Vì thế để thẩm thấu, mở mang tri thức và cảm nhận sâu về giá trị thẩm mỹ nhằm khơi hứng sáng tạo trong những mảng kiến thức liên quan về nghệ thuật dân tộc, đặc biệt là nghệ thuật dân gi
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG
KHOA MỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP
BÁO CÁO CUỐI KỲ
LỊCH SỬ MỸ THUẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÁNG 1 NĂM 2021
Trang 2KHOA MỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP
ĐỀ TÀI
THÀNH TỰU NGHỆ THUẬT CỦA TRANH DÂN GIAN VIỆT NAM
(MÔN HỌC LỊCH SỬ MỸ THUẬT)
Hướng dẫn: Thầy ĐẶNG LONG CAN Người thực hiện: NGUYỄN THỊ TRINH TRINH
Mã số sinh viên: 12000373 Nhóm: 04
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÁNG 1 NĂM 2021
Trang 3MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 2
2 Giá trị của tranh dân gian Việt Nam 3
2.1. Giá trị về nội dung 3
2.1. Giá trị về nghệ thuật 3
3 Thành tựu nghệ thuật 4
3.1. Tranh Đông Hồ 4
3.2. Tranh Hàng Trống 6
KẾT LUẬN 7
PHỤ LỤC 9
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
Giữa thời đại hiện đại hóa, công nghiệp hóa hiện nay thì giáo dục nghệ thuật của chúng ta thường có xu hướng hướng ngoại hơn là hướng nội Chú trọng nghiên cứu những giá trị tiêu biểu của nhân loại làm nền tảng đưa vào giảng dạy trong nhà trường, đặc biệt trong chương trình đào những học phần như: Hình họa, Trang trí, Bố cục, Ký họa và những môn thường thức mỹ thuật… giải quyết về vấn đề đào tạo kỹ năng thực hành vốn kiến thức cơ bản của chuyên ngành mình nghiên cứu Vì thế để thẩm thấu, mở mang tri thức và cảm nhận sâu về giá trị thẩm mỹ nhằm khơi hứng sáng tạo trong những mảng kiến thức liên quan về nghệ thuật dân tộc, đặc biệt là nghệ thuật dân gian Chúng ta cần quay trở về nghiên cứu những thành tựu nghệ thuật dân gian Việt Nam để có cơ hội hiểu sâu hơn và tiếp xúc lượng kiến thức và những giá trị nghệ thuật dân gian của tranh nhằm làm rõ những giá trị và nét điển hình có tính minh triết của tư duy sắc bén của nghệ thuật dân gian mà cha ông chúng ta để lại, là nền tảng cho mỗi chúng ta tiến sâu hơn kho tàng mỹ thuật của dân tộc, làm hành trang để có thể sáng tạo nhiều tác phẩm mỹ thuật vừa hiện đại vừa đậm chất dân tộc
Trang 5
PHẦN NỘI DUNG
1 Lịch sử
Tranh dân gian là dòng tranh có niên đại từ rất lâu đời, có tình hình bối cảnh phát triển mạnh mẽ ở thời Hậu Lê Tranh được sáng tác để phục vụ đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân và được lưu truyền qua từng thế hệ, sản xuất ở nhiều vùng khác nhau trên khắp đất nước ta suốt từ Bắc đến Nam
Khác với các tác phẩm tranh nghệ thuật khác, thường được sản xuất bởi nhiều họa sĩ, mẫu mã khác nhau, trường phái khác nhau…, tranh dân gian lại được in với
số lượng lớn, có khuôn mẫu đàng hoàng và có nét đặc trưng về màu sắc Mỗi một làng tranh sẽ có cách thể hiện nét bút, phối màu, chất liệu của riêng mình để tạo nên bản sắc riêng Và đặc biệt nhất, không một ai rõ tác giả của những bức tranh
dân gian đó là ai Thường sẽ được quy thành tác phẩm do làng tranh sáng tác
Vốn là những tác phẩm bình dân nên chủ đề trong tranh vô cùng gần gũi với
việc đồng áng, sinh hoạt thường nhật Qua con mắt sáng tạo của những người nghệ
sĩ nơi thôn dã, tranh dân gian luôn toát lên một cái hồn đầy ý thơ, an yên và tinh tế
