Lãi từ chứng khoán nợ là một chi phí được khấu trừ thuế, cổ tức và lợi nhuận giữ lại thì không - Khoản khấu trừ thuế của lãi từ chứng khoán nợ làm tăng tổng lợi nhuận có thể dùng để trả
Trang 1DANH SÁCH NHÓM 4 – LỚP NGÂN HÀNG ĐÊM 4 – K20
2 Nguyễn Thị Thu Hiền 988933807 ntth_bank247@yahoo.com.vn
ĐỀ TÀI :
MỘT DOANH NGHIỆP NÊN VAY BAO NHIÊU ?
Trang 2MỘT DOANH NGHIỆP NÊN VAY BAO NHIÊU ?
Ở chương 14, chúng ta đã thấy chính sách nợ hiếm khi đặt thành vấn đề trong các thị
trường vốn vận hành tốt (định đề I của MM) hay
Giá trị doanh nghiệp có sử dụng nợ = giá trị doanh nghiệp không sử dụng nợ
Nếu chính sách nợ không đặt thành vấn đề thì các tỷ lệ nợ thực tế sẽ thay đổi một cáchngẫu nhiên giữa doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác và giữa ngành này với ngành khác.Trên thực tế có sự khác biệt trong tỷ lệ nợ giữa doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác vàgiữa ngành này với ngành khác Chính sách nợ của doanh nghiệp có thể ảnh hưởng tới giátrị doanh nghiệp
Việc giải thích sự khác biệt này nằm một phần ở các yếu tố mà ta chưa đề cặp đến trong
chương 14 như thuế, chi phí phá sản và khánh kiệt tài chính, và nhiều yếu tố khác Trong
chương này chúng ta sẽ kết hợp các hiểu biết về lý thuyết MM cộng với các yếu tố này nhằmnghiên cứu tác động của nó với việc quyết định chính sách nợ của doanh nghiệp và giá trịdoanh nghiệp
I THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP
- Tài trợ nợ có một lợi thế quan trọng trong hệ thống thuế thu nhập doanh nghiệp Lãi
từ chứng khoán nợ là một chi phí được khấu trừ thuế, cổ tức và lợi nhuận giữ lại thì không
- Khoản khấu trừ thuế của lãi từ chứng khoán nợ làm tăng tổng lợi nhuận có thể dùng
để trả cho các trái chủ và cổ đông
Ví dụ: Báo cáo lợi tức doanh nghiệp U, không có nợ và doanh nghiệp L, vay nợ 1000$,
lãi suất 8% Thuế suất thuế TNDN 35%
Trang 3Nhận xét :
Qua bảng trên chúng ta nhận thấy rằng với thu nhập trước lãi và thuế là như nhau nhưng
vì dự án doanh nghiệp (DN) có vay nên thuế thu nhập doanh nghiệp DN trả ít hơn khi không
có vay thu nhập cho cổ đông và chủ nợ được gia tăng Và đây chính là tấm chắn thuế củadoanh nghiệp
Tấm chắn thuế = Tc * D * r D (35%*1000*8% = 28)
Chi phí sử dụng vốn sau thuế: r D * = r D * (1-Tc)
Giả sử DN sử dụng nợ có tính chất dài hạn (cố định và vĩmh viễn) và rủi ro của các tấmchắn thuế bằng rủi ro của các chi phí trả lãi phát sinh ra các tấm chắn thuế này, khi đó hiện giá
tấm chắn thuế thực chất là hiện giá của dòng tiền vĩnh viễn của tấm chắn thuế (Tc * D * r D)
với suất chiết khấu là r D lúc đó:
PV(tấm chắn thuế) = Thuế suất thuế TNDN x Lãi từ chứng khoán nợ dự kiến
tỷ suất sinh lợi kỳ vọng trên nợ
cái bánh không đổi thì thêm một đô la nợ có nghĩa là bớt một đô la vốn cổ phần
Ta hãy xem bảng cân đối kế toán mở rộng bên dưới khi có kể đến thuế vào Lúc nàyxuất hiện thêm lát bánh thứ 3 là hiện giá của thuế tương lai hay trái quyền của chính phủ và
MM cũng nói rằng giá trị của cái bánh (giá trị của tài sản trước thuế) không bị thay đổi do việc
bị cắt ra thành từng lát Bất cứ điều gì làm giảm lát bánh của chính phủ thì sẽ làm tăng
giá trị cho các cổ đông Vì vậy doanh nghiệp vay nợ giảm hóa đơn thuế (lát bánh của chính
phủ) bằng tấm chắn thuế dòng tiền cho các nhà đầu tư nợ và vốn cổ phần tăng
Trang 4Ví dụ: Sắp xếp lại cấu trúc vốn của Merck
Bảng cân đối kế toán giá trị sổ sách và giá trị thị trường đã đơn giản của Merck vào cuối năm 1994 (đơn vị tính: triệu đô la)
Giá trị sổ sáchVốn luân chuyển
Tài sản dài hạn
1,47314,935
1,1464,12311,139
Nợ dài hạnCác nghĩa vụ dài hạn khácVốn cổ phần
Tổng tài sản 16,408 16,408 Tổng nợ và vốn cổ phần
Giá trị thị trườngVốn luân chuyển
Giá trị thị trường của các tài
sản dài hạn
1,47351,212
1,1464,12347,416
Nợ dài hạnCác nghĩa vụ dài hạn khácVốn cổ phần
Tổng tài sản 52,685 52,685 Tổng nợ và vốn cổ phần
Giả sử công ty quyết định vay thêm 1 tỷ USD trên cơ sở vĩnh viễn và sử dụng số tiền này để mua lại cổ phần
Giá trị sổ sáchVốn luân chuyển
Trang 510,139 Vốn cổ phầnTổng tài sản 16,408 16,408 Tổng nợ và vốn cổ phần
Giá trị thị trườngVốn luân chuyển
Giá trị thị trường của các tài
Tổng tài sản 53,035 53,035 Tổng nợ và vốn cổ phần
Theo bảng kế toán thì chỉ cần đi vay tiền thì giá trị sau thuế của doanh nghiệp tăng lên
một khoản bằng hiện giá PV (tấm chắn thuế) 350 triệu
Trong trường hợp đặc biệt của nợ vĩnh viễn:
Giá trị của DN = Giá trị DN nếu được tài trợ hoàn toàn
bằng vốn cổ phần
+ Tc*D
Công thức trên ngụ ý rằng giá trị DN và tài sản cổ đông sẽ liên tục tăng khi nợ vay (D)tăng Tuy nhiên có 1 vấn đề được đặt ra là “có phải tất cả các DN nên tài trợ bằng 100% nợ ?”
Như vậy ta đã lập luận để tự đi vào ngõ cụt Chỉ có hai lối thoát:
Xem xét đầy đủ hơn hệ thống thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) và thuế thu nhập
Trang 6Để hoạt động hiệu quả, doanh nghiệp nên cố gắng tối thiểu hóa các khoản thuế chi trả từlợi nhuận của doanh nghiệp trong đó bao gồm cả thuế TNCN mà các trái chủ và cổ đông chitrả.
Nói đến thuế TNCN cần phân biệt giữa:
- Tp: thuế suất thuế TNCN đánh trên lãi từ chứng khoán nợ
- TpE: thuế suất thuế TNCN thực tế đánh trên lợi nhuận từ vốn cổ phần
Ở Mỹ: - Nếu lợi nhuận vốn cổ phần hoàn toàn là cổ tức: Tp =TpE
- Nếu lợi nhuận vốn cổ phần là lãi vốn: TpE có thể thấp hơn Tp và thuế đánhtrên lãi từ vốn cổ phần có thể được hoãn cho đến khi bán cổ phần
Ta có thể thấy rõ tác động đòn bẩy của thuế TNDN và thuế TNCN qua bảng biểu dướiđây:
Thu nhập hoạt động EBIT là 1 USD
Chi trả dưới góc độ lãi
từ chứng khoán nợ
Chi trả dưới góc độ lợinhuận từ vốn cổ phầnThuế thu nhập doanh
Lợi nhuận sau tất cả
Mục tiêu của một doanh nghiệp là sắp xếp cấu trúc vốn sao cho tối đa hóa lợi nhuận sauthuế Cấu trúc vốn của doanh nghiệp ấn định việc lợi nhuận hoạt động sẽ được chi trả với góc
độ lãi từ chứng khoán nợ hoặc là lợi nhuận vốn cổ phần Lãi từ chứng khoán nợ chỉ chịu thuế ởcấp cá nhân, lợi nhuận từ vốn cổ phần chịu thuế ở cả cấp cá nhân và doanh nghiệp Tuy nhiênthuế suất thuế thu nhập cá nhân TpE đánh trên lợi nhuận từ vốn cổ phần có thể thấp hơn thuế
Trang 7suất thuế TNCN Tp đánh trên lãi từ chứng khoán nợ Điều này làm giảm lợi thế thuế tương đốicủa nợ.
Nếu ta có: (1- Tp) > (1-TpE)(1-Tc) doanh nghiệp vay nợ sẽ tốt hơn và ngược lại.Khi đó, lợi thế thuế tương đối của nợ so với vốn cổ phần là:
Lợi thế tương đối của nợ = 1 - T p
(1 - T pE )( 1 –T c )
Nếu tất cả lợi nhuận từ vốn cổ phần đều là cổ tức thì lợi nhuận từ nợ và vốn cổ phần chịu mứcthuế TNCN là như nhau
Ta có trường hợp đặc biệt sau:
Một là, tất cả lợi nhuận từ vốn cổ phần đều là cổ tức
Lúc đó, lợi nhuận từ nợ và vốn cổ phần chịu cùng một mức thuế thu nhập cá nhân thực
tế (TpE = Tp) thì lợi thế tương đối chỉ tùy thuộc vào thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp (Tc)
Lợi thế tương đối của nợ = 1 - T p = 1
Lúc này giá trị doanh nghiệp trở lại với công thức tính giá trị doanh nghiệp trước đây:
Giá trị của doanh nghiệp
Trang 8Điều này đòi hỏi: 1 – T p = (1 - T pE )( 1 – T c )
Trường hợp này chỉ có thể xảy ra nếu thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp Tc thấp hơnthuế suất thuế thu nhập cá nhân đánh trên lãi từ chứng khoán nợ Tp và nếu thuế suất thực tế TpE
đánh trên lợi nhuận từ vốn cổ phần rất thấp
Trong bất kỳ trường hợp nào, chúng ta cũng có một quy luật quyết định là sắp xếp cấutrúc vốn của doanh nghiệp để chuyển hướng lợi nhuận hoạt động theo con đường nào mà chịuthuế ít nhất
2.1 Chính sách nợ trước và sau cải cách thuế
Ở Mỹ, trước cải cách thuế vào năm 1986 Tc = 46%, Tp = 50%, thuế suất lãi vốn cao
nhất là 20% Ta xem xét trường hợp một công ty không chi trả cổ tức, giả dụ là việc trì hoãn
nộp thuế lãi vốn đã cắt giảm thuế suất cá nhân thực tế trên lợi nhuận từ vốn cổ phần còn bằng
phân nửa tức TpE = 0,1
Sau cải cách thuế vào năm 1999: Với các giả định như trước cải cách nhưng bây giờ
Tc = 35%, Tp = 39,6%, thuế suất lãi vốn 28%
Trang 9Lợi nhuận sau tất cả thuế 0,604 0,559
Trong cả hai trường hợp này phương án tài trợ nợ vẫn dẫn đầu, việc dẫn đầu này cònmạnh mẽ hơn khi ta xem trường hợp các công ty chi trả cổ tức Giả dụ phân nửa lợi nhuận trênvốn cồ phần là cổ tức và phân nửa kia là lãi vốn, khi đó: thuế suất thực tế của lãi vốn28/2=14% nên thuế suất thực tế đánh trên lợi nhuận từ vốn cổ phần (0,396 + 0,14)/2 = 0,268
Lợi thế thuế của nợ so với cổ phần trong thực tế cũng rất phức tạp
2.2 “Nợ và thuế” của Merton Miller
Mô hình “Nợ và thuế” của Merton Miller giúp cho chúng ta biết cấu trúc vốn tác động như thế nào đến giá trị của doanh nghiệp khi các nhà đầu tư có các thuế suất khác nhau ?
Ông xem xét chính sách nợ trước đạo luật cải cách thuế 1986 và giả dụ tất cả lợi nhuậnvốn cổ phần là do lãi vốn chưa thực hiện và không ai chi trả thuế trên lợi nhuận vốn cổ phần:TpE = 0 cho tất cả các nhà đầu tư Nhưng thuế suất đánh trên lãi từ chứng khoán nợ tùy thuộcvào khung thuế suất của nhà đầu tư (0-0,5)
Giả dụ các công ty lúc đầu được tài trợ hoàn toàn bằng vốn cổ phần, không chi trả thuế
ở cấp cá nhân, khi đó giám đốc tài chính chỉ cần xem xét thuế TNDN và nó là động cơ khuyếnkhích doanh nghiệp vay nợ
Trang 10Khi công ty vay nợ sẽ thuyết phục nhà đầu tư nắm giữ trái phiếu thay vì cổ phần vì nhưvậy họ sẽ được miễn thuế nắm giữ nợ Như vậy tác động ban đầu của nợ vay là tiết kiệm thuếTNDN và giữ cho thuế TNCN không đổi.
Nhưng khi doanh nghiệp sẽ vay nhiều hơn, họ sẽ phải “hối lộ thông qua lãi suất tráiphiếu” để nhà đầu tư thuộc diện nộp thuế chuyển sang trái phiếu và việc “hối lộ” được thựchiện cho tới khi khoản tiết kiệm thuế TNDN lớn bằng khoản thuế TNCN phải đóng, khi đó Tpchuyển hướng bằng với Tc
Ví dụ: Thuế TNDN Tc=46%, giả định TpE = 0 Trong trường hợp này công ty sẽ “hốilộ” cho các nhà đầu tư thuế suất nhỏ hơn 46% để họ nắm giữ trái phiếu Đối với các nhà đầu tưthuế suất bằng 46% thì việc hối lộ sẽ không mang lại cho công ty và các nhà đầu tư này đầu tưvào chứng khoán nợ hay lợi nhuận vốn cổ phần cũng đều cho lợi nhuận sau thuế là 0,54£ / 1£lợi nhuận 1 – Tp = (1 - TpE)( 1 – Tc) hay 1-0,46 = (1-0)(1-0,46)
Việc gia tăng thuế suất có ảnh hưởng gì đến tỷ số nợ? Trước hết tỷ số nợ trên vốn cổphần cho các doanh nghiệp tùy thuộc vào thuế suất thuế TNDN và các nguồn vốn của các nhàđầu tư có các khung thuế suất khác nhau Nếu thuế suất thuế TNDN tăng làm cho tỷ số nợ trênvốn cổ phần cao Nếu thuế suất cá nhân tăng thì tỷ số nợ trên vốn cổ phần thấp Nhưng nếu cảhai loại thuế suất này đều tăng một khoản bằng nhau thì sẽ không có sự gia tăng đáng kể nàotrong tỷ số nợ trên vốn cổ phần
Một điểm cuối cùng về cân bằng thuế của Miller: do ông giả định lợi nhuận vốn cổ phầnkhông chịu thuế TNCN TpE = 0, các nhà đầu tư sẵn sàng nắm giữ cổ phần thường có rủi rothấp để nhận được tỷ suất sinh lợi thấp hơn so với tỷ suất sinh lợi từ nợ vay Theo mô hìnhđịnh giá tài sản vốn CAPM một cổ phần an toàn sẽ cho một lợi nhuận kỳ vọng r = rf (lãi suấtphi rủi ro), nhưng nhà đầu tư chuyển hướng từ vốn cổ phần sang nợ từ bỏ r để đạt được rf (1-Tp) là lãi suất sau thuế Trong trạng thái cân bằng, nhà đầu tư chuyển hướng hài lòng với nợhoặc vốn cổ phần nên r = rf (1-Tp) Mặt khác, Tp=Tc nên suy ra r=rf(1-Tc), điều này có nghĩa
là đường thị trường chứng khoán sẽ đi ngang lãi suất phi rủi ro sau thuế
Kết quả cuối cùng từ nợ và thuế
Mô hình Miller là một cách để minh họa thuế suất thuế TNDN và TNCN có thể cânbằng nhau như thế nào, làm cho giá trị của DN độc lập với cấu trúc vốn
Ta cần lưu ý là việc vay nợ không phải là cách duy nhất để che chắn lợi nhuận khỏi chịuthuế, mà các doanh nghiệp có thể đẩy nhanh khấu hao, đầu tư vào tài sản vô hình, đóng góp
Trang 11vào quỹ hưu bổng…vì khi doanh nghiệp càng che chắn lợi nhuận của mình nhiều thì tấm chắnthuế kỳ vọng từ vay nợ càng thấp.
Tấm chắn thuế thu nhập doanh nghiệp có giá trị đối với doanh nghiệp này khác vớidoanh nghiệp kia tùy tình hình tài chính của mỗi doanh nghiệp Doanh nghiệp không có khảnăng trả lãi từ chứng khoán nợ và triển vọng tương lai không chắc chắn thì nên vay ít nợ hơn
so với doanh nghiệp có triển vọng chắc chắn hơn với lợi nhuận có được từ tấm chắn thuế.Hoặc các doanh nghiệp có các khoản lỗ thuế tích lũy mang sang lớn thì không nên vay
Như vậy có một lợi thế thuế trung bình của việc vay nợ doanh nghiệp, ít nhất là đối vớicác công ty tin chắc là mình có thể sử dụng tấm chắn thuế thu nhập doanh nghiệp Và ngượclại sẽ là bất lợi thuế trung bình với những doanh nghiệp không dự kiến sử dụng được tấm chắnthuế thu nhập doanh nghiệp
III CHI PHÍ KIỆT QUỆ TÀI CHÍNH
Kiệt quệ tài chính xảy ra khi không thể đáp ứng các hứa hẹn với các chủ nợ hay đápứng một cách khó khăn Đôi khi kiệt quệ tài chính đưa đến phá sản Đôi khi nó chỉ có nghĩa làkhó khăn, rắc rối
Kiệt quệ tài chính rất là tốn kém và các nhà đầu tư biết rằng các doanh nghiệp có vay nợ
có thể sẽ rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính Lo ngại về kiệt quệ tài chính được phản ánhtrong giá trị thị trường hiện tại của chứng khoán các doanh nghiệp có vay nợ
Giá trị doanh nghiệp bao gồm:
Giá trị DN = Giá trị nếu được tài trợ + PV – PV
hoàn toàn bằng vốn CP (tấm chắn thuế) (CP của kiệt quệ tài chính)
Chi phí kiệt quệ tài chính tùy thuộc vào xác suất kiệt quệ và độ lớn của chi phí phảigánh chịu nếu kiệt quệ tài chính xảy ra
Công thức trên được diễn giải bằng hình sau:
11
Giá thị trường
GTDN của MM khi xét thuế nhưng
PV tấmchắn thuế
GTDN nếu đượctài trợ 100% VCP
Trang 12
Hình trên cho thấy đánh đổi giữa lợi ích thuế và chi phí của kiệt quệ ấn định cấu trúcvốn tối ưu Cụ thể, khi PV (tấm chắn thuế) ban đầu tăng khi doanh nghiệp vay thêm nợ Vớimức nợ trung bình và xác suất kiệt quệ tài chính là không đáng kể, PV (chi phí kiệt quệ tàichính) cũng nhỏ và lợi thế về thuế cũng vượt trội nhờ đó gia tăng giá trị doanh nghiệp Nhưngtại một điểm nào đó, xác suất kiệt quệ tài chính tăng nhanh với việc vay nợ thêm; chi phí kiệtquệ bắt đầu chiếm một lượng lớn giá trị của doanh nghiệp Cũng vậy, nếu doanh nghiệp khôngthể chắc chắn hưởng lợi từ tấm chắn thuế thu nhập doanh nghiệp, lợi thế thuế của nợ sẽ giảm
đi và cuối cùng biến mất Điểm tối ưu lý thuyết đạt được khi hiện giá của khoản tiết kiệm thuế
do vay nợ thêm vừa đủ bù trừ cho gia tăng trong hiện giá của chi phí kiệt quệ
Chi phí kiệt quệ tài chính bao gồm nhiều mục cụ thể như sau:
3.1 Chi phí phá sản:
Phá sản xảy ra khi cổ đông thi hành quyền không thực hiện nghĩa vụ của họ Quyền nàyrất có giá trị; khi một doanh nghiệp rơi vào tình thế khó khăn, trách nhiệm hữu hạn cho phépcác cổ đông dễ dàng rời bỏ doanh nghiệp, để tất cả các phiền phức lại cho chủ nợ Các chủ nợtrước đây trở thành cổ đông mới, và các cổ đông cũ không còn quyền hạn gì đối với tài sảndoanh nghiệp nữa
