TÓM TẮT ĐỀ TÀI Lý do chọn đề tài Đề tài nghiên cứu mối quan hệ giữa sự đa dạng về giới tính trong Hội đồng quản trị và hiệu quả tài chính của công ty.. Nội dung và phương pháp nghiên cứ
Trang 1MỐI QUAN HỆ GIỮA SỰ ĐA DẠNG VỀ GIỚI TÍNH TRONG HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ VÀ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA CÔNG
TY: BẰNG CHỨNG TẠI VIỆT NAM Mục lục
TÓM TẮT ĐỀ TÀI 5
Lý do chọn đề tài 5
Mục tiêu nghiên cứu 5
Nội dung và phương pháp nghiên cứu 5
Đóng góp của đề tài 6
Hướng phát triển của đề tài 6
CHƯƠNG 1 CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN VÀ GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 7
1.1 Vấn đề liên quan 7
1.1.1 Quản trị doanh nghiệp 7
1.1.2 Sự đa dạng của giới tính trong Hội đồng quản trị 8
1.1.3 Sự đa dạng của giới tính và hiệu quả hoạt động tài chính của công ty 10
1.2 Giới thiệu đề tài nghiên cứu 13
CHƯƠNG 2 ĐỊNH LƯỢNG MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA MỨC ĐỘ ĐA DẠNG HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ VÀ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY 15
2.1 Cơ sở dữ liệu 15
2.2 Phương pháp 15
2.3 Kết quả 18
2.3.1 Thống kê mô tả 18
2.3.2 Kết quả thực nghiệm mô hình 1 19
2.3.3 Kết quả thực nghiệm Mô hình 2 22
2.4 Thảo luận 26
Trang 22.4.1 Kỳ vọng văn hóa đối với phụ nữ ở những quốc gia châu Á 27
2.4.2 Tiến trình ra quyết định không hiệu quả 27
2.4.3 Giới hạn của nghiên cứu 28
CHƯƠNG 3 KẾT LUẬN 31
PHỤ LỤC 33
Phụ lục I – Thông tin bổ sung của biến 33
Phụ lục II – Kiểm định các khiếm khuyết của dữ liệu 35
Phụ lục III: Tài liệu tham khảo 42
Trang 3DANH MỤC VIẾT TẮT
1 QTDN Quản trị doanh nghiệp
2 HĐQT Hội đồng quản trị
3 HQTC Hiệu quả hoạt động tài chính
4 OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
(Organization for Economic Cooperation and Development)
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU
1 Bảng 1: Thống kê mô tả dữ liệu 2010 18
2 Bảng 2: Hồi quy của Tobin’s Q và DWOMAN 20
3 Bảng 3: Hồi quy của Tobin’s Q và PWOMAN 20
4 Bảng 4: Hồi quy của Tobin’s Q và BLAU 21
5 Bảng 5: Hồi quy của Tobin’s Q và Shannon 22
6 Bảng 6: Hồi quy của DWOMAN và Tobin’s Q 22
7 Bảng 7: Hồi quy của PWOMAN va Tobin’s Q 23
8 Bảng 8: Hồi quy của chỉ số Blau và Tobin’s Q 23
9 Bảng 9: Hồi quy của chỉ số Shannon và Tobin’s Q 24
10 Bảng 10: Thống kê mô tả dữ liệu năm 2009 34
Trang 5TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Lý do chọn đề tài
Đề tài nghiên cứu mối quan hệ giữa sự đa dạng về giới tính trong Hội đồng quản trị
và hiệu quả tài chính của công ty Nhiều nghiên cứu cho rằng hai vấn đề này không tương quan, một số khác lại cho rằng chúng có tương quan dương, vài nghiên cứu nhận thấy tồn tại mối tương quan âm Với những quốc gia có trình độ phát triển khác nhau, thời gian nghiên cứu khác nhau cho ra kết quả nghiên cứu khác nhau
Vậy còn tại Việt Nam thì sao? Hiện nay, số lượng bài nghiên cứu về chủ đề này sử dụng dữ liệu châu Á rất ít, ở Việt Nam lại càng hiếm Vì vậy, đề tài này nhằm mục đích tìm ra mối liên hệ sự đa dạng về giới tính trong Hội đồng quản trị và hiệu quả tài chính để
từ đó có các biện pháp lựa chọn cơ cấu Hội đồng quản trị phù hợp góp phần cải thiện cải thiện hiệu quả hoạt động tài chính của công ty
Mục tiêu nghiên cứu
y dựng cơ sở l luận cho mối tương quan giữa sự đa dạng về giới tính trong Hội đồng quản trị và hiệu quả tài chính
ác định mối tương quan giữa sự đa dạng về giới tính trong Hội đồng quản trị và hiệu quả tài chính
Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu phân tích mối tương quan giữa sự đa dạng về giới tính và hiệu quả tài chính của công ty trong năm tài chính 2010; sử dụng dữ liệu theo năm, các dữ liệu thu thập được từ báo cáo tài chính, báo cáo thường niên và thông tin công bố trên các website của công ty và trang http://cafef.vn; http://www.cophieu68.com Dữ liệu nước ngoài được thu thập từ các bài nghiên cứu liên quan và các thông tin công bố trên website của chính phủ các nước và trên thời báo kinh tế quốc tế
