Một vài nét về hiện trạng các vùng đất than bùn ở Đông Nam Á Họ và tên: Triệu Thị Quỳnh Liên Lớp : K54 – KHMT Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Thu Hà Mở đầu: Đất than bùn là một trong số
Trang 1Một vài nét về hiện trạng các vùng đất than bùn
ở Đông Nam Á
Họ và tên: Triệu Thị Quỳnh Liên Lớp : K54 – KHMT
Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Thu Hà
Mở đầu:
Đất than bùn là một trong số những vùng đất ngập nước quan trọng nhất trên Trái đất
bởi các giá trị về bảo tồn đa dạng sinh học, điều hòa khí hậu, và hỗ trợ phúc lợi của con người: chúng đem đến nhiều loài sinh vật quý hiếm đặc trưng, bảo vệ tầng khí quyển bằng
cách giữ CO2 trong lòng đất và tạo môi trường thuận lợi cho các hoạt động sống của con người (như nông nghiệp hay khai thác tài nguyên…)
Các vùng đất than bùn đại diện cho ít nhất 1/3 nguồn tài nguyên đất ngập nước toàn cầu, và chiếm khoảng 3/5 diện tích Đất ngập nước tại Đông Nam Á
Những khu vực đất than bùn, đặc biệt là các khu rừng than bùn nhiệt đới đang bị đe
dọa nghiêm trọng Sự suy thoái của đất than bùn ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu người trên Trái Đất như: thoát nước và cháy rừng ở Đông Nam Á gây nguy hại đến sức khỏe và sinh kế của người dân, hay việc tiêu hủy các vùng đất than bùn ở châu Phi, châu Á và châu
Mỹ latinh đe dọa đến việc cung cấp nước và thực phẩm… Bên cạnh đó, nó còn làm suy giảm đa dạng sinh học và biến đổi khí hậu.
Trong phạm vi bài tiểu luận này, em muốn là trình bày một số nét về hiện trạng các vùng đất than bùn Đông Nam Á, bao gồm: phân bố, hiện trạng đa dạng sinh học và hiện trạng phát thải khí nhà kính
Mục lục:
I. Tổng quan
1. Định nghĩa đất than bùn
2. Phân loại
3. Hiện trạng đất than bùn trên thế giới
II. Phương pháp nghiên cứu
III. Kết quả nghiên cứu
1. Hiện trạng phân bô đất than bùn ở Đông Nam Á
2. Hiện trạng đa dạng sinh học
3. Hiện trạng phát thải khí nhà kính
IV. Kết luận
V. Tài liệu tham khảo
I. Tổng quan:
1. Định nghĩa đất than bùn : [1,2,4]
Trang 2Đất than bùn là một khu vực với lớp xác hữu cơ tích lũy tự nhiên (còn gọi là than bùn) ở bề mặt đất qua hàng ngàn năm Những vùng đất than bùn còn được xem là các
hệ sinh thái đất ngập nước, được hình thành từ nguyên liệu là thực vật chết và thối rữa trong điều kiện bão hòa nước cao Trong điều kiện ngập nước và thiếu O2, quá trình này sẽ tạo ra 65% chất hữu cơ
Đất than bùn được tạo thành bởi sự kết nối chặt chẽ giữa 3 hợp phần: nước (bão hòa cao), than bùn (chất hữu cơ) và thực vật riêng Nếu 1 trong 3 hợp phần này bị mất đi thì về cơ bản, bản chất của đất than bùn sẽ bị mất đi
Các vùng đất than bùn có thể thuộc phạm vi đầm lầy nước ngọt, nước mặn hoặc nước lợ với các quá trình hình thành rất khác nhau Và đơn giản nhất là quá trình hình thành trong phạm vi đầm lầy nước ngọt Hình 1 mô tả quá trình hình thành của vùng đất than bùn nhiệt đới, trong đó giải thích rõ cơ chế hình thành và những thành phần tham gia qua 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: nước được giữ lại trong các vùng đất trũng từ các con sông gần đó hoặc từ nước mưa
Giai đoạn 2: sự phát triển của các thảm thực vật đầm lầy Giai đoạn này được thực hiện theo các bước sau:
