1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÀI TẬP LỚN HỌC KÌ. Môn: Pháp luật người khuyết tật Đề số 1: Trách nhiệm người sử dụng lao động việc làm người khuyết tật

20 28 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Định nghĩa về người khuyết tật trong hệ thống pháp luật pháp luật quốc tế: Điều 1 Công ước về quyền của người khuyết tật của Liên hợp quốc năm 2006, quy định: “Người khuyết tật bao gồm n

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÀI TẬP LỚN HỌC KÌ

Môn: Pháp luật người khuyết tật

với người khuyết tật? Tìm ví dụ thực tiễn minh họa

2 Quy định về tham gia giao thông của người khuyết tật và thực tiễn ở Việt Nam

Hà Nội – năm 2020

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 1

Phần 1: Khái quát chung về người khuyết tật 1

I – Định nghĩa người khuyết tật: 1

1.Quan điểm khuyết tật cá nhân: 1

2.Quan điểm khuyết tật xã hội: 2

3.Định nghĩa về người khuyết tật trong hệ thống pháp luật pháp luật quốc tế: 3

4.Định nghĩa về người khuyết tật trong hệ thống pháp luật Việt Nam: 3

II – Đặc điểm người khuyết tật: 4

1.Dưới góc độ kinh tế - xã hội: 4

2.Dưới góc độ dạng tật và mức độ khuyết tật 5

Phần 2: Trách nhiệm của người sử dụng lao động về việc làm đối với người khuyết tật? Tìm ví dụ thực tiễn minh họa 6

I – Trách nhiệm của người sử dụng lao động về việc làm đối với người khuyết tật: 6

II – Ví dụ minh họa từ thực tiễn: 9

Phần 3: Quy định về tham gia giao thông của người khuyết tật và thực tiễn ở Việt Nam 10

I - Quy định về tham gia giao thông của người khuyết tật: 11

II - Thực tiễn ở Việt Nam 14

KẾT LUẬN 15

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

PHỤ LỤC 18

Trang 3

MỞ ĐẦU

Người khuyết tật vốn là những người bất hạnh, chịu thiệt thòi và gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống Họ phải đổi diện với áp lực tâm lí rất lớn đó là những mặc cảm, tự ti về khiếm khuyết trên cơ thể mình, là những gánh nặng họ đem đến cho gia đình và xã hội Vì vậy, họ chính là đối tượng cần được tạo điều kiện trong cuộc sống Xuất phát từ điều đó, để tìm hiểu rõ hơn mộ vài khía cạnh về người khuyết tật nên em đã chọn đề bài số 1 làm đề tài cho bài tập lớn của mình:

“1 Trách nhiệm của người sử dụng lao động về việc làm đối với người khuyết tật? Tìm ví dụ thực tiễn minh họa

2 Quy định về tham gia giao thông của người khuyết tật và thực tiễn ở Việt Nam.”

Do kiến thức lí luận và thực tế còn hạn chế nên bài viết không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự chỉ bảo của các thầy cô để bài viết của em được hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn!

NỘI DUNG

Phần 1: Khái quát chung về người khuyết tật

I – Định nghĩa người khuyết tật:

1 Quan điểm khuyết tật cá nhân:

Quan điểm khuyết tật cá nhân (cá thể) hay quan điểm khuyết tật dưới góc độ y tế (y học) cho rằng khuyết tật là do hạn chế cá nhân, là ở chính con người đó, chú trọng rất ít hoặc không để ý đến các yếu tố về môi trường xã hội và môi trường vật thể xung quanh người khuyết tật

Trang 4

Quan niệm này cho rằng người khuyết tật có thể hưởng lợi từ phương pháp khoa học như thuốc điều trị và các công nghệ cải thiện chức năng Mô hình y tế chú trọng vào việc trị liệu cá nhân chứ không xem trọng trị liệu xã hội

Lí giải rõ thêm cho quan điểm này, theo phân loại của Tổ chức y tế thế giới, có ba mức độ suy giảm là: khiếm khuyết (impairment), khuyết tật (disability) và tàn tật (handicap)1

