1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro trong các ngân hàng thương mại việt nam

42 417 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro trong các ngân hàng thương mại Việt Nam
Tác giả Lê Đình Khanh, Võ Hoàng Diệu, Nguyễn Hữu Phước, Hoàng Thị Ánh Hồng, Phan Huỳnh Trường Sinh
Người hướng dẫn PGS.TS. Trần Huy Hoàng
Trường học Trường Đại Học Cần Thơ
Chuyên ngành Tài Chính Ngân Hàng
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2012
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 411,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên bên cạnh những chuyển biến vượt bậc đó thì vấn đề rủi ro trong hệ thống NHTM Việt Nam cũng đang diễn ra hết sức phức tạp, Ngân hàng dễ trở thành nạn nhân của nền kinh tế thị tr

Trang 1

1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH

NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG

CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: HỌC VIÊN THỰC HIỆN:

4 Hoàng Thị Ánh Hồng - 2611034

5 Phan Huỳnh Trường Sinh - 2611083

Lớp: Cao học Tài Chính Ngân Hàng K18

Cần Thơ 09/2012

Trang 2

2

PHẦN MỞ ĐẦU

Trong những năm gần đây hoạt động của hệ thống NHTM Việt Nam đang trong quá trình đổi mới thích ứng với nền kinh tế thị trường, góp phần không nhỏ trong việc tạo

đà cho nền kinh tế quốc dân phát triển Tuy nhiên bên cạnh những chuyển biến vượt bậc

đó thì vấn đề rủi ro trong hệ thống NHTM Việt Nam cũng đang diễn ra hết sức phức tạp, Ngân hàng dễ trở thành nạn nhân của nền kinh tế thị trường khi không có những biệp pháp phòng ngừa hữu hiệu, những rủi ro mang lại không chỉ là từ các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thua lỗ hay do các vụ lừa đảo mà còn bao gồm rất nhiều rủi ro từ thị trường như rủi ro về thanh khoản, rủi ro về thị trường (lãi suất, tỷ giá hối đoái v.v) Trong năm 2007 Việt Nam đã phải đối mặt với lạm phát tăng cao do những vấn đề như: nhập siêu, hiện tương đầu cơ v.v đã tác động tới ổn định hoạt động của các ngân hàng và các rủi ro tiềm ẩn bắt đầu bộc lộ, mặt khác việc mở rộng mạng lưới hoạt động và tổ chức

đã làm cho các NHTM phải đối mặt nhiều hơn với các loại rủi ro trong hoạt động và ở cấp độ quy mô ngày càng lớn Tình hình đó đặt ra việc xác định được các rủi ro tổng thể tiềm ẩn của hệ thống Ngân hàng để xử lý kịp thời Do vậy để thực hiện mục tiêu phát triển, an toàn và hiệu quả trong kinh doanh, việc nghiên cứu áp dụng những giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong họat động kinh doanh của các NHTM Việt nam là vô cùng cần

thiết Chính vì nhận thức được vấn đề trên, đề tài “Nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro

trong các Ngân hàng thương mại Việt Nam” được nhóm chúng em lựa chọn để nghiên

cứu

Trang 3

3

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ CÁC LOẠI RỦI RO

TRONG NGÂN HÀNG

1.1 Các khái niệm về rủi ro

Theo Nghị định 49/2000/NĐ-CP ban hành ngày 12/9/2000 thì hoạt động của Ngân hàng định nghĩa như sau: “Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của nhà nước Hoạt động của NHTM là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.”

Mặc dù có nhiều cách thể hiện khác nhau, nhưng phân tích, khai thác nội dung của các định nghĩa đó, có thể hiểu các NHTM đều là những trung gian tài chính mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là: Nhận tiền ký thác - tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn - để làm phương tiện thanh toán và sử dụng vào các nghiệp vụ cho vay duới nhiều hình thức khác nhau và thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác cho chính ngân hàng

Từ việc nghiên cứu về đặc điểm hoạt động kinh doanh của các NHTM nói trên có thể nhận thấy rằng, rủi ro luôn gắn liền với từng nghiệp vụ trong hoạt động của NHTM

Đa số các nhà kinh tế thống nhất với nhau quan niệm về rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM là “những biến cố không mong đợi xảy ra và gây tổn thất đối với ngân hàng” Mức độ và tính chất rủi ro khác nhau sẽ gây ra những hậu quả không giống nhau song đều rất nguy hại bởi những tác động đến uy tín của ngân hàng và khả năng lan truyền Việc tìm hiểu về các loại rủi ro, nguyên nhân và hậu quả của rủi ro trong hoạt động kinh doanh sẽ trả lời cho chúng ta câu hỏi tại sao phải quản trị và nâng cao năng lực quản trị rủi ro của NHTM

Các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại:

Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM có thể phân chia thành nhiều loại tùy theo tiêu thức lựa chọn và mục đích nghiên cứu, dưới đây là 1 cách phân nhóm các loại rủi ro, bao gồm rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro thị trường và rủi ro tác nghiệp Trong đó:

1.1 Rủi ro tín dụng

Trang 4

Về cơ bản, rủi ro tín dụng xảy ra khi khách hàng vay vốn không có khả năng chi trả lãi, chi trả nợ hoặc cả hai Loại trừ một số ít khách hàng lừa đảo, đối với đa số khách hàng dù tình hình sản xuất kinh doanh tốt, có tình hình tài chính lành mạnh và thực thanh toán đầy đủ cho ngân hàng song vẫn có thể xảy ra những tình huống bất khả kháng dẫn đến không thể trả nợ đúng hạn cho ngân hàng Vì vậy có thể cho rằng rủi ro tín dụng là khách quan, tồn tại song song với tín dụng ngân hàng và cả NHTM chỉ có thể hạn chế và buộc chấp nhận rủi ro tín dụng ở mức độ nhất định mà thôi

1.2 Rủi ro thanh khoản

Là những tổn thất xảy ra đối với ngân hàng khi nhu cầu thanh khoản thực tế vượt mức dự kiến, hay nói cách khác, ngân hàng không đáp ứng nhu cầu thanh toán hay rút tiền của khách hàng Khi khả năng thanh toán bị đe dọa, NHTM buộc phải tìm kiếm nguồn và thường là gia tăng các khoản đi vay “nóng” với chi phí rất cao, đặc biệt ở những nơi mà thị trường tiền tệ chưa phát triển Xét trên giác độ lý thuyết, rủi ro thanh khoản cũng là điều tự nhiên luôn tiềm ẩn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng bởi lẽ độ thanh khoản của nguồn vốn (cầu thanh khoản) bao giờ cũng cao hơn các khoản sử dụng vốn (cung thanh khoản) Tuy nhiên, trên thực tế rủi ro thanh khoản thường ít xảy ra hơn hoặc cũng có thể được giảm thiểu và “che lấp” bởi các hoạt động trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng

Điều có thể thấy rất rõ là rủi ro thanh khoản và các loại rủi ro khác đều tác động đến hoạt động ngân hàng một cách ở mức độ khác nhau và dù có thể bị thua lỗ hay phá sản thì cũng “dần dần từng bước” do vậy các ngân hàng có thể có cơ hội để khắc phục và cải thiện tình hình Song rủi ro thanh khoản nếu xảy ra thì lại là vấn đề rất nghiêm trọng, thậm chí là đặc biệt nghiệm trọng vì có thể dẫn đến sự sụp đổ của NHTM trong “chốc lát” khi khách hàng ồ át đến rút tiền

Trang 5

5

1.3 Rủi ro thị trường

Là những tổn thất xảy ra đối với ngân hàng khi có sự biến động không lường trước của thị trường, bao gồm rủi ro lãi suất và rủi ro tỷ giá Lãi suất và tỷ giá là những phạm trù khác nhau, và sự biến động của chúng cũng tác động không giống nhau đến hoạt động ngân hàng Trong khi lãi suất biến động thì làm thay đổi thu nhập và chi phí, thì tỷ giá biến động sẽ làm thay đổi giá trị của tài sản và nguồn vốn của ngân hàng Song nếu xét ở giác độ nghiên cứu khác, hai phạm trù này lại có những điểm giống nhau là luôn thay đổi trên thị trường phụ thuộc vào các yếu tố cung - cầu về vốn và về ngoại tệ Quan trọng hơn, việc xác định, đo lường mức độ và các biện pháp để hạn chế rủi ro của lãi suất và tỷ giá là hoàn toàn tương tự và đều phải thực hiện thông qua các nghiệp vụ phái sinh trên thị trường tiền tệ hay thị trường ngoại hối

Trong điều kiện nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, lãi suất và tỷ giá luôn được quản lý và duy trì cố định hay ít nhất là ổn định bởi Nhà nước, do vậy các NHTM không phải lo lắng đến rủi ro lãi suất và tỷ giá Trái lại, trong điều kiện nền kinh tế thị trường với sự vận động rất linh hoạt và phức tạp của các luồng vốn, lãi suất và tỷ giá luôn biến động và khó có thể dự báo Lãi suất và tỷ giá biến động theo chiều hướng khác nhau có thể dẫn đến các kết cục khác nhau đối với các ngân hàng có trạng thái luồng tiền và trạng thái ngoại hối khác nhau Một ngân hàng được “hưởng lợi” từ sự biến động tăng của lãi suất hay tỷ giá thì sẽ lại bị “tổn thất” khi lãi suất hay tỷ giá giảm xuống Xác suất thu được lợi ích và chịu tổn thất đối với mỗi ngân hàng là bằng nhau và bằng 50%, song xét

về bản chất, lợi ích mà ngân hàng này có được lại chính là thiệt hại của ngân hàng khác

Do vậy, các ngân hàng đều tập trung sự quan tâm vào khả năng gặp phải tổn thất có nghĩa

là không chấp nhận sai lầm, cũng từ lẽ đó mà rủi ro lãi suất và rủi ro tỷ giá được coi là điều hoàn toàn tự nhiên đối với các ngân hàng có trạng thái luồng tiền và ngoại hối khác

“mở” và các ngân hàng luôn phải hạn chế rủi ro loại này thông qua việc đo lường xác định và thực thi các nghiệp vụ phái sinh để phòng và chống

1.4 Rủi ro tác nghiệp

Là những tổn thất xảy do những “trục trặc” trong quá trình vận hành các hoạt động kinh doanh của NHTM như: Sai lệch về thông tin và xử lý thông tin, bất hợp lý về quy trình và kỹ thuật nghiệp vụ và sự phối hợp giữa các bộ phận chức năng trong ngân hàng,

Trang 6

có thể ảnh đến những quyết định của giám đốc điều hành và toàn bộ các tác nghiệp tiếp theo

Rủi ro tác nghiệp của các NHTM có xu hướng ngày càng gia tăng, trước hết, do sự

mở rộng quy mô, phạm vi và sự đa dạng hoá hoạt động kinh doanh; mỗi ngân hàng thậm chí có thể trở thành các tập đoàn tài chính và là những công ty đa quốc gia Thêm nữa, môi trường kinh doanh cũng ngày càng phức tạp hơn, áp lực công việc tăng do tốc độ và khối lượng giao dịch tăng, sự lệ thuộc vào kỹ thuật và công nghệ nhiều hơn, v.v Do vậy, các ngân hàng tiên tiến và có quy mô lớn trên thế giới luôn nghiên cứu và tối ưu hoá quy trình tác nghiệp trên cơ sở mô hình tổ chức phù hợp nhất đối với mỗi loại hình ngân hàng

1.2 Các chỉ tiêu phản ánh năng lực quản trị rủi ro của NHTM

1.2.1 Các chỉ tiêu định lượng

Thứ nhất, nhóm chỉ tiêu về lợi nhuận

Tỷ số mức sinh lời trên doanh thu = tổng lợi tức sau thuế / doanh thu thuần (Chỉ tiêu này nói lên 1$ doanh thu tại ra bao nhiêu $ lợi nhuận)

Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) = Lợi nhuận ròng * 100/ tổng tài sản (ROA đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của ngân hàng)

Tỷ suất sinh lợi trên vốn thuần (ROE)= Lợi nhuận ròng* 100 / vốn cổ phần (ROE

là tỷ số quan trọng nhất đối với các cổ đông, tỷ số này đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng vốn của cổ đông thường.)

Các NHTM hiện đại và được đánh giá cao về khả năng quản trị rủi ro (10 ngân hàng đứng đầu trong các NHTM Mỹ năm 2002) luôn có tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu từ 15-18% (New Basel II, 2004)

Thứ hai, nhóm chỉ tiêu đo lường khả năng thanh toán

Trang 7

7

Khả năng thanh toán ngay = Tài sản có thể thanh toán ngay / tài sản nợ đến hạn

thanh toán ngay Đối với 01 số ngân hàng thời gian tính khả năng thanh toán ngay là 01 ngày (ACB, STB v.v.)

