Nhìn lại những gì mà nền kinh tế thế giới đã, đang đạt được, chúng ta không thể phủ nhận rằng trong khi hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa như nước ta đang gặp khó khăn, phát triển chậm c
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP LỚN HỌC KÌ
Môn: Kinh tế chính trị
Đề số 5: Quy luật giá trị thặng dư – Lý luận và thực tiễn ở Việt Nam
Họ và tên: Tạ Thị Thiên Trang
Hà Nội – năm 2020
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
Phần 1: Lý luận về quy luật giá trị thặng dư 1
1.Định nghĩa: 1
2.Nội dung: 2
Phần 2: Thực tiễn quy luật giá trị thặng dư ở Việt Nam 3
1.Thực trạng quy luật giá trị thặng dư ở Việt Nam: 3
2.Các hướng Đảng và Nhà nước đề ra để nghiên cứu, vận dụng quy luật giá trị thặng dư ở Việt Nam: 5
3.Biện pháp của Nhà nước trong việc gia tăng giá trị thặng dư: 6
KẾT LUẬN 8
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 9
Trang 4MỞ ĐẦU
Tất cả các quốc gia trên thế giới đều đang vận động phát triển không ngừng trong tiến trình diễn ra của dòng thời gian và lịch sử Nhìn lại những gì mà nền kinh tế thế giới đã, đang đạt được, chúng ta không thể phủ nhận rằng trong khi hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa như nước ta đang gặp khó khăn, phát triển chậm chạp thì các nước tư bản chủ nghĩa lại đạt được những thành tựu to lớn trong phát triển đất nước với tốc độ phát triển chóng mặt ở tất cả các lĩnh vực mà xuất phát điểm là tự sự phát triển của nền kinh tế: kĩ thuật và công nghệ bỏ xa chúng ta hàng chục năm, năng suất lao động cao, phân công lao động và chuyên môn hóa rõ rệt, lực lượng sản xuất đã đạt được trình độ xã hội hóa cao… C Mác đã nghiên cứu và tìm ra nguyên nhân của sự phát triển: Đâu là quy luật vận động của phương thức sản xuất
tư bản, cái gì là bí mật và thực chất của sản xuất hàng hóa tư bản, điều gì là động lực cho kinh tế tư bản chủ nghĩa? Đó chính là quy luật giá trị thặng dư
Với mong muốn tìm hiểu sâu về vấn đề này trong Triết học, em đã chọn đề tài:
“Quy luật giá trị thặng dư – Lý luận và thực tiễn ở Việt Nam” cho bài tập lớn của mình Do kiến thức lí luận và thực tế còn hạn chế nên bài viết không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự chỉ bảo của các thầy cô để bài viết của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
NỘI DUNG
Phần 1: Lý luận về quy luật giá trị thặng dư
1 Định nghĩa:
Quy luật sản xuất giá trị thặng dư theo kinh tế chính trị Mac-Lenin là một trong những quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản Nội dung quy luật này là sản xuất nhiều và ngày càng nhiều hơn giá trị thặng dư bằng cách tăng cường bóc lột
Trang 52 | P a g e
công nhân làm thuê Nếu quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hóa là quy luật giá trị thì quy luật kinh tế cơ bản của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là quy luật giá trị thặng dư
Có thể thấy vì giá trị thặng dư là cội nguồn sinh ra sự giàu có, sung túc vì xuất hiện giá trị mới, nên để duy trì và phát triển sự giàu có, dôi dư này, giai cấp tư sản có xu hướng không ngừng sản xuất ra càng nhiều giá trị thặng dư càng tốt, sản xuất với quy mô ngày càng lớn hơn trước Những lợi tức, tiền bạc thu được đều được đưa vào tái đầu tư, tái sản xuất, thuê mua nguyên vật liệu nhà xưởng để vận hành tạo giá trị thặng dư
2 Nội dung:
Quy luật giá trị thặng dư là quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản vì theo kinh tế chính trị Mácxit nó quy định bản chất của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, chi phối mọi mặt đời sống kinh tế của xã hội tư bản Không có sản xuất giá trị thặng dư thì không có chủ nghĩa tư bản Theo Mác, chế tạo ra giá trị thặng dư, đó là quy luật tuyệt đối của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Ở đâu có sản xuất giá trị thặng dư thì ở đó có chủ nghĩa tư bản, ngược lại, ở đâu có chủ nghĩa tư bản thì ở đó có sản xuất giá trị thặng dư Lênin gọi quy luật giá trị thặng dư là quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản
Sản xuất nhiều và ngày càng nhiều giá trị thặng dư là mục đích, là động lực thường xuyên của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, là nhân tố đảm bảo sự tồn tại, thúc đẩy sự vận động, phát triển của chủ nghĩa tư bản đồng thời nó làm cho mọi mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản ngày càng sâu sắc
Quy luật giá trị thặng dư là nguồn gốc của mâu thuẫn cơ bản của xã hội tư bản: mâu thuẫn giữa tư bản và lao động; mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân
Quy luật giá trị thặng dư đứng đằng sau cạnh tranh tư bản chủ nghĩa Với mục đích
là thu được ngày càng nhiều hơn giá trị thặng dư, các nhà tư bản cạnh tranh với
Trang 6nhau, tiêu diệt lẫn nhau để có được quy mô giá trị thặng dư lớn hơn, tỉ suất giá trị thặng dư cao hơn
Để sản xuất ngày càng nhiều giá trị thặng dư, các nhà tư bản ra sức áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, cải tiến sản xuất Từ đó thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ, nền sản xuất có tính chất xã hội hoá ngày càng cao, mâu thuẫn giữa tính chất xã hội của sản xuất với hình thức chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa ngày càng gay gắt
Phần 2: Thực tiễn quy luật giá trị thặng dư ở Việt Nam
Quy luật giá trị thặng dư đã phát huy vai trò to lớn của nó, đem lại những tiến bộ vượt bậc và thành tựu đáng kinh ngạc cho chủ nghĩa tư bản Nước ta nói riêng và các nước xã hội chủ nghĩa nói chung đang nỗ lực không ngừng trên con đường của mình để xây dựng chủ nghĩa xã hội trên thế giới Riêng với nước ta, chúng ta đang trong giai đoạn quá độ lên xã hội chủ nghĩa từ chế độ phong kiến, bỏ qua giai đoạn
tư bản chủ nghĩa Vì vậy, xuất phát điểm là một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, chủ yếu là dựa vào nông nghiệp Yêu cầu đặt ra là phải từng bước xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho chủ nghĩa xã hội Vì vậy, chúng ta phải học tập những thành tự mà chủ nghĩa tư bản đã đạt được, trong đó quan tâm đặc biệt đến quy luật kinh tế cơ bản của nó là quy luật giá trị thặng dư, sửa chữa những quan niệm sai lầm trước kia xây dựng nền kinh tế tự cấp khép kín, kế hoạch hóa tập trung Ngày nay, chúng ta thực hiện chính sách kinh tế mới: chuyển sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
1 Thực trạng quy luật giá trị thặng dư ở Việt Nam:
Việt Nam xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm 6,5 - 7%., mục tiêu đến năm 2020, GDP bình quân đầu người đạt 3200$-3500$ thì vấn đề phải đặt
ra là phải chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế, từ tăng trưởng theo chiều rộng
Trang 74 | P a g e
sang tăng trưởng theo chiều sâu, theo đó, nền kinh tế phải tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm thặng dư và giá trị thặng dư cho xã hội
Trong hơn 30 năm đổi mới kinh tế đất nước, cải cách doanh nghiệp, đặc biệt là cải cách doanh nghiệp nhà nước cho phù hợp với điều kiện nền kinh tế thị trường đã được xúc tiến mạnh mẽ Từ chỗ doanh nghiệp nhà nước chỉ hoạt động theo cơ chế bao cấp của nhà nước, nay đã hội nhập và hoạt động trong môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng trong nền kinh tế trong nước và quốc tế Tuy nhiên, hiêu quả kinh tế thấp, năng suất lao động thấp dẫn đến năng lực cạnh tranh thấp là những bất cập trong hoạt động của doanh nghiệp Việt Nam Các chỉ tiêu hiệu quả về tỷ suất lợi nhuận của các doanh nghiệp đều ở mức thấp và có xu hướng giảm trong những năm gần đây Đi tìm những nguyên nhân của tình hình cho thấy: Còn nhiều vấn đề đặt ra trong quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước khiến cho quá trình này diễn ra chậm chạp (mới chỉ tiến hành ở các doanh nghiệp quy mô nhỏ); trình độ tổ chức, quản lý, quản trị doanh nghiệp; vấn đề tiền công và thu nhập… trong các doanh nghiệp đều ở mức thấp Đặc biệt, tình trạng lãng phí nguồn lực kinh tế cả về vật chất và yếu tố con người trong hầu hết các doanh nghiệp là những vấn đề doanh nghiệp Việt Nam cần phải quan tâm Xét về năng suất lao động, Việt Nam là quốc gia có năng suất lao động thấp trong khu vực Đông Nam Á Năm 2009, năng suất lao động của Việt Nam chỉ tương đương 14,9% của Singapore, 9% của Mỹ, 40% của Thái Lan và 52,6% của Trung quốc Năng suất lao động thấp do nhiều nguyên nhân: Tỉ lệ lao động qua đào tạo của Việt Nam dù đã được cải thiện, nhưng còn ở mức thấp, cơ cấu lao động còn nhiều bất hợp lý, trình độ khoa học công nghệ và sự kết hợp xã hội của sản xuất còn hạn chế