Như vậy, mô hình cá nhân (cá thể) hay y tế nhìn nhận người khuyết tật như những người có vấn đề về thể chất và cần phải chữa trị Điều này đã đẩy những người khuyết tật vào thế bị động của những người bệnh Mục tiêu của hướng tiếp cận y tế

là làm cho những người khuyết tật cảm thấy trở lại trạng thái bình thường nhưng vô hình chung lại khiến cho những người khuyết tật cảm thấy họ không bình thường Theo đó vấn đề khuyết tật được cho là hạn chế ở từng cá nhân Khi bị khuyết tật, những người này cần phải thay đổi chứ không phải xã hội hay môi trường xung quanh thay đổi.2

2 Quan điểm khuyết tật xã hội:

Vào cuối những năm 1990, mô hình xã hội trở nên khá nổi trội trong những nghiên cứu về khuyết tật trên thế giới, đó là khái niệm được sử dụng phổ biến nhất Mô hình xã hội là mô hình có cơ sở lí thuyết và có quy tắc riêng, được coi là nên tảng của những biến chuyển của vấn đề người khuyết tật

Mô hình xã hội về khuyết tật cho rằng nhiều người bị khiếm khuyết ở các cách khác nhau nhưng chỉ xã hội biến họ thành khuyết tật; con người bị khiếm khuyết nhưng xã hội bị khuyết tật Nói cách khác, mô hình xã hội khuyết tật coi xã hội là

1 Xem Phụ lục (1)

2 Xem: Việt Nam – Người khuyết tật trong chiến lược giảm nghèo, được xuất bản với sự hỗ trợ của Tổ chức hợp tác

kĩ thuật Đức (GTZ) và Cơ quan hỗ trợ phát triển Đức, 2007, tr.40

Trang 5

vấn đề, giải pháp là phải thay đổi xã hội Chính xã hội và chính sác cần phải cải tổ chứ không phải người khuyết tật.3

Quan điểm khuyết tật theo mô hình xã hội là công cụ quan trọng để giải quyết các nguyên nhân gốc rễ của người khuyết tật bị tách biệt khỏi cuộc sống chung Vấn đề

về những bất lợi và vấn đề về phân biệt đối xử Mô hình xã hội ghi nhận rằng câu trả lời cho câu hỏi liệu ai đó có bị xếp vào danh sách người khuyết tật hay không có liên quan chặt chẽ đến các yếu tố như văn hóa, thời gian và môi trường.4

3 Định nghĩa về người khuyết tật trong hệ thống pháp luật pháp luật quốc tế: Điều 1 Công ước về quyền của người khuyết tật của Liên hợp quốc năm 2006, quy định: “Người khuyết tật bao gồm những người bị suy giảm về thể chất,, thần kinh, trí tuệ hay giác quuan trong một thời gian dài, có ảnh hưởng qua lại với hàng loạt những rào cản có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của người khuyết tật vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác.”5

Khoản 1 Điều 1 Công ước số 159 của ILO về phục hồi chức năng lao động và việc làm của người khuyết tật năm 1983, quy định: “Người khuyết ttaaj dùng để chỉ một

cá nhân mà khả năng có một việc làm phù hợp, trụ lâu dài với công việc đó và thăng tiến với nó bị giảm sút đáng kể do hậu quả của một khiếm khuyết về thể chất

và tâm thần được thừa nhận.”