Trang 6Bài nghiên cứu sử dụng Eview, phương pháp ước lượng bình phương nhỏ nhất OLS nhằm thực hiện mục tiêu nghiên cứu của đề tài và sử dụng Tobin’s Q như là một phương pháp để đo lường giá trị thị trường của công ty, qua đó thể hiện hiệu quả tài chính của công ty
Kết quả mô hình định lượng cho thấy giữa sự đa dạng về giới tính và hiệu quả tài chính của công ty có mối quan hệ nghịch biến và không có mối quan hệ nhân quả giữa
chúng
Đóng góp của đề tài
Đề tài đóng góp vào nghiên cứu về mối tương giữa sự đa dạng về giới tính và hiệu quả tài chính của công ty, đề tài này đ được đi vào khai thác trên thế giới từ l u nhưng đối với ch u nói chung và iệt Nam nói riêng thì số lượng đề tài nghiên cứu là rất ít
ì vậy, đề tài được thực hiện nhằm bước đầu đi s u vào nghiên cứu vấn đề này từ đó gợi
mở các hướng nghiên cứu trong tương lai và có những đề xuất tốt hơn nhằm có cái nhìn đúng hơn về vai trò của phụ nữ trong xã hội
Hướng phát triển của đề tài
Đề tài đ cố gắng hệ thống các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính công ty
Dù rằng trong quá trình tìm hiểu vẫn còn nhận thấy vài nhân tố ảnh hưởng khá lớn đến hiệu quả tài chính công ty, như các thuộc tính phi quan sát bao gồm trình độ, kinh nghiệm của thành viên Hội đồng quản trị Nhưng hiện nay chưa có nghiên cứu cụ thể nào có thể lượng hóa được các thuộc tính phi quan sát này vì thế đ hạn chế trong việc thực hiện các kiểm định về ảnh hưởng của nhân tố này đến hiệu quả tài chính, để có thể xem xét một cách toàn diện hơn liệu sự đa dạng về giới tính trong HĐQT tác động ở mức độ như thế nào đối với hiệu quả tài chính công ty Hi vọng trong tương lai gần có thể lượng hóa được các thuộc tính ấy để các đề tài nghiên cứu về sau hoàn thiện hơn
Trang 7CHƯƠNG 1 CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN VÀ GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Vấn đề liên quan
1.1.1 Quản trị doanh nghiệp
Quản trị công ty có nhiều định nghĩa do cách tiếp cận khác nhau cũng như do bao hàm nhiều hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh
"Quản trị doanh nghiệp là một lĩnh vực kinh doanh học nghiên cứu cách thức khuyến khích quá trình quản trị kinh doanh hiệu quả trong các công ty cổ phần bằng việc
sử dụng các cơ cấu động viên lợi ích, cấu trúc tổ chức và quy chế - quy tắc Quản trị doanh nghiệp thường giới hạn trong phạm vi câu hỏi về cải thiện hiệu suất tài chính, chẳng hạn, những cách thức nào mà người chủ sở hữu doanh nghiệp khuyến khích các thành viên của họ sử dụng để đem lại hiệu suất đầu tư cao hơn" 1
"Quản trị công ty là hệ thống được xây dựng để điều khiển và kiểm soát các doanh nghiệp Cấu trúc quản trị công ty chỉ ra cách thức phân phối quyền và trách nhiệm trong
số những thành phần khác nhau có liên quan tới công ty cổ phần như Hội đồng quản trị, Thành viên, cổ đông và những chủ thể khác có liên quan Quản trị công ty cũng giải thích
rõ quy tắc và thủ tục để ra các quyết định liên quan tới vận hành công ty Bằng cách này, Quản trị công ty cũng đưa ra cấu trúc thông qua đó người ta thiết lập các mục tiêu công ty
và cả phương tiện để đạt được mục tiêu hay giám sát hiệu quả công việc."2
Quản trị doanh nghiệp ảnh hưởng và bị ảnh hưởng bởi các bên có quyền lợi liên quan khác nhau Theo Shleifer và Vishny (1997), QTDN để đáp ứng yêu cầu sinh lợi của các nhà cung cấp tài chính trên số vốn mà họ đầu tư vào công ty, điều này phù hợp với nghiên cứu của Turnbull (1997) QTDN từ l u đ là vấn đề phổ biến đối với các tập đoàn, chính phủ, nhà đầu tư và các nhà nghiên cứu, nhất là sau cuộc khủng hoảng tài chính ở các thị trường mới nổi vào năm 1997 Vấn đề này cũng được đề cập đến trong bài nghiên cứu của Johnson và các cộng sự (2000); Mitton (2002) OECD đầu tiên đưa ra các
1
Theo “Mathiesen, H., (2002), Managerial Ownership and Financial Performance, Ph.D dissertation, series
18.2002, Copenhagen Business School, Denmark”
2
Theo “OECD (1999, 2004), Principles of Corporate Governance, Paris: OECD.”
