSNN giúp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền kịp thời nắm bắt chính xác thông tin liên quan đến chi tiêu NSNN Trên cơ sở đó, cơ quan quản lý có thể ra quyết định điều chỉnh kịp thời, hạn chế tối đa việc lãng phí trong sử dụng NSNN
Tóm lại, trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quản lý NSNN của một địa phương về quản lý chi NSNN, chúng ta có thể tổng kết một số kinh nghiệm
có giá trị làm bài học kinh nghiệm cho huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình trong công tác quản lý chi thường xuyên NSNN Tuy nhiên, để các chính sách thực thi có hiệu quả cần phải có sự đồng thuận từ phía Chính quyền, nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư và việc áp dụng những bài học này vào thực tiễn cũng cần vận dụng một sách linh hoạt, sáng tạo không dập khuôn máy móc phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương
Trang 33Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA HUYỆN YÊN THỦY
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Yên Thủy
2.1.1 Đặc iểm tự nhi n
a Vị trí địa lý
Huyện Yên Thủy chính thức được thành lập ngày 17/8/1964, nằm ở phía đông nam của tỉnh Hòa Bình, cách trung tâm tỉnh khoảng 85 km, cách thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình quốc lộ 1A khoảng 50 km, cách Thủ đô
Hà Nội, sân bay quốc tế Nội Bài khoảng 100 m… với diện tích tự nhiên khoảng 288,62 km2 chiếm 6% diện tích toàn tỉnh Hòa Bình, phía Đông giáp huyện Lạc Thủy (Hòa Bình), phía Tây giáp huyện Lạc Sơn (Hòa Bình), phía Nam giáp huyện Nho Quan (Ninh Bình), phía Bắc giáp huyện Kim Bôi (Hòa Bình) Yên Thủy có 13 đơn vị hành chính, gồm 12 xã và 01 thị trấn
Trên địa bàn huyện Yên Thủy có 02 tuyến quốc lộ chạy cắt giữa huyện hướng tâm tại thị trấn huyện lỵ tạo thành hai trục giao thông quan trọng liên kết thuận lợi giữa Yên Thủy với các huyện trong tỉnh, với các tỉnh bạn và toàn quốc, đó là Quốc lộ 12B theo hướng Đông - Tây và đường Hồ Chí Minh theo hướng Bắc - Nam
b Điều kiện tự nhiên
- Về địa hình
Yên Thủy là huyện vùng thấp của tỉnh Hòa Bình, độ cao trung bình của toàn huyện so với mặt nước biển là 42 m Yên Thủy là vùng đệm giữa vùng núi Tây bắc với đồng bằng Bắc Bộ và ven biển Bắc Trung Bộ Địa hình há đa dạng, có núi đá vôi cao và dốc đứng, có rừng rậm và đồi xen
kẽ, có thung lũng, đồng bằng… nhìn chung hướng dốc địa hình từ Bắc xuống Nam hướng vào quốc lộ 12B gặp dãy Trường Sơn chắn phía Nam
Trang 34nên nghiêng dần về hướng Đông Nam, sự giao cắt về địa hình đã tạo thành
3 vùng tương đối rõ nét:
Vùng 1 nằm ở phía Tây Nam và trung tâm huyện có quốc lộ 12B và đường Hồ Chí Minh chạy qua, gồm các xã Lạc Thịnh, Yên Lạc và Thị trấn Hàng Trạm, đây là vùng inh tế, chính trị, sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ…
Vùng 2 có 07 xã, nằm ở phía Đông Nam và giữa huyện, là vùng vành đai của vùng 1, gồm các xã Đa Phúc, Hữu Lợi, Đoàn Kết, Yên Trị, Phú Lai, Ngọc Lương đây là vùng có diện tích rừng và vùng đệm vườn quốc gia Cúc Phương, nhưng là vùng trũng, sản xuất chủ yếu là nông nghiệp, cây ăn quả, cây công nghiệp, trồng rừng, là vùng có sản lượng lạc, ngô, mía cao nhất huyện