Không rõ tự bao giờ, tranh dân gian dần dần không chỉ là những tác phẩm riêng của những tầng lớp bình dân mà đã trở thành một nét nghệ thuật đại chúng được sử dụng rộng rãi bởi quan lại quý tộc và phổ biến cho tới tận ngày nay
Trong xã hội hiện đại, dù không còn phát triển mạnh mẽ như trước nhưng các tác phẩm tranh dân gian Việt Nam vẫn được đánh giá rất cao, trở thành một biểu tượng nghệ thuật độc đáo cần bảo tồn và truyền lại cho thế hệ sau
Trang 62 Giá trị của tranh dân gian Việt Nam
2.1 Giá trị về nội dung
Về đề tài của tranh khá phong phú, nó phản ánh những sinh hoạt, quan hệ xã hội ở nơi thôn dã và luôn được thay đổi hay bổ sung Thời phong kiến có tranh cóc, chuột, hái dừa, đánh ghen, khiêng trống, đánh vật… Thời Pháp thuộc có cóc Tây múa kỳ lân, văn minh tiến bộ, phong tục cải lương, nhảy đầm… Đến thời kỳ kháng chiến có Việt Nam độc lập, sản xuất tự túc, bình dân học vụ, rồng lửa Thăng Long, bắt sống giặc lái máy bay, được mùa lúa xuân, lúa ngô khoai sắn, Bác Hồ về thăm làng…
Tranh dân gian được sáng tạo ra nhờ trí tuệ của tập thể, của nhân dân và gồm
nhiều thể loại, trong đó có thể chia lầm 4 nhóm:
Tranh thờ: được các trung tâm làm tranh dân gian dành một tỉ lệ lớn Sử dụng ở các chùa, đền, điện, phủ và nhà dân để canh gác, trừ tà, yểm quỷ ("Vũ Đình - Thiên Ất", "Tiến Tài - Tiến Lộc", "Táo quân - Thổ công",
"Ngũ Hổ" ) Tranh làng Sình (Huế), Đồ Thế (Nam Bộ) - theo mê tín để đốt thế mạng cho người sống
Tranh chúc tụng: chủ yếu là tranh Tết ("Gà - Lợn", "Thất Đồng", "Tam Đa" )
Tranh sinh hoạt: phong phú, vui vẻ, đôi khi có tính châm biếm nhẹ nhàng ("Tứ quý", "Tứ dân", "Đánh ghen", "Hứng dừa" )
Tranh minh hoạ - lịch sử: được chọn lọc để miêu tả lý thú ("Truyện Kiều",
"Trê - Cóc", "Bà Triệu cưỡi voi", Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo )
2.2 Giá trị về nghệ thuật
Mỗi dòng tranh có một phong cách riêng, song tất cả đều được dựng hình theo kiểu
“đơn tuyến bình đồ” dùng nét khoanh lấy các mảng màu và bao lại toàn hình Với lối dựng hình “thuận tay hay mắt”, tranh dân gian không phụ thuộc vào viễn cận một điểm nhìn mà được diễn tả theo lối quan sát di động với nhiều góc độ khác nhau Thần thánh
Trang 7luôn được vẽ to ở giữa, phía trên, còn người bình thường thì sàn sàn nhau, con vật và cảnh sắc thì tuỳ tương quan mà vẽ to hay nhỏ để bức tranh gây ấn tượng sâu sắc Dòng nghệ thuật mang hai đặc trưng lớn: tính nhân dân và tính cộng đồng, tập thể Tranh dân gian có mấy dòng tranh tiêu biểu như: Đông Hồ, Hàng Trống Kim Hoàng, làng Sình…
3 Thành tựu nghệ thuật
Để khái quát về những thành tựu của tranh dân gian tiêu biểu ở Việt Nam, chúng ta có những tác phẩm được chọn lọc tiêu biểu giữa các dòng tranh sau đây:
Tranh Đông Hồ:
- Làng Đông Hồ (làng Hồ) xưa có tên là làng Đông Mai, huyện Siêu Loại, trấn Kinh
Bắc nây thuộc thôn Đông Khê, xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh, cách Hà Nội 40km
- Tranh Đông Hồ phải được in trên giấy điệp, loại giấy mà các nghệ nhân phải
kỳ công nghiền nát vỏ con điệp, trộn với hồ làm từ bột gạo tẻ, gạo nếp hoặc bột sắn mà thành Màu in tranh cũng được chế biến từ nguyên liệu có sẵn trong tự nhiên: Màu trắng từ sò, điệp; đen từ than rơm hay lá tre; hồng từ gỗ vang; đỏ từ son; xanh từ gỉ đồng; lam từ lá chàm; vàng từ hoa hoè, quả dành dành… Tranh điệp chẳng những là sản phẩm đặc biệt của Đông Hồ, còn là tranh dân gian truyền thống của Việt Nam
- Tranh Đông Hồ được sản xuất ở làng quê Do đó vẻ đẹp của tranh cũng mộc mạc,
chân chất và đậm đà theo quan niệm thẩm mĩ của người nông dân làm nghệ thuật
- Tiêu biểu ta có bức tranh Đám cưới chuột (Hình 1): Tranh đám cưới chuột là một
bức tranh châm biếm khôi hài Từ trái sang phải, từ trên xuống dưới, đám rướt bao gồm: mèo; đàn chuột mang đồ cống lễ (gà, cá); các nhạc công; nhóm cầm đèn; tân lang; nhóm khiêng kiệu; tân nương ngồi cáng; nhóm cầm cờ ngũ sắc Những chú chuột là hình ảnh ẩn dụ cho tầng lớp nông dân lam lũ, thật thà, chất phác với đường nét ổn định, định hình tạo mảng sang tối Con mèo trong bức tranh đại diện cho tầng
Trang 8lớp thống trị, áp bức trong xã hội xưa, được tác giả sử dụng hệ thống nét cong, ngắn, đứt đoạn tạo ra hình tượng con mèo dữ tợn, trấn ác so với những chú chuột đang tỏ
vẻ khúm núm Con mèo được vẽ ở góc tầng trên với tư thế oai vệ đưa tay ra nhận lễ vật, với những con chuột cong đuôi, gập người sợ sệt nộp lễ vật, dáng vẻ khép nép Với hai tuyến nhân vật là chuột và mèo cùng được xây dựng chung trong một bức tranh, ý nghĩa tranh Đám cưới chuột Đông Hồ được hiểu dưới 3 góc độ:
+ Bức tranh thể hiện nét văn hóa dân tộc: hình ảnh tượng hình, tượng thanh
như ô, lọng, kèn, kiệu, đoàn rước dâu kéo dài… khiến người ta nhớ lại những ngày tháng khi đám cưới không còn chỉ là việc riêng của một cá nhân, một gia đình Mà còn là công việc trọng đại của một xóm làng, một xã hội thu nhỏ
+ Bức tranh thể hiện ý nghĩa cộng sinh phát triển: việc chuột dâng lễ vật cho
mèo như là một bản thỏa thuận ngầm về sự sinh sôi giữa hai mật đối lập, mà ở
đó đích đến cuối cùng của nó đều là sự cam kết cùng nhau tồn tại, phát triển + Ý nghĩa châm biếm của tranh đến chế độ phong kiến tàn ác, lạc hậu: mèo được xây dựng với hình tượng béo tốt, mặt nghiêm nghị tỏ vẻ khó chịu, xong tay vẫn chìa ra để nhận hối lộ Còn nhân vật chuột bé nhỏ, vừa phải khèn trống đi cống nạp, vừa phải khép nép dò xét tình hình để ứng biến linh hoạt
- Tiếp đến ta có bức tranh Đông Hồ rất thú vị mang tên Đánh ghen (Hình 2): tronh
tranh có bốn nhân vật, mỗi người đều thể hiện một tâm trạng khác nhau: sự giận dữ của cô vợ cả, sự đanh đá của ả vợ lẽ, sự tham lam, nhu nhược và giả dối của ông chồng và sự lúng túng, bối rối của đứa trẻ Tất cả những tâm trạng này được diễn tả sâu sắc qua hình tượng của từng nhân vật: cô vợ cả một tay chống nạnh, một tay lăm lăm cầm kéo Dải thắt lưng bay cuộn về phía sau thể hiện tư thế xông vào Cô vợ lẽ với vẻ mặt vênh lên tay đưa lọn tóc ra thách thức Cô được khắc họa trái ngược hoàn toàn với người vợ cả, được vẽ trong thế khỏa thân, chỉ mặc váy, đường nét cơ thể uốn cong gợi khối, gợi chất da thịt Anh chồng ở giữa, song nghiên về phía vợ lẽ trẻ, một tay đặt lên bầu ngực của cô còn một tay thì ngăn vợ cả Còn người con nhìn có
vẻ tuổi đã đủ lớn đang chặp tay cúi lạy, khuyên ngăn ba người Bố cục sắp xếp tuyến nhân vật trong bức tranh như một vòng tròn luẩn quẩn không thể nào thoát ra được
Trang 9Các nghệ nhân đã khéo léo đưa màn kịch đánh ghen lên cao trào tột độ cho người xem khi chứng kiến Nhưng rồi lại thấy thương, thấy giận thay cho người vợ cùng đứa con phải chịu cảnh chung chồng
Tranh Hàng Trống
- Tranh Hàng Trống là một dòng tranh dân gian được làm chủ yếu ở các phố Hàng Trống, Hàng Nón của Hà Nội Khác với tranh Đông Hồ khi hướng tới những chủ đề cuộc sống hàng ngày, tranh Hàng Trống lại thiên về thờ cúng nhiều hơn Không bó hẹp về tạo hình theo một công thức chuẩn, tác phẩm của làng tranh Hàng Trống về những bức tranh thờ cúng thường được vẽ với màu sắc mạnh, tươi sáng rực rỡ Ở một số tranh dùng tương phản mạnh giữa nét và màu sắc gây hiệu quả mạnh đối với thị giá như tranh Ngũ Hổ (Hình 3)
- Tranh Ngũ Hổ gồm năm con hổ: con thì đứng, con thì ngồi, con thì cưỡi mây
lướt gió, với những màu sắc khu biệt, rõ ràng nhưng lại rất uyển chuyển Màu sắc có độ đậm, nhạt, sáng, tối khác nhau nên các nhân vật trong tranh không còn là mảng bẹt mà như nổi khối Hình tượng con hổ có những ánh mắt, chòm râu, vẻ mặt cùng khí thế toàn thân đều toát ra sức sống mãnh liệt của loài “chúa sơn lâm” Bức tranh hội tụ năm con hổ đủ năm màu sắc tượng trưng cho Ngũ hành: trắng, xanh, vàng, xám đen, đỏ, vàng thể hiện sự tương sinh giữa các hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ Hình tượng ngũ hổ tiêu biểu cho sức mạnh toàn năng, có thể cứu độ, giúp đời, trấn yên bẩn điện Có thể nói, việc phụng thờ thần hổ không phát triển độc lập mà tồn tại song hành cùng với các tôn giáo, tín ngưỡng khác đã khẳng định uy quyền, sức mạnh của các vị thần tự nhiên trong hệ thống bách thần của người Việt
Trang 10KẾT LUẬN
Tranh dân gian Việt Nam có vẻ đẹp của hình thức nghệ thuật, màu sắc tươi tắn, bố cục
cô đọng, dễ hiểu Hình thức đó chuyển tải nhiều nội dung chắt lọc từ cuộc sống hiện thực,
từ những mơ ước của con người về hạnh phúc đầm ấm trong gia đình, sự bình yên thịnh thị trong xã hội Với giá trị nội dung và nghệ thuật đậm chất dân gian, diễn tả được cái hồn của dân tộc, tranh dân gian Việt Nam có sức hấp dẫn đặc biệt và mang tính giáo dục cao Điều này đã tạo nên sức sống mãnh liệt cho dòng tranh này, để lại trong kho tàng mỹ thuật Việt Nam những tác phẩm vô cùng quý giá Vì vậy hãy luôn trân quý những giá trị truyền thống bởi đó là linh hồn dân tộc, là cội nguồn của ông cha ta, trong đó có tinh thần
tự tôn, tự hào của dân tộc mà chúng ta cần gìn giữ
Trang 11TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Phạm Thị Chính (2013), Lịch sử mĩ thuật Việt Nam, Nxb Đại học sư phạm Hà Nội.
2 Philippe Papin, Marcus Durand, Maurice Durand, Tranh dân gian Việt Nam sưu tầm
vầ nghiên cứu, Nxb Văn Hóa Văn Nghệ
3 Nguyễn Đình Như (2002), Tìm hiểu và ứng dụng học thuyết ngũ hành, Nxb Văn
Hóa Dân Tộc
4 Bách khoa toàn thư mở (2012), Hội họa dân gian Việt Nam, Truy cập: 15:07’ ,
17/01/2021, Link: https://vi.wikipedia.org/wiki/Hội_họa_dân_gian_Việt_Nam
5 Nguyễn Quân - Phan Cẩm Thượng (1989), Mỹ thuật của người việt, Nxb Mỹ Thuật
Hà Nội
6 Hình 1, Tranh Đông Hồ, Truy cập: Chủ nhật, 15:16’, 17/01/2021
Link: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tranh_Đông_Hồ
7 Hình 2, Ghen, Truy cập: Chủ nhật, 15:16’, 17/01/2021
Link: https://vi.wikipedia.org/wiki/Ghen
8 Hình 3, Tranh Hàng Trống, Truy cập: Chủ nhật, 15:17’, 17/01/2021
Link: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tranh_Hàng_Trống
Trang 12
PHỤ LỤC
Hình 1: là hình ảnh minh họa cho nội dung 3.1 của bài viết
Nguồn: TLTK 6
Trang 13Hình 2: là hình ảnh minh họa cho Hình 3: là hình ảnh minh họa cho
nội dung 3.1 của bài viết nội dung 3.2 của bài viết