1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

LUẬN VĂN: Khảo sát vấn đề việc làm của người dân ở khu vực 9, Phường Đống Đa, Thành phố Quy Nhơn

20 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 326,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thành phố Quy Nhơn đang ngày càng phát triển, nhưng vấn đề việc làm của phần lớn người dân chịu ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa vẫn chưa được giải quyết, trong đó tình hình thất nghiệ

Trang 1

Luận văn

Khảo sát vấn đề việc làm của người dân ở khu vực 9,

Phường Đống Đa, Thành phố Quy Nhơn

Trang 2

PHẦN DẪN NHẬP

1 Lý do chọn đề tài

Việc làm và giải quyết việc làm là một vấn đề kinh tế xã hội mang tính toàn cầu, là mối quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới Ngày nay quan niệm

về phát triển được hiểu đầy đủ là tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội; xóa đói giảm nghèo, giảm tỉ lệ thất nghiệp trong đó thất nghiệp và thiếu việc làm là bước cản lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội Vì vậy tạo việc làm cho người lao động đang là vấn đề hết sức nóng bỏng và cấp thiết Không chỉ là tạo điều kiện, cơ hội việc làm cho người lao động, phát huy hết tiềm lực của đất nước mà còn góp phần vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo có hiệu quả, là cơ sở để cải thiện và nâng cao chất lượng đời sống nhân dân, góp phần quan trọng giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội, tạo động lực mạnh

mẽ thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Trong những năm vừa qua, tình hình kinh tế - văn hóa - xã hội ở tỉnh Bình Định khá phát triển, bộ mặt của tỉnh có nhiều chuyển biến tích cực như: các khu kinh tế - khu công nghiệp mới dần hình thành và đi vào hoạt động có hiệu quả, các khu công nghiệp cũ hoạt động mạnh hơn cả về quy mô lẫn chất lượng, cơ sở

hạ tầng phát triển mạnh, các dịch vụ xã hội ngày càng được quan tâm Bên cạnh đó thành phố Quy Nhơn – trung tâm kinh tế - văn hóa - chính trị - xã hội của tỉnh đã có sự phát triển một cách vượt bậc và đã được công nhận là đô thị loại I, đời sống nhân dân được nâng cao, tỉ lệ nghèo đô thị giảm Trong công cuộc đổi mới, hơn 10 năm qua, kinh tế - xã hội của thành phố Quy Nhơn đã có những chuyển biến tích cực Giá trị tổng sản phẩm xã hội năm 2002 ước đạt 1.600 tỷ đồng, tốc độ phát triển bình quân trên 12,5% năm Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực Hiện nay, tỷ trọng ngành công nghiệp là 34,4%, ngành thương mại dịch vụ là 52,5% và ngành nông nghiệp là 13,1% [7;67] Đặc biệt việc xây dựng khu kinh tế Nhơn Hội có ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Định nói chung và thành phố Quy Nhơn nói riêng Nhờ đó phường Đống Đa - một địa bàn nằm ngay s át cạnh khu

Trang 3

kinh tế Nhơn Hội đã và đang có những bước chuyển biến tích cực về tình hình kinh tế - văn hóa – xã hội Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đó thì một bộ phận không nhỏ người dân đang rơi vào hoàn cảnh vô cùng khó khăn vì việc thực hiện kế hoạch quy hoạch đất đai trên địa bàn phường chưa được đồng bộ và toàn diện

Ở khu vực 9, phường Đống Đa tình hình đời sống dân cư trước đây vẫn vốn gắn bó với hoạt động sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên hiện nay phường Đống Đa đang là khu vực nằm trong quá trình đô thị hóa, sự chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất đô thị diễn ra mạnh và đã tác động không nhỏ đến tình hình đời sống người dân Thường thì khi nói đến đô thị người ta thường nghĩ ngay đến mặt lợi nhiều hơn là mặt hại, trước tiên các đô thị sẽ cung cấp nhiều cơ hội việc làm, lương bổng, dịch vụ xã hội, năng suất lao động cao hơn; nó góp phần chuyển hướng phát triển kinh tế và là động lực dịch chuyển cơ cấu kinh tế