4 Định nghĩa về người khuyết tật trong hệ thống pháp luật Việt Nam:

Ngày 17/6/2010, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật người khuyết tật, có hiệu lực từ 01/01/2011, chính thức sử dụng khái niệm “người khuyết tật” thay cho khái niệm “người tàn tật”, phù hợp với khái niệm và xu hướng nhìn nhận của thế gưới

về vấn đề khuyết tật.Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 của Luật này thì “Người

3 Xem: Bộ giáo dục và đào tạo, Quản lí giáo dục hòa nhập, Nxb Phụ nữ, H., 2010, tr.45-46

4 Xem: Hướng tới cơ hội việc làm bình đằng cho người khuyết tật thông qua hệ thống pháp luật, tlđd, tr.16

5 Xem: Công ước về quyền của người khuyết tật 2006, Văn phòng điều phối các hoạt động hỗ trợ người tàn tật Việt Nam (NCCD), Nxb Lao động – xã hội, 2008

Trang 6

khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn.”6

Như vậy, định nghĩa người khuyết tật dù tiếp cận dưới bất kì góc độ nào, nhất thiết phải phản ánh thực tế là người khuyết tật có thể gặp các rào cản do yếu tố xã hội, môi trường hoặc con người khi tham gia vào mọi hoạt động kinh tế, chính trị,

xã hội Họ phải được đảm bảo rằng họ có quyền và trách nhiệm tham gia vào mọi hoạt động của đời sống như bất cứ công dân nào với tư cách là các quyền của con người Với cách tiếp cận đó, có thể đưa ra định nghĩa về người khuyết tật như sau:

“Người khuyết ttaaj là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc

bị suy giảm chức năng dẫn đến những hạn chế đáng kể và lâu dài trong việc tham gia của người khuyết tật vào hoạt động xã hội trên cơ sở bình đẳng với những chủ thể khác.”7

II – Đặc điểm người khuyết tật:

1 Dưới góc độ kinh tế - xã hội:

Những gia đình có người khuyết tật thường có xu hướng hoặc là thiếu nhân lực lao động (vì vậy có năng lực sản xuất thấp), hoặc có quá nhiều người sống phụ thuộc (gánh nặng về kinh tế) Học vấn của các thành viên trong gia đình người khuyết tật thường không cao (chất lượng lao động thấp) Nhiều chủ hộ gia đình lại chính là người khuyết tất có sức khỏe yếu Tài sản của gia đình NKT thường nghèo nàn, thu nhập ở mức thấp Vì vậy, điều kiện sống và sinh hoạt không tốt, ảnh hưởng xấu đến cuộc sống, sức khỏe, phúc lợi của các thành viên trong gia đình Ngoài ra, NKT từ

6 Định nghĩa này kế thừa quy định tại Điều 1 Pháp lệnh về người tàn tật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành năm 1998 (hiện đã được thay thế bằng Luật người khuyết tật năm 2010): “Người tàn thật theo quy định của Pháp lệnh này không phân biệt nguồn gốc gât ra tàn tật là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận

cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tàn tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn.”

7 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật người khuyết tật, nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2011, tr.21

Trang 7

15 tuổi trở lên rất khó kiếm việc làm Hầu hết, NKT hoặc chưa bao giờ đi làm hoặc

đã từng đi làm nhưng lại bị thất nghiệp Khuyết tật là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng của họ 8

Quan niệm của xã hội về người khuyết tât còn tiêu cực dẫn đến sự kì thị và phân biệt đối xử: Điều này diễn ra dưới nhiều hình thức, ở nhiều bối cảnh khác nhau (gia đình, cộng đồng, trường học, bệnh viện, nơi làm việc và các tổ chức ở địa phương) Trong cộng đồng, nhiều dân cư coi NKT là “đáng thương”, không có cuộc sống

“bình thường”, là “gánh nặng” của xã hội … Về nhận thức pháp luật, nhiều người không hề biết đến quy định của pháp luật về người khuyết tật Từ đó dẫn đến sự kì thị, phân biệt đối xử và nó diễn ra ở nhiều nơi, nhiều lĩnh vực: Gia đình, nơi làm việc, giáo dục, hôn nhân gia đình, tham gia hoạt động xã hội, thậm chí sự kì thị từ chính những người khuyết tật

