Quá trình suy thoái kinh tế: Các nền kinh tế theo định hướng thị trường có đặc điểm là tăng giảm theo chu kỳ kinh tế, nhưng sự suy giảm thực tế suy giảm các hoạt động kinh tế không thườ
Trang 1I SUY THOÁI - KHỦNG HOẢNG KINH TẾ:
1 Định nghĩa suy thoái – khủng hoảng kinh tế:
Suy thoái kinh tế (recession/economic downturn) được định nghĩa trong Kinh tế
học vĩ mô là sự suy giảm của Tổng sản phẩm quốc nội trong thời gian hai hoặc hơn hai quý liên tiếp trong năm (nói cách khác, tốc độ tăng trưởng kinh tế âm liên tục trong hai quý) Tuy nhiên, định nghĩa này không được chấp nhận rộng rãi Cơ quan nghiên cứu
kinh tế quốc gia (NBER) của Hoa Kỳ đưa ra định nghĩa về suy thoái kinh tế “là sự tụt giảm hoạt động kinh tế trên cả nước, kéo dài nhiều tháng”
Suy thoái kinh tế có thể liên quan sự suy giảm đồng thời của các chỉ số kinh tế củatoàn bộ hoạt động kinh tế như: việc làm, đầu tư, và lợi nhuận doanh nghiệp Các thời kỳ suy thoái có thể đi liền với hạ giá cả (giảm phát), hoặc ngược lại tăng nhanh giá cả (lạm phát) trong thời kì đình lạm
Một sự suy thoái trầm trọng và lâu dài được gọi là khủng hoảng kinh tế.
2 Quá trình suy thoái kinh tế:
Các nền kinh tế theo định hướng thị trường có đặc điểm là tăng giảm theo chu kỳ kinh
tế, nhưng sự suy giảm thực tế (suy giảm các hoạt động kinh tế) không thường xảy ra
Kinh tế lâm vào khủng hoảng sẽ kéo theo nhiều mặt khác của xã hội đi vào con đường
suy thoái và khủng hoảng trầm trọng hơn (Từ khủng hoảng tài chính -> khủng hoảng kinh tế -> khủng hoảng kinh tế thực -> khủng hoảng an ninh lương thực -> khủng hoảng chính trị) Nếu nhà nước chính quyền không có biện pháp gì ngăn chặn quá trình của
khủng hoảng thì việc dẫn tới bạo loạn là nhất thiết
Vậy để hiểu được quá trình suy thoái này, chúng ta cần hiểu được chu kỳ kinh tế là như
thế nào: Chu kỳ kinh tế, hay là chu kỳ kinh doanh, là sự biến động của GDP thực tế theo trình tự ba giai đoạn: suy thoái, phục hồi và hưng thịnh (bùng nổ)
Trang 2Các pha của chu kỳ kinh tế:
- Suy thoái là giai đoạn mà GDP thực tế giảm đi Ở Mỹ và Nhật Bản, người ta quy định rằng, khi tốc độ tăng trưởng GDP thực tế mang giá trị âm suốt hai quý liên tiếp thì mới gọi là suy thoái
- Phục hồi là giai đoạn trong đó GDP thực tế tăng trở lại bằng mức ngay trước suy thoái
Thời điểm tiếp giao giữa 2 giai đoạn này gọi là đáy của chu kỳ.
- Khi GDP thực tế tiếp tục tăng và bắt đầu lớn hơn mức ngay trước lúc suy thoái, nền kinh tế đang ở giai đoạn hưng thịnh (hay còn gọi là pha bùng nổ)
Dấu hiệu thường thấy nhất là chỉ số chứng khoán có chiều hướng đi lên, sau đó là bất động sản có chiều hướng ổn định và lên dần… tiếp tới là chỉ số tiêu dùng Chính vì vậy người ta thường đầu tư chứng khoán vào lúc này, thị trường trở nên lạc quan.
Kết thúc giai đoạn hưng thịnh lại bắt đầu đợt suy thoái mới Điểm giao tiếp từ giai đoạn
hưng thịnh sang pha suy thoái mới gọi là đỉnh của chu kỳ kinh tế.
Thông thường, người ta chỉ nhận ra hai điểm đáy và đỉnh của chu kỳ kinh tế khi nền kinh
tế đã sang giai đọan kế tiếp với dấu hiệu là tốc độ tăng trưởng GDP thực tế đổi chiều giữamức âm và mức dương Trong thực tế, các nhà kinh tế học cố tìm cách nhận biết dấu hiệucủa suy thoái vì nó tác động tiêu cực đến mọi mặt kinh tế, xã hội
Trang 3Một số đặc điểm thường gặp của suy thoái là:
- Tiêu dùng giảm mạnh, hàng tồn kho của các loại hàng hóa lâu bền trong các doanh nghiệp ứ đọng ngoài dự kiến Việc này dẫn đến nhà sản xuất cắt giảm sản lượng kéo theo đầu tư vào trang thiết bị, nhà xưởng cũng giảm và kết quả là GDP thực tế giảm sút
- Nhu cầu về lao động giảm, dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp tăng cao
- Khi sản lượng giảm thì lạm phát sẽ chậm lại do giá đầu vào của sản xuất giảm bởi nhu cầu sút kém Giá cả dịch vụ khó giảm nhưng cũng tăng không nhanh trong giai đoạn kinh
tế suy thoái
- Lợi nhuận của các doanh nghiệp giảm mạnh và giá chứng khoán thường giảm theo khi các nhà đầu tư cảm nhận được sự đi xuống của chu kỳ kinh doanh Nhu cầu về vốn cũng giảm đi làm cho lãi suất giảm xuống trong thời kỳ suy thoái
Còn khi nền kinh tế hưng thịnh thì các dấu hiệu trên biến thiên theo chiều ngược lại.
Một số kiểu suy thoái kinh tế:
Suy thoái hình chữ V: Đây là kiểu suy thoái mà pha suy thoái ngắn, tốc độ suy
thoái lớn; đồng thời, pha phục phồi cũng ngắn và tốc độ phục hồi nhanh; điểm đồi chiều giữa hai pha này rõ ràng Đây là kiểu suy thoái thường thấy
Suy thoái hình chữ
V, như trường hợp
suy thoái kinh tế
ở Hoa Kỳ năm 1953
Trang 4 Suy thoái hình chữ U: Đây là kiểu suy thoái mà pha phục hồi xuất hiện rất chậm
Nền kinh tế sau một thời kỳ suy thoái mạnh tiến sang thời kỳ vất vả để thoát khỏi suy thoái Trong thời kỳ thoát khỏi suy thoái, có thể có các quý tăng trưởng dương
và tăng trưởng âm xen kẽ nhau
Suy thoái hình chữ U, như trường
hợp suy thoái kinh tế
ở Hoa Kỳ trong các năm 1973-1975
Suy thoái hình chữ W: Đây là kiểu suy thoái liên tiếp Nền kinh tế vừa thoát khỏi
suy thoái được một thời gian ngắn lại tiếp tục rơi ngay vào suy thoái
Suy thoái hình chữ W, như
trường hợp suy thoái kinh tế ở Hoa Kỳ đầu thập niên 1980
Trang 5 Suy thoái hình chữ L: Đây là kiểu suy thoái mà nền kinh tế rơi vào suy thoái
nghiêm trọng rồi suốt một thời gian dài không thoát khỏi suy thoái Một số nhà kinh tế gọi tình trạng suy thoái không lối thoát này là khủng hoảng kinh tế
Suy thoái hình chữ L, như trường hợp Thập kỷ mất mát (Nhật Bản)
3 Nguyên nhân suy thoái kinh tế
Những nguyên nhân đích thực của suy thoái kinh tế vẫ còn là một vấn đề gây nhiều tranh cãi giữa các nhà lý thuyết và những người đề ra chính sách mặc dù đa số thống nhất rằng
các kỳ suy thoái kinh tế gây ra bởi sự kết hợp của các yếu tố bên trong (nội sinh) theo chu kỳ và các yếu tố từ bên ngoài (ngoại sinh).
Ví dụ, những nhà kinh tế học chủ nghĩa Keynes và những lý thuyết gia theo lý thuyết chu
kỳ kinh tế thực tuy có bất đồng về nguyên nhân của chu kỳ kinh tế, nhưng lại thống nhất
rằng các yếu tố ngoại sinh như giá dầu, thời tiết, hay chiến tranh có thể tự chúng gây ra suy thoái kinh tế nhất thời, hoặc ngược lại, tạo sự tăng trưởng kinh tế ngắn hạn Phần lớn
học giả theo thuyết tiền tệ tin rằng những thay đổi triệt để về cơ cấu kinh tế không phải là
nguyên nhân chủ yếu của sự suy thoái mà nguyên nhân chính của các thời kỳ suy thoái ở
Mỹ là bởi sự quản lý tiền tệ yếu kém
4 Lợi và hại của nền kinh tế trong thời kỳ suy thoái
Trang 6Kinh tế suy thoái mang lại những hậu quả phức tạp, song cũng là cơ hội tái xây dựng mộtnền tảng phát triển bền vững Suy thoái kinh tế hiện đang là một vấn đề làm đau đầu các nhà điều hành, chuyên gia kinh tế và người dân trên thế giới Suy thoái gây ra tình trạng thất nghiệp, giá cổ phiếu sụt giảm và kinh tế đi xuống Tuy nhiên có ba lý do chúng ta nên lạc quan khi suy thoái xảy ra.
_ Sự suy thoái giúp nền kinh tế tái lập một nền vững chắc để tăng trưởng
Dù muốn hay không, nền kinh tế của chúng ta không thể lúc nào cũng đi lên suôn sẻ Sau một thời gian vận hành, cỗ máy kinh tế sẽ gặp phải những vấn đề nhất định Khi kinh tế
đi xuống, những bong bóng và vấn đề còn tồn tại như trên sẽ được thanh lọc và nền kinh
tế sẽ lại có một cái nền vững chắc để tăng trưởng Cũng giống như một bệnh nhân đi khám răng, người đó sẽ phải chịu đau khá lâu, nhưng cuối cùng người đó sẽ có sức khỏe tốt hơn Một nền kinh tế tăng trưởng tốt sẽ đi lên từ sự giải quyết triệt để những vấn đề còn tồn tại hiện nay
_Thị trường chứng khoán trong thời kỳ suy thoái mang đến những cơ hội mới
Thị trường chứng khoán là một trong những hàn thử biểu về sức khỏe của nền kinh tế, những thời kỳ suy thoái kinh tế thường đi kèm với giá cổ phiếu hạ mạnh
Trong thời kỳ kinh tế khủng hoảng, cả những cổ phiếu tốt và cổ phiếu xấu đều bị bán ra
và vì thế giá những cổ phiếu này hạ mạnh Như vậy những cổ phiếu có triển vọng đầu tư lâu dài hiện đang đứng ở mức giá rất thấp Thị trường tài chính có thể chấn động, song những lĩnh vực khác của nền kinh tế vẫn tăng trưởng tốt và vì thế mang đến nhiều cơ hội mới cho nhà đầu tư
Điểm mặt những cổ phiếu lớn trên TTCK Mỹ như Google, Apple, hai cổ phiếu này từ đầu năm cho đến nay đã hạ 25% Cổ phiếu Dell, Oracle và Microsoft từ đầu 2008 hạ 9 đến 18% Trong lĩnh vực công nghệ họ là những tên tuổi lớn và tiềm năng phát triển tốt Khi cổ phiếu của họ đang hạ như hiện nay, đó là cơ hội mua vào những cổ phiếu tốt cho nhà đầu tư
Trang 7_Suy thoái kinh tế không thể kéo dài mãi
Từ sau chiến tranh thế giới thứ 2, kinh tế thế giới đã trải qua 10 lần suy thoái và sau đó đãphục hồi trở lại Tuy rằng hiện nay, mỗi ngày chúng ta lại nghe thêm một tin tức xấu về nền kinh tế, tính từ sau Cuộc Đại Chiến Thế Giới đó, mỗi lần suy thoái kinh tế trung bìnhchỉ kéo dài khoảng 10 tháng
II CÁC CUỘC SUY THOÁI – KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TRÊN THẾ
GIỚI:
1 Khủng hoảng kinh tế năm 1929 – 1933 (Đại suy thoái):
Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933 là cuộc khủng hoảng kinh tế lớn nhất trong lịch sử của chủ nghĩa tư bản Đó là cuộc khủng hoảng sản xuất “ thừa”, bởi vì sự sản xuất bừa bãi, ồ ạt chạy theo lợi nhuận trong những năm ổn định của chủ nghĩa tư bản 1924-1929
đã dẫn đến tình trạng hàng hoá ế thừa vì sức mua của quần chúng đã bị giảm sút nhiều do
sự bóc lột tàn tệ của giai cấp tư sản
Ngày 24 tháng 10 năm 1929, Phố Wall rối loạn Gần 13 triệu cổ phiếu ‒ nhiều gấp ba lần số lượng giao dịch thông thường ‒ bị các nhà đầu tư hoảng loạn bán tháo trên thị trường chứng khoán New York Ngày này đi vào lịch sử như ngày thứ Năm đen tối (Black Thursday) mở đầu cho cuộc Đại khủng hoảng (Great Crash) của thị trường chứng khoán
Mỹ và cuộc Đại suy thoái (Great Depression) kéo dài từ năm 1929 tới năm 1933
Đại Suy thoái là thời kỳ suy thoái kinh tế toàn cầu diễn ra từ năm 1929 đến hết các năm
1930 và lân sang đầu thập kỷ 1940 Bắt đầu ở Hoa Kỳ và nhanh chóng lan rộng ra
toàn Châu Âu và mọi nơi trên thế giới, phá hủy cả các nước phát triển Đại Suy thoái kết thúc vào các thời gian khác nhau tùy theo từng nước Nó bị coi là "đêm trước" của Thế chiến thứ hai
a) Nguyên nhân:
Trang 8- Sự dễ dãi trong tăng tín dụng đẩy các ngân hàng dễ dàng cho vay, dẫn tới bùng nổ quá mức cung tiền ngay trước khi khủng hoảng, đẩy thị trường chứng khoán bùng nổ, ngân hàng cho vay quá nhiều, nhưng lại không thể quản lý được rủi ro Khi thị trường chứng khoán sụp đổ, kéo theo sụp đổ dây chuyền của các thể chế tài chính do các khoản nợ kémkhông đòi được.
- Theo trường phái Keynes, là do cơ chế tự điều chỉnh của thị trường tự do không hoạt động được Dù lãi suất giảm nhưng đầu tư không tăng được do kỳ vọng về tương lai quá
bi quan
- Theo trường phái của kinh tế tiền tệ (monetarist), khủng hoảng là do sự siết chặt quá mức của cung tiền năm 1930, và rằng Cục dự trữ Liên Bang đã sử dụng sai chính sách tiền tệ, đáng nhẽ phải tăng cung tiền, thay vì đã giảm cung tiền
- Một số lý thuyết riêng rẽ khác giải thích Đại Khủng hoảng:
Khủng hoảng nợ dưới chuẩn (Deft Deflation): Khi nợ bị đánh giá khó đòi, việc
bán ra số lượng lớn với giá rẻ, làm cho tài sản nhìn chung lại càng mất giá, khiến các khoản nợ còn tồn lại càng giảm chất lượng (do tài sản thế chấp bị giảm giá) Vòng xoáy này như quả bóng tuyết càng ngày càng to, đẩy cả thị trường nợ và tài sản xuống, làm cho các thể chế tài chính và cá nhân trên thị trường vỡ nợ Khi vỡ nợ nhiều quá, đẩy sản xuất và lợi nhuận xuống thấp, đầu tư đình trệ, việc làm mất và dẫn tới bẫy đói nghèo.
Sự bất công bằng trong giàu nghèo và thu nhập: Sự bất công bằng trong giàu
nghèo được Waddill Catchings và William Trufant Foster cho là nguyên nhân của Đại Khủng Hoảng Sản xuất ra quá nhiều hơn khả năng mua của thị trường (vốn đa
số là người nghèo) Lương tăng chậm hơn so với mức tăng năng suất Dẫn tới lợi nhuận cao, nhưng lợi nhuận lại bị rót vào thị trường chứng khoán, mà không phải đưa tới cho người tiêu dùng Do thị trường chứng khoán tăng nhanh, các doanh nghiệp mở rộng sản xuất, FED lại để mức lãi xuất cho vay rất thấp, làm đẩy mạnh đầu tư Nền kinh tế tăng nóng trong một thập kỷ, đến mức khả năng sản xuất quá cao
Trang 9so với mức hiệu quả và so với mức cầu Như vậy, nguyên nhân của khủng hoảng là do đầu tư quá mức vào các ngành công nghiệp nặng thay vì vào lương và doanh nghiệp vừa và nhỏ Nền kinh tế tăng quá mức hiệu quả và lạm phát quá cao.
Cấu trúc thể chế tài chính: Các ngân hàng bị cho là quá rủi ro, khi dự trữ quá ít,
đầu tư quá nhiều vào thị trường chứng khoán và các tài sản rủi ro Khối nông nghiệp thì do giá đất tăng quá cao, hiệu suất nông nghiệp thấp, trong khi nông dân đi vay quá nhiều để sản xuất, khi lãi suất đột ngột tăng cao thì họ lâm vào phá sản vì không thể sản xuất để trả lãi vay cao Một số nhà kinh tế cho rằng nguyên nhân có thể là từ Bẫy Thanh khoản (khi các chính sách tiền tệ như giảm lãi suất và tăng cung tiền không thể thúc đẩy nền kinh tế).
Chế độ bản vị Vàng: Để chống lạm phát, các nước sau Thế chiến I áp dụng bản
vị vàng (đồng tiền gắn chặt với một lượng vàng nhất định).Bắt đầu từ vụ Sụp đổ của thị trường chứng khoán Mỹ, nhưng vì chế độ bản vị vàng, mà khủng hoảng từ Mỹ lan rộng ra khắp thế giới Chính vì các chính phủ vẫn tiếp tục giữ chế độ bản vị vàng, họ không thể đưa ra các chính sách tiền tệ nới lỏng để chữa khủng hoảng Những nước nào thoát khỏi bản vị vàng sớm chính là những nước khôi phục kinh tế sớm.
Sụp đổ thương mại quốc tế: Do các nước châu Âu sau Thế chiến I nợ Mỹ nhiều,
họ phải trả nợ hàng năm Họ cũng xuất khẩu sang Mỹ để lấy ngoại hối trả nợ, đồng thời họ cũng nhập khẩu hàng từ Mỹ cho nhu cầu Đến cuối thập kỷ 1920, nhu cầu nhập hàng Mỹ giảm do khủng hoảng và do tiền để trả nợ Đồng thời khi hàng rào thuế quan của Mỹ tăng cao theo Luật Smoot–Hawley Tariff Act, việc xuất khẩu vào thị trường Mỹ giảm, dẫn tới các nước trên thế giới càng gặp khó khăn thương mại quốc tế đình trệ càng làm cho khủng hoảng kinh tế năm 1930 thêm tồi tệ.
b) Diễn biến:
- Tháng 9-1929, cuộc khủng hoảng bắt đầu từ nước Mĩ, là nước tư bản giàu nhất Sản lượng công nghiệp ở Mĩ giảm 50%, trong đó gang, thép sụt xuống 75%, ô tô giảm 90%,
Trang 1011500 xí nghiệp nhỏ và cả những xí nghiệp lớn bị phá sản Nông thôn cũng bị tác động mạnh mẽ.
Để nâng cao giá hàng hoá và thu nhiều lời, các nhà tư bản kếch sù đã tiêu huỷ hàng hoá :
cà phê, sữa, lúa mì, thịt, v.v bị đốt hay đổ xuống biển chứ không được bán hạ giá Cuộc khủng hoảng lan rộng đến các nước tư bản chủ nghĩa khác
_ Ở Anh, sản lượng gang năm 1931 sụt mất 50% , thép cũng sụt gần 50% , thươngnghiệp sụt 60%
_ Ở Pháp, cuộc khủng hoảng bắt đầu từ cuối năm 1930 và kéo dài đến năm 1936, sản lượng công nghiệp giảm 30%, nông nghiệp 40%, ngoại thương 60%, thu nhập quốc dân 30%
_ Ở Đức, đến năm 193, sản lượng công nghiệp giảm 77% Ở các nước Ba Lan, Ý, Ru-ma-ni, Nhật, đều có khủng hoảng kinh tế
- Để cứu vãn tình hình, chính phủ các nước tư bản thi hành một số chính sách như đánh thuế nhập cảng nặng để hạn chế hàng hoá nước ngoài vào, lấy tiền trong ngân quỹ nhà nước trợ cấp cho các nhà tư bản Chính phủ Mĩ đã bỏ ra hàng chục triệu đô la trong việc trợ cấp này
Cuộc khủng hoảng kéo dài trong 4 năm, đến năm 1933 thì chấm dứt.
c) Hậu quả :
- Trong thời kì khủng hoảng kinh tế, đời sống nhân dân thật là khốn khổ
_ Thứ nhất là nạn thất nghiệp Ở Mĩ, năm 1933, có 17 triệu người thất nghiệp,
đó là chưa kể vô số nông dân bị phá sản, phải bỏ ruộng vườn đi ra thành phố sống lang thang Ở Anh, năm 1931, có 3 triệu người thất nghiệp Ở các nước khác cũng xảy ra tình trạng ấy
_Thứ hai là tiền lương bị giảm xuống rất nhiều
Trang 11Ở Mĩ, lương công nhân công nghiệp chỉ còn 56 % Ở Anh lương giảm còn 66%; ở Pháp lương giảm từ 30 đến 40% Đó là chưa kể giá đồng bạc sụt xuống làm cho tiền lương thực tế càng bị giảm sút hơn Ở Pháp, mức thu nhập của nông dân giảm 2,7 lần và hàng vạn nông dân bị vỡ nợ và phá sản Do đó đời sống của nhân dân lao động rất cùng cực Năm 1931, riêng thành phố Niu-ooc ( Mĩ ) có hàng nghìn người chết đói Bị đẩy đến bước cùng cực, công nhân và nhân dân lao động nổi dậy đấu tranh Ở Mĩ năm 1930 có 2 vạn công nhân biểu tình thị uy, từ năm 1929-
1933, có 3 triệu rưỡi công nhân tham gia bãi công Ở Đức, năm 1930, 15 vạn côngnhân bãi công, năm 1933, 35 vạn công nhân mỏ bãi công
Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933 là cuộc khủng hoảng lớn nhất trong những cuộc khủng hoảng kinh tế xảy ra từ xưa đến nay Nó làm cho những mâu thuẫn trong xã hội tư bản và mâu thuẫn giữa các nước tư bản với nhau đã gay gắt càng thêm gay gắt, chủ nghĩa
tư bản thế giới càng thêm suy yếu
2 Các cuộc suy thoái từ năm 1947 – 2000:
SUY
THOÁI
NĂM 1947
-Bắt nguồn từ những bước tiền thần tốc của giai đoạn hồi phục kinh
tế sau chíến tranh thế giới của Mỹ
- Năm 1947 chính là giai đoạn kinh tế Mỹ đạt đỉnh của chu kỳ tăng trưởng sau
chiến tranh (nước Mỹ chiếm tới 50% tổng sản lượng nông nghiệp toàn thế giới, gần như 100% người lao động có việc làm) Cũng từ
thời điểm này, ngoại trừ lương thực, nhu cầu tiêu thụ hàng hóa nói chung của nước Mỹ đã trở nên bão hòa
do hàng hóa được sản xuất
-Dù hậu quả của cuộc suy thoái 1947
là không quá tồi tệ nhưng nó cũng đủ gây trì trệ kinh tế, khiến nhiều doanh nghiệp phá sản cũngnhư tỷ lệ thất nghiệpleo thang
Trang 12nhiều tới mức thừa mứa.
-Lạm phát leo thang bắt đầu
từ 1951, sau chiến tranh Triều Tiên
-Trước tình hình đó, FED đã
áp dụng chính sách tài khóa thắt chặt, thể hiện ở việc cắt giảm chi tiêu Chính phủ, tăng thuế, lãi suất, và tích lũy dự trữ
Chính các biện pháp mạnh tay trên đã tạo ra sự bi quan trong người dân, dẫn đến việc giảm chi tiêu tăng tiết kiệm, gây suy giảm tổng cầucủa nền kinh tế
-Dù chỉ kéo dài trong 10 tháng, bắt đầu từ quý II /1953 tới quý I/1954, cuộc suy thoái năm 1953 vẫn gây thiệt hại ướctính lên tới 56 tỷ đôla cho nước Mỹ
SUY
THOÁI
NĂM 1958
Chính sách thắt chặttiền tệ và cắt giảm đầu tư tại Mỹ
-Tại Detroit, trái tim của ngành công nghiệp xe hơi,
tỷ lệ thất nghiệp đạt mức 20% trong 4/1958 Doanh
số bán xe giảm tới 31%
trong 1957, và biến 1958 thành năm tồi tệ nhất cho các nhà sản xuất xe kể từ sauChiến tranh Thế giới lần II
-Nhu cầu nhập khẩu tại Mỹ vẫn cao trong khi châu Âu lại giảm nhập khẩu từ Mỹ
-Nhiều quốc gia chưa phát triển sống dựa vào xuất khẩu tài nguyên như vật liệu thô, khoáng chất, hoặc sản phẩm nông nghiệp cũng gặp nhiều khó khăn
do nhu cầu sụt giảm tại Mỹ và châu Âu
Trang 13khiến thâm hụt thương mại leo thang.
-Thay vì mặt bằng giá giảm, điều thường xảy ra khi suy thoái, giá cả trong giai đoạn
1957 đến 1959 lại leo thang
-Thực tại trên đã gây không
ít hoang mang cho các nhà kinh tế trong quãng thời giannày
và các quốc gia ủng
hộ Israel trong cuộcchiến với Ai Cập vàSyria của các thành
viên OAPEC (the Organization of Arab Petroleum Exporting Countries: Tổ chức các nước xuất khẩu dầu thuộc khối Ả Rập)
-Trong giai đoạn khủng hoảng dầu mỏ, tại nhiều bang mỗi người dân chỉ được phép mua một lượng xăng dầu nhất định giá xăng trung bình tại Mỹ cũng tăng 86% chỉ trong 1 năm từ 1973-1974
- Giá dầu tăng nhanh từ dưới
20 đôla một thùng vào 1971 lên 100 đôla một thùng vào 1979
-Hậu quả của việc cấm vận dầu lửa là giá dầu tại thị trườngthế giới đã bị đội lêngấp 5 lần
-Cuộc khủng hoảng đồng thời tác động xấu đến thị trường tài chính, chứng khoán toàn cầu, vốn
đã chịu nhiều áp lực sau sự sụp đổ của Chế độ Bretton Woods Thị trường chứng khoán Mỹ mất 97 tỷ đôla chỉ sau một tháng rưỡi.-Suy thoái và lạm phát diễn ra tràn lan
Trang 14gây ảnh hưởng tới kinh tế Mỹ và nhiều quốc gia khác cho tới tận thập niên 80.-Tạo ra thay đổi lớn trong chính sách củaphương tây, trong
đó chú trọng tìm kiếm và bảo tồn năng lượng tự nhiên,cũng như đặt ra các quy định tiền tệ chặtchẽ hơn để chống lạm phát
-Góp phần thay đổi đáng kể vị thế chính trị, kinh tế của các nước xuất khẩu dầu, đặc biệt các quốc giaẢ-rập tại khu vực Trung Đông
70 Đây chính là tiền đề cho cuộc khủng hoảng kéo
-Giá năng lượng đi lên kéo theo lạm phát gia tăng, đạt đỉnh 13,5% trong năm 1980,
đã buộc Cục Dự trữ Liên bang (FED) phải thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ
-Tỷ lệ thất nghiệp cũng tăng nhanh chóng từ mức 5,6%
-Hậu quả của suy thoái lên ngành côngnghiệp xe hơi, nhà đất, và sản xuất théptồi tệ đến nỗi các ngành trên liên tục sụt giảm trong 10 năm sau, cho tới tận
Trang 15dài 30 tháng tại Mỹ
và được coi là lần suy thoái tồi tệ nhất