Chất hữu cơ từ lá và các phần rơi rụng khác của cây tích lũy
Quá trình phân hủy diễn ra từ từ Sau do điều kiện thiếu O2 và thông khí kém → vi sinh vật phân hủy cũng hoạt động chậm lại
Màu sắc của nước chuyển sang nâu đen, pH tại đó là từ 2,5 ÷ 4,5
Giai đoạn 3: sự phát triển của rừng đầm lầy nước ngọt Lớp than bùn được hình thành sau rất nhiều năm (ước tính lượng than bùn tích tụ khoảng 2,5 ÷ 4,5 mm/năm)
Hình 1: Các giai đoạn trong sự phát triển của rừng đầm lầy than bùn vùng nhiệt đới
(UNDP – chương trình phát triển Liên hợp quốc, 2006) [5]
2. Phân loại: [1,2]
Trang 3Đất than bùn được phân chia thành các dạng khác nhau dựa vào 3 yếu tố chính là khu vực địa lý, địa hình và loại thảm thực vật Trên cơ sở đó, hình thành nên rất nhiều cách phân loại đất than bùn Trong đó, 2 cách phân loại thường sử dụng được đưa ra bởi Tổ chức Đất ngập nước Quốc tế (Wetlands International) và Ủy ban điều phối hành động toàn cầu trên các vùng đất than bùn (CC-GAP):
Wetlands International chia thành 5 loại: vùng đồng hoang (moors), bãi lầy (bogs), vũng lầy (mires), rừng đầm lầy than bùn (peat swamp forests) và vùng đất đóng băng vĩnh cửu lãnh nguyên (permafrost tundra)
CC-GAP chỉ chia thành 2 loại chính: bãi lầy (bogs) và đầm lầy (fens)
Bogs: nguồn nước chính là
nước mưa, là những nơi nghèo
dinh dưỡng
Fens: nguồn nước chính là nước mặt và nước ngầm, giàu dinh dưỡng hơn
Trang 4
3. .Hiện trạng các vùng đất than bùn trên thế giới: [1,2,5,10]
Gần 4 triệu km 2 (khoảng 3%) diện tích đất liền trên bề mặt Trái đất được bao phủ bởi đất than bùn, với lượng bùn dày > 30cm Chúng được tìm thấy ở hầu hết các quốc
gia trên thế giới (hơn 180 quốc gia) và phân bố theo bản đồ sau:
Hình 2: bản đồ phân bố các vùng đất than bùn trên Thế giới (tính theo %)
Tuy nhiên, hiện nay,các vùng đất than bùn trên thế giới đang bị xuống cấp cả về
số lượng lẫn chất lượng Một số khu vực điển hình cho tình trạng này đó là: tại Tây
Âu, 90% diện tích đất than bùn đã bị mất đi chức năng ban đầu của nó, ở Trung Âu, con số này là 50% Hay đối với các khu rừng đầm lầy than bùn Đông Nam Á, gần 70% diện tích đã bị ảnh hưởng nghiêm trong bởi các hoạt động khai thác gỗ, phá rừng, thoát nước và nông nghiệp Và ở Nam và Đông châu Phi, nhiều vùng đất than bùn đã
bị chuyển đổi sang sản xuất nông nghiệp, các vùng đất tự nhiên còn lại cũng đang bị
Trang 5đe dọa suy thoái và chuyển đổi [2]… Có thể nói, các hoạt động nông nghiệp, lâm nghiệp và khai thác mỏ đến nay đã phá hủy khoảng 25% các vùng đất than bùn trên Thế giới [1]
Tất cả những thay đổi đó đã gây nên những hệ quả đặc biêt nghiêm trọng không chỉ với đa dạng sinh học của vùng đất than bùn, mà còn ảnh hưởng nặng nề đến người dân, những người sống gần các hệ sinh thái này Hệ quả luôn được nhắc đến đầu tiên
là biến đổi khí hậu, mà nguyên nhân chính là do sự phát thải các khí nhà kính Theo số liệu từ CC-GAP, lượng khí thoát ra từ các khu vực đất than bùn chiếm tới 75% tổng lượng Cacbon phát thải vào khí quyển và chiếm 1/3 tổng lượng CH4 toàn cầu hàng năm Hệ quả kế tiếp đó là việc mất đi tính đa dạng sinh học, cụ thể là nguy cơ tuyệt chủng nhiều loài đặc hữu của từng khu hệ sinh thái… Bên cạnh đó, vì các vùng đất than bùn bao gồm 90% là nước, nên sau khi quá trình thoát khí xảy ra, những khu vực này sẽ dễ xảy ra tình trạng sụt lún, mất cấu trúc đất…
II. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp kế thừa, hồi cứu:
Thu thập tài liệu, số liệu từ các tổ chức đất ngập nước và đất than bùn trên Thế giới và trong nước như: Wetlands International, tổng cục Môi trường Việt Nam, Asian peatland forests project, FAO (tổ chức lương thực và nông nghiệp liên hiệp quốc), Global Environment Centre, UNEP… để đúc kết được nội dung cho phần tổng quan
và kết quả nghiên cứu Ngoài ra, còn sử dụng các bài báo khoa học từ tạp trí khoa học Biogeosciences về vấn đề phát thải khí tại các khu rừng đầm lầy than bùn nhiệt đới hay các vùng đất than bùn Đông Nam Á
III. Kết quả nghiên cứu:
1. Hiện trạng phân bố đất than bùn ở Đông Nam Á:[4,5,6]
Đông Nam Á có khoảng 270 nghìn km2 đất than bùn, chiếm khoảng 60% toàn
bộ lượng đất than bùn nhiệt đới Số liệu ước tính đất than bùn ở từng quốc gia có sự chênh lệch rõ ràng Trong đó, Indonesia là nước có diện tích rừng đầm lầy than bùn lớn nhất Đông Nam Á, tiếp theo là Malaysia
Bảng ước tính diện tích đất than bùn Đông Nam Á (2011) [4]
Tên quốc
gia
Diện tích đất than bùn (km 2 )
Indonesia 210 000
Malaysia 25 000
Trang 6 Thailand 646
Vietnam 360
Philippines 110
Singapore 0,01
Cambodia 0,5
Hình 3: bản đồ phân bố đất than bùn tại
khu vực Đông Nam Á
Tại Indonesia, diện tích đất than bùn chiếm khoảng 47,73% tổng diện tích rừng than bùn nhiệt đới và chiếm 11% diện tích đất của toàn quốc gia, trong đó phân bố tập
Trang 7trung tại Papua (79.755 km2), Sumatra (72.043 km2) và Kalimantan (57.692 km2) [4,6] Trong số hơn 210 nghìn km2 ban đầu, chỉ còn khoảng 100 nghìn km2 được duy trì đến năm 2010 Số còn lại đều bị tác động bởi các hoạt động sản xuất nông nghiệp nhỏ (trồng dầu cọ, cây keo gỗ…) Hiện tại, Indonesia vẫn tiếp tục phân bổ các vùng đất than bùn để phát triển nông nghiệp hơn nữa Đó quả là một vấn đề đáng lo ngại
Quốc gia đứng thứ 2 về diện tích đất than bùn ring Đông Nam Á là Malaysia, với diện tích lớn nhất tập trung ở bang Sarawak (hơn 16 500 km2) Sự phá hủy đất than bùn nhanh chóng tại đây là do trồng dầu cọ Hiện nay, 30% diện tích đất than bùn tại Malaysia đều được phủ bởi dầu cọ
2. Hiện trạng đa dạng sinh học: [6,7]
Rừng đầm lầy than bùn đã từng được coi là có đa dạng sinh học thấp và không quan trọng trong việc bảo tồn động vật hoang dã Nhưng các nghiên cứu gần đây
đã cho thấy quan điểm này không chính xác
Các vùng đất than bùn nhiệt đới ở Đông Nam Á là những mái nhà sinh thái đặc biệt cho 1 bộ phận lớn của đa dạng sinh học, bao gồm cả những loài động, thực vật quí hiếm hay có nguy cơ tuyệt chủng Số lượng của chúng đang ngày càng bị đe dọa do
sự gia tăng của các hoạt động nông - lâm nghiệp, cụ thể được thể hiện trong hình 2
Hình 4: biểu đồ thể hiện diện tích đất sử dụng trong nông nghiệp từ 1961 – 2006
Thực vật tại đây là những loài đặc trưng cho đất chứa axit, nghèo dinh dưỡng và ngập nước Tính đa dạng của chúng thể hiện qua sự phân bố theo từng địa hình trong một khu vực đất than bùn Cụ thể, các loài cây có hoa và cho quả thường tập trung phát triển tại những khu vực ngập nước bên rìa rừng Tính từ tâm vùng đất ngập nước ra,