Hoạt động hỗ trợ cho người khuyết tật còn rất hạn chế, thực tế cho thấy có sự khác biệt lớn giữa nhu cầu của người khuyết tật và những giúp đỡ họ nhận được Sự hỗ trợ của nhà nước và cộng đồng mang tính từ thiện nhiều hơn là phát triển con người Hầu hết người khuyết tật được hỗ trợ như bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, lương thực, … nhưng lại ít được trợ giúp trong việc làm, dạy nghề và tham gia hoạt động xã hội 9

2 Dưới góc độ dạng tật và mức độ khuyết tật

Trên thế giới, ở mỗi quốc gia có thể có các quy định khác nhau về một số dạng tật song nhìn chung hầu hết và phổ biến là các dạng tật giống như đã được quy định tại Luật người khuyết tật Việt Nam, bao gồm: Khuyết tật vận động; khuyết tật nghe,nói; khuyết tật nhìn; khuyết tật thần kinh, tâm thần; khuyết tật trí tuệ; khuyết tật khác

8 Xem Phụ lục (2)

9 Xem Phụ lục (3)

Trang 8

Ở những người khuyết tật vận động, KT nói, KT nhìn đều có bộ não phát triển bình thường Nếu được quan tâm tạo môi trường thuận lợi, rèn luyện từ sóm và thường xuyên thì họ vẫn có thể tiếp thu được chương trình học tập, làm việc, tham gia vào các hoạt động kinh tế xã hội của cộng đồng, trở thành người có ích cho bản thân, gia đình và xã hội Tuy nhiên, do hạn chế về thể chất hoặc giác quan nên họ dễ có tâm lí tự ti, mặc cảm về KT của mình, thường gặp khó khăn trong giao tiếp và trên một số lĩnh vực thì hiệu suất công việc không cao hoặc không thể tham gia Do hoàn cảnh khuyết tật hoặc các yếu tố khác về kinh tế, môi trường, nên nhiều người không có điều kiện để rèn luyện, khắc phục những hạn chế ngay từ sớm, khiến họ trở nên lúng túng, vụng về trong một số kĩ năng Điều này làm họ dễ cảm thấy thiếu tự chủ, thiếu tự tin trong giao tiếp với người xung quanh – Tình trạng sẽ tồi tệ hơn nếu như khiếm khuyết của họ thay vì nhận được sự cảm thông lại vấp phải thái dộ giễu cợt hoặc thiếu kiên nhẫn của mọi người Tuy nhiên, đại bộ phận trong số họ đều có ý chí và khát vọng vươn lên khắc phục những khiếm khuyết về thể chất hay giác quan của bản thân để tự khẳng định mình, tham gia học tập, làm việc và sinh hoạt như mọi thành viên khác trong xã hội

Phần 2: Trách nhiệm của người sử dụng lao động về việc làm đối với

người khuyết tật? Tìm ví dụ thực tiễn minh họa

I – Trách nhiệm của người sử dụng lao động về việc làm đối với người khuyết tật:

Doanh nghiệp thường không quan tâm đến thị trường lao động là người khuyết tật Một số ngành nghề thuộc doanh nghiệp nhà nước còn có quy định không tuyển dụng lao động là người khuyết tật Với việc doanh nghiệp nhà nước không tuyển dụng lao động là người khuyết tật sẽ khó thuyết phục các doanh nghiệp khác trong

Trang 9

xã hội Điều này tạo nên sự bất bình đẳng cho người lao động khuyết tật trên thị trường

Giải quyết việc làm cho người khuyết tật có thể hiểu là quá trình tạo điều kiện và môi trường làm đảm bảo cho mọi người trong độ tuổi lao động, có khả năng, đang

có nhu cầu tìm việc làm với mức tiền công thinh hành trên thị trường đều có cơ hội làm việc Giải quyết việc làm cho người khuyết tật cũng là quá trình mà Nhà nước,

xã hội, người sử dụng lao động (NSDLĐ) tạo điều kiện môi trường làm việc được đảm bảo phù hợp với đặc điểm đặc thù của họ