Khả năng thanh toán chung = Tổng tài sản có có thể thanh toán/ Tổng nợ phải thanh toán

Vốn hữu dụng = Vốn huy động - DTBB - DT Sơ cấp (TMặt, TG NHNN)

Hệ số khả năng trả lãi = lợi tức trước thuế và lãi / chi phí trả lãi

(Hệ số này đo lường mức độ an toàn của thu nhập có thể trả lãi cho các chủ nợ)Công thức tính số tiền dự phòng như sau:

Số tiền dự phòng cụ thể không chỉ phụ thuộc vào giá trị khoản nợ và tỷ lệ trích lập

dự phòng, mà còn phụ thuộc vào giá trị tài sản bảo đảm Nếu giá trị tài sản bảo đảm sau khi được tính theo tỷ lệ phần trăm lớn hơn giá trị khoản nợ, thì số tiền dự phòng cũng bằng không có nghĩa là tổ chức tín dụng trên thực tế không phải lập dự phòng cho khoản

nợ đó (Theo Quyết định 493 và quyết định số 18/QĐ-NHNN sửa đổi, bổ sung các quy định về quản trị rủi ro trong hoạt động tín dụng)

Tỷ lệ nợ xấu = Nợ quá hạn >90 ngày + nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ/ Tổng dư nợ (tỷ lệ này càng thấp phản ảnh chất lượng tín dụng của ngân hàng tốt )

Rủi ro đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng theo xác suất nhất định có nghĩa là một biến cố không chắc chắn, để đảm bảo khả năng chấp nhận rủi ro các ngân hàng phải trích lập quỹ dự phòng rủi ro căn cứ vào sự xác định và đo lường mức độ rủi ro

và thường được so sánh với dư nợ cho vay hay tổng sử dụng vốn Quy mô và tỷ trọng của quỹ dự phòng càng lớn khả năng chịu chấp nhận rủi ro của ngân hàng được đánh giá là cao, song nếu dự phòng quá lớn sẽ ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn và phản ánh chiến lượng kinh doanh “chạy theo rủi ro của ngân hàng” Các NHTM trên thế giới xác định quỹ dự phòng trên cơ sở xác suất xảy ra rủi ro của mỗi khoản mục tài sản cụ thể

Trang 8

trong tổng tài sản có nguy cơ rủi ro

- Cơ cấu thời hạn và cơ cấu danh mục tài sản: Với một NHTM, cơ cấu sử dụng vốn phần lớn sẽ là ngắn hạn, tỷ lệ sử dụng vốn trung và dài hạn không nên vượt quá mức

30 -35% và việc duy trì tỷ lệ này cần căn cứ vào cơ cấu nguồn vốn theo thời hạn

Về cơ cấu danh mục tài sản của ngân hàng cũng cần phải đảm bảo mức độ đa dạng hóa nhất định Tỷ trọng cho vay của các ngân hàng không quá 30% trên tổng tài sản sinh lời vì cho vay là hoạt động rất rủi ro và sự tập trung quá mức sẽ rất nguy hiểm cho hoạt động của ngân hàng Sử dụng vốn của NHTM cần phải phân bổ cả cho các hoạt động đầu

tư (20 -25%), các hoạt động kinh doanh tiền tệ (20 -25%) và cung cấp dịch vụ tiện ích và chăm sóc khách hàng Những hoạt động này không chỉ phản ánh sự đa dạng hóa, giảm thiểu rủi ro mà còn giúp ngân hàng thâm nhập, tiếp cận sâu rộng với khách hàng và nền kinh tế

- Cơ cấu thời hạn và cơ cấu khoản mục nguồn vốn: Cơ cấu thời hạn nguồn vốn là nhân tố cơ bản quyết định cơ cấu thời hạn sử dụng vốn, đồng thời cho biết về tính ổn định của nguồn vốn Kết hợp nghiên cứu cơ cấu thời hạn, lập bảng kê theo dõi thời hạn của các khoản mục nguồn vốn với khả năng tham gia vào các hoạt động trên thị trường tiền tệ cho phép đánh giá năng lực quản trị rủi ro thanh khoản một ngân hàng

Tương tự như cơ cấu tài sản, sự đa dạng các khoản mục nguồn vốn phản ánh khả năng và hiệu quả huy động vốn, đặc biệt là các hình thức huy động vốn qua thị trường; vừa chủ động kịp thời mà chi phí vốn lại thấp

- Cơ cấu của hoạt động ngân hàng bán buôn: Hoạt động ngân hàng bán buôn giao dịch giữa các NHTM, các tổ chức tài chính khác kể cả ngân hàng Trung ương với nhau Hoạt động ngân hàng bán buôn phản ánh khả năng hoán đổi tài sản cho nhau giữa các NHTM không chỉ đảm bảo thu nhập mà còn đảm bảo khả năng kiểm soát về phạm vi và mức độ rủi ro của mọi ngân hàng qua đó góp phần đảm bảo sự an toàn hiệu quả của cả hệ thống

Các ngân hàng không bao giờ huy động sẵn một lượng tiền đủ lớn để chờ đợi khách hàng đến vay, ngược lại sau khi cho vay cũng sẽ không cho thụ động trông chờ khả năng thu nợ duy nhất từ khách hàng, kể cả việc phong tỏa tài sản bảo đảm hay khởi kiện khách hàng Trái lại, tham gia các hoạt động buôn bán và kết hợp giữa các hoạt động

Trang 9

buôn bán và bán lẻ, các ngân hàng sẽ luôn giao dịch mua bán hay hoán đổi tài sản, nguồn vốn với nhau thông qua thị trường liên ngân hàng để vừa có chi phí thấp, tổn thất rủi ro thấp tức là khả năng quản trị rủi ro cao

1.2.2 Các chỉ tiêu định tính

Thứ nhất: Bộ phận chức năng quản trị rủi ro đôc lâp Bộ phận quản trị rủi ro độc

lập là điều kiện cần để thực hiện các nội dung và quy trình quản trị rủi ro như đã trình bày trên đây một cách khách quan và hiệu quả Hơn nữa, ngoài khả năng hoạt động độc lập,

bộ phận này còn phải bao gồm những cán bộ được đào tạo cơ bản vừa có chuyên môn và kinh nghiệm về rủi ro vừa có khả năng ứng dụng các công cụ toán học, tin học và công nghệ kinh doanh ngân hàng hiện tại vào việc nhận biết và xác định một cách chính xác, đầy đủ kịp thời các lọai rủi ro có thể phát sinh, xây dựng các mô hình phân tích và đánh giá chính xác mức độ rủi ro Trên cơ sở đó mới có thể khuyến cáo ban lãnh đạo ngân hàng và các bộ phận chức năng khác lựa chọn và thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh cũng như các biện pháp kiểm soát phù hợp Nhiều NHTM, hoạt động quản trị rủi ro đã được thiết lập song lại do chính những cán bộ tín dụng thực hiện hoặc đặt ở vị trí trực thuộc phòng tín dụng, cho nên, tình trạng “vừa thổi còi, vừa đá bóng” là khó tránh khỏi

Để đạt doanh số cho vay cao trong hoạt động, đặc biệt trong trường hợp khoán lương, một số loại rủi ro tiềm ẩn có thể bị xem nhẹ hoặc dễ dàng bỏ qua một cách rất chủ quan