Trang 8nguyên tắc QTDN vào năm 1999 (sửa đổi năm 2004) và điều này cung cấp hướng dẫn cho các sáng kiến lập pháp và quy định ở cả OECD và cả các nước ngoài OECD Mặt khác, nhiều nghiên cứu đ được thực hiện xem xét mối quan hệ giữa QTDN và giá trị doanh nghiệp Hầu hết các nghiên cứu cho thấy ảnh hưởng tích cực của QTDN đến giá trị của doanh nghiệp trừ một số trường hợp kết luận mối liên quan không đáng kể như trong nghiên cứu của Klein (1998); Bhagat & Black (2001); Bhagat và các cộng sự, (2004) Gompers và các cộng sự (2003) đ dẫn chứng về sự tương quan mạnh mẽ giữa QTDN và lãi cổ phiếu, họ tìm thấy rằng các công ty có quản trị tốt hơn đ có giá trị công ty cao hơn, lợi nhuận và doanh số bán hàng tăng trưởng Ngoài ra, các công ty có một tỷ lệ cao hơn của các thành viên nữ là thành viên HĐQT sẽ có HQTC tốt hơn (Stanwick 2010) Tương tự như vậy, Periz-de Toledo (2010) và Silveira và Barrons (2007) tìm thấy một tác động tích cực của chất lượng QTDN lên giá trị doanh nghiệp QTDN là một vấn đề rất quan trọng của cả công ty lẫn các nhà đầu tư QTDN là một mối quan tâm lớn của các nhà đầu tư tổ chức và đa số các nhà đầu tư sẵn sàng chi trả phần bù cho các công ty áp dụng các tiêu chuẩn quản trị doanh nghiệp Vị trí của các công ty trong bảng xếp hạng QTDN là một tiêu chuẩn cần phải cân nhắc của nhà đầu tư khi đánh giá giá trị cổ phiếu của công ty đó (Berthelot và các cộng sự, 2010) Tất cả những kết quả nghiên cứu này cho thấy tác động tích cực của QTDN lên giá trị công ty
Người ta tin rằng sự đa dạng của HĐQT có tác động tích cực đối với QTDN (Carter
và các cộng sự, 2003).Việc quản lý sự đa dạng trong HĐQT tốt giúp tăng cường hiệu quả
về quá trình ra quyết định của công ty và hình ảnh tốt về sự bình đẳng nam nữ (Rhode và các cộng sự, 2010) Một hội HĐQT đa dạng tạo lợi thế cạnh tranh vững chắc với việc thúc đẩy sự sáng tạo, cải thiện quá trình giải quyết vấn đề và ra quyết định (Cox và các cộng sự, 1991) Mặc khác, một số lập luận cho rằng sự đa dạng của HĐQT có những bất lợi như gia tăng xung đột tiềm ẩn giữa các thành viên HĐQT, hạn chế hiệu quả trong việc
ra quyết định (Goodstein và các cộng sự, 1994), tăng khó khăn trong việc đạt được sự đồng thuận (Knight và các cộng sự, 1999) và có khả năng tăng chi phí cho công ty (Cox
và các cộng sự, 1991)
Trang 9Đối với định nghĩa của HĐQT đa dạng, Milliken và Martins (1996) tóm tắt các loại
đa dạng vào các thuộc tính quan sát được và không quan sát được Thuộc tính quan sát được rất dễ nhận ra và được đề cập đến như giới tính, chủng tộc, tuổi tác, nền dân tộc trong khi những thuộc tính không quan sát ít được nhận thấy hơn, được định nghĩa là giá trị cá nh n, đặc điểm nhân cách và giáo dục Ngày càng tăng số lượng các nghiên cứu thực nghiệm điều tra mối quan hệ giữa đa dạng HĐQT và HQTC giữa các quốc gia khác nhau như Hoa Kỳ (Erhardt và các cộng sự, 2003), Indonesia (Darmadi, 2011) và Đan Mạch, Na Uy và Thụy Điển (Randey và các cộng sự, 2006) Theo đó, đa dạng giới tính trở thành một trong những trọng tâm của các nghiên cứu
Một số học giả như Adams và Ferreira (2009) chỉ ra rằng HĐQT đa dạng giới tính
có xu hướng dành những nỗ lực giám sát nhiều hơn về giá trị công ty, nhận định này được đưa ra bằng thước đo của hành vi tham dự Theo đó, những vấn đề tham dự của nam giới nhiều hơn nữ giới Thêm vào đó, một tỷ lệ đại diện của nữ cao cải thiện những vấn đề tham gia của nam giới Theo Carter và các cộng sự (2010), HĐQT đa dạng hơn về mặt giới tính tăng giá trị doanh nghiệp và do đó cải thiện HQTC
Từ kết quả của những bài nghiên cứu khác nhau, sự tham gia của phụ nữ trong HĐQT khác nhau giữa các quốc gia Tỷ lệ nữ trong HĐQT các công ty đại chúng ở Úc, Pháp, Châu Âu, Thụy Điển, Na Uy lần lượt là 8 3%, 7 6%, 9 7%, 26 9% và 44 2% Hơn 49% những công ty thuộc AS 200 được tìm thấy có sự hiện diện của phụ nữ trong HĐQT Nghiên cứu tương tự của những công ty thuộc FTSE200 ở Anh, FP500 ở Canada
và S&P500 của Hoa Kỳ lần lượt tương ứng 77%, 52.8% và 91% (Equal opportunity for women in the workplace agency-EOWA, 2008) Mặc dù có sự khác biệt ở các quốc gia khác nhau, nghiên cứu của Adams và Ferreir (2009) cho thấy xu hướng gia tăng sự tham gia của nữ giới trong HĐQT do sự thúc đẩy của cải cách quản trị Với pháp luật được ban hành ở Na Uy, bình đẳng giới trong HĐQT được thúc đẩy Tỷ lệ nữ đại diện được nâng lên ít nhất 40% trong tổng số thành viên được bổ nhiệm vào HĐQT và các ủy ban (Bộ Ngoại Giao, chính phủ Na Uy 2004) Sau Na Uy, T y Ban Nha cũng đ ban hành Pháp luật trong năm 2007 để thúc đẩy bình đảng giới trong HĐQT Việt Nam cũng theo xu
Trang 10hướng đó, năm 2007 iệt Nam cũng đ ban hành Luật Bình đẳng giới gồm 6 chương, 44 điều
Theo một báo cáo tập trung vào phụ nữ châu Á của Cộng đồng doanh nghiệp (2009), tỷ lệ nữ ở các vị trí cao cấp là rất thấp trong các quốc gia như Trung Quốc là 13%, 8.2% Ấn Độ, 8.9% Nhật Bản và 17.3% ở Singapore Do sự phát triển kinh tế nhanh chóng của các quốc gia ch u , đặc biệt là Trung Quốc và Ấn Độ có nhu cầu lớn hơn về lực lượng lao động đ tạo ra nhiều cơ hội hơn cho phụ nữ Tuy nhiên, phụ nữ châu Á phải đối mặt với một thách thức, ví dụ, có một mức độ lớn hơn về việc phân biệt đối xử đối với phụ nữ bởi vì thành kiến theo lối cũ và pháp luật về cơ hội bình đẳng không theo kịp nước ngoài
1.1.3 Sự đa dạng của giới tính và HQTC
Với xu hướng ngày càng gia tăng sự tham gia của phụ nữ trong HĐQT, mối quan hệ giữa sự đa dạng về giới tính – giá trị công ty làm dấy lên sự quan tâm của các học giả Có nhiều chứng cứ thực nghiệm tập trung kiểm định mối liên hệ giữa sự đa dạng về giới tính trong HĐQT và giá trị công ty đ được tìm thầy Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu tìm được đều khác nhau
1.1.3.1 Quan điểm mức độ đa dạng về giới tính và HQTC của công ty độc lập với nhau
Một số nghiên cứu không tìm thấy sự đa dạng về giới tính như là một yếu tố đáng
kể tác động đến HQTC của công ty ở Đan Mạch (Rose, 2007) và ở Mỹ (Shrader và các cộng sự, 1997; Farrell và các cộng sự, 2005; Zahra và các cộng sự, 1988; Carter và các cộng sự, 2010; Hussein và các cộng sự, 2009) Sử dụng dữ liệu của tất cả các công ty niêm yết tại Đan Mạch từ năm 1998 đến 2001, nghiên cứu của Rose (2007) cho thấy có một mối quan hệ không đáng kể giữa tỷ lệ nữ trong thành viên HĐQT và HQTC bằng việc sử dụng chỉ số Tobin’s Q Bài nghiên cứu của Rose (2007) cũng phát hiện rằng nữ giới chiếm số lượng khiêm tốn trong HĐQT của các công ty Đan Mạch Sharader và các cộng sự (1997) làm việc trên dữ liệu của 200 công ty với giá trị thị trường cao nhất ở Mỹ
và tìm ra rằng không có ảnh hưởng đáng kể nào của tỷ lệ phần trăm đại diện bởi phụ nữ trong HĐQT với mối quan hệ đến HQTC, đo lường bằng tỷ lệ lợi nhuận Farrell và các
Trang 11cộng sự (2005) đề cập rằng không có bất kỳ bằng chứng thuyết phục nào cung cấp khả năng cải thiện hiệu quả công ty sau khi thêm vào thành viên nữ HĐQT Tơng tự Zahra và các cộng sự (1988); Carter và các cộng sự (2010) đưa ra mối liên hệ không đồng biến cũng không nghịch biến giữa sự đa dạng về giới tính và Tobin’s Q là biến đại diện cho giá trị công ty trong những công ty sử dụng chỉ số S&P 500 từ năm 1998 đến năm 2002 Một nghiên cứu khác đi đến một kết quả phù hợp bằng cách sử dụng hệ số ROA và Tobin’s Q để đo lường HQTC Thêm vào đó, nghiên cứu cũng tìm ra rằng các công ty lớn có xu hướng bổ nhiệm một lượng lớn thành viên nữ (Hussein và các cộng sự, 2009)
1.1.3.2 Quan điểm mức độ đa dạng về giới tính và HQTC của công ty có ảnh hưởng lẫn nhau
Các chứng cứ thực nghiệm đề cập đến mối liên hệ đồng biến giữa tỷ lệ nữ trong HĐQT và HQTC của công ty ở Mỹ (Carter và các đồng sự, 2003; Erhardt và các đồng sự, 2003; Carter và các đồng sự, 2010; Hussein và các đồng sự, 2009), ở Tây Ban Nha (Campbell và các đồng sự, 2008) và ở Đan Mạch (Smith và các đồng sự, 2006) Carter và các đồng sự (2003) công bố một mối quan hệ đồng biến có nghĩa giữa sự hiện diện của
cổ đông thiểu số và phụ nữ trong Hội đồng quản trị với giá trị của tổ chức, giá trị tổ chức được đo lường bởi sự ước lượng hệ số Tobin’s Q của 1000 công ty ở Fortune Phát hiện này cũng kết luận mối liên hệ nghịch biến giữa sự đa dạng về giới tính của HĐQT và số lượng thành viên nội bộ Một nghiên cứu tương tự được thực hiện bởi Erhardt và các cộng sự, 2003 bằng việc đo lường hệ số ROA, ROI Những phân tích chỉ ra rằng có một mối liên hệ giữa sự đa dạng HĐQT và HQTC của một mẫu những công ty lớn trong tạp chí Fortune Tuy nhiên, nghiên cứu đ đề cập một sự giới hạn của việc chỉ sử dụng mẫu gồm những công ty lớn và chưa đề cập đến dữ liệu của những công ty nhỏ Carter và các cộng sự (2010) đề cập đến mối liên hệ đồng biến giữa số lượng nữ và cổ đông thiểu số trong HĐQT với chỉ số ROA Hussein và các cộng sự (2009) đưa ra kết luận tương tự với chỉ số Shannon như một sự đại diện của sự đa dạng về giới tính
Bên ngoài nước Mỹ, Campbell và Minguez- era (2008) đ thực hiện các nghiên cứu cụ thể về tác động của sự đa dạng về giới tính trong HĐQT lên HQTC của các công
ty Tây Ban Nha bằng các phương pháp đo lường như sử dụng biến đại diện cho phần
Trang 12trăm của thành viên nữ trong HĐQT, chỉ số Blau và chỉ số Shannon Nghiên cứu này đ chỉ ra rằng sự đa dạng trong HĐQT tác động tích cực lên HQTC của công ty và mối quan
hệ nhân quả đảo ngược không đáng kể Smith và các cộng sự (2006) xem xét mẫu gồm
2500 công ty ở Đan Mạch và thu được kết quả đồng biến dựa vào yếu tố kế toán (các giá trị sổ sách) được sử dụng để đo lường hiệu quả tài chính Đồng thời, bài nghiên cứu cũng làm sáng tỏ tầm quan trọng của trình độ các thành viên nữ trong HĐQT
Ngược lại, Adams và các cộng sự (2009) và Darmadi (2011); Cheung Sze Man và Tsang Tsz Kong (2011) tìm ra một kết quả khác hẳn so với những nghiên cứu khác Adam và các cộng sự (2009) phân tích mối quan hệ giữa sự đa dạng về giới tính và hiệu quả công ty đo lường bởi chỉ số Tobin’s Q Nghiên cứu cho thấy việc áp đặt tỷ lệ nhất định về giới tính trong HĐQT không đưa đến kết quả QTDN tốt Nghiên cứu mẫu các công ty niêm yết ở thị trường chứng khoán Indonesia trong năm tài chính 2007, Darmadi (2011) đ kết luân rằng có mối tương quan m có nghĩa giữa tỷ lệ thành viên nữ trong HĐQT và HQTC của công ty về mặt kế toán – dựa trên ROA Cheung Sze Man, Tsang Tsz Kong (2011) đ tìm thấy sự đa dạng của HĐQT và hiệu HQTC công ty có mối tương quan âm trên các dữ liệu của 138 công ty niêm yết tại thị trường chứng khoán Hong Kong năm tài chính 2009
Theo Campbell và các cộng sự, 2008 những kết luận khác nhau này được giải thích bởi nhiều l do Đầu tiên, dữ liệu từ những quốc gia khác nhau mang lại kết luận khác nhau trong những nghiên cứu Vị thế của những quốc gia phát triển có thể khác với những quốc gia đang phát triển Thứ hai, thời gian khác nhau ảnh hưởng đến sự phân tích Hơn thế nữa, nhiều phương pháp ước đoán được sử dụng bởi các học giả Một vài nhà nghiên cứu đo lường các biến kiểm soát trong phân tích trong khi vài nhà nghiên cứu
Trang 13khác lại loại trừ các biến kiểm soát Do sự khác biệt trong ước đoán, kết quả đầu ra chắc chắn khác nhau thậm chí có sự tương phản với nhau Thêm vào đó, các thuộc tính phi quan sát của sự đa dạng về giới tính không được đưa vào trong những phân tích, những thuộc tính đó có thể ảnh hưởng đến giá trị công ty Vì thế, kế luận đưa ra trong những nghiên cứu có thể bị ảnh hưởng
Những nghiên cứu trên đ y, hơn ph n nửa sử dụng Tobin’s Q như là sự ước đoán HQTC của công ty, Demset và các cộng sự (2001) dựa vào yếu tố kế toán để ước tính HQTC kỳ vọng trong tương lai có một mức độ giới hạn Ở khía cạnh khác, Tobin’s Q bao gồm cả kỳ vọng của nhà đầu tư và giá trị đối với công ty Nhà đầu tư kỳ vọng vào hiệu quả công ty trong tương lai và có một tầm nhìn dựa vào sự kiện trong quá khứ Vì thế, Tobin’s Q được xem như phương pháp tốt hơn để đo lường HQTC
Luckerath – Rovers, 2010 chỉ ra một mối liên hệ đồng biến giữa sự hiện diện của nữ trong HĐQT và HQTC của công ty sử dụng một mẫu 99 công ty niêm yết ở Hà Lan Nghiên cứu của Ararat và các cộng sự (2010) đề cập một mối tương quan dương về sự đa dạng của HĐQT bao gồm giới tính như là một thuộc tính quan sát và hiệu quả công ty dựa vào chỉ số ISE-100 của công ty niêm yết ở sở chứng khoán Istanbul