Phá sản chỉ là một cơ chế pháp lý cho phép các chủ nợ nắm giữ tài sản khi sự sụt giảmtrong giá trị tài sản đưa đến việc không thực hiện nghĩa vụ Phá sản không phải là nguyên nhâncủa sự sụt giảm giá trị mà nó là hậu quả Chi phí phá sản là chi phí của việc sử dụng cơ chếnày
Chi phí phá sản thường được chia làm 2 loại: trực tiếp và gián tiếp
Chi phí trực tiếp liên quan đến các chi phí về thủ tục giải quyết phá sản: phí luật sư, toà
án.v.v Chi phí này rất tốn kém có thể dự tính và đo lường được
Chi phí gián tiếp phản ánh những khó khăn mà một doanh nghiệp đang trong tình trạng
phá sản gặp phải Ví dụ: các nhà cung cấp ngưng cấp hàng, nhân viên không còn tâm trí
Trang 13để làm việc cho một công ty đang trên bờ vực phá sản, trì trệ trong sản xuất… chi phígián tiếp không thể đo lường và dự tính được.
Khi một doanh nghiệp thông báo phá sản, giá trị thị trường của doanh nghiệpcùng với những chủ nợ lớn của doanh nghiệp đó sẽ bị sụt giảm (thông qua việc cổ phiếutrên thị trường chứng khoán bị giảm giá) Đây cũng chính là một trong những chi phígián tiếp tiêu biểu của việc phá sản
Chi phí phá sản rốt cuộc là do các cổ đông gánh chịu Các chủ nợ đoán trướcđược sẽ có các chi phí này và chính họ sẽ phải trả giá khi việc doanh nghiệp không thựchiện nghĩa vụ Vì vậy họ đòi hỏi được đền bù trước dưới hình thức các chi trả cao hơnkhi doanh nghiệp chưa mất khả năng thực hiện nghĩa vụ Tức là họ đòi hỏi một lãi suấthứa hẹn cao hơn Điều này làm giảm các khoản tiền có thể chi trả cho cổ đông và giảmgiá trị thị trường hiện tại cổ phần của cổ đông
Chứng cứ của các chi phí phá sản:
- Lawrence Weiss, người nghiên cứu 31 doanh nghiệp bị phá sản vào khoảng thời gian từnăm 1980 đến 1986, tìm thấy rằng chi phí phá sản bình quân vào khoản 3% tổng giá trị
sổ sách và 20% giá trị thị trường của vốn cổ phần trong năm trước khi phá sản
- Một nghiên cứu khác của Edwrd Altman cũng tìm thấy các tỷ lệ tương tự cho các Công
ty bán lẻ, nhưng cao hơn cho các công ty công nghiệp
- Chi phí phá sản cũng chiếm một tỷ lệ lớn hơn của giá trị tài sản các công ty nhở hơn làcác công ty lớn Có các lợi ích kinh tế nhờ quy mô trong việc phá sản nhờ đó giảm đáng
kể chi phí phá sản
3.2 Kiệt quệ tài chính không đưa đến phá sản:
Không phải doanh nghiệp nào gặp khó khăn đều đi đến phá sản Miễn là doanh nghiệp
có thể tìm được nguồn tiền để trả lãi chứng khoán nợ, doanh nghiệp có thể hoãn việc phá sảnlại nhiều năm nhờ đó doanh nghiệp có thể phục hồi, trả hết nợ và thoát được cảnh phá sản
Khi một doanh nghiệp rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính, cả chủ nợ lẫn các cổ đôngđều muốn doanh nghiệp phục hồi Tuy nhiên quyền lợi của họ có thể mâu thuẫn nhau Một sốngười sẽ theo đuổi mục tiêu hạn hẹp là quyền lợi riêng của mình
Kiệt quệ tài chính tốn kém khi mẫu thuẫn quyền lợi cản trở các quyết định đúng đắn vềhoạt động đầu tư và tài trợ Các cổ đông thường từ bỏ mục tiêu thông thường là tối đa hóa giá