Hiện nay, nguồn nhân lực trên thị trường lao động của Việt Nam được đánh giá có chất lượng không cao Nhận thức được vấn đề này, trong Văn kiện Đại hội XII đã ghi: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu Phát triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” và “Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, với
Trang 8tiến bộ khoa học công nghệ, yêu cầu phát triển nguồn nhân lực và thị trường lao động”
2 Các hướng Đảng và Nhà nước đề ra để nghiên cứu, vận dụng quy luật giá trị thặng dư ở Việt Nam:
Một là, quy luật giá trị thặng dư của C.Mác được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu lịch sử nền sản xuất hàng hóa, đặc biệt là nền kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa Cho nên, chính C.Mác là một trong những người nghiên cứu sâu sắc về kinh tế thị trường Nước ta đang phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận đồng theo
cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Mặc dù nền kinh tế hàng hóa ở nước ta có những đặc trưng riêng của nó, song đã là sản xuất hàng hóa thì phải nói đến giá trị và giá trị thặng dư Điều khác nhau chỉ là trong những quan hệ kinh tế khác nhau thì giá trị và giá trị thặng dư mang bản chất
xã hội khác nhau Do vậy, việc nghiên cứu những lý luận của Mác về nền kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa là việc làm có ý nghĩa thực tiễn ở nước ta hiện nay Khi phân tích sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa, Mác cho rằng mọi hoạt động của tư bản đều xoay quanh việc tận dụng phương tiện bóc lột nhằm khai thác tối đa sức lao động để tăng thêm lao động thặng dư Do đó, dẫn đến tất yếu kéo dài ngày lao động, tăng cường độ lao động hay cải tiến kỹ thuật, ứng dụng công nghệ mới, tăng năng suất lao động để có thêm điều kiện thu hút nhiều hơn nữa giá trị thặng dư, nguồn gốc làm giàu của giai cấp tư sản Trong hai yếu tố của sản xuất hàng hóa, thì sức lao động là yếu tố cơ bản nhất, còn tư liệu sản xuất là phương tiện cần thiết cho sản xuất Yếu tố tư liệu sản xuất là yếu tố được tận dụng để đạt năng suất lao động cao - quyết định sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội Yếu tố thực sự tạo ra của cải, tạo ra giá trị và giá trị tăng thêm là người lao động Do đó, lao động và chiến lược con người là vấn đề quan trọng để tạo được bước phát triển nhảy vọt trong lực lượng sản xuất đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước
Hai là, khai thác những luận điểm của C Mác nói về quá trình sản xuất, thực hiện, phân phối giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bản cùng những biện pháp, thủ đoạn
Trang 96 | P a g e
nhằm thu được nhiều giá trị thặng dư của các nhà tư bản để góp phần vào việc quản
lý thành phần kinh tế tư nhân trong nền kinh tế nước ta sao cho vừa có thể khuyến khích phát triển, vừa hướng thành phần kinh tế này đi vào quỹ đạo của chủ nghĩa
xã hội Điều đó đòi hỏi cần có chính sách thích đáng và có hiệu lực để thúc đẩy các thành phần kinh tế phát triển với nhiều loại hình sản xuất kinh doanh, qua đó thu hút nhiều lao động xã hội, sử dụng nhiều trình độ lao động để tạo ra nhiều sản phẩm thỏa mãn nhu cầu xã hội Đó là con đường để thoát khỏi nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế và bảo đảm tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