Vùng 3 được gọi là vùng sâu, xa và nằm hoàn toàn ở phía Bắc của huyện Có 4 xã, gồm các xã Lạc Hưng, Bảo Hiệu, Lạc Lương và Lạc Sỹ, cách trung tâm huyện khoảng 10 m, địa hình cao, dốc, kinh tế chủ yếu là sản xuất lâm nghiệp, trồng rừng và cây ăn quả Hiện có đường Hồ Chí Minh đi qua hai
xã Bảo Hiệu và xã Lạc Hưng là điều kiện thuận lợi cho vùng này giao lưu hàng hóa và phát triển kinh tế, xã hội
- Về đất đai
Yên Thủy có tổng diện tích là 28.862,1ha (288,62km2 ), bằng 6% diện tích tỉnh Hòa Bình Trong đó, số đất đồi núi chiếm tới 72,3% diện tích và được phân bổ như sau: Đất nông nghiệp là 21.440,1ha (gồm đất trồng lúa chiếm 34%; đất lâm nghiệp có rừng chiếm 65,8%; còn lại là đất nuôi trồng thủy sản) Đất chuyên dùng là 1.339,32ha chiếm khoảng 5%; đất ở là 2.702,09ha, chiếm khoảng 9,4%; còn lại là đất chưa sử dụng khoảng 2.613,8ha, chủ yếu là đồi, núi đá và sông suối
Trang 35Bảng 2.1 Hiện trạng sử dụng đất của huyện Yên Thủy năm 2018
1.6 - Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối 324,60 1,12
3.3 - Đất núi đá hông có rừng cây 123,90 0,43
Nguồn: Phòng Tài nguyên - Môi trường huyện Yên Thủy
- Về khí hậu, thủy văn
Yên Thủy có khí hậu nhiệt đới, mỗi năm có hai mùa rơ rệt, mùa đông ngắn, lạnh, ít mưa, thường xuyên xuất hiện sương muối và kéo dài Mùa hè dài, nóng và mưa nhiều, thường xuất hiện lốc xoáy nhỏ, mưa đá Nhiệt độ trung bnh hàng năm hoảng 22,80c, nhiệt độ lúc cao nhất khoảng 390c, thấpnhất khoảng 2,70c Yên Thủy không có sông lớn, chỉ có con sông Lạng
Trang 36bắt nguồn từ xã Bảo Hiệu, qua xã Hữu Lợi nằm trên địa bàn huyện dài khoảng 30km, chảy về hướng đông nam sang sông Nho Quan, tỉnh Ninh Bình với lưu vực nhỏ, lòng sông hẹp, sâu, nhưng rất ít nước về mùa khô Các suối khác ngắn có độ dốc cao, hông có các địa hình thuận lợi để đắp chắn bai, đập tích nước, điều này đã gây rất nhiều hó hăn cho Yên Thủy trong việc giải quyết về nguồn nước phục vụ cho sản xuất, nhất là nước cho sản xuất nông nghiệp, nguồn nước sinh hoạt của huyện chủ yếu dựa vào nguồn nước ngầm
- Các nguồn tài nguyên chủ yếu
Yên Thủy là một trong hai huyện của tỉnh Hòa Bình có một phần diện tích rừng nằm trong vùng đệm vườn quốc gia Cúc Phương Động thực vật ở đây phong phú và đa dạng đang được Nhà nước quan tâm bảo vệ
Dãy Trường sơn hùng vĩ với những dãy núi đá xen ẽ tạo nhiều thung lũng, hang động kỳ thú như: núi Thời, hang Hốp, hang Nước (Ngọc Lương), chùa Hang, hang Chùa (Yên Trị)… Thắng cảnh hang Chùa đã được Bộ Văn hoá - Thông tin xếp hạng di tích lịch sử – văn hoá cấp Quốc gia năm 1994 Đến với hang Chùa du hách được chiêm ngưỡng cảnh hùng vĩ của miền núi rừng Tây Bắc cộng với nét cổ kính của người xưa – núi Lăng Tiêu, nằm trong lòng núi và trên lưng chừng núi là động Văn Quang và hai ngôi chùa cổ kính: một ở cửa động, một chùa được ẩn mình trong vòm hang đá mà trên vách đá được khắc một bài ký từ năm Thành Thái thứ 2 (1890) Lưng chừng núi cũng được khắc trên vách đá một bài thơ cổ…
Trang 37Đặc biệt là hang Hốp nằm ở núi Hốp thuộc xóm Bờ Sông, xã Ngọc Lương Năm 1929, các nhà hảo cổ học đã tìm thấy trong hang 254 di vật đồ
đá như: công cụ hình đĩa, hình hạnh nhân, rìu ngắn, rìu tứ diện, rìu tam giác, nạo, hòn ghè, mũi nhọn, chày, bàn nghiền… là những công cụ đặc trưng của Vãn hoá Hoà Bình