Trang 8càng xa trung tâm thì thực vật càng đa dạng và cao hơn Từ đó giúp đáp ứng được nhu cầu sống của nhiều loài động vật, dẫn đến tính đa dạng động vật Những loài cây đặc trưng chủ yếu là các cây ăn thịt, bên cạnh là một số loài cây thương mại như Meranti, ramin, gemur,…
Để xem xét sự suy giảm đa dạng sinh học của các vùng đất than bùn, người
ta chủ yếu nhìn vào số lượng cá thể và loài động vật bị mất đi Tại những khu vực than bùn Đông Nam Á, 7 loài mèo hoang đã được xác nhận tồn tại và đều được liệt kê vào sách đỏ của IUCN (Liên minh quốc tế và bảo tồn thiên nhiên) trong danh mục những loài bị đe dọa (2007) Trong đó, hổ Sumantran – loài hổ nhỏ nhất trên Thế giới, đã bị liệt kê vào những loài cực kỳ nguy cấp (với số lượng < 500 con)
mới phát hiện năm 2007 –Indonesia, xếp vào những loài dễ bị tổn thương
Một số loài động vật khác cũng đang bị đe dọa nghiêm trọng như dơi, tê giác Sumantra hay gấu chó Malayan do mất môi trường sống và bị săn bắn trái
phép Người ta tin rằng sừng tê giác và dơi có thể giúp hạn chế căn bệnh ung thư
vú và nhiều bệnh khác
Bên cạnh đó, rừng than bùn Đông Nam Á còn đặc trưng bởi rất nhiều
loài động vật khác cá, chim, bò sát (đặc biệt là rắn độc) và các loài côn trùng
Trang 9
Rắn Wagler’s pit – một trong
số các loài rắn có độc tại Singapore
3. Hiện trạng phát thải khí nhà kính: [3,7, 8, 9, 10]
Các hoạt động của con người và biến đổi khí hậu đang đe dọa đến việc phát thải khí một lượng lớn các khí nhà kính từ những vùng đất than bùn trên thế giới nói chung và tại khu vực Đông Nam Á nói riêng vào bầu khí quyển Đó chủ yếu là các khí như hơi nước (thoát ra từ quá trình bốc hơi), CO2 (từ quá trình thoát nước, khai thác than bùn, cháy rừng), N2O (hoạt động nông nghiệp, đốt sinh khối)
và CH4 (từ phân hủy, chăn nuôi) Trong đó, CO2 là khí được quan tâm nghiên cứu nhiều nhất do có ảnh hưởng tới khí quyển lớn nhất
Trong số những nguyên nhân làm phát thải khí CO2 từ đất than bùn ra ngoài khí quyển, thoát nước là nguyên nhân chính Ban đầu, thoát nước chỉ được xem là một hệ quả của quá trình oxy hóa sinh học than bùn và làm sụt lún bề mặt đất Nhưng về sau, người ta phát hiện ra, quá trình thoát nước này đã làm mất mát một lượng cacbon rất lớn vào khí quyển
Những năm gần đây, lượng cacbon bị mất đi từ những vùng đất than Đông Nam Á do thoát nước đang tăng mạnh và góp phần đáng kể vào phát thải khí nhà kính Ở quy mô toàn cầu, lượng CO2 phát thải từ quá trình thoát nước ở đất than bùn tại Đông Nam Á đã đóng góp 1,3% đến 3,1% lượng khí CO2 phát
Trang 10thải từ việc đốt nhiên liệu hóa thạch (A Hooijer, et al, 2010). Indonesia và Malaysia
là hai nước có diện tích rừng đầm lầy han bùn lớn nhất Đông Nam Á và chúng chứa 77% ∑C trong toàn bộ khu vực đất than bùn nhiệt đới (A Hooijer, et al, 2012)
Năm 2006, từ 27,1 triệu ha đất than bùn ở Đông Nam Á, 12,9 triệu ha đã bị chặt phá và chủ yếu là thoát nước Từ đó, lượng CO2 phát thải đã đạt từ 355 triệu tấn/năm đến 855 triệu tấn/năm, với 82% đến từ Indonesia (A Hooijer, et al, 2010).