để đạt mức khoán và lương cao Hơn nữa, rủi ro xảy ra trong tất cả các hoạt động kinh doanh của ngân hàng cho nên quản trị rủi ro là hoạt động cần thiết đối với tất cả các hoạt động đó, không chỉ là đối với riêng hoạt động tín dụng Điều này cho thấy không thể đánh giá một ngân hàng có năng lực quản trị cao khi vắng thiếu bộ phận chức năng quản trị rủi

ro độc lập Biện pháp đánh giá năng lực quản trị rủi ro theo chỉ tiêu này thông thường là xây dựng thang chấm điểm cho các yếu tố cấu thành của bộ phận chức năng quản trị rủi

ro và mức độ khách quan, độc lập

Thứ hai, chiến lươc kinh doanh và chon lựa rủi ro của ngân hàng Chiến lược kinh

doanh được cụ thể hóa bằng các chính sách, kế hoạch, mục tiêu, định hướng và các văn bản khác có liên quan của ngân hàng Thông qua văn bản này, chúng ta có thể đánh giá

về tính tính cực chủ động trong việc thực hiện hoạt động kinh doanh của ngân hàng và

“thái độ” của ngân hàng đối với rủi ro Một NHTM với khả năng quản trị rủi ro yếu kém

Trang 10

sẽ luôn tập trung vào những hoạt động kinh doanh thông qua các nghiệp vụ và khách hàng “truyền thống an toàn” Việc lựa chọn hoạt động kinh doanh và khách hàng sẽ theo những nguyên tắc nhất định thường là an toàn hàng đầu, do vậy quy mô sẽ hạn chế, mức

dự phòng và dự trữ rất cao để mong được an toàn nhưng lại lãng phí và kém hiệu quả do vậy kết cục thực tế lại là không an toàn Trái lại, ngân hàng có năng lực quản trị rủi ro cao

sẽ luôn hướng tới những hoạt động kinh doanh đa dạng, sáng tạo, sẵn sàng đáp ứng mọi đối tượng và cung cấp “trọn gói” các dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng, cho nên rủi ro lại là thấp

Để đánh giá năng lực quản trị rủi ro theo tiêu thức này, chúng ta cần xem xét đến nội dung và tính đa dạng của chiến lược kinh doanh và quan điểm của ngân hàng đối với rủi ro như: “Sợ hãi né tránh”, “chủ động chấp nhận”, hay quan điểm khác.v.v Ngoài ra, một chiến lược kinh doanh và quản trị rủi ro tốt không chỉ dừng lại ở nội dung mà còn khả năng thực hiện, điều có nghĩa là tất cả cán bộ công nhân viên của ngân hàng cần phải thấm nhuần về quan điểm và cùng chung ý chí đối với quản trị rủi ro Cách tốt nhất để đánh giá năng lực quản trị rủi ro theo chi tiêu này cũng là thiết lập bảng hỏi và chấm điểm

Thứ ba, khả năng thực hiên các biên ppháp kiểm sóat rủi ro

Kiểm soát rủi ro để hạn chế tổn thất ở một mức độ nhất định nhỏ hơn thu nhập kỳ vọng hay khả năng chịu đựng của ngân hàng Điều có thể thấy rõ ràng là việc nhận biết

và xác định, phân tích và đánh giá chính xác về phạm vi và mức độ rủi ro của bộ phận quản trị rủi ro nói trên chỉ thực sự có ý nghĩa khi NHTM có đủ khả năng tiến hành những biện pháp để quản lý và kiểm soát rủi ro Mỗi loại rủi ro cần có những biện pháp và nghiệp vụ kiểm sóat riêng, do vậy để đánh giá năng lực quản trị rủi ro theo chỉ tiêu này cần phải thông qua các biện pháp nghiệp vụ mà ngân hàng đã áp dụng để kiểm soát rủi ro trên từng mặt hoạt động kinh doanh tức là phải bao gồm: các biện pháp kiểm sóat rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro thị trường và rủi ro tác nghiệp Cụ thể, khả năng thực hiện các biện pháp kiểm soát rủi ro được thể hiện thông qua các chỉ tiêu bao gồm:

- Khả năng thực hiện các nghiệp vụ phái sinh để triệt tiêu rủi ro thị trường, hóan đổi các hợp đồng tín dụng

- Khả năng kiểm soát và thực hiện chuyển đổi kỳ hạn của các khoản mục nguồn

Trang 11

vốn và tài sản, trên cơ sở đó xác định chính xác cầu thanh khoản của khách hàng và khả năng thanh tóan của ngân hàng

- Khả năng quản trị, điều hành và vận hành tác nghiệp của ngân hàng, tính hợp lý trong bố trí lao động, chế độ đãi ngộ, môi trường làm việc cũng như quy trình luân chuyển chứng từ, thủ tục hành chính để hạn chế rủi ro tác nghiệp

Tương tự như hai nhóm chỉ tiêu trên, để đánh giá năng lực quản trị rủi ro của NHTM qua nhóm chỉ tiêu này, chúng ta cần phải thiết lập một Bảng câu hỏi về các nội dung bao gồm các loại rủi ro và các biện pháp kiểm sóat rồi áp dụng thang điểm cho mỗi biện pháp cụ thể Ngân hàng nhận được nhiều điểm thì càng được đánh giá là có năng lực quản trị rủi ro cao

Trang 12

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG CÁC

NHTM VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 Thực trạng mức đủ vốn của các NHTM Việt Nam trên cơ sở đối chiếu với chuẩn mực Việt Nam

Vốn tự có của các NHTM đã gia tăng nhanh chóng nhờ sự thuận lợi của môi trường kinh doanh cũng như sự bùng nổ của thị trường chứng khoán thời kỳ 2006-2008 Nếu xem xét trên số liệu của các NHTM có quy mô hoạt động lớn trong Bảng 3 có thể nhận thấy nhiều NHTM đạt được yêu cầu về hệ số an toàn vốn 8%

Bảng 1: Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của một số NHTM

có tăng lên, nhưng vẫn chưa đảm bảo mức tăng theo tiêu chuẩn tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu Vấn đề đáng lưu ý ở giai đoạn này là do tác động của chính sách kích cầu cũng như việc thực hiện nới lỏng tiền tệ của NHNN nên tín dụng tại các NHTM đã tăng đột biến Ðiều này dẫn đến hệ lụy tổng tài sản rủi ro của các NHTM tăng lên và kết quả là các NHTM trong nhóm trên đều có xu hướng sụt giảm tỷ lệ an toàn vốn, trong đó, VCB đã tụt xuống

Trang 13

dưới mức an toàn tối thiểu 8% trong năm 2009

Giai đoạn thực hiện đảm bảo an toàn vốn tối thiểu 9% theo tinh thần của Thông tư

số 13/2010/TT-NHNN Trong giai đoạn này, bức tranh về đảm bảo an toàn vốn là khá

phức tạp Nếu nhìn vào mức tính toán cho toàn hệ thống, hệ thống NHTM Việt Nam đã đảm bảo được hệ số an toàn vốn tối thiểu 9%

Bảng 2: Tỷ lệ an toàn vốn của toàn ngành Ngân hàng năm 2010 - 2011

Bảng 3: Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của một số NHTM năm 2010

Đơn vị: %

2010 9 8.62 6.09 9.32 13.11 10.32 10.4 10.84

Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ các báo cáo thường niên của các NHTM

Ðối với khối NHTMCP, các ngân hàng quy mô lớn đều có xu thế đạt được yêu cầu mới của NHNN về tỷ lệ an toàn vốn Trái lại, các NHTMCP nhỏ thực sự gặp khó khăn trước yêu cầu tăng vốn tự có nhằm đảm bảo an toàn Cụ thể đến thời điểm 31/6/2011, tỷ

lệ CAR của nhiều các ngân hàng cổ phần như ACB, Sacombank, Eximbank, Techcombank, Ðông Á, Quân đội… đã đạt trên 9% theo tinh thần của Thông tư số 13/2010/TT-NHNN Trong khi đó, đến tháng 11/2011, vẫn còn 5 NHTM cổ phần vi phạm

tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu Nếu xem xét theo tinh thần Nghị định 141/NÐ-CP ngày 22/11/2006 của Chính phủ thì tính đến thời điểm hết tháng 6 năm 2011, vẫn còn 15 NHTMCP (chiếm tỷ trọng 36,59%) có vốn điều lệ dưới 3.000 tỷ đồng, chủ yếu ở khoảng 2.000 tỷ đồng Như vậy, dù giãn tiến độ 1 năm nhưng một số ngân hàng nhỏ của Việt Nam vẫn không thể đạt được các quy định đảm bảo mức vốn pháp định

Như vậy, nếu xem xét về hình thức, các NHTM Việt Nam có thể đạt được các

Trang 14

chuẩn mực của Basel I với mức an toàn vốn tối thiểu 8% Tuy nhiên, vấn đề đặc biệt đáng lưu ý là những NHTM có quy mô lớn nhất hệ thống lại không đảm mức an toàn và có thể

đe dọa an toàn hệ thống Ngoài ra, các NHTMCP chuyển từ NHTM nông thôn dường như gặp nhiều khó khăn để đáp ứng yêu cầu an toàn vốn tối thiểu 9%

Với quy mô vốn thấp và tỷ lệ an toàn vốn dưới mức thông lệ quốc tế như hiện nay của ngân hàng thương mại Việt Nam, chúng ta đã bị hạn chế về khả năng tín dụng, tài trợ cho hoạt động kinh doanh cũng gặp rất nhiều cản trở, khó mở rộng phạm vi hoạt động và đổi mới công nghệ ngân hàng, và càng khó hơn trong việc cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài ngay trên lãnh thổ Việt Nam

2.2 Thực trạng rủi ro trong kinh doanh NHTM Việt Nam

Trang 15

Dư nợ tín dụng tăng với tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng bình quân khoảng 40% Tuy nhiên, trong năm 2010 tốc độ tăng trưởng tín dụng các Ngân hàng thương mại quốc doanh như BIDV,VIETCOMBANK v.v có xu hướng giảm so với các Ngân hàng cổ phần, ngược lại tốc độ tăng trưởng của các Ngân hàng thương mại cổ phần khá tốt, điều này báo hiệu một sự cạnh tranh khá quyết liệt trong hoạt động tín dụng

- Khủng hoảng tài chính tại Mỹ tất nhiên có những tác động tới nền kinh tế Việt Nam nói chung và tới hệ thống NHVN nói riêng điều thấy rõ nhất của tác động này là các Ngân hàng Việt Nam sẽ tiếp cận với các nguồn vốn nước ngoài khó khăn hơn, các hạn mức tín dụng mà các tổ chức tài chính nước ngoài dành cho các Ngân hàng Việt Nam cũng đắt đỏ hơn Bên cạnh đó, việc tìm đối tác chiến lược nước ngoài của các Ngân hàng Việt Nam (cả cổ phần lẫn quốc doanh) cũng sẽ khó khăn hơn trước nhiều Ngoài ra, các hoạt động hợp tác đầu tư tài chính của các tổ chức nước ngoài với các ngân hàng Việt Nam cũng sẽ giảm so với trước Khi tiếp cận với các nguồn vốn nước ngoài khó khăn hơn, đắt đỏ hơn thì đương nhiên là hoạt động cho vay sẽ bị ảnh hưởng

Các Ngân hàng thương mại cần nâng cao chất lượng các công cụ phục vụ cho việc đánh giá cho vay đối khách hàng như cập nhật nhanh thông tin khách hàng chính xác và hiệu quả, ứng dụng các phần mềm hiện đại cho việc phân tích cho vay, để từ đó giảm được rủi ro trong hoạt động tín dụng

Về nợ xấu: Đến cuối 2010 tỷ lệ nợ xấu tại Ngân hàng đầu tư là 3,98%; Sacombank

là 0.24% và ACB là 0,18% Điều này chứng tỏ vấn đề nợ xấu hiện nay vẫn khiến ngành ngân hàng thấy cần tích cực và quan tâm hơn nữa trong công tác thẩm định tín dụng, thu hồi nợ xấu Nợ xấu được coi là căn bệnh phát sinh nằm ngoài ý muốn của ngân hàng lẫn người đi vay, luôn xuất hiện ở bất cứ nơi đâu có hoạt động vay - mượn diễn ra Để nợ xấu của một ngân hàng bằng không thì trên thực tế, điều đó khó có thể xảy ra Nghĩa là chúng

ta phải chấp nhận chung sống và cố gắng kiểm soát, duy trì nợ xấu ở một mức độ hợp lý

Vì vậy, để ngăn chặn nợ xấu và duy trì ở một mức độ cho phép thì chúng ta phải có cái nhìn đúng đắn về nợ xấu, đặc biệt là không nên che dấu nó dưới bất cứ hình thức nào; có như vậy chúng ta mới tìm ra được những phương thức hữu hiệu để điều trị nó, đặc biệt là phòng tránh nó trước khi nó xảy ra Nguyên nhân cơ bản tạo ra các khoản nợ xấu đó cũng

Trang 16

chính là do các khoản vay đã bị biến dạng dưới nhiều hình thức khác nhau (gia hạn nợ nhiều lần, đảo nợ ) nên mức độ “cảnh báo” và “phòng ngừa trước” đối với những khoản tín dụng kém chất lượng cũng bị biến dạng theo, tức là chúng ta luôn tự đặt nó vào diện trong hạn và coi đó là khoản tín dụng lành mạnh Bên cạnh đó, việc trích lập dự phòng đối với các khoản cho vay giữa Việt Nam và quốc tế hiện đang còn tồn tại những điểm khác biệt Cụ thể việc trích lập dự phòng đối với các khoản cho vay theo thông lệ quốc tế chủ yếu là dựa vào mức độ rủi ro của từng khoản cho vay để đưa ra một tỷ lệ trích lập dự phòng tương xứng Trong khi đó, Việt Nam lại dựa trên cơ sở về thời hạn qúa hạn của từng khoản vay để trích lập dự phòng (nghĩa là xảy ra rồi mới trích) Chính vì những khác biệt đó mà trong thời gian qua đã xảy ra hiện tượng “ lãi giả , lỗ thật” trong hoạt động kinh doanh của các NHTM, đặc biệt là các NHTM quốc doanh sau khi các Báo cáo tài chính của các ngân hàng này đã được kiểm toán quốc tế Hiện tượng “ lãi giả, lỗ thật” xảy

ra bởi vì một số lý do cơ bản sau:

“Lãi” do phương pháp hạch toán kế toán theo thông lệ quốc tế (IAS ) khác so với thông lệ hạch toán kế toán của Việt Nam (VAS) về trích lập dự phòng đối với các khoản cho vay có vấn đề Nếu hạch toán theo IAS thì các NHTM “Lỗ” do nợ quá hạn cao (vì áp dụng phương pháp quốc tế chuyển NQH theo thông lệ quốc tế), dẫn đến trích lập dự phòng trước cao, dẫn đến “Lỗ” Ngược lại, khi phân tích NQH và trích lập dự phòng theo phương pháp VAS thì hoạt động kinh doanh của các NHTM đó lại “lãi” do tỷ lệ NQH thấp (chuyển NQH theo kiểu Việt Nam) dẫn đến trích lập dự phòng trước thuế thấp và cuối cùng xảy ra hiện tượng “lãi” theo phương pháp VAS

Nguyên nhân khách quan xuất phát từ những tác động bên ngoài như thiên tai, hoả hoạn, do sự ổn định của nền kinh tế chưa chắc chắn, chính sách quản lý kinh tế thay đổi đột ngột, do biến động thị trường trong và ngoài nước, do quan hệ cung cầu hàng hoá thay đổi

2.2.2a Rủi ro ngoại hối (Rủi ro thị trường)

Tỷ giá hối đoái giữa VND/các lọai ngọai tệ và sự biến động của nó không chỉ là mối quan tâm trực tiếp của các doanh nghiệp xuất khẩu hay nhập khẩu, của những người cho vay hay vay ngoại tệ của các NHTM Trong họat động ngọai hối nếu không có sự quản lý, kiểm sóat chặt chẽ và không có khả năng dự báo tốt thì có ảnh hưởng rất lớn tới

Trang 17

kết quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại

Theo thống kê của thời báo kinh tế Việt Nam thì trong mấy năm trước tỷ giá VND/USD thường khá ổn định, biến động thấp, năm 2004 tăng 0,4%, năm 2005 tăng 0,9%, năm 2006 tăng 1%, năm 2007 giảm 0,03% - bình quân thời kỳ 2004 - 2007 tăng 0,57% Nếu tính bình quân năm sau so với năm trước thì năm 2004 tăng 1,57%, năm

2005 tăng 0,56%, năm 2006 tăng 0,95%, năm 2007 tăng 0, 62% Tuy nhiên Bước sang năm 2008, tỷ giá VND/USD có sự biến động khác với các năm trước Sự khác nhau thể hiện ở một số điểm sau đây: Một là, biến động nhiều hơn: giảm liên tục trong 3 tháng đầu, tăng liên tục trong 3 tháng sau Nếu trong 3 tháng đầu, người có USD muốn bán cũng rất khó bán, thì trong 3 tháng sau, đặc biệt là tháng 6, người muốn mua USD cũng rất khó mua vì giá cao; Hai là, chênh lệch giữa giá USD trên thị trường tự do và ở các NHTM lúc mang dấu âm, lúc mang dấu dương và chênh lệch khá lớn; Ba là, tỷ giá VND/USD tính theo năm thì từ tháng 1 đến tháng 4 bị giảm, tháng 5, tháng 6 tăng, đặc biệt tháng 6 tăng cao Đó là diễn biến tỷ giá VND/USD thời gian qua

Một ví dụ minh họa thực tế về việc kinh doanh ngọai tệ tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam 3 tháng lỗ 447,6 tỷ đồng Kết luận thanh tra về kinh doanh ngọai tệ tại Sở quản lý, kinh doanh vốn và ngọai tệ (SQL) thuộc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triện Nông thôn cho thấy : do sơ hở trong quản lý, yếu kém trong quản lý điều hành của lãnh đạo và ý thức chấp hành quy trình nghiệp vụ của cán bộ chưa nghiêm đã dẫn đến thua lỗ nghiêm trọng Chỉ tính trong 3 tháng cuối 2005, việc kinh doanh ngọai tệ tại đây đã thua lỗ gần 500 tỷ đồng Kết quả kinh doanh ngọai tệ của SQL đến 31/122004 cho thấy SQL này có tổng thu 1163,2 tỷ đồng, tổng chi 1.663,1 tỷ đồng nghĩa là bị lỗ tới 499,8 tỷ đồng Riêng 3 tháng 10,11,12 số lỗ kinh doanh ngọai tệ của SQL chiếm 98,9% tổng số lỗ cả năm 2004 với 447,6 tỷ đồng Trong số này, họat động kinh doanh của đồng EUR và USD lỗ tới 28,3 triệu USD

Đặc biệt trong ngày 22 và 23/12/2004 có 2 giao dịch mua 30 triệu EUR/giao dịch, ngày 24/12 có 04 giao dịch mua 30 triệu EUR/giao dịch, ngày 27/12 có 4 giao dịch mua

30 triệu EUR/giao dịch Kết quả kiểm tra cho thấy các giao dịch trực tiếp từ ngày 14/10 đến 31/10/2004 đều do 01 quan chức cao cấp trực tiếp giao dịch trên máy hoặc chỉ đạo cán bộ phòng kinh doanh ngọai tệ giao dịch Các ông này trực tiếp ký tên trên phiếu giao

Trang 18

dịch để hạch tóan cho hợp lệ, còn quan chức cao cấp này trực tiếp ký tên với tư cách là người ký duyệt! như vậy ở đây xảy ra tình trạng “vừa đá bóng, vừa thổi còi” mà không cần giám sát (các phiếu giao dịch không có chữ ký của kiểm sóat viên như quy định)

Về trạng thái ngọai tệ, bao gồm các giao dịch chuyển đổi ngọai tệ trong nước và quốc tế, tại nhiều thời điểm trong tháng 12/2004, trang thái ngọai tệ của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã vượt quá trạng thái giới hạn cho phép theo quy định của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam Đồng thời, SQL còn vi phạm chế độ báo cáo thống kê Các báo cáo trạng thái ngọai tệ của SQL gửi về NHNN Việt Nam không phản ánh chính xác trạng thái ngọai tệ của Ngân hàng này, chính vì vậy, những dấu hiệu kinh doanh không bình thường của SQL đã không được phát hiện, ngăn chặn kịp thời

Minh họa trên đây cảnh báo cho chúng ta thấy nguy cơ thua lỗ của các tổ chức tài chính do sơ hở trong quản lý điều hành của lãnh đạo, thiếu sự tăng cường, kiểm tra giám sát Đây cũng chính là rủi ro do biến động tỷ gía mạng lại khi Ngân hàng nông nghiệp mua EUR thì tỷ giá VND/EUR thấp, sau đó tỷ giá tăng nên sau khi đánh giá kết quả kinh doanh ngoại tệ thua lỗ, tổng thu chỉ đạt

1163,2 trong khi tổng chi 1.663,1 tỷ đồng

Do tình hình lạm phát trong nước tương đối cao nên tỷ giá USD /VND rất biến động trong chu kỳ lạm phát cao như vậy sẽ dẫn đến một hậu quả tất yếu là thâm hụt thương mại ngày càng lớn, thâm hụt vãng lai ngày càng lớn, đây cũng là rủi ro tiềm ẩn cho ngân hàng và cho cả nền kinh tế, ngòai ra qua ví dụ minh họa chúng ta thấy còn nhiều nguyên nhân gây ra rủi ro ngoại hối tồn tại tại các ngân hàng thương mại Việt Nam như:

- Kiến thức về nghiệp vụ chuyên môn để vận hành giao dịch và đo lường rủi ro quá yếu kém, kỹ năng xử lý dữ liệu bằng điện toán chưa cao, chưa có những bộ phận nghiên cứu dự đoán sự thay đổi tỷ giá trên thị trường Hiện nay dù có tham gia một số nghiệp vụ phái sinh nhưng hầu như các NHTM Việt Nam vẫn chỉ chú ý đến việc mua bán ngoại tệ nhằm mục đích thanh toán, cho vay ngoại tệ mà quên đi chế độ bảo hiểm tỷ giá nên trong kinh doanh ngoại tệ ngân hàng đóng vai trò chủ yếu là trung gian giao dịch hơn

là nhà tạo lập thị trường Cũng chính vì tư tưởng trên nên nhìn chung các ngân hàng rất yếu về phân tích tỷ giá mà đặc biệt yếu về phân tích kỹ thuật biến đổi cấu trúc dự trữ giữa các loại ngoại tệ Hầu như rất ít ngân hàng sử dụng phân tích kỹ thuật như một công cụ hỗ

Trang 19

trợ thêm cho phân tích cơ bản trong phân tích tỷ giá Đó cũng chính là một trong những lý

do mà ít ngân hàng ở Việt Nam mạnh về kinh doanh đầu cơ mà chủ yếu các ngân hàng chỉ kinh doanh không công cho khách hàng

- Các quy định pháp lý về cách xác định trạng thái ngoại hối chưa hoàn thiện gây rủi ro tỷ giá Mặc dù NHNN đã thay đổi phương pháp xác định trạng thái ngoại tệ theo Quyết định số 1081/2002/QĐ-NHNN cho phù hợp với tình hình thực tiễn Việt Nam Tuy nhiên, việc tính toán trạng thái ngoại tệ cuối tháng được tính trên cơ sở số dư tại thời điểm cuối ngày làm việc cuối cùng chỉ xét đến trạng thái ngoại tệ được hình thành do các giao dịch mua bán ngoại tệ của ngân hàng mà chưa tính đến thu và chi phí trả lãi phát sinh từ các tài sản có và tài sản nợ sinh lời Các ngân hàng chưa tính đến các khoản thu và chi này cộng dồn sẽ ảnh hưởng thế nào đến giá trị giữa trạng thái ngoại tệ thực tế và trạng thái ngoại tệ báo cáo mà thực trạng này có thể gây rủi ro lớn cho ngân hàng

- Cơ chế tỷ giá hiện nay chưa phản ánh được quy luật cung cầu trên thị trường Mặc dù thời gian qua NHNN đã xoá bỏ sự áp đặt chủ quan trong việc thiết lập tỷ giá, khoảng cách giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá thị trường chợ đen dần dần được thu hẹp Tuy nhiên, diễn biến tỷ giá trong những năm qua còn nhiều phức tạp Cơ chế điều hành tỷ giá còn quy định biên độ mua, bán làm cho việc yết giá của các NHTM bị cứng nhắc

2.2.2b Rủi ro lãi suất (Rủi ro thị trường)

Chính sách lãi suất là một trong những chính sách quan trọng để điều tiết nền kinh

tế, đặc biệt là đối với một nền kinh tế mà kênh tín dụng đóng vai trò quan trọng đối với việc cung cấp vốn cho họat động sản xuất kinh doanh và cũng là nguồn mang lại lợi nhuận chính cho các Ngân hàng

Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam những năm qua, do thị trường tài chính ngân hàng vẫn đang trong quá trình cải tổ, sắp xếp lại để hội nhập, do đó còn nhiều tồn tại, bất cập trong đó có việc chạy đua lãi suất giữa các ngân hàng, đã xuất hiện sự thay đổi lãi suất liên tục trong thời gian ngắn

Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, vấn đề chạy đua lãi suất trong các năm qua giữa các NHTM nhiều lúc không hợp quy luật, có thời điểm khi mà chỉ số CPI giảm, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở giảm, lãi suất chiết khấu, tái cấp vốn ổn định thì các ngân hàng vẫn điều chỉnh tăng lãi suất

Trang 20

Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng này là vốn khả dụng ở các ngân hàng phân phối không đều, một số ngân hàng thiếu vốn, trong khi một số ngân hàng khác thừa vốn nhưng do thị trường tiền tệ liên ngân hàng chưa phát triển, các ngân hàng cho vay theo những hạn mức chậm được điều chỉnh nên nhiều trường hợp vốn không luôn chuyển

từ ngân hàng thừa vốn đến ngân hàng thiếu vốn Kết quả là các ngân hàng thiếu vốn phải đẩy mạnh các hình thức huy động vốn và đưa ra lãi suất hấp dẫn, vấn đề này lại kéo theo các ngân hàng khác vào cuộc đua lãi suất v.v điển hình như trong thời điểm cuối tháng 2/2008, trên thị trường liên ngân hàng có một vài giao dịch chấp nhận mức lãi suất lên tới 40%/năm, gây sốc cho thị trường,

Nguyên nhân dẫn đến rủi ro lãi suất:

- Rủi ro lãi suất là một trong những loại rủi ro đặc thù của NHTM Rủi ro này xuất hiện khi lãi suất thị trường thay đổi, mà đặc biệt là thay đổi theo chiều hướng tăng là nguyên nhân chính gây ra rủi ro lãi suất vì những nguồn thu chính từ danh mục cho vay

và đầu tư cũng như chi trả lãi tiền gửi và các nguồn vay của ngân hàng điều bị tác động

- Những thay đổi của lãi suất thị trường có thể tác động tiêu cực tới lợi nhuận ngân hàng làm cho tăng chi phí nguồn vốn, giảm thu nhập từ tài sản, hạ thấp giá trị vốn chủ sở hữu của ngân hàng Vì vậy, sự biến động của lãi suất tác động toàn bộ đến bảng cân đối

kế toán và báo cáo thu nhập của ngân hàng

- Bên cạnh những nguyên nhân dẫn đến rủi ro lãi suất, còn có những nguyên nhân làm hạn chế công tác quản lý rủi ro lãi suất tại các NHTMViệt Nam như:

- Hiện nay, chưa có cơ quan dự báo sự thay đổi của lãi suất trên thị trường quốc tế tại Việt Nam Vì trong điều kiện lãi suất thị trường biến động, cơ quan này sẽ giúp cho ngân hàng dự tính được những thiệt hại có thể phát sinh trong tương lai, qua đó giúp ngân hàng lựa chọn những phương pháp phòng ngừa hiệu quả những rủi ro này

- Thị trường tài chính - tiền tệ chưa phát triển, thể hiện ở chỗ các công cụ tài chính còn nghèo nàn về chủng loại và nhỏ bé về lượng giao dịch

- Kiến thức hiểu biết về các giao dịch phái sinh và vấn đề phòng chống rủi ro lãi suất còn quá thấp ở các NHTM

2.2.3 Rủi ro thanh khoản

Rủi ro thanh khoản là rủi ro khi ngân hàng không đủ tiền đáp ứng các khoản phải

Trang 21

trả khi đến hạn thanh toán, hoặc vì một biến cố nào đó mà khách hàng rút tiền ào ạt Rủi

ro thanh khoản hiện là rủi ro nguy hiểm nhất của ngân hàng, có liên quan đến sự sống còn của ngân hàng

Một số ví dụ về rủi ro thanh khoản: Barings là ngân hàng lâu đời nhất, danh tiếng

và rất có uy tín ở Anh, được thành lập năm 1762, tuy nhiên một biến cố xảy ra với Barings khi Nick lenson, Giám đốc chi nhánh Barngs tại Singapore bỏ trốn năm 1995, Lenson đã dùng 1,4 tỷ USD đáng lẽ được dung vào việc đầu tư các dự án trong tương lai

để mua cố phiếu bất động sản tại thị trường chứng khóan TOKYO, không ngờ trận động đất tại thành phố Kobe, Nhật bản cùng năm đó đã khiến Kobe thua hết số tiền 1,4 tỷ USD bằng với lợi nhuận tích lũy hàng năm của Barings Khi Nick Lenson bỏ trốn và sự việc bị tiết lộ, tòan bộ khách hàng của Barings đã đổ xô tới rút tiền, dẫn tới ngân hàng phải tuyên

bố phá sản vào ngày 26/02/1995 Sau khi phá sản, công ty tài chính ING của Đức đã mua lại Barings với giá 1 bảng anh Một ví dụ khác tại Ngân hàng ACB tháng 10/2003, một số

kẻ xấu tung tin ông Phạm Văn Thiết, Tổng giám đốc ACB bỏ trốn, Trong ngày 14/10 và ngày 15/10 lượng người kéo đến rút tiền tại ACB tăng vọt, trong hai ngày lượng tiền ACB chi trả cho khách hàng lên tới 2000tỷ đồng, nếu không được sự hỗ trợ kịp thời từ Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng Vietcombank thì hậu quả không thể dự đóan trước được Ngòai ra còn nhiều vụ rủi ro khác như tại Ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn Ninh Bình tháng 05/2007, Ngân hàng Phương nam 07/2007 v.v

Trong thực tế hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam cho thấy rất hiếm khi nguồn cung cấp thanh khoản và nhu cầu thanh khoản của ngân hàng được cân bằng Ngân hàng phải thường xuyên đối phó với tình trạng thâm hụt thanh khoản hoặc thặng dư thanh khoản Khi cầu về thanh khoản của ngân hàng vượt quá cung thanh khoản, ngân hàng bị thâm hụt thanh khoản, buộc phải đối phó nhanh chóng nhằm tránh tình trạng mất khả năng thanh toán Ngược lại nếu cung thanh khoản vượt quá cầu thanh khoản, tình trạng thặng dư thanh khoản xuất hiện và ngân hàng cũng phải xem xét đầu tư các khoản thặng dư thanh khoản này như thế nào để có được hiệu quả cao nhưng vẫn đáp ứng được yêu cầu thanh khoản trong tương lai

Như vậy đảm bảo khả năng thanh khoản hợp lý là một vấn đề không bao giờ kết thúc đối với hoạt động ngân hàng Để duy trì và đảm bảo được khả năng thanh khoản hợp

Ngày đăng: 24/12/2013, 09:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hoa, “Hiệp ước BASEL mới và vần đề kiểm soát rủi ro trong các ngân hàng thương mại” -Tạp chí phát triển kinh tế 6/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệp ước BASEL mới và vần đề kiểm soát rủi ro trong các ngân hàng thương mại
2. PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Trang, “Quản trị rủi ro tài chính trong các doanh nghiệp Việt Nam thời kỳ hậu WTO” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị rủi ro tài chính trong các doanh nghiệp Việt Nam thời kỳ hậu WTO
3. PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Trang, “Quản trị rủi ro tài chính”, NXB Thống kê 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị rủi ro tài chính
Nhà XB: NXB Thống kê 2006
4. TS. Trần Huy Hoàng, “Quản trị ngân hàng thương mại”, NXB thống kê 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị ngân hàng thương mại
Nhà XB: NXB thống kê 2003
5. PGS. TS. Nguyễn Đăng Dờn, “Tiền tệ ngân hàng”, NXB thống kê 2004, 6. PGS.TS Phan Thị Bích Nguyệt, “Đầu tư tài chính”, NXB Thống kê 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiền tệ ngân hàng
Tác giả: PGS. TS. Nguyễn Đăng Dờn
Nhà XB: NXB thống kê
Năm: 2004
7. PGS.TS Trần Ngọc Thơ, PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hoa, PGS.TS Phan Thị Bích Nguyệt, PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Trang, TS.Nguyễn Thị Uyên Uyên, “Tài chính doanh nghiệp hiện đại”, NXB Thống kê 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài chính doanh nghiệp hiện đại
Nhà XB: NXB Thống kê 2007
8. PGS.TS Sử Đình Thành (2006), “Lý Thuyết tài chính- tiền tệ”, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý Thuyết tài chính- tiền tệ
Tác giả: PGS.TS Sử Đình Thành
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2006
9. Basel II - Sự thống nhất quốc tế về đo lường và các tiêu chuẩn vốn, NXB VHTT 2008 10. Báo cáo thường niên 2010, 2011 Ngân hàng đầu tư phát triển, Ngân hàng Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Á Châu, Ngân hàng Ngọai thương .v.v Khác
13. Nghị định 49/2000/NĐ-CP ban hành ngày 12/9/2000 14. Một số quyết định, thông tư, chỉ thị khác Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của một số NHTM                                                                                                        Đơn vị: % - Nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro trong các ngân hàng thương mại việt nam
Bảng 1 Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của một số NHTM Đơn vị: % (Trang 12)
Bảng 4: Tình hình tín dụng của một số NHTM (Đơn vị : Tỷ VNĐ) - Nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro trong các ngân hàng thương mại việt nam
Bảng 4 Tình hình tín dụng của một số NHTM (Đơn vị : Tỷ VNĐ) (Trang 14)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w