ở cả khu vực đô thị và nông thôn Nhưng bên cạnh đó mặt trái của quá trình đô thị hóa cũng được bộc lộ rất rõ, một trong số đó là quá trình chuyển đổi đất nông nghiệp ảnh hưởng trực tiếp tới người nông dân mất đất Người dân ở khu vực 9, phường Đống Đa vốn gắn bó đời đời với diêm nghiệp (nghề muối) và các hoạt động nuôi trồng thủy sản nay đã bị mất đất sản xuất mà công tác đào tạo nghề,

hỗ trợ tạo công ăn việc làm cho người dân sau khi quy hoạch đất đai chưa được thực hiện hiệu quả, đồng nghĩa với việc một số lượng lớn người lao động rơi vào tình trạng thất nghiệp kéo theo nó là một loạt các hệ quả khác nữa

Thành phố Quy Nhơn đang ngày càng phát triển, nhưng vấn đề việc làm của phần lớn người dân chịu ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa vẫn chưa được giải quyết, trong đó tình hình thất nghiệp, thiếu việc làm ổn định của người dân

ở khu vực 9, phường Đống Đa, thành phố Quy Nhơn đã và đang là vấn đề trăn trở của các cấp chính quyền và nhân dân Từ những lý do trên tôi chọn đề tài

“Khảo sát vấn đề việc làm của người dân ở khu vực 9, Phường Đống Đa, Thành phố Quy Nhơn” để tiến hành nghiên cứu khoa học nhằm có sự đánh giá

Trang 4

đúng đắn về thực trạng và đề ra một số giải pháp nhằm giải quyết vấn đề việc

làm cho người dân ở khu vực này

2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu

Việc làm cho người lao động là một vấn đề luôn thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong các lĩnh vực khác nhau Đã có nhiều đề tài nghiên cứu các cấp về vấn đề việc làm trên được tiến hành trên phạm vi cả nước trong đó có địa bàn tỉnh Bình Định Trong đó các đề tài nghiên cứu về thực trạng việc làm của người dân sau tái định cư, việc làm của người dân chịu ảnh hưởng trực tiếp của quá trình đô thi hóa, việc làm của người lao động ở nông thôn, việc làm của lao động nữ ở nông thôn được quan tâm nhiều Có thể kể đến một số để tài tiêu biểu như sau:

Đề tài nghiên cứu khoa học “ Tìm hiểu thực trạng việc làm của người dân sau tái định cư ở phường Quang Trung, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định”, năm 2009,của sinh viên Nguyễn Đình Ngọc lớp CTXH_K28 trường Đại học Quy Nhơn, đề tài này đã đi sâu nhiên cứu những thực trạng, khó khăn, nguyên nhân đồng thời cũng đề ra nhiều biện pháp để giải quyết vấn đề việc làm cho người dân

Đề tài khóa luận tốt nghiệp “Thực trạng việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nữ nông thôn ở xã Mỹ Hiệp, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định”, năm

2010, của sinh viên Võ Thị Thanh Tuyền lớp CTXH_K29 trường Đại học Quy Nhơn Đề tài đã chỉ ra thực trạng việc làm của người phụ nữ nông thôn và đưa ra một số giải pháp hiệu quả nhằm giải quyết vấn đề việc làm cho người phụ nữ ở nông thôn

Các đề tài trên đã cung cấp những kiến thức về vấn đề việc làm của người lao động sau tái định cư và phụ nữ nông thôn tỉnh Bình Định Với các đề tài sẽ cung cấp thêm những cơ sở lý luận, tạo tiền đề để tiến hành nghiên cứu thực trạng vấn đề việc làm hiện nay trên địa bàn khu vực 9, phường Đống Đa, thành

phố Quy Nhơn Đề tài “Khảo sát vấn đề việc làm của người dân ở khu vực 9, Phường Đống Đa, Thành phố Quy Nhơn” sẽ góp phần xây dựng thêm cơ sở lý

Trang 5

luận cho công tác giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất trong quá trình đô thị hóa, đặc biệt khi đối tượng vốn là người lao động sống ở vùng ven thành phố

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Khảo sát thực trạng việc làm của người dân ở khu vực 9, phường Đống

Đa, thành phố Quy Nhơn

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

 Khảo sát việc làm của người dân bị thu hồi đất nông nghiệp phục vụ cho quá trình đô thị hóa để thấy được các loại hình công việc, tính chất công việc cũng như những khó khăn trong công việc mà người dân gặp phải

 Đánh giá về nhu cầu việc làm của người dân của người dân bị thu hồi đất

 Chỉ ra những cơ hội, tiềm năng của cộng đồng khu vực 9 trong việc giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất

 Đề xuất một số giải pháp nhằm giải quyết vấn đề việc làm cho người dân

bị thu hồi đất nông nghiệp hiện nay

4 Khách thể và phạm vi nghiên cứu 4.1 Đối tượng nghiên cứu

Vấn đề việc làm của người dân bị thu hồi đất nông nghiệp phục vụ cho quá trình đô thị hóa của thành phố Quy Nhơn

4.2 Khách thể nghiên cứu

Người dân ở khu vực 9, phường Đống Đa, thành phố Quy Nhơn

4.3 Phạm vi nghiên cứu

 Với yêu cầu của một đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên, chúng tôi chỉ tập trung vào việc làm rõ thực trạng việc làm của người lao động ở khu vực bị tác động của quá trình đô thị hóa hiện nay

 Phạm vi khảo sát được tiến hành trên địa bàn khu vực 9, phường Đống

Đa, thành phố Quy Nhơn

 Thời gian thực hiện đề tài được hành từ tháng 11/2010 đến tháng 4/2011

Trang 6

5 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn 5.1 Ý nghĩa lý luận

 Góp phần xây dựng hệ thống kiến thức đầy đủ hơn về vấn đề việc làm và giải quyết việc làm cho người dân bị ảnh hưởng bởi quá trình đô thị hóa

 Làm tài liệu tham khảo cho những đề tài nghiên cứu sau này về vấn đề việc làm

5.2 Ý nghĩa thực tiễn

Giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất nông nghiệp phục vụ cho quá trình đô thị hóa có ý nghĩa kinh tế - văn hóa - xã hội hết sức sâu sắc, nhất là khi tỉnh Bình Định đang có sự phát triển mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực Kết quả nghiên cứu sẽ mô tả bức tranh chung rõ nhất về thực trạng việc làm cũng như phần nào tình hình đời sống của người dân sau quy hoạch; chỉ ra những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của các dự án phát triển khu dân cư mới đến vấn đề việc làm của người dân, qua đó đề ra một số giải pháp mang tính định hướng nhằm giải quyết việc làm cho người dân, giúp cộng đồng phát huy hết những tiềm năng, thế mạnh của mình để hội nhập cùng sự phát triển của tỉnh nhà nói riêng và đất nước nói chung

6 Phương pháp nghiên cứu

 Phương pháp thu thập và phân tích những tài liệu, luận văn về vấn đề việc làm; các báo cáo, tổng kết của phường Đống Đa liên quan đến vấn đề việc làm

 Phương pháp điều tra bằng bảng anket: có 90 bảng anket đã được phát ra tại cộng đồng dân cư khu vực 9, phường Đống Đa

 Phương pháp phỏng vấn sâu: có 25 cuộc phỏng vấn sâu

 Phương pháp quan sát: quan sát toàn cảnh khu vực 9; quan sát nhà cửa, vật dụng trong gia đinh của người dân; quan sát những biểu hiện, thái độ

7 Giả thiết khoa học

 Người dân khu vực 9 phường Đống Đa thành phố QN đang thực sự gặp khó khăn trong vấn đề việc làm sau khi bị thu hồi đất, phần lớn người dân không

Trang 7

có việc làm ổn định, hay làm những công việc không phù hợp, chỉ mang tính tạm thời, bấp bênh và thu nhập thấp

 Người dân khu vực bị ảnh hưởng bởi quy hoạch dân cư có nhu cầu rất lớn

về việc làm ổn định, phù hợp để sớm ổn định cuộc sống, trong đó nhu cầu về việc đào tạo nghề và hỗ trợ cho vay vốn là quan trọng

 Người dân khu vực 9 đang gặp khó khăn trong việc giải quyết vấn đề việc làm của mình vì trình độ văn hóa thấp

 Cộng đồng khu vực 9 có nhiều tiềm năng để có thể giải quyết vấn đề việc làm cho người dân như: mở các lớp vừa đào tạo nghề vừa xản xuất các mặt hàng thủ công nghiệp thu hút được sự tham gia rất lớn của người dân, với việc xây dựng khu đô thị mới trong khu vực này với các ngành nghề dịch vụ và công nghiệp phát triển thì việc đào tạo tay nghề cho lớp trẻ sẽ đáp ứng được nhu cầu

về nguồn lao động rất lớn trong tương lai rất gần

 Để giải quyết vấn đề việc làm cho người lao động bị ảnh hưởng bởi quy hoạch cần có những giải pháp mang tính khả thi, sự tham gia, phối hợp đồng bộ giữa các cấp ngành trong tỉnh, các tổ chức nhận trách nhiệm xây dựng các công trình đầu tư trên địa bàn khu vực và bản thân cộng đồng

8 Cấu trúc đề tài

Đề tài được cấu trúc thành ba phần: phần dẫn nhập, phần nội dung và phần kết luận Trong đó phần nội dung bao gồm 3 chương:

 Chương 1: Cơ sở lý luận

 Chương 2: Thực trạng việc làm của người dân khu vực 9, phường Đống

Đa, thành phố Quy Nhơn

 Chương 3: Một số giải pháp giải quyết vấn đề việc làm cho người dân khu vực 9, phường Đống Đa, Thành phố Quy Nhơn

Trang 8

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Vai trò của việc làm và giải quyết việc làm đối với người dân bị thu hồi đất phục vụ cho quá trình đô thị hóa

Vai trò của việc giải quyết vấn đề việc làm đối với người dân bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp để phục vụ cho quá trình đô thị hóa là vô cùng lớn, được xem là vấn đề nền tảng, mấu chốt để cải thiện và nâng cao đời sống cho người dân một cách toàn diện

Quá trình đô thị hóa đòi hỏi phải có sự thay đổi về cơ cấu ngành nghề trên khu vực đó sao cho phù hợp với các tiêu chuẩn của đô thị, đồng nghĩa với việc một diện tích lớn hoặc toàn bộ đất nông nghiệp sẽ bị quy hoạch, chuyển đổi mục đích sử dụng Trong khi đó cộng đồng dân cư tại khu vực này lại gắn bó với đất nông nghiệp, và đó là công cụ lao động chủ yếu của họ Vì vậy, song song với việc quy hoạch đất đai thì công tác đào tạo việc làm mới phù hợp để đảm bảo đời sống cho người dân là vấn đề vô cùng cấp thiết, cần được thực hiện ngay từ đầu

Nếu công tác này được tiến hành một cách kịp thời, đồng bộ và toàn diện thì vấn đề công ăn việc làm cho người dân có đất đai sản xuất bị quy hoạch sẽ đạt được hiệu quả cao nhất, giảm thiểu tới mức thấp nhất tỉ lệ người thất nghiệp trong cộng đồng, góp phần vào quá trình phát triển bền vững của cộng đồng

M ặt khác nếu người dân không có công ăn việc làm ổn định, mức thu nhập phù hợp sẽ dẫn đến vấn đề thất nghiệp và kéo theo đó là vô vàn những

hệ lụy khôn lường như: gia tăng tệ nạn xã hội, làm mất lòng tin của nhân dân vào chính quyền địa phương, giáo dục sút kém, trẻ em lao động sớm, ảnh

hưởng tiêu cực đến mục tiêu phát triển của đô thị

Trang 9

1.2 Một số khái niệm 1.2.1 Việc làm

1.2.1.1 Khái niệm

Theo điều 13 của Bộ luật lao động của nước ta có đưa ra khái niệm: M ọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm

Trong việc làm có 2 khái niệm:

Việc làm đầy đủ: Là hiện tượng người lao động có việc làm và được làm

việc liên tục

Việc làm hợp lý: Là sự phù hợp về mặt số lượng và chất lượng của các

yếu tố con người và vật chất của sản xuất, là bước phát triển cao hơn của việc làm đầy đủ [1;67 ]

Theo ngành xã hội nhân chủng học: Việc làm không chỉ bao hàm cái gì được làm, được làm như thế nào và ai làm, mà nó còn hàm ý việc làm đó được đánh giá như thế nào và ai đánh giá Vì thế, việc làm bao hàm ý nghĩa vật chất,

xã hội, văn hóa và tâm lý cá nhân:

 Việc làm bao hàm chất lượng của mối quan hệ xã hội giữa người này và người kia hoặc nhóm người này với nhóm người kia về quyền kiểm s oát, phân phối sản phẩm và tài nguyên Mối quan hệ này thể hiện ở việc giới hạn việc tiếp cận tài nguyên và lợi nhuận (vốn, kỹ thuật, thông tin…) của người lao động; việc đánh giá thấp những giá trị, những tài nguyên và lợi nhuận mà người lao động có sẵn (lao động, thời gian, tay nghề)

 Việc làm bao hàm việc tạo ra sản phẩm vật chất và các hoạt động xã hội việc làm là sự thực hiện một nhiệm vụ sản xuất, quản lý, hoặc biến đổi các tài nguyên cần thiết để phục vụ đời sống Việc làm cần sự đóng góp của các yếu tố tài nguyên như đất đai, lao động, vốn, thời gian, thông tin – kỹ thuật Kết quả của việc làm có thể là sản phẩm vật chất hoặc sản phẩm không vật chất Giá trị của việc làm không chỉ được đánh giá dựa vào giá trị kinh tế mà còn phải xem xét về mặt giá trị xã hội và ý nghĩa đối với cá nhân đó

Trang 10

 Việc làm mang ý nghĩa tâm lý xã hội: Người lao động đồng hóa mình với công việc đang làm thông qua địa vị xã hội đạt được, niềm tự trọng cá nhân, uy tín trong cộng đồng, quyền hành được giao hoặc ý nghĩa cá nhân tự gán cho việc làm Ý nghĩa tâm lý xã hội này nhiều khi quan trọng cũng như

ý nghĩa kinh tế của việc làm Hơn thế nữa, sự đồng hóa này còn biểu hiện thông qua việc thừa nhận thái độ của người khác đối với việc làm của họ

 Việc làm bao hàm những giá trị văn hóa – xã hội: Mỗi nền văn hóa có một thang giá trị riêng Vì vậy, chúng ta không chỉ cần biết hoạt động nào được coi là “việc làm” và giá trị kinh tế của việc làm đó được tính ra sao,

mà còn phải hiểu việc làm ấy có ý nghĩa gì đối với xã hội và với cá nhân khi

họ hoàn thành nhiệm vụ đó

1.2.1.2 Các thành tố của việc làm

Có thể nghiên cứu và đo lường việc làm dựa vào 10 thành tố sau đây:

Năng lượng: cần tiêu phí một số năng lượng sức lực hay chất xám để làm chuyển đổi, duy trì, sản xuất một vật hay làm một việc gì đó trọng một hệ thống nhất định để đạt mục đích đặt ra Việc làm không thể chỉ đo lường bởi sản phẩm vật chất làm ra mà còn là những sản phẩm không vật chất (thông tin, thiết chế xã hội, niềm tin…) Đó làm những việc làm của công nhân, người quản lý, nhân viên xã hội, nghệ sỹ, nhà truyền giáo,…

Phần thưởng kinh tế và tinh thần: tiền lương và tiền thường là mặt kinh tế của việc làm; vị thế xã hội, danh dự cá nhân, quyền hành (quyền trong gia đình và uy tín trong cộng đồng) là phần thường về mặt xã hội và tâm lý Động cơ phần thường của việc làm rất khác nhau đối với nam nữ và đối với các bối cảnh làm việc khác nhau (đi làm để kiếm tiền, đi làm để có thêm bạn hoặc thêm kiến thưc,…)

Tài nguyên: việc làm là sự thực hiện một nhiệm vụ cần thiết nào đó, cần sử dụng một số tài nguyên như vốn, nguyên liệu, tay nghề, thời gian và một số quyền hạn xã hội cho phép để phục vụ đời sống mỗi tài nguyên được đánh

Ngày đăng: 19/09/2021, 08:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w