Tuy nhiên, mối tương quan âm cũng được đề cập trong vài bài nghiên cứu Không
có chứng cứ thuyết phục nào chỉ ra rằng sự hiện diện của nữ trong ban quản lý cấp cao làm tăng hiệu quả công ty về mặt ROA và Tobin’s Q khi sử dụng dữ liệu của Indonesia (Darmadi, 2010) Bohren và Strom (2007) cũng chỉ ra rằng sự đa dạng về giới tính và hiệu quả công ty có mối quan hệ nghịch biến Ba bài nghiên cứu khác tìm ra không có mối liên hệ đồng biến cũng như nghịch biến đáng kể nào dựa trên 186 công ty niêm yết ở
Hà Lan và Đan Mạch (Marinova và các cộng sự, 2010), 105 công ty ở Thụy Điển (Eklund và các cộng sự, 2009) và 500 công ty lớn ở Đan Mạch, Na Uy và Thụy Điển (Randoy và các cộng sự, 2006)
1.2 Giới thiệu đề tài nghiên cứu
Quản trị doanh nghiệp trở thành một chủ đề phổ biến giữa các học giả và nhiều nghiên cứu được thực hiện để phân tích mối quan hệ quản trị doanh nghiêp và hiệu quả tài chính của công ty Đặc biệt, đa dạng về giới tính trong HĐQT đ thu hút nhiều sự
Trang 14quan tâm từ các học giả, các công ty cũng như Chính phủ và các nhà quản lý gần đ y, cụ thể các nghiên cứu tập trung vào mức độ ảnh hưởng của đại diện nữ trong HĐQT đến giá trị doanh nghiêp Nghiên cứu này nhằm mục đích tìm hiểu có tồn tại mối quan hệ đáng kể nào không giữa sự đa dạng giới tính trong HĐQT và HQTC, nếu có thì mối quan hệ này như thế nào Trong nghiên cứu này, Tobin’s q được sử dụng để đánh giá HQTC theo giá trị thị trường Bên cạnh đó, một biến giả về sự hiện diện của nữ và tỷ lệ phần trăm của thành viên nữ trong HĐQT, hai chỉ số Blau và Shannon cũng được sử dụng trong các mô hình để kiểm tra sự phù hợp của kết quả Hơn thế nữa, mối quan hệ nhân quả đảo ngược được đánh giá bằng cách sử dụng mô hình thứ hai với giới tính là biến phụ thuộc và giá trị doanh nghiệp là một biến độc lập
Hầu hết các nghiên cứu trước đó dựa trên dữ liệu của Mỹ cho thấy kết quả khác nhau bằng cách sử dụng các dữ liệu và phương pháp luận khác nhau Đồng thời còn thiếu các nghiên cứu tương tự tập trung vào châu Á, nên các kết quả nghiên cứu đó thể không
áp dụng được với Việt Nam do sự khác biệt giữa các nền văn hóa Ch u và phương
T y Hơn thế nữa, các nước ch u Âu như Na Uy đ thông qua pháp luật để thúc đẩy bình đẳng giới trong HĐQT Thông qua luật đó gợi lên một cuộc tranh cãi lớn về vấn đề đa dạng giới tính trong HĐQT Một số bằng chứng thực nghiệm cho thấy rằng giới tính trong HĐQT tăng cường giá trị doanh nghiệp trong khi một số tài liệu rút ra kết luận hoàn toàn khác Nếu có một tách dụng tích cực đa dạng giới tính trong HĐQT đến giá trị doanh nghiệp, chính phủ và các tập đoàn có thể thúc đẩy bình đẳng giới trong HĐQT theo những cách khác nhau để nâng cao HQTC của công ty
Giới tính có thể là một tiêu chí quan trong để lựa chọn các thành viên HĐQT bên cạnh trình độ và kinh nghiệm của các cá nhân Nếu tìm ra rằng một sự đa dạng về giới tính cao hơn trong HĐQT có thể dẫn đến một giá trị cao hơn, công ty nên cố gắng tăng cường sự đa dạng giới tính trong HĐQT
Sự đa dạng về giới tính trong HĐQT có thể là một trong những tiêu chí để các nhà đầu tư đánh giá các công ty khi đưa ra quyết định đầu tư Nếu người ta tin rằng sự đa dạng giới tính trong HĐQT có thể dẫn đến HQTC cao hơn, nhà đầu tư cần phải xem xét
tỷ lệ nữ đại diện trong HĐQT các công ty khi đưa ra các quyết định đầu tư của họ
Trang 15CHƯƠNG 2 ĐỊNH LƯỢNG MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA MỨC ĐỘ ĐA DẠNG HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ VÀ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY
2.1 Cơ sở dữ liệu
Các nghiên cứu định lượng trong bài nghiên cứu này dự trên các số liệu thu thập được của 39 công ty niêm yết trên hai sàn chứng khoán HOSE và HNX thuộc sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội tại thời điểm năm 2010 Bài nghiên cứu này sử dụng dữ liệu theo năm (giá trị thị trường vào thời điểm cuối năm 2010), thu thập và chắt lọc các dữ liệu từ báo cáo tài chính, báo cáo thường niên và thông tin công
bố trên các website của công ty và trang http://cafef.vn; http://www.cophieu68.com Các dữ liệu nước ngoài được thu thập từ các bài nghiên cứu liên quan và các thông tin công bố trên website của Chính phủ các nước và trên các thời báo kinh tế quốc tế