Ba là, khai thác di sản lý luận của C Mác nói về quá trình tổ chức sản xuất và tái sản xuất tư bản chủ nghĩa với tính cách là một nền sản xuất lớn gắn với quá trình xã hội hóa sản xuất ngày càng cao nhằm tạo ra khối lượng giá trị thặng dư ngày càng lớn Khi phân tích giá trị thặng dư tương đối, Mác đã trình bày rõ các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản trong công nghiệp với các đặc điểm, ưu thế và vị trí lịch sử của từng giai đọan Việc nghiên cứu các giai đoạn đó giúp chúng ta nhiều bài học bổ ích trong quá trình tổ chức sản xuất ở một đất nước mà sản xuất nhỏ còn phổ biến Trong điều kiện hiện nay ở nước ta phải coi trọng phân công lao động, phân công phải thích ứng với kỹ thuật mới phù hợp với từng đơn vị, từng ngành và toàn xã hội, mở rộng hợp tác phân công lao động quốc tế Phân công lao động phải đảm bảo thúc đẩy và tạo điều kiện cho sự phát triển hợp lý của các ngành, nghề trong xã hội, đảm bảo chuyên môn hóa và năng suất lao động cao trong từng đơn vị nhằm thúc đẩy nhanh quá trình xã hội hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa từ một nền sản xuất nhỏ trở thành nền sản xuất lớn hiện đại
Bốn là, thu hồi giá trị thặng dư và định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện cho phép bóc lột giá trị thặng dư Điều này đã được V.I.Lênin trình bày qua lý luận và kinh nghiệm chỉ đạo thực tiễn ở nước Nga Xô Viết
3 Biện pháp của Nhà nước trong việc gia tăng giá trị thặng dư:
Trang 10Thứ nhất, làm cho kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo và cùng với kinh tế tập thể trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân
Thứ hai, khuyến khích và tạo điều kiện để các thành phần kinh tế khai thác tối đa các nguồn lực để nâng cao hiệu quả kinh tế và xã hội, cải thiện và nâng cao đời sống cho nhân dân
Thứ ba, thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu
Thứ tư, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tăng cường hiệu lực quản lý vĩ mô của Nhà nước; phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của
cơ chế thị trường
Từ việc nghiên cứu học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác và vận dụng lý luận này trong việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam có thể rút ra một số kết luận sau đây:
Một là, học thuyết giá trị thặng dư - học thuyết về bản chất bóc lột và địa vị lịch sử của chủ nghĩa tư bản vẫn là cơ sở phương pháp luận để nhận thức đúng chủ nghĩa
tư bản hiện đại Học thuyết đó có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng trong quá trình xây dựng nền kinh tế trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam
Hai là, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nền kinh tế nước ta trong một chừng mực nào đó, quan hệ bóc lột chưa thể xóa bỏ ngay Chừng nào quan hệ bóc lột còn
có tác dụng giải phóng sức sản xuất và thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, thì chừng đó nước ta còn phải chấp nhận sự hiện diện của nó
Ba là, đường lối chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước phải được thể chế hóa thành luật để đảm bảo cho nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển, góp phần xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Bốn là, phát triển kinh tế thị trường nhưng phải bảo vệ được quyền lợi chính đáng của cả người lao động và các chủ doanh nghiệp bằng luật và bằng chế tài cụ thể phù hợp với từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế
Trang 118 | P a g e
KẾT LUẬN
Vậy nên trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, định hướng XHCN ở nước ta hiện nay, các doanh nghiệp không hoàn toàn giống kinh tế tư bản tư nhân dưới chế độ TBCN và cũng không hoàn toàn chịu sự ảnh hưởng của quy luật giá trị thặng dư Chính vì thế, việc thừa nhận sự tiến bộ, hợp pháp của kinh tế tư nhân và khuyến khích nó phát triển là tạo điều kiện phát triển sản xuất để khuyến khích sự phát triển của xã hội, chứ không phải là khuyến khích sự bóc lôt Đó là sự vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lenin trong điều kiện nước ta hiện nay Sự khẳng định này đã góp phần xóa bỏ mặc cảm và tháo gỡ những rào cản cho kinh tế tư nhân phát triển, đồng thời thực hiện quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở nước ta Dù kinh tế tư nhân có sự đóng góp quan trọng nhưng nó cũng phải chấp hành nghiêm luật phát, thực hiện đúng chính sách của Nhà nước, tôn trọng nhân phẩm của người lao động và tích cực tham gia các hoạt động nhân đạo từ thiện Tất cả đều nhằm mục đích phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam