Một trong số đó là: Culex quiquefasciatus Say, 1823 là vector chính truyền bệnh giun chỉ Aedes aegypti Linnaeus, 1762 là vector chính truyền bệnh SD/SXHD Theo khuyến cáo của Tổ chức Y t
Trang 1- & š
› -§Ò tµi :
Nghiªn cøu chÕ phÈm chiÕt xuÊt tõ c©y Neem
(Azadirachta indica) phßng trõ bä gËy 2 loµi muçi
truyÒn bÖnh cho ngêi kh¸ng ho¸ chÊt diÖt
t¹i Hµ Néi
Gi¸o viªn híng dÉn : TS Ph¹m ThÞ KhoaSinh viªn thùc hiÖn : Vò ThÞ H¶i GiangKho¸ : 2006 - 2010
hµ néi - 2010
Trang 2Lêi C¶m ¥n Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến ban giám hiệu Viện Đại Học Mở
Hà Nội cùng quý thầy cô trong Khoa Công Nghệ Sinh học đã tận tình dạy dỗ
và tạo mọi điều kiện học tập tốt nhất cho tôi trong suốt bốn năm học vừa qua
Để hoàn thành khóa luận này, trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS.Phạm Thị Khoa - Trưởng Khoa Hóa Thực Nghiệm, Viện Sốt rét -
Ký sinh trùng - Côn trùng Trung Ương người đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này
Xin chân thành cảm ơn PGS.TS Lê Mai Hương, Viện hóa học các hợp chất thiên nhiên, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam cùng các bạn sinh viên trong nhóm thực tập đã góp ý và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân và bạn bè đã luôn ở bên cạnh chia sẻ, động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình
Hà Nội , ngày 18 tháng 05 năm 2010 Sinh viên
Vũ Thị Hải Giang
Trang 3MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ……… 1
CHƯƠNG 1: tæng quan tµi liÖu 1.1 TỔNG QUAN VỀ LOÀI MUỖI 1.1.1 Đặc tính chung của muỗi ……… 3
1.1.2 Vòng đời của muỗi ………. 4
1.1.2.1 Trứng ……… 4
1.1.2.2 Bọ gậy ……… 5
1.1.2.3 Quăng ………. 5
1.1.2.4 Muỗi trưởng thành ……… 5
1.2 TỔNG QUAN VỀ VECTOR TRUYỀN BỆNH GIUN CHỈ CULEX QUINQUEFASCIATUS Say, 1823 1.2.1 Bệnh Giun chỉ ………. 6
1.2.2 Muỗi Culex quinquefasciatus Say, 1823 ……… 7
1.3 TỔNG QUAN VỀ VECTOR TRUYỀN BỆNH SD/SXHD ADES AEGYPTI Linnaeus, 1757 1.3.1 Bệnh sốt Dengue, sốt xuất huyết Dengue 9
1.3.2 Aedes aegypti Linnaeus,1757 vector chính truyền SD/SXHD… 11 truyền 1.4 CÁC BIỆN PHÁP DIỆT MUỖI VÀ BỌ GẬY 1.4.1 Biện pháp hóa học ……… 12
1.4.1.1 Các hóa chất đã và đang sử dụng……… 13
1.4.1.2 Tính kháng hóa chất ……… 13
1.4.2 Biện pháp sinh học ……… 15
1.4.2.1 Phương pháp dùng cá ăn bọ gậy ……… 16
1.4.2.2 Phương pháp dùng vi khuẩn diệt bọ gậy ……… 17
1.4.2.3 Phương pháp dùng nấm diệt bọ gậy ………. 18
Trang 41.4.2.4 Phương pháp dùng giun kí sinh diệt bọ gậy ……… 19
1.4.2.5 Phương pháp sử dụng từ cây cỏ ……… 19
1.4.3 Biện pháp dùng tinh dầu cây Neem 1.4.3.1 Cây Neem ……… 21
1.4.3.2 Hoạt chất Azadirachtin ……… 24
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu ……… 26
2.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu……… ……… 26
2.3 Phương pháp nghiên cứu 27
2.3.1 Phương pháp thu thập bọ gậy……… 27
2.3.2 Phương pháp thử nhạy cảm theo WHO/CDS/CPC/MAL/98.12 27 2.2.3 Diệt bọ gậy bằng chế phẩm Neem (Azadirachta indica) …… 30
Ch¬ng 3: KÕt qu¶ vµ th¶o luËn 3.1 Kết quả nghiên cứu với loài muỗi Culex quinquefasciatus ………… 31
3.1.1 Kết quả định loại đặc điểm hình thái 31
3.1.2 Kết quả thử nhạy cảm của muỗi Culex quinquefasciatus ……… 32
3.1.3 Kết quả diệt bọ gậy Culex quinquefasciatus bằng dầu Neem 35
3.2 Kết quả nghiên cứu với loài muỗi Aedes aegypti 38
3.2.1 Kết quả định loại đặc điểm hình thái 38
3.2.2 Kết quả thử nhạy cảm của muỗi Aedes aegypti ……… 39
3.2.3 Kết quả diệt bọ gậy Aedes aegypti bằng dầu Neem ……… 42
THẢO LUẬN
Trang 5ch¬ng 4: kÕt luËn vµ kiÕn nghÞ
1 Kết luận với Culex quinquefasciatus ……… 48
2 Kết luận với Aedes aegypti ……… 48
3 Kiến nghị ……… 49
Tài Liệu Tham Khảo ……… 50
Phụ lục
Trang 6C¸c tõ viÕt t¾t
AchE : Vị trí đích nhóm hóa chất phospho hữu cơ (Acetylcholinesterase)
Cs : Cộng sự
DDT : Dichloro - Dphenyl – Trichloroethane
NIMPE : Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung Ương
GABA : Gamma - Amino – Butyric – Acid
kdr : kháng ngã quỵ ( knock - down resistance )
PCR : Polymerase Chain Reaction
WHO : Tổ chức y tế thế giới (World Health Organization)
Trang 7MỞ ĐẦU
Muỗi là loài côn trùng nhỏ bé Chúng đã tồn tại trên hành tinh của chúng ta
cách đây hàng triệu năm, với khoảng 2700 loài, 35 giống gồm : Anopheles,
Aedes, Culex, Culiseta, Ochlerotatus, Psorophora, Haemagoggus, Sabethes, Wyeomyia v.v Tuy nhiên, chúng lại gây phiền hà và đem rất nhiều nguy hiểm
đến cho các loài động vật, thậm chí là con người
Ngoài việc hút máu người, muỗi còn đóng vai trò là vector truyền bệnh sốt rét, sốt Dengue-sốt xuất huyết Dengue (SD/SXHD), bệnh giun chỉ v.v
Hàng loạt các công trình nghiên cứu về phân bố, phân loại, sinh học v.v đặc biệt là biện pháp phòng chống các loài muỗi - vector truyền bệnh nguy hiểm này đã được công bố trên thế giới
Theo thông báo của Tổ chức y tế thế giới (WHO,2006) có hơn 500 loài chân đốt có ý nghĩa y học trên toàn thế giới kháng hóa chất thì có tới 50% là muỗi truyền bệnh Một trong số đó là:
Culex quiquefasciatus Say, 1823 là vector chính truyền bệnh giun chỉ
Aedes aegypti Linnaeus, 1762 là vector chính truyền bệnh SD/SXHD
Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cần phải xác định độ nhạy cảm với hóa chất diệt và theo dõi định kỳ mức độ nhạy cảm này để đảm bảo đưa ra những quyết định đúng đắn và kịp thời sử dụng các hóa chất diệt muỗi khác thay thế, thay đổi chiến lược phòng chống, đồng thời cần phải tìm ra các chế phẩm mới có khả năng diệt muỗi và bọ gậy, thân thiện với môi trường [17]
Chúng tôi tiến hành đề tài :
Nghiên cứu chế phẩm chiết xuất từ cây Neem (Azadirachta indica) diệt
bọ gậy 2 loài muỗi truyền bệnh cho người kháng hóa chất diệt tại Hà Nội
Với mục tiêu :
- Bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học
Trang 8- Xác định độ nhạy cảm của muỗi truyền bệnh giun chỉ Culex quinquefasciatus, muỗi truyền bệnh SD/SXHD Aedes aegypti tại Hà Nội với một số hóa chất diệt
muỗi bằng kỹ thuật chuẩn của WHO
- Xác định khả năng diệt bọ gậy 2 loài muỗi truyền bệnh cho người Culex
quinquefasciatus, Aedes aegypti kháng hóa chất diệt tại Hà Nội bằng chế phẩm
chiết xuất từ cây neem (Azadirachta indica).
Trang 9CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 TỔNG QUAN VỀ LOÀI MUỖI
1.1.1 Đặc tính chung của muỗi
Muỗi có một đôi cánh vảy, một đôi chùy nhỏ, thân mỏng, các chân dài Muỗi có kích thước thay đổi theo loài, nhưng ít khi lớn hơn 15mm Đa số có trọng lượng khoảng từ 2-2,5mg Chúng có thể bay với tốc độ 1,5-2,5 km/h
Bảng 1 : Vật chủ ưa thích hút máu của một số loài muỗi
Loài Vật chủ chính Vật chủ khác
Tập tính hút máu
- Aedes : hút máu ban ngày
- Anopheles / Culex : hút máu ban đêm
Con cái thường bị các vật chủ thu hút bởi : nhiệt độ cơ thể, mùi mồ hôi, mùi CO2, màu sắc (thích màu tối)
Trang 10· Anopheles - một số trú đậu trong nhà, trong rừng (An.minimus), trong
các khu bụi rậm, ngoài rừng sâu, bìa rừng (An.dirus).
1.1.2 Vòng đời của muỗi (Hình 1)
Muỗi có bốn giai đoạn phát triển trong vòng đời của chúng bao gồm: trứng,
bọ gậy, quăng và muỗi trưởng thành
Hình 1 : Vòng đời của muỗi
(Theo Florida Medical Entomology Laboratory, University of Florida)
1.1.2.1 Trứng
Muỗi cái đẻ trứng chủ yếu ở các đầm lầy, ao hồ hoặc các vùng nước đọng Trứng có màu tối và sẽ trở nên màu đen khoảng 1-2 giờ sau khi được đẻ ra
Trứng muỗi đẻ nổi trên mặt nước Trứng muỗi Culex được gắn với nhau
thành một bè Trứng muỗi Anopheles và Aedes không gắn với nhau mà là tách rời Anopheles đẻ trứng trên mặt nước và nổi lên như nhờ những chiếc phao Aedes đẻ trứng riêng rẽ nhau vào mép nước hoặc những nơi ẩm
ướt, trứng có hình xì gà không có phao
Trang 11Tuỳ theo từng loài muỗi, muỗi cái có thể đẻ từ 30 đến 300 trứng mỗi lần Ở vùng có khí hậu nhiệt đới, trứng thường nở từ sau 2 đến 3 ngày.
Bọ gậy ăn tảo, vi khuẩn và các vi sinh vật ở trong nước Phần lớn bọ gậy đều có ống thở nằm ở phần đốt cuối của bụng, qua đó không khí được đưa vào
cơ thể Chúng thường bơi lên mặt nước để thở rồi lại lặn sâu xuống dưới đáy nước một thời gian để lấy thức ăn hoặc để tránh nguy hiểm
Chu kỳ bọ gậy khoảng 4 đến 7 ngày hoặc dài hơn nếu thiếu thức ăn hay điều kiện không thích hợp Sau đó bọ gậy phát triển chuyển thành quăng có hình dấu phẩy (Nguyễn Võ Hinh, Trung tâm PCSR-KST-CT Thừa Thiên Huế, 2008)
1.1.2.3 Quăng
Sau khi bọ gậy phát triển thành quăng, quăng không ăn và hầu như chỉ ở trên mặt nước Nếu mặt nước bị khuấy động, nó lặn nhanh xuống đáy nước Khi quăng phát triển đến một độ lớn nhất dịnh, chúng sẽ lột xác thành muỗi trưởng thành bay lên khỏi mặt nước (Nguyễn Võ Hinh, Trung tâm PCSR-KST-CT Thừa Thiên Huế, 2008)
1.1.2.4 Muỗi trưởng thành
Muỗi trưởng thành có thể bay xa vài km, chúng có thể di chuyển đi xa hơn bằng cách đậu trên tàu bè, xe cộ, thậm chí máy bay
Trang 12Nhiệt độ cho muỗi sinh trưởng và phát triển tốt nhất là vào khoảng 20-260C,
vì vậy chúng thường xuất hiện và phát triển mạnh ở các nước nhiệt đới trong đó
có Việt Nam
Muỗi cái thường chỉ giao phối một lần nhưng có thể đẻ trứng suốt đời theo từng đợt Để thực hiện được việc đẻ trứng, phần lớn muỗi cái cần phải hút máu người hoặc động vật Muỗi cái có vòi đặc biệt có thể xuyên thủng da người và động vật để hút máu tạo nguồn protein sản sinh ra trứng (bọ gậy muỗi thuộc
giống Toxohrynchites không hút máu mà ăn thịt bọ gậy các muỗi khác) Muỗi
đực không hút máu như muỗi cái, chúng chỉ hút các loại nhựa cây để tự nuôi dưỡng Sau khi hút no máu, muỗi cái tìm nơi trú đậu kín đáo, an toàn để tiêu máu và phát triển trứng Ở vùng có khí hậu nhiệt đới, thời gian này cần khoảng
từ 2 đến 3 ngày, còn ở vùng có khí hậu ôn hoà thì thời gian này sẽ lâu hơn Muỗi cái khi đã mang trứng, chúng bay đi tìm các nơi thích hợp để sinh đẻ Sau
đó lại tiếp tục tìm mồi để hút máu và đẻ một lứa trứng khác Chu trình này cứ lặp đi lặp lại cho tới khi muỗi chết Tùy vào điều kiện nhiệt độ môi trường, nguồn thức ăn, vòng đời của muỗi từ khi là trứng cho đến khi trưởng thành có thể kéo dài từ 4 ngày cho đến một tháng
1.2 TỔNG QUAN VỀ VECTOR TRUYỀN BỆNH GIUN CHỈ
CULEX QUINQUEFASCIATUS Say, 1823
1.2.1 Bệnh Giun chỉ
Bệnh giun chỉ bạch huyết do ba loài ký sinh trùng Wuchereria bancrofti,
Brugia malayi hoặc Brugia timori có hình dáng giống sợi chỉ gây ra trong
mạch bạch huyết Bệnh có thể dẫn đến phù lớn các chi và các phần khác của cơ thể Mặc dù bệnh này gây ra nhiều thương tật nhưng ít khi đe dọa tính mạng của người bệnh
Trang 13 Bệnh giun chỉ Bancrofti, do loài giun chỉ Wuchereria bancrofti gây nên Bệnh này do muỗi Culex quinquefasciatus (vector chính), một vài loài muỗi
Anopheles và Aedes truyền
Bệnh giun chỉ Brugia , do loài giun chỉ Brugia malayi và Brugia timori
gây nên [18]
Giun chỉ trưởng thành sống trong các mạch bạch huyết của cơ thể, sinh ra
ấu trùng Những ấu trùng này di chuyển trong mạch máu và được muỗi hút khi đốt người bệnh Sau khi phát triển trong cơ thể muỗi nhiều ngày, ấu trùng đi qua da khi muỗi đốt người, di chuyển đến các hạch bạch huyết và phát triển thành giun chỉ trưởng thành ở các mạch bạch huyết Khả năng bị mắc bệnh do một lần bị muỗi đốt là rất thấp Giun chỉ trưởng thành có thể sống nhiều năm, sinh ra một số lượng lớn ấu trùng trong máu [18]
Bệnh rất phổ biến ở các quốc gia nhiệt đới và cận nhiệt đới, trên thế giới có khoảng 120 triệu người ở 73 quốc gia nhiễm bệnh và 1,1 tỷ người ( khoảng 20% dân số thế giới) sống trong vùng có bệnh lưu hành
Tại Việt Nam, theo số liệu điều tra trước năm 2000, bệnh giun chỉ phân bố chủ yếu ở các vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng như tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định với tỷ lệ nhiễm chung là 2,01% Kết quả điều tra năm 2000-2005 trên toàn quốc cho biết bệnh giun chỉ bạch huyết phân
bố tại ít nhất 12 huyện thuộc 7 tỉnh Hà Nam, Hưng Yên, Thái Bình, Hòa Bình, Quảng Bình, Khánh Hòa, Ninh Thuận với tỷ lệ nhiễm từ 0.3%-13% và bệnh có tính chất khu trú rõ rệt (Đặng Thị Cẩm Thạch và cs., 2007) Trong những năm qua, bệnh giảm do công tác điều trị toàn dân tại các huyện trọng điểm có bệnh giun chỉ bạch huyết Ngoài ra, tại một số tỉnh đồng bằng miền bắc, tỷ lệ nhiễm giun chỉ giảm nhiều có thể do điều kiện kinh tế được nâng cao và điều kiện vệ sinh môi trường được cải thiện và có sự thay đổi về nhận thức và một số tập quán sinh hoạt Bệnh thường xảy ra ở người trong độ tuổi lao động 20-50 tuổi.Một số loài muỗi có khả năng truyền bệnh giun chỉ bạch huyết như :
Cx.quinquefasciatus, Cx.pipens, An.sinensis v.v.
Trang 141.2.2 Muỗi Culex quinquefasciatus Say, 1823
Khoảng 550 loài Culex đã được mô tả, đa số chúng sống ở các vùng nhiệt
đới và cận nhiệt đới Muỗi đẻ trứng từng bè 100 trứng hoặc hơn trên mặt nước
Bè trứng nổi cho tới khi nở khoảng 2-3 ngày sau Loài Culex đẻ ở những nơi
chứa nước lặng, từ những nơi chứa nước nhân tạo, cống rãnh tới các thảm nước rộng lớn [18]
Ngoài việc gây phiền hà cho con người như muỗi sinh sôi, nẩy nở với một
số lượng lớn, tiếp xúc và đốt máu gây ngứa, viêm và sưng tấy ở chỗ vết đốt; nó còn truyền cho người một số loại bệnh nguy hiểm như: giun chỉ (filariasis), viêm não Nhật Bản (Japanese encephalitis), virus sông Nile (West Nile virus), St.Louis encephalitis, bệnh sốt rét gia cầm
Muỗi Culex có thể hút máu động vật, người và chim Chính vì thế những bệnh do Culex truyền thường khó dập vì cộng đồng vật bị muỗi hút máu trở
thành nguồn chứa mầm bệnh và có sự di chuyển rộng, dẫn đến lan truyền bệnh
ở một vùng rộng lớn
Hình 2 :Muỗi Culex quinquefasciatus (Theo: Medical Entomology, ICPMR)
Muỗi Culex quinquefasciatus được Say mô tả năm 1823, là vector chính truyền bệnh giun chỉ Wuchereria bancrofti trên toàn cầu [11,29], phân bố rộng ở
cả 3 vùng cảnh quan rừng núi, trung du, đồng bằng nước ta Số lượng tăng dần
từ nông thôn đến thành thị do bọ gậy của muỗi này rất thích hợp với các loại
Trang 15cống rãnh chứa nước thải Loài muỗi này được liệt vào danh sách loài muỗi “đa kháng” (WHO,2006) Muỗi này phát triển quanh năm, nhưng phát triển mạnh vào mùa khô (từ tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau).
Cx.quinquefasciatus là loài ưa sống gần người Muỗi cái đốt người và gia súc
suốt đêm, cả trong nhà, ngoài nhà Ban ngày, muỗi không hoạt động, thường tìm nghỉ ở các góc tối trong phòng, chỗ kín, vòm cống rãnh Chúng cũng đậu ngoài
nhà trên cây cỏ hoặc các hốc cây trong rừng Cx.quinquefasciatus đặc biệt thích đẻ
ở nơi nước bẩn chứa nhiều chất hữu cơ như chất thải, phân, cây mục Ví dụ về những nơi này có thể kể đến các hố xí, cống tắc nghẽn, mương, máng, giếng bỏ hoang [18]
1.3 TỔNG QUAN VỀ VECTOR TRUYỀN BỆNH SD/SXHD
ADES AEGYPTI Linnaeus, 1757
1.3.1 Bệnh sốt Dengue, sốt xuất huyết Dengue
Sốt Dengue,sốt xuất huyết Dengue (SD/SXHD) là một bệnh nhiễm virus cấp tính xảy ra phổ biến ở Đông Nam Á và gần đây cũng thấy ở Nam Mỹ và Nam Thái Bình Dương SD/SXHD được truyền từ người bệnh sang người lành chủ
yếu do muỗi Aedes aegypti (vector chính), và Aedes albopictus (vector phụ) [3].
Bệnh do 4 týp virus rất giống nhau thuộc họ Flaviviridae gây ra và được gọi là Dengue các týp 1, 2, 3, 4 Cả 4 týp này đều có khả năng gây bệnh SD/SXHD.Theo giáo sư Bùi Đại (1999)[3], virus Dengue gây bệnh SD/SXHD thuộc nhóm Flavivirut (họ Flaviviridae), genom có 3 protein có cấu trúc (protein lõi, protein màng, protein vỏ) và 7 gen protein không cấu trúc
Ở người, mỗi týp Dengue đều có thể gây bệnh Nhiễm một týp thì sẽ miễn dịch lâu bền hơn với týp đó Tuy 4 týp đều rất gần nhau về phương diện kháng nguyên nhưng cũng đủ khác nhau để chỉ có một phần miễn dịch chéo Kháng nguyên đối với 1 týp Dengue có phản ứng với những týp Dengue khác nhưng không trung hòa được chúng, vì thế, sau khi bị nhiễm virus Dengue lần đầu bởi
Trang 16một týp, sau một thời gian ngắn người ta vẫn có thể mắc bệnh nếu bị tái nhiễm virus bởi một týp khác, thậm chí bệnh nặng hơn.
Hình 3 : Cấu trúc virus Dengue (Theo : Richard Kuhn, Wei Zhang, Michael G Rossmann) (Theo :
Virus chỉ có trong máu người bệnh khi sốt, bệnh nhân SD/SXHD thường sớm có kháng thể nên virus dễ bị trung hòa bởi huyết thanh sau khi hết sốt 1 đến 2 ngày, vì vậy virus Dengue khó phân lập, bệnh rất khó chẩn đoán ở giai đoạn đầu
Người bệnh là nguồn mang virus Dengue, nhất là những người mắc thể nhẹ vẫn đi lại được Virus có thể theo muỗi được phát tán từ thành phố này sang thành phố khác, từ khu phố nọ sang khu phố kia… chủ yếu do sự giao lưu của người nhiễm virus, đặc biệt là trẻ em Người bệnh mang virus Dengue từ trước khi phát bệnh một ngày cho tới 4 – 7 ngày sau khi phát bệnh Đối tượng mắc
Trang 17SD/SXHD chủ yếu là trẻ em, nhưng toàn bộ cộng đồng dân cư đều có khả năng mắc bệnh.
Từ ca SD/SXHD đầu tiên được xác định vào năm 1953 ở Philippin, đến nay, SD/SXHD đã xuất hiện ở Châu Phi, Châu Mỹ, miền Đông Địa Trung Hải, Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương
Ở Việt Nam, theo nghiên cứu của WHO từ năm 1997 đến năm 2006 mỗinăm bình quân có 73.937 người sốt xuất huyết, 119 người chết trong đó chỉ 20tỉnh thành phố phía Nam chiếm 68% số người mắc và 89% số người chết Tínhđến thời điểm tháng 09/2009 theo thống kê của Cục y tế dự phòng và Môitrường (Bộ Y tế) cả nước ghi nhận 60.207 trường hợp mắc SD/SXHD, 44trường hợp tử vong So với cùng kỳ năm ngoài, số mắc tăng 12,1%, tử vonggiảm 2 trường hợp Nơi ghi nhận dịch SD/SXHD bùng phát mạnh mẽ và bấtthường nhất là Hà Nội Dịch đã xuất hiện ở 29/29 quận huyện Tính đến20/09/2009, toàn thành phố đã có hơn 6.000 người mắc sốt xuất huyết, chủ yếu tập trung ở những nơi có tốc độ đô thị hóa mạnh mẽ như Từ Liêm, Thanh Trì
So với cùng kỳ năm 2008, số ca bệnh sốt xuất huyết tăng gấp 15 lần Cả năm
2008, thành phố Hà Nội chỉ ghi nhận hơn 400 ca Riêng tháng 08/2009 đã có tới 2.700 người mắc SD/SXHD Trong khi đó tháng 08/2008 chỉ có 100 bệnhnhân Như vậy, ở thời kỳ đỉnh dịch, số ca sốt xuất huyết năm 2009 của Hà Nộităng gấp 27 lần Thông thường đỉnh dịch sốt xuất huyết tại Hà Nội thường diễn
ra vào tháng 10, 11 hàng năm
1.2.2 Aedes aegypti Linnaeus,1757 vector chính truyền SD/SXHD truyền
Muỗi Aedes có mặt khắp nơi trên thế giới và có khoảng trên 950 loài
Loài này gây ra mối phiền hà lớn cho việc hút máu người và súc vật, cả ở vùng nhiệt đới và nơi có khí hậu mát mẻ hơn Ở những nước nhiệt đới như
Việt Nam, Thái Lan, Brazil…, muỗi Aedes aegypti là vật truyền bệnh
SD/SXHD, bệnh sốt vàng và các bệnh virus khác [18]
Trang 18Aedes aegypti được Linnaeus mô tả năm 1757, là vector chính truyền bệnh
SD/SXHD có nguồn gốc từ châu Phi Ngày nay có hai loài Aedes aegypti là
Aedes aegypti queenslandensis, một dạng hoang dại ở Châu Phi không phải là
vector truyền bệnh chính và Aedes aegypti formosus là vector truyền bệnh
chính Loài này đẻ trứng rời từng chiếc trên những diện tích ẩm ướt, ngay trên thành hoặc gần sát với mặt nước, trong những dụng cụ chứa nước sạch Trứng
muỗi Aedes aegypti chịu được độ khô trong nhiều tháng và chỉ nở khi bị ngập nước [18] Khả năng chịu hạn lâu dài này của trứng muỗi Aedes aegypti chính
là một yếu tố gây khó khăn trong việc diệt loài muỗi này
Hình 4 : Muỗi Aedes aegypti (James Gathany/CDC )
Ở Việt Nam, Ae.aegypti phân bố chủ yếu ở các thành phố, các đồng bằng
ven biển, các làng mạc gần đường giao thông Đó là những nơi có dân cư đông đúc, có nhiều dụng cụ chứa nước (chum vại chứa nước, ống máng v.v ) Hiện nay, nền kinh tế và việc đô thị hóa phát triển nhanh chóng nhưng không đồng
bộ, sự thờ ơ của một số người dân với giáo dục sức khỏe cộng đồng là những
nguyên nhân làm cho vùng phân bố của Ae.aegypti ngày càng mở rộng Muỗi
Ae.aegypti sống trong nhà gần người, thường trú đậu nơi có ánh sáng yếu và có
độ cao từ 2m trở xuống Muỗi thường hoạt động mạnh vào lúc sáng sớm và
Trang 19buổi chiều, đầu giờ tối Muỗi phát triển quanh năm nhưng phát triển mạnh vào mùa mưa Muỗi đẻ trứng ở nơi nước sạch chứa trong lu vại, bể, chai lọ, dụng
cụ chứa nước v.v (Đỗ Công Tấn, IMPE Quy Nhơn)
1.4 CÁC BIỆN PHÁP DIỆT MUỖI VÀ BỌ GẬY
Căn cứ vào vòng đời sinh trưởng của muỗi, các biện pháp can thiệp thường tác động vào giai đoạn bọ gậy muỗi và giai đoạn muỗi trưởng thành Các biện pháp can thiệp không tác động vào giai đoạn trứng và giai đoạn quăng vì thời
gian để trứng nở thành bọ gậy quá ngắn (thường từ 2- 3 ngày), thời gian để quăng lột xác thành muỗi trưởng thành cũng không dài (thường từ 1- 3 ngày)
Do đó bọ gậy và muỗi trưởng thành là hai đối tượng thích hợp được chọn lựa
để tác động biện pháp can thiệp nhằm hạ thấp tỷ lệ và mật độ hoạt động của chúng, góp phần làm hạn chế sự phát triển để thực hiện vai trò vector truyền bệnh
1.4.1 Biện pháp hóa học
1.4.1.1 Các hóa chất đã và đang sử dụng
Theo WHO,2006; Jan A.Rozendall (1998), các hóa chất diệt muỗi gồm 4 nhóm chính [18,21]
- Nhóm Chlo hữu cơ : DDT, Lindane …
- Nhóm Phospho hữu cơ: malathion, fenithrothion, chlopyrifos-methyl, pirimiphos –methyl …
- Nhóm Carbamat: propoxur, bendiocarb …
- Nhóm Pyrethroid: permethrin, cypermethrin, lambda-cyhalothrin, alpha-cypermethrin, deltamethrin, entofenprox …
Việc ra đời 4 nhóm hóa chất diệt kể trên đã đem lại cho nhân loại thành quả lớn lao trong y học và nông nghiệp Bệnh do muỗi truyền hiện đang là hiểm họa cho loài người, đặc biệt là các nước đang phát triển Sử dụng hóa chất diệt muỗi vẫn là biện pháp hữu hiệu nhất để dập và khống chế dịch bệnh [10]
Trang 201.4.1.2 Tính kháng hóa chất
Côn trùng với vòng đời tương đối ngắn, bộ nhiễm sắc thể khá ít (muỗi 2n = 6) tuy nhiên chúng lại rất nhanh chóng phát triển tính kháng hóa chất diệt - một thách thức đối với nhân loại Thừa nhận khả năng di truyền sự kháng ở côn trùng truyền bênh sốt rét, sốt xuất huyết, giun chỉ là chướng ngại nghiêm trọng đối với sự phát triển kinh tế của nhiều nước vùng nhiệt đới Quá trình chọn lọc
tự nhiên đã diễn ra một cách nhanh chóng Các cá thể có đột biến kháng hóa chất đã được tự nhiên chọn lọc và bảo tồn tạo ra những chủng trơ với hóa chất diệt Các nghiên cứu đã tìm ra 2 cơ chế kháng chủ yếu ở côn trùng nói chung
và ở muỗi nói riêng : Kháng trao đổi chất và kháng đột biến gen
1 Kháng cơ chế trao đổi chất liên quan đến tăng các enzyme giải độc : Esterases, Mono oxygenases, Glutethione S-transferases
2 Kháng do đột biến (những đột biến ở nhưng gen quy định Protein ở vị trí đích)
a Đột biến ở thụ thể GABA vị trí đích của hóa chất thuộc nhóm vị trí đích của hóa chất thuộc nhóm Carbamat
và Phospho hữu cơ
b Những đột biến ở cổng điện thế của kênh vận chuyển ion Na+ kdr vị trí đích của DDT và hóa chất thuộc nhóm pyrethroid
Kháng với 1 loại hóa chất diệt côn trùng thì muỗi có thể kháng với vài loại hóachất diệt tương tự trong cùng một nhóm hay kháng chéo với các hóa chất khácnhóm nhưng có cùng cơ chế tác động Các nhóm kháng với DDT rất nhanhkháng với
kháng với pyrethroid Nhóm kháng phospho hữu cơ thì rất nhanh kháng với carbamat [10, 21]
Những nghiên cứu trên muỗi An albimanus từ trung tâm nước Mỹ đã chỉ ra một AChE đã được thay đổi là cơ chế kháng nhãm phosphor hữu cơ và nhómcarbamat chung nhất, điều này cũng đúng với loài muỗi tương tự ở những quần thể Mexico
AChE không nhạy gặp ở Culex pipiens pipiens, C p quinquefasciatus, và C tritaeniorhynchus, An nigerimus, An atroparvus và An sacharovi [10, 21]
Trang 21Việc sử dụng rộng rãi hóa chất diệt thuộc nhóm pyrethroid ở những nước đãtừng dùng DDT đã dẫn đến sự phát triển của khả năng kháng hạ gục (kdr) ở nhiều loài côn trùng bao gồm Anopheles và Aedes.[21]
Muỗi An.gambiae ở Châu Phi đã có đột biến kháng đột qụy (kdr) Qua nghiên cứu người ta thấy thay thế Leucine bằng Phenilalanin ở vị trí S6 đầu kỵnước vùng II, hoặc thay thế Leucine bằng Histidine Các tác giả đã sử dụng kỹthuật PCR để phát hiện đột biến kháng hóa chất ở loài muỗi này ở Tây Phi Cácloài Culex trtaenyohynchus, Culex quinquefasciatus, Culex pipens … phát hiện đột biến kháng nhờ kỹ thuật PCR
Tính kháng hóa chất diệt côn trùng là một trong những bằng chứng tốt nhất
và nhanh nhất về những trường hợp tiến hóa thích nghi với những sự thay đổi của môi trường
Hiện nay một số loài muỗi đã kháng với nhiều loại hóa chất diệt Việc diệttrừ muỗi là không thể tận gốc Một con muỗi sau khi hút máu người có thể đẻ vài trăm trứng
Việt Nam từ năm 1960 đã phát hiện tính kháng hóa chất diệt của loài muỗitruyền giun chỉ Culex quinquefasciatus, loài muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết
Aedes aegypti Loài muỗi truyền bệnh sốt rét ven biển Nam bộ Anophel sundaicus (An.epiroticus), loài An.sinensis , An.vagus … Ở nước ta, việc phòng chống các loài muỗi truyền bệnh SD/SXHD, viêm não Nhật Bản, bệnh sốt rétđang ngày càng gặp phải khó khăn do muỗi kháng hóa chất diệt Phòng chốngdịch bằng biện pháp hóa học vẫn là chủ đạo, mặc dù từ năm 1960 người ta đã phát hiện ra muỗi Aedes aegypti là vecto chính truyền bệnh SD/SXHD đã kháng với DDT, kháng với nhóm pyrethroid và temephos còn nhạy với malathion (Vũ Đức Hương và cs 2003) [6]
1.4.2 Biện pháp sinh học
Biện pháp sinh học dựa trên cơ sở đấu tranh sinh học trong tự nhiên Biện pháp này được khởi xướng cách đây khoảng 70 năm với những thí nghiệm nhỏ
Trang 22lẻ Nhưng trong những năm gần đây, càng ngày nó càng được quan tâm đặc biệt, đẩy mạnh nghiên cứu do sự phát triển nhanh về tính kháng, mức kháng, vùng phân bố kháng của các vector và sự ô nhiễm môi trường trong quá trình
sử dụng các hóa chất diệt côn trùng
1.4.2.1
1.4.2.1 Phương pháp dùng cá ăn bọ gậy :
Người ta đã tìm được 15 loài cá ăn bọ gậy Song có hiệu quả nhất là: cá
Gambusia affinis có thể ăn 100 bọ gậy / ngày, mật độ 15 con / m2 đạt hiệu quả
phòng trừ tối đa Cá Poecilia reticulate ăn 110 bọ gậy / ngày, mật độ xấp xỉ 10
con / m2
Từ năm 1936, Toumanoff đã dùng 1 loại cá thuộc nhóm Guppi thả ở một số
nơi để thăm dò khả năng diệt bọ gậy Anopheles Nhưng công trình chưa đạt kết
quả nhiều Năm 1963, GS.Đặng Văn Ngữ, Đỗ Đức Tuy, Nguyễn Thị Huệ tiếp tục nghiên cứu các loài cá cảnh ăn bọ gậy ở Hà Nội, Hải Phòng với mục đích làm sạch môi trường, giảm mật độ muỗi cho các thành phố Đặc biệt từ 1970 đến nay chúng ta có nhiều công trình mở rộng nghiên cứu về cá diệt bọ gậy
Anopheles và Aedes trong cả nước [16].
a) Về khả năng ăn bọ gậy :
Đã tuyển chọn được một số loài cá có khả năng ăn bọ gậy rất tốt như cá
vàng đen, vàng đỏ (Carassius autatus), cá săn sắt (Macropodus opercularis) , cá
rô phi (Tilapia mossambica), cá chép lai Hung (Cyprinus caepio), cá bạc đầu (
Aplocheilus panchax), cá rô phi Đài Loan (Tilapia nilotica ) [16].
Tuy khả năng ăn bọ gậy tốt song số cá này có một số cá thể hiện những nhược điểm như sức chịu đựng với sự thay đổi của điều kiện môi trường kém hoặc khả năng sinh sản thấp, nước bơm làm tràn cá ra mất, cá chui vào ống nước chảy gây bẩn (người dân không chấp nhận) Đây là hạn chế trong ứng dụng thực địa
b) Ứng dụng thả cá trên một thực địa rộng chống vector Chúng ta đã tiến hành những nghiên cứu về cá diệt bọ gậy trên nhiều thực địa, trong đó có 2 điểm được theo dõi chặt chẽ, có kết quả nhất
Trang 23- Ở Hà Nội đã thả các loài cá vàng C.auratus, cá chép lai Hung C.carpio , cá sóc A.eatipes trong các chum, phi, bể vại chứa nước để diệt bọ gậy muỗi Aedes
từ tháng 4 đến tháng 11
- Ở Hải Phòng dùng cá rô phi T.mossambica thả trong các dụng cụ chứa nước
từ tháng 5 đến tháng 11 cũng nhằm diệt bọ gậy Aedes aegypti
Kết quả theo dõi đã cho thấy việc thả cá có tác dụng làm giảm mật độ muỗi
và bọ gậy
1.4.2.2
1.4.2.2 Phương pháp dùng vi khuẩn diệt bọ gậy :
Từ những năm 1960 trở lại đây, nhiều nước đã tập trung nghiên cứu phân
lập, xác định hoạt tính và tiến hành thử nghiệm vi khuẩn Bacillus chống các ấu
trùng côn trùng Người ta thấy có 2 loài có tác dụng nhất để diệt bọ gậy của
muỗi là Bacillus thuringiensis var israelensis và Bacillus sphaericus Đặc biệt
đã thu được nội độc tố của B.thuringiensis týp huyết thanh 14 có hoạt lực hơn
cả
Các loài này đã được sản xuất công nghiệp thành các chế phẩm dạng bột thấm nước, dạng lỏng, dạng hạt, viên nổi để phù hợp với sinh thái vector và nâng cao hiệu quả diệt
Các cuộc thử nghiệm về an toàn đã cho thấy chúng không gây ô nhiễm cấp tính hay tiềm tàng cho các động vật có vú và các động vật ở dưới nước Chúng chỉ có tác dụng diệt đối với bọ gậy của muỗi
Từ 1979 đến nay chúng ta đã nghiên cứu các chế phẩm Bactimos (Bỉ)
R-153-78 (Pháp), Bactoculicid và Bactolarvicid (Liên Xô cũ), Bacillus sphaericus
2362 ( Mỹ ) …
Qua các thí nghiệm có thể xác nhận các chế phẩm đều có hoạt tính diệt bọ
gậy cao đối với các loài : An.vagus , An.subpictus , Ae.aegypti, Ae.albopictus ,
C.quinquefasciatus Liều lượng diệt 50% và 95% bọ gậy đều rất nhỏ dưới
1mg/lít
Trang 24Để phục vụ cho việc phòng chống vector, các chế phẩm này đã được ứng dụng trên thực địa lớn như: Hà Nội, Thanh Hóa, Tp.Hồ Chí Minh …đều có kết quả khả quan
1.4.2.3
1.4.2.3 Phương pháp sử dụng nấm diệt bọ gậy :
Nấm được ưu tiên nghiên cứu rộng rãi sau các vi khuẩn Bacillus Người ta
đã phát hiện 5 giống nấm có tác dụng diệt bọ gậy và muỗi là : Coelomomyces
Kellen, Entomopbthore Fres, Beauveria Vuill, Metarrizium Sorok, Lagenidium Couch
- Coelomomyces thường nhiễm ở bọ gậy, song cũng có trường hợp chúng nhiễm ở muỗi trưởng thành Có tác dụng diệt bọ gậy An quadrimaculatus và
Ae.polymesiensis ở Nam Thái Bình Dương
- Entomopbthore là các nấm thường nhiễm ở muỗi Nấm này đã được thử nghiệm diệt muỗi Cx.pipens đạt tỷ lệ chết từ 85-90% ở Tiệp Khắc, 80% ở
Nertherlands ( Novak V., 1967; Teenstra Eiken và Engel , 1967 )
- Beauveria gồm 2 loài B.bassiana và B.densu Nấm B.bassiana chủ yếu diệt các loài bọ gậy An.albimanus, C.pipens, C.tarsalis (Jenkins D., 1964 ; Clark
T.B., 1968 ; Christopher S.R., 1952)
- Metarrizium: Các thử nghiệm với An.stephensi, An.quadrimaculatus,
Ae.aegypti, Ae.thaeniorynchus có thể đạt được tỷ lệ chết 90 % (Roberts D.,
1970)
- Lagenidium : bọ gậy rất dễ bị nhiễm nấm này trong điều kiện phòng thí
nghiệm Ở thực địa người ta đã tiến hành thả vào mương nước chảy với chỉ số
3 triệu đông bào từ / m3 nước có thể làm chết 100 % bọ gậy Cx.tarsalis (Mc
Gray., 1973)
Trong những năm gần đây ở Liên Xô đã sản xuất được chất
Phytobacteriomicin (PBM) lấy từ nấm Actinomyces levendulae Chất này có
hoạt tính cao đối với bọ gậy (Petrukhina A.G., 1973; Golberg A.M., 1975; Ganuskiana L.A., 1980 ) Với nồng độ từ 1-40µg/ml có thể diệt 100 % bọ gậy
An.stephensis, C.pipens molestus, Aedes aegypti
Trang 251.4.2.4
1.4.2.4 Phương pháp sử dụng giun ký sinh diệt bọ gậy :
Đây là các loài giun kí sinh thuộc họ Mermithidae Chúng có vật ký sinh bắt
buộc là bọ gậy và muỗi Phương pháp này đã được xác định là an toàn cho
người khi sử dụng Loài có triển vọng nhất là Romanomermis culicivorax
Những thực nghiệm ở thực địa chống An.albimanus ở El-salvador đã cho thấy
trong nước chảy tỷ lệ bọ gậy chết từ 40-50 %, trong nước lặng tỷ lệ bọ gậy chết
tới 95-98 % Thử nghiệm chống An.polynesiensis ở Nam Thái Bình Dương cho
tỷ lệ chết từ 3-30% Hiện nay ở Mỹ đã sản xuất dưới hình thức chế phẩm thương mại để bán Tuy nhiên chế phẩm này vẫn chưa ổn định hoạt lực khi vận chuyển và khi sử dụng cần phải xem ảnh hưởng của điều kiện môi trường có thuận lợi cho sự phát triển của giun hay không Ngoài ra còn một số loài giun
khác cũng đã và đang được xúc tiến nghiên cứu như Rousimersis nielseni (Pererson I.I., 1976), Culicimermis shekhorii (Rubsov I.A , 1979) …
1.4.2.5
1.4.2.5 Phương pháp sử dụng chất chiết xuất từ thảo mộc diệt bọ gậy :
Phương pháp này có thể tận dụng nguồn cây cỏ sẵn có trong tự nhiên ở mỗi địa phương và được trồng tại nhà để diệt muỗi và bọ gậy Chúng vừa dễ kiếm, vừa tiện dụng, lại có kết quả tốt
- Cúc áo hoa vàng ( Spilanthes acmella ), tên khác là nụ áo vàng Cao chiết
từ các cụm hoa tươi cây cúc áo hoa vàng có tác dụng diệt bọ gậy của muỗi
Anopheles dưới dạng nhũ dịch với xà phòng và hòa loãng với nước Hoạt
chất spilanthol chiết xuất từ hoa cúc áo phơi khô cũng có tác dụng diệt bọ
gậy muỗi Anopheles và Culicides, hiệu lực diệt bọ gậy muỗi Culex pipens ở
nồng độ pha loãng 1/30.000 Spilanthol diệt bọ gậy kém hơn DDT nhưng
nếu phối hợp 2 chất này thì tác dụng tốt hơn Hoa cúc áo giã nát, ngâm nước cho đặc cũng làm chết nhiều bọ gậy
- Cúc trừ trùng (Chrysanthemum cinerariae folium R.Vis), tên khác là cúc trừ
sâu Bột hoa cúc trừ trùng 30% trộn với bột thân và lá cùng cây 20%, bột và nhựa làm hương 50% làm thành những nén hương thắp Khi dùng đốt hương lấy khói để ở nơi có nhiều muỗi Bột hoa cúc trừ trùng 0,1-0,4% hòa
Trang 26vào dung dịch DDT 5% để phun làm cho tác dụng diệt muỗi của DDT mạnh hơn Bột hoa cúc trừ trùng mới chế biến có tác dụng mạnh hơn bột đã để lâu Nếu bảo quản ở nơi ẩm, không kín, trong bao tải, hộp giấy, bột này chóng mất tác dụng.
- Ngoài ra để xua đuổi muỗi, người ta dùng tinh dầu sả hoặc tinh dầu bạch đàn xanh pha loãng với nước để phun và trồng cây sả cây hương nhu trắng, cây mần tưới ở những chỗ ẩm ướt như quanh vườn, cạnh bể nước, gần nhà
vệ sinh Vỏ quả bưởi, lá náng hoa trắng, bèo cái, cây ngải hoa vàng hoặc thanh cao phơi khô đốt lấy khói hun cũng có tác dụng xua đuổi muỗi (TTƯT.DSCKII Đỗ Huy Bích)
Trên đây là những nét khái quát về các phương pháp sinh học đã được nhiều tác giả ở nhiều nước nghiên cứu và đã ứng dụng thực tế chống các vector truyền bệnh có kết quả Ngoài ra còn rất nhiều các phương pháp khác như sử dụng Hormon juvenil và các đồng chất của chúng, sử dụng nguyên sinh động vật, sử dụng virus, trồng các cây có hương vị xua muỗi như : cây sồi, ngũ da bì v.v
Nhìn chung biện pháp sinh học là một trong các biện pháp chống trung gian truyền bệnh có hiệu quả, mà hiệu quả của nó có tính bền vững Áp dụng biện pháp này không làm ô nhiễm môi trường và phát triển tính kháng của vector Tuy vậy để đảm bảo hiệu quả phòng chống vector tốt nhất vẫn là kết hợp biện pháp sinh học với các biện pháp phòng chống vector khác và ngay trong nội bộ biện pháp sinh học cũng nên phối hợp các phương pháp với nhau một cách hợp
lý nhất
1.4.3 Biện pháp dùng tinh dầu cây Neem
1.4.3.1 Cây Neem
Cây Neem còn có tên là Xoan chịu hạn, tên khoa học là Azadirachta indica
A.juss, có nguồn gốc từ Ấn Độ được du nhập vào Việt Nam từ khá lâu Neem được trồng tập trung ở Bình Thuận và Ninh Thuận Cây Neem thích nghi với
Trang 27vùng đất cát, khô hạn Neem là loại cây có thân gỗ lớn Cây mọc nhanh, ưa ánhsang, thân thẳng, tán lá dài rủ xuống, rễ ăn sâu xuống đất và phân bố rộng đểchống chịu với điều kiện khô hạn của môi trường
Tên tiếng Anh: Neem
Tên khoa học : Azadirachta indica A Juss
Hình 5 : Cây Neem ( Theo Peter Duce, Antigua Nice Ltd)
Neem là cây xanh quanh năm, tán lá rộng, cao trung bình 13-20 mét, cây trưởng thành cao đến 30 mét, đường kính 2,5 mét, nhánh cây to có thể vươn dài đến 10 mét Lá kép lông chim một lần, lá chét nhỏ khoảng 20-38 cm Hoa mọc thành từng chùm ở nách lá, hoa đề, nhỏ, lưỡng tính, màu trắng, cuống ngắn, hoa dạng mẫu năm, nhị dạng ống mang bao phấn ở bên trong chứa 2 lá noãn, bầu noãn thượng 3 ô đặt trên đĩa tuyến mật, hoa có mùi thơm giống mùi mật ong Quả trơn láng hình bầu dục dạng quả hạch dài khoảng 2cm khi chín màu vàng hoặc màu vàng xanh Hạt gồm vỏ và nhân , 1-3 nhân trong một hạt, quả phát triển 1-2 tháng là chín Cây neem bắt đầu ra quả sau 3-5 năm và năng suất cao ổn định sau 10 năm, tuổi thọ trung bình của cây có thể 200 năm
Trang 28Thu hoạch tốt nhất quả chín vàng nên hái trực tiếp từ cây vì hạt thường giảm chất lượng khi rụng xuống đất (Ở Ấn độ, cây ra hoa tháng 3-5, quả chín tháng 5-8, năng suất 5-10 tấn quả/ha với mật độ 100-200 cây/ha).