kể từ đại khủng hoảng 1930
của tháng 5/1979 lên 7,5%
một năm sau đó Bất kể kinh
tế bắt đầu hồi phục trong năm 1981, tỷ lệ thất nghiệp vẫn được duy trì ở mức cao
kỷ lục 7,5% và đạt mức lịch
sử 10,8% trong năm 1982
khi cuộc khủng hoảng tiếp theo kết thúc
-Là lần suy thoái kéo dài qua hai nhiệm kỳ tổng thống, ông Jimmy Carter từ 1977 đến
1981, và Ronald Reagan, từ 1981 tới 1989
3 Khủng hoảng tài chính năm 2007 – 2010:
a. Nguyên nhân:
Hầu hết các chuyên gia đều cho rằng nguyên nhân của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu bắt nguồn từ hoạt động cho vay thế chấp dưới chuẩn tại Mỹ Các ngân hàng của nước này đã cho phép những khách hàng có độ rủi ro tín dụng cao được phép vay tiền Những khoản vay này, cùng với trái phiếu và tài sản thế chấp khác trở thành các Chứng chỉ nợ (CDO) - một loại hàng hóa được ưa chuộng trên thị trường tài chính toàn cầu.Tuy nhiên, việc nhà đất trượt dốc trong khi lãi suất ngân hàng tăng khiến nhiều khách hàng mất khả năng trả nợ CDO cũng vì thế mà kém sức hút đối với nhà đầu tư Các ngân hàng miễn cưỡng phải cho nhau vay tiền trong khi không biết đối tác đang sở hữu bao nhiêu nợ xấu
Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tín dụng nhanh chóng vượt khỏi biên giới nước Mỹ Các ngân hàng đầu tư tại Australia cũng nhanh chóng ghi nhận lỗ Họ ngừng bán ra trái phiếu trong khi hồi hộp chờ đợi diễn biến thị trường
Trang 16Nguồn tiền cho vay không có sẵn khiến các công ty, cá nhân và ngay chính các ngân hàng lâm vào tình trạng khốn đốn Người ta nhìn thấy những dấu hiệu đầu tiên của suy thoái như thất nghiệp, vỡ nợ hay giá tiêu dùng tăng vọt.
Tại Anh, ngân hàng Northern Rock phải nhờ đến khoản vay khẩn cấp của Chính phủ để tồn tại trong khi vẫn lo lắng về khoản tiền 2 tỷ bảng (3,3 tỷ USD) có thể bị các khách hàng gửi tiền rút bất cứ lúc nào Ngân hàng này nhanh chóng bị quốc hữu hóa Trong khi
đó, sự sụp đổ của ngân hàng Bear Stearns làm tổn thương nghiêm trọng niềm tin của thị trường và đặt dấu chấm hết cho các ngân hàng chỉ hoạt động trong lĩnh vực đầu tư
Trong nỗ lực tìm kiếm một giải pháp lâu dài, Chính phủ Mỹ đồng ý thông qua gói cứu trợ trị giá 700 tỷ USD giúp mua lại nợ xấu của Phố Wall Kế hoạch này thực chất là việcChính phủ nước này vay tiền từ thị trường tài chính thế giới Họ hy vọng có thể trả được những khoản vay này một khi thị trường nhà đất ổn định trở lại
Trang 17Nước Anh cũng thực hiện một kế hoạch tương tự bằng việc bơm khoảng 400 tỷ Bảng (660 tỷ USD) cho 8 ngân hàng hàng đầu nước này Đổi lại, Chính phủ sẽ nắm một lượng
cổ phần nhất định của các ngân hàng này
Các nền kinh tế lớn trên thế giới nhanh chóng chịu ảnh hưởng dây truyền của cuộc khủng hoảng tín dụng Nhiều chính sách đối phó được đưa ra Chính phủ Pháp hay Iceland tiến hành quốc hữu hóa một số ngân hàng trong khi tại Mỹ hay Canada, ngân hàng trung ương cố gắng cắt giảm lãi suất xuống khoảng 0,5%
Tiếp theo thị trường tài chính, chứng khoán bắt đầu phản ứng trước những tin tức không mấy tốt lành Niềm tin của các nhà đầu tư lung lay, cổ phiếu ngành ngân hàng trượt giá