Thứ nhất, quy định về tuyển dụng, sắp xếp công việc, bảo đảm điều kiện và môi trường làm việc cho người lao động khuyết tật:

Để tránh tình trạng kỳ thị, phân biệt, đối xử, tạo ra những rào cản dẫn đên sự hạn chế cơ hội có việc làm của người khuyết tật, Luật người khuyết tật năm 2010 quy định các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân không được từ chối tuyển dụng người khuyết tật có đủ tiêu chuẩn tuyển dụng vào làm việc hoặc đặt ra tiêu chuẩn tuyển dụng trái quy định của pháp luật nhằm hạn chế cơ hội việc làm của người khuyết tật

Theo khoản 2 Điều 33 Luật người khuyết tật năm 2010 quy định: “Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân không được từ chối tuyển dụng người khuyết tật có đủ tiêu chuẩn tuyển dụng vào làm việc hoặc đặt ra tiêu chuẩn tuyển dụng trái quy định của pháp luật nhằm hạn chế cơ hôi làm việc của người khuyết tật.” Như vậy, nếu người khuyết tật có đủ khả năng, tiêu chuẩn thì doanh nghiệp phải nhận họ vào làm việc, không được từ chối tuyển dụng người lao động khuyết tật chỉ vì lí do khuyết tật của họ Nói một cách khác, trong quá trình tuyển dụng, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân không được phép đưa ra những tiêu chuẩn hạn chế, phân biệt giữa ngời khuyết tật và người không khuyết tật trái quy định pháp luật nhằm hạn chế cơ hội việc làm đối với người khuyết tật

Trang 10

Khoản 3 Điều 33 của Luật này còn quy định: “cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân sử dụng người khuyết tật tùy theo điều kiện cụ thể bố trí sắp xếp công việc, bảo đảm điều kiện và môi trường làm việc phù hợp cho người khuyết tật.” Bộ luật Lao động năm 2019 tiếp tục khẳng định: “Người sử dụng lao động phải bảo đảm

về điều kiện lao động, công cụ lao động, an toàn, vệ sinh lao động và tổ chức khám sức khỏe định kỳ phù hợp với người lao động là người khuyết tật.”10 Như vậy, sau khi nhận người khuyết tật vào làm việc, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân sử dụng lao động làm người khuyết tật tùy theo điều kiện cụ thể, bố trí sắp xếp công việc, bảo đảm điều kiện và môi trường làm việc phù hợp cho người khuyết tật đồng thời phải thực hiện đầy đủ quy định của pháp luật về lao động đối với lao động là người khuyết tật

Thứ hai, trách nhiệm của NSDLĐ trong việc duy trì số lượng lao động là người khuyết tật trong doanh nghiệp:

Về phía doanh nghiệp, cùng với quyền tuyển chọn, tăng giảm lao động là người khuyết tật cho phù hợp với nhu cầu sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cũng có trách nhiệm đảm bảo việc làm cho người lao động theo thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động, phải nhận tỉ lệ lao động tàn tật nhất định Cụ thể, các doanh nghiệp thuộc ngành sản xuất điện năng, luyện kim, hóa chất, địa chất, đo đạc bản đồ, dầu khí, khai thác mỏ, khai thác khoáng sản, xây dựng cơ bản, vận tải phải nhận 2% lao động là người khuyết tật; doanh nghiệp của các ngành khác là 3% Tỉ

lệ người tàn tật các doanh nghiệp phải tiếp nhận là tỉ số giữa số người tàn tật so với tổng số lao động có mặt bình quân tháng của doanh nghiệp Trường hợp nếu doanh nghiệp không nhận hoặc nhận ít hơn tỉ lệ quy định thì phải đóng góp một khoản tiền theo quy định của Chính phủ vào quỹ việc làm để góp phần giải quyết việc làm cho người tàn tật Nếu doanh nghiệp tiếp nhận số lao động là người khuyết tật vào

10 Khoản 1 Điều 159 Bộ luật Lao động năm 2019

Ngày đăng: 19/09/2021, 08:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w