Cây neem là loại cây có tính đề kháng tốt, chống lại tất cả các bệnh sâu hại cây trồng Dựa vào đặc tính trên, trong khoảng 2 thập niên lại đây có nhiều nghiên cứu nhằm mang lại lợi ích trong việc xua đuổi và diệt trừ nhiều loại côn trùng sâu hại ngoài đồng ruộng và trong kho bảo quản nông sản Các nhà khoa học đã mô tả được trên 300 hợp chất tự nhiên có họat tính sinh học từ cây neem
trong đó có chất azadirachtin là hợp chất được nghiên cứu kỹ nhất, dịch chiết
từ Neem (lá, hoa, quả đặc biệt là hạt) được gọi là dầu Neem có tính mẫn cảm (sensitive) với trên 200 loại côn trùng gây hại khác nhau đặc biệt côn trùng hại kho lương thực ngoài ra còn ức chế sự phát triển một số vi sinh vật Nên Neem được coi là "cây giải quyết các vấn đề toàn cầu" - "A tree for solving global problems" (M Jacobson, 1992)
Xử lý sau thu họach: sản phẩm trích ly từ lá và hạt Neem gọi là dầu Neem Dầu Neem có vị đắng, cay nồng Thành phần chính dầu Neem là triterpenes, trong đó chiếm nhiều đặc biệt nhất là limonoids Trong nhóm limonoids có :
- azdirachtin
- salannin, meliantriol (3 deacetylsalannin và salannol)
- nimbin là sulfur tự do trung tính, tinh thể không màu, không tan trong
nước, nhiệt độ nóng chảy 205oC
- nimbidine màu vàng kem, dạng hạt, vô định hình
Ngoài ra còn thành phàn antihormones, paralyze và mới phát hiện ra
deacetylazadirachtinol Nhân Neem chiếm 25-28% so với quả khô và 45% so
với hạt khô Hàm lượng dầu trong hạt 40-45% Để thu được dầu Neem, sử dụng kỹ thuật tách chiết bằng dung môi theo qui trình công nghệ sau:
Trang 29Tách chiết bằng dung môi được dầu neem.
Để sản xuất 1 tấn dầu Neem/ngày cần 6 tấn quả (421 USD/tấn quả), dầu Neem được đóng thùng HDPE, ước giá bán dầu Neem trên 10 500 USD/tấn Dung môi có thể dùng để tách chiết gồm nước (sử dụng 10 lít nước cho 500 gam hạt), hexan, pentane, ethanol và methanol, trong đó sử dụng dung môi ethanol cho hiệu suất tách chiết các họat chất sinh học cao hơn 0,2-6,2% so với dung môi khác hoặc thậm chí cao gấp 50 lần so với nước, hỗn hợp tách chiết
với cồn có thể đạt 3 000-100 000 ppm azadirachtin (Feuerhake, 1984)
Hiện nay Phòng thí nghiệm Côn trùng sinh vật hại của Bộ môn Bảo quản Nông sản thực phẩm - Viện Cơ điện NN và Công nghệ sau thu họach đang có
kế họach tiến hành thí nghiệm về khả năng phòng diệt côn trùng hại kho thóc, ngô, đậu đỗ của dầu Neem
1.4.3.2 Hoạt chất Azadirachtin
Một trong những chất chính có tác động xua đuổi sâu bọ ở cây xoan chịu
hạn Ấn Độ (Azadirachtin indica A.juss) là azadirachtin Nó có tác động xua đuổi đối với gần 90% loại sâu hại Ngoài tác động xua đuổi, azadirachtin còn
Trang 30có tác dụng ức chế phát triển sinh sản Các nghiên cứu trong hơn 20 năm qua
cho thấy azadirachtin có tác động điều hòa sinh trưởng và gây ngán ăn
Azadirachtin có tác động gây ngán ăn lên nhiều côn trùng gây bệnh cũng như
một số loại tuyến trùng (Nguyễn Tiến Thắng và cs , 2003) [13]
Hình 6 : Cấu trúc phân tử của Azadirachtin
Nguồn : A Jennifer Mordue (Luntz); Alasdair J.Nisbet - Đại học Aberdeen, Vương quốc Anh.
Azadirachtin được cho là có cấu trúc tương tự với hoocmon sâu hại, kiểm
soát quá trình biến thái của côn trùng, từ giai đoạn ấu trùng đến nhộng và giai
đoạn trưởng thành Azadirachtin kiểm soát quá trình tiết hoocmon ở côn trùng,
nó ức chế một số loại hoocmon chính, ngăn cản sự rụng lông và làm thay đổi biến thái bình thường của côn trùng (Dennis Dearth IR ,1992) [22]
Azadirachtin tập trung nhiều nhất ở hạt Trung bình 1g nhân ( ở những cây
đã trên 5 năm tuổi ) chứa từ 2-4g azadirachtin Hàm lượng azadirachtin trong
nhân hạt xoan chịu hạn biến động tùy thuộc vào nguồn gốc, xuất xứ, điều kiện canh tác, khí hậu và thời điểm thu hoạch quả Thu hoạch quả xoan chịu hạn tốt nhất khi nó mới chuyển sang màu vàng hay vàng xanh, lúc này hàm lượng
azadirachtin cao nhất Nếu để quả chín rụng xuống đất mới thu hoạch thì hàm