Việc bảo vệ vườn quốc gia Cúc Phương, vùng đệm Cúc Phương và những danh lam thắng cảnh này trên diện tích của huyện để thu hút khách du lịch trong và ngoài nước đến với Yên Thuỷ là rất quan trọng, có thể dựa vào lợi thế này để lập các dự án kêu gọi đầu tư, phát triển kinh tế du lịch và các dịch vụ nghỉ ngơi sinh thái
+ Tài nguyên nước
Tài nguyên nước trên địa bàn Yên Thuỷ thuộc dạng nghèo Từ đặc điểm về địa lý, địa hình phức tạp, địa chất địa tầng của vùng bán sơn địa nên việc giữ nước tự nhiên hết sức hó hăn, mới mưa đã úng và đất bị rửa trôi, hết mưa đất lại trong tình trạng thiếu nước
Cả huyện chỉ có một con sông ngắn đầu nguồn (sông Lạng) có độ dốc dòng chảy lớn, lòng sông hẹp, lưu lượng nước ít Mùa mưa tạo ra lũ, còn mùa khô thì chủ yếu là cạn kiệt Có 60 hồ chứa nước tự nhiên và nhân tạo song cũng thuộc loại hồ chứa nhỏ, chỉ đảm bảo được khoảng 30% nước cho sản xuất nông nghiệp
Do phụ thuộc vào nước mưa và độ ẩm tự nhiên, nên việc thâm canh trên diện tích đất gieo trồng hiện có là hết sức hó hăn, nhất là việc chủ động thâm chuyên canh các loại cây đặc sản có năng suất và giá trị kinh tế cao ở một diện rộng Cũng vì lý do trên, UBND huyện đã iến nghị và cũng
đã được Tỉnh đề nghị Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn chấp nhận chủ trương đầu tư xây dựng hệ thống hai thác nước sông Bưởi (thuộc huyện Lạc Sơn) cấp cho Yên Thuỷ để cải thiện tình trạng hó hăn nguồn nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất của huyện Dự án đã có chủ trương đầu tư của
Trang 38Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn và đang trong giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi
+ Tài nguyên khoáng sản
Trên địa bàn huyện Yên Thuỷ có một số loại khoáng sản, trong đó có
ba loại khoáng sản có trữ lượng khá lớn có thể khai thác lâu dài là mỏ đất sét
ở vùng 2, các mỏ đá vôi dùng trong sản xuất xi măng, đá xây dựng; nước khoáng ở xã Ngọc Lương… hiện tại chưa được tổ chức đầu tư hai thác có ế hoạch qui mô lớn, lâu dài, hiện tại đang hai thác nhỏ lẻ nên sản lượng khai thác không nhiều so với tiềm năng sẵn có Ngoài ra còn có than đá chất lượng tốt ở các xã Lạc Sỹ, Lạc Hưng, Bảo Hiệu, Đoàn Kết, Ngọc Lương, Hữu Lợi,
và Vàng dưới dạng sa khoáng
+ Tài nguyên du lịch
Do nằm sát vùng bán sơn địa nên Yên Thuỷ có địa hình đa dạng Có núi cao, vực sâu, đồi bát úp, các thung lũng uốn lượn bằng phẳng dưới chân các núi đá vôi, tạo ra những cảnh quan thơ mộng Có các hang động tự nhiên
và là vùng đệm của vườn quốc gia Cúc Phương nên Yên Thuỷ có lợi thế để phát triển ngành dịch vụ du lịch, nghỉ ngơi thư giãn Cảnh quan, môi trường tạo lợi thế cho địa phương phát triển các hu nhà vườn sơn thuỷ hữu tình, các trang trại loại vừa và nhỏ cấy trồng chuyên canh các sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp kết hợp phát triển chăn nuôi các loại con đặc sản như lợn bản, dê núi, bò sữa, bò thịt
Môi trường sinh thái của huyện Yên Thuỷ còn rất tự nhiên, ít đồi núi trọc so với các khu vực trung du miền núi của các nơi khác Ngay các tácđộng không tích cực của con người ở đây cũng còn rất hạn chế Đây là yếu tố rất thuận lợi để tổ chức quản lý về môi trường sinh thái ngay từ đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đó cũng là điều kiện rất thuận lợi để thu hút đầu tư và thu hút hách du lịch, khách quá cảnh dừng chân trên mảnh đất trong lành này