Hình 5: Tổng lượng phát thải khí CO2 năm 2008 (đơn vị: triệu tấn) [3]
Hình 5 cho chúng ta biết lượng khí CO2 thoát ra tại những khu vực đất than bùn
ở từng quốc gia Trong đó, Indonesia là nước có lượng phát thải CO2 lớn nhất trên thế giới, với 500 triệu tấn/năm Sau đó mới đến các quốc gia chiếm diện tích lớn đất than bùn như Nga (phần thuộc châu Âu) 137 triêu tấn/ năm, Trung Quốc 77 triệu tấn/năm và Mỹ là 67 triệu tấn/ năm Việt Nam xếp thứ 23 trong tổng số 25 nước được xem xét, với lượng thải ước lượng là 5 triệu tấn/năm [3]
Trước hiện trạng đó, các quốc gia Đông Nam Á đang cố gắng hạn chế sự phát thải khí nhà kính bằng việc tham gia các dự án, chương trình quốc tế như Chương trình REDD+_ chương trình giảm phát thải từ phá rừng và suy thoái rừng, các dự án
về quản lý các vùng đất than bùn của UNEP-GEF…
Trang 11IV. Kết luận:
Diện tích đất than bùn ở Đông Nam Á đang ngày càng thu hẹp do các hoạt động sử dụng đất để canh tác, khai thác than bùn hay cháy rừng
Các nước có diện tích đất than bùn lớn nhất Đông Nam Á là Indonesia
và Malaysia cũng là những nước có tỷ lệ thu hẹp diện tích đất than bùn lớn nhất
Cụ thể là từ năm 1990 – 2010, tỷ lệ che phủ của các khu rừng đầm lầy than bùn ở Malaysia giảm từ 77% → 36%
Diện tích rừng bị mất cũng là mối đe dọa lớn đến sự đa dạng sinh học tại các vùng đất than bùn Đông Nam Á Ngày càng có nhiều loài được đưa vào sách
đỏ của IUCN
Bên cạnh đó, vấn đề phát thải khí nhà kính cũng đang trở nên ngày càng nghiêm trọng hơn Các khí nhà kính (CO2, NH4, N2O…) đang được phát thải từ những khu rừng đầm lầy than bùn ĐNA chiếm một lượng rất lớn trong phát thải khí nhà kính, chỉ đứng sau hoạt động năng lượng
Trên cơ sở đó, các nước trong khu vực cần có biện pháp để ngăn chặn những tác động xấu này Một trong nhiều giảm pháp có thể được đưa ra là hạn chế hoạt động khai thác và sử dụng từ người dân
Tài liệu tham khảo:
1. Global Environment Centre and Wetlands International, 2008 Assessment on
peatlands, biodiversity and climate change main report
2. Coordinating Committee for Global Action on Peatlands, 2005 Peatlands do you care? Global Environment Centre
3. Wetlands International, 2010 Peatlands: Hotspots for Emissions reductions
4. Nguyễn Thị Thanh Trâm, TCMT 12/2011 Hiện trạng và giá trị của các vùng đất than bùn trong khu vực Đông Nam Á Tổng cục môi trường
5. Rehabilitation and Sustainable Use of Peatland Forests in Southeast Asia, 2011 ASEAN Peatland Forests Project (APFP) Association of Southeast Asian Nations (ASEAN) and the Global Environment Centre
6. Hans Joosten, Marja-Liisa Tapio-Biström & Susanna Tol (eds.), May 2012
Peatlands – guidance for climate change mitigation by conservation, rehabilitation and sustainable use Food and Agriculture Organization of the United Nation (FAO)
7. CARBOPEAT, 2012 Tropical Peatlands & Biodiversity in SE Asia
www.carbopeat.org
8. A Hooijer, et al, 2010 Current and future CO2 emissions from drained peatlands in Southeast Asia Biogeosciences, 7, 1505–1514, 2010
9. A Hooijer, et al, 2012 Subsidence and cacbon loss in drained tropical peatlands Biogeosciences, 9, 1053–1071, 2012
10. Cahyono Agus, BambangH, 2011 The management of methan’s emission from tropical wetland area for environmental conservation and renewable energy