2.2 Phương pháp
Nghiên cứu thông qua các mô hình được sử dụng bởi Campbell và Minguez-Vera (2008) điều tra về mối quan hệ giữ sự đa dạng về giới tính trong HĐQT và giá trị doanh nghiệp bằng cách sử dụng phân tích mô hình hồi quy tuyến tính Mô hình đầu tiên – Mô hình 1, được trình bày như sau:
Trong đó 3
:
Q là biến phụ thuộc, đại diện cho Tobin’s Q, một phương pháp đo lường giá trị thị trường của công ty qua đó thể hiện HQTC của công ty
WOMAN đề cập đến biến bao gồm:
DWOMAN: biến giả của đại diện nữ trong HĐQT, nhận giá trị là 1 khi có ít nhất một phụ nữ trong HĐQT và 0 là trường hợp ngược lại
PWOMAN: là phần trăm các nữ thành viên trong HĐQT
3
Các biến sẽ được trình bày rõ hơn trong phần phụ lục
Trang 16 BLAU: chỉ số độ ph n tán Blau
SHANNON: chỉ số độ ph n tán Shannon
Ba biến kiểm soát:
LE ER: đại diện cho đòn bẩy tài chính trong đó cho thấy mức độ vay nợ của công ty
ROA: đại diện cho lợi nhuận trên tài sản
SIZE: đại diện cho quy mô doanh nghiệp
e là sai số ngẫu nhiên Tobin’s Q được tính bằng giá trị thị trường trên giá trị sổ sách của công ty (Tobin và Brainard, 1977), được sử dụng để đo lường giá trị doanh nghiệp qua đó đo lường HQTC của công ty trong nghiên cứu này Đ y là phép đo tốt hơn so với chỉ số kế toán vì kết hợp với kỳ vọng thị trường và cho thấy một hình ảnh toàn diện và thực tế hơn (Wernerfelt và Montgomery, 1988) Tobin’s Q cũng được sử dụng để đo lường HQTC trong nghiên cứu tương tự của Darmadi (2011), Carter và các cộng sự năm 2003, Rose năm 2007
iệc đưa vào các biến độc lập khác nhau để xem xét các mối quan hệ của chúng với biến phụ thuộc Biến giả (DWOMAN) được đưa vào sử dụng để đánh giá liệu công ty có
ít nhất một hiện diện của phụ nữ trong HĐQT sẽ tốt hơn các công ty khác và tỷ lệ phần trăm của các nữ thành viên trong HĐQT (PWOMAN) được sử dụng để quan sát ảnh hưởng của tỷ lệ thành viên nữ trong HĐQT đến hoạt động tài chính của công ty Hai chỉ
số Blau, Shannon cũng được sử dụng để xem xét sự đa dạng của HĐQT về giới tính sẽ ảnh hưởng đến HQTC của công ty như thế nào
Ba biến kiểm soát là lợi nhuận ròng trên tài sản (ROA), đòn bẩy nợ (LE ER) và quy mô doanh nghiệp (SIZE) cũng thường được sử dụng trong các nghiên cứu liên quan (Carter và các cộng sự, 2003; Hussein và Kiwia, 2009; Erhardt và các cộng sự, 2003, Shrader và các cộng sự, 1997) trong mô hình đầu tiên
Dựa trên mô hình đầu tiên, các giả thiết sau đ y đưa ra:
H1: Sự hiện diện của nữ trong HĐQT không dẫn đến giá trị doanh nghiệp cao hơn
Trang 17H2: Tỷ lệ nữ thành viên HĐQT dẫn đến giá trị doanh nghiệp cao hơn
H3: Sự đa dạng giới tính trong HĐQT dẫn đến giá trị doanh nghiệp cao hơn
H4: Đòn bẩy, lợi nhuận trên tài sản và quy mô doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp
Mô hình thứ nhất được điều chỉnh để tạo ra mô hình thứ hai nhằm mục đích xem xét khả năng tồn tại bất kỳ mối quan hệ nh n quả (chỉ xảy ra một chiều) giữa sự hiện diện nữ giới trong HĐQT và HQTC của công ty Trong nghiên cứu mối quan hệ, thật khó để xét xem biến nào tác động đến biến nào Do nhiều nghiên cứu trước đ y tiến hành kiểm định
sự sự đa dạng HĐQT đến HQTC nên Mô hình 1 dùng để kiểm định mối quan hệ này Để đầy đủ chúng ta cũng không quên kiểm định tác động ngược lại, liệu HQTC có ảnh hưởng gì đến sự đa dạng của HĐQT không (Cheung Sze Man, Tsang Tsz Kong năm 2011).Mô hình thứ hai – Mô hình 2, được trình bày
Trong đó:
WOMAN là biến phụ thuộc
Q là biến độc lập
SIZE là biến kiểm soát
e là sai số ngẫu nhiên
LNDIR là biến kiểm soát đại diện cho kích thước của HĐQT
Mối quan hệ nhân quả của hai biến kiểm soát, quy mô của doanh nghiệp và kích thước HĐQT được kết hợp, các biến này được chứng minh có ảnh hưởng đến sự hiện diện của nữ trong HĐQT trong một số nghiên cứu Như đ đề cập trong nghiên cứu của Hussein và Kiwia (2009), quy mô doanh nghiệp có ảnh hưởng tiêu cực đến sự đa dạng về giới tính trong HĐQT Theo Campbell và Minguez-Vera 2007) và Carter và các cộng sự (2003), có khả năng là các công ty lớn hơn và có HĐQT lớn sẽ có nhiều thành viên nữ hơn