Trang 392.1.2 Đặc iểm kinh tế - xã hội
Theo số liệu thống ê năm 2018 Yên Thủy có 66.811 người, (Dân tộc Mường chiếm khoảng 67%; dân tộc Kinh chiếm khoảng 32%, còn lại là dân tộc khác) Tốc độ tăng dân số bình quân năm thời kỳ 2016-2018 luôn ổn định khoảng 1%, bằng mức trung bình của tỉnh
Dân số trong độ tuổi lao động là 37.293 người, chiếm khoảng 55,8% dân số huyện, trong đó số lao động trong độ tuổi có việc làm khoảng 89,2%, trong đó hu vực nông nghiệp chiếm 76%; công nghiệp, xây dựng chỉ chiếm 10% và dịch vụ khoảng 14% Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo đạt khoảng 28%
Thu nhập bình quân đầu người năm 2016 đạt trên 22,12 triệu đồng/người/năm, đến năm 2018 đạt 30,21triệu đồng/người/năm; tỷ lệ hộ nghèo còn khoảng 17,43%
Bảng 2.2 Giá trị sản xuất và cơ cấu kinh tế ngành huyện Yên Thủy
(Nguồn: Thống kê huyện Yên Thủy)
Từ hi có đường Hồ Chí Minh đi qua địa bàn huyện, đã xuất hiện một
số dịch vụ thương mại, việc vận chuyển các sản phẩm nông, lâm sản địa phương cung ứng cho thị trường bước đầu đã góp phần nâng mức sống cho người dân trong huyện
Trang 402.1.3 Đ nh i chun về iều kiện tự nhi n, kinh tế xã hội ảnh hưởn ến quản lý chi thườn xuy n n n s ch nh nư c tr n ịa b n huyện Y n Thủy
a Thuận lợi:
- Vị trí địa lý của huyện là vùng cực mũi phía Đông - Nam của tỉnh, đồng thời cũng là vùng cực mũi phía Đông - Nam của miền núi Tây - Bắc, có nghĩa Yên Thuỷ là cầu nối và là trạm giao liên, liên kết đa dạng và phong phúcác vùng miền có địa hình hác nhau, đó là: Giữa miền núi Tây Bắc, đồng bằng Bắc bộ và vùng Bắc trung bộ Có thị trường rộng lớn thúc đẩy sự phát triển đa dạng, phong phú các sản phẩm hàng hoá, nhất là hàng hoá là sản phẩm nông lâm nghiệp, hàng thủ công mỹ nghệ
- Có giao thông đường bộ thuận lợi để lưu thông hàng hoá hai chiều trong vùng cũng như cả nước và quốc tế Sự đi lại của người dân trong huyện thuận lợi với các vùng miền khác nhau của cả nước cũng có nghĩa liên tục có
sự giao thoa của các nền văn hoá hác nhau, củng cố bản sắc văn hoá dân tộc
để giới thiệu với du khách của các dân tộc hác và người nước ngoài thuận lợi trong việc tiếp thu các tiến bộ khoa học công nghệ, kêu gọi đầu tư và trao đổi hàng hoá
- Quỹ đất chưa được khai thác còn nhiều, nguồn lực lao động dồi dào, người dân Yên Thuỷ có truyền thống thâm canh các sản phẩm nông nghiệp có chất lượng cao và ổn định về năng suất, sản lượng và chất lượng hàng hoá như: Cam, Chè, Lạc, Đậu, Khoai, Sắn đã từng có thời gian dài người dân ở đây phát triển nghề trồng bông tạo nguyên liệu, tự sản xuất sợi vải dệt hàng thổ cẩm
- Địa hình của huyện đa dạng, nhiều núi đá vôi, có một phần rừng và vùng đệm vườn Cúc Phương, cảnh quan môi trường thiên nhiên hoang dã và được bảo vệ tốt có nhiều điều kiện phát triển ngành dịch vụ, du lịch, các vườn rừng sinh thái nghỉ ngơi cuối tuần
- Huyện còn 4 xã thuộc Vùng 3 (gọi là vùng sâu, xa) là: xã Lạc Hưng, Bảo Hiệu, Lạc Lương và Lạc Sỹ hiện tại đang được Nhà nước quan tâm có