Một số giả thiết được đề xuất dựa trên mô hình thứ hai
Trang 18H5: Giá trị doanh nghiệp cao hơn không có ảnh hưởng đến sự hiện diện của nữ giới trong HĐQT
H6: Công ty giá trị cao hơn không dẫn đến tỷ lệ phần trăm cao hơn của các thành viên nữ
H7: Công ty giá trị cao hơn không dẫn đến mức độ cao hơn sự đa dạng về giới tính trong HĐQT
H8: Kích thước HĐQT và quy mô doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng đến sự hiện diện tỷ lệ phần trăm của nữ
2.3 Kết quả
Bảng 1: Thống kê mô tả dữ liệu năm 2010
Mean Median Maximum Minimum Std Dev
độ biến thiên cao của các dữ liệu thu thập được Trung bình của biến giả đại diện cho sự
Trang 19hiện diện phụ nữ trong HĐQT (DWOMAN) cho thấy gần 60% (năm 2009 là 53 8%) các công ty trong các dữ liệu này có ít nhất một phụ nữ trong HĐQT Tỷ lệ phần trăm các nữ thành viên trong HĐQT (PWOMAN) trung bình là 16% đ tăng hơn so với năm 2009 (13.78%) Kết quả này gần với số thu được trong nghiên cứu của Indonesia (12%) và Hồng Kong (17%), nhưng thấp hơn 3.28 lần giá trị thu được trên thị trường Mỹ (Campbell và Minguez-Vera, 2008) Lý do chính có thể lý giải cho kết quả này là người châu Á vẫn còn bị ảnh hưởng nhiều bởi tư tưởng trọng nam khinh nữ từ l u đời Các con
số thống kê qua hai năm 2009, 2010 cho thấy các kết quả của công tác đẩy mạnh bình đẳng đẳng giới của Chính phủ, ảnh hưởng tích cực của luật Bình đẳng giới có hiệu lực từ ngày 01/01/2007 cũng như sự thay đổi nhận thức của người dân Việt Nam về quan niệm này mặc dù chưa rõ rệt
Hai chỉ số (Blau và Shannon4) đo lường sự đa dạng của giới tính trong HĐQT có giá trị trung bình thu được tương ứng là 0.21 và 0.32 (đ tăng so với năm 2009 lần lượt là 0.187 và 0.25) Mặc dù hai giá trị này lớn hơn nhiều so với các dữ liệu thu thập được của Campbell và Minguez- era (2008) nhưng vẫn còn một khoảng cách rất lớn để đạt được một giá trị cho HĐQT hoàn hảo, đa dạng về giới (0.5 cho chỉ số Blau và 0.69 cho chỉ số Shannon) Các phương pháp đo lường đòn bẩy tài chính (LEVER), lợi nhuận trên tài sản (ROA) và quy mô doanh nghiệp (SIZE), và logarit tự nhiên của kích thước của HĐQT (lNDIR) cho các giá trị trung bình tương ứng là 0.46, 0.08, 13.43, 1.7
Để kiểm tra mối quan hệ giữa đa dạng về giới tính trong HĐQT và HQTC và mối quan hệ nhân quả đảo ngược, các dữ liệu của 39 công ty niên yết trên HOSE và HNX được sử dụng và cho ra các kết quả của nhiều mô hình tuyến tính (tiến hành theo phương pháp phân tích hồi quy bình theo phương nhỏ nhất OLS) thu được trong các bảng sẽ được trình bày dưới đ y
Kết quả của mối quan hệ giữa sự đa dạng giới tính của HĐQT và HQTC với bốn
biến độc lập trong mô hình đầu tiên được trình bày trong Bảng 2 đến Bảng 5 trong khi kết
quả của mô hình thứ hai được trình bày trong Bảng 6 đến Bảng 9
4
Hai chỉ số Blau và Shannon sẽ được trình bày rõ hơn trong phần phụ lục
Trang 20Bảng 2: Hồi quy của Tobin’s Q và DWOMAN
Biến phụ thuộc: Q (Tobin’s Q)
Variable Coefficient Std Error t-Statistic Prob
R-squared 0.395282 Mean dependent var 1.294712
Adjusted R-squared 0.324139 S.D dependent var 0.285062
S.E of regression 0.234352 Akaike info criterion 0.055224
Sum squared resid 1.867310 Schwarz criterion 0.268501
Log likelihood 3.923125 F-statistic 5.556142
Durbin-Watson stat 2.465446 Prob(F-statistic) 0.001493
Bảng 2 cho thấy sự hiện diện của ít nhất một phụ nữ trong HĐQT (DWOMAN) tác động lên giá trị của doanh nghiệp (Q) – cũng là đại diện cho HQTC của công ty Theo đó,
có một mối tương quan m có nghĩa giữa chúng Nói cách khác, sự hiện diện của nữ trong HĐQT sẽ làm cho hiệu quả tài chính của công ty giảm
Bảng 3: Hồi quy của Tobin’s Q và PWOMAN
Biến phụ thuộc: Q (Tobin’s Q)
Variable Coefficient Std Error t-Statistic Prob
Trang 21R-squared 0.431542 Mean dependent var 1.294712
Adjusted R-squared 0.364665 S.D dependent var 0.285062
S.E of regression 0.227217 Akaike info criterion -0.006611
Sum squared resid 1.755342 Schwarz criterion 0.206666
Log likelihood 5.128908 F-statistic 6.452740
Durbin-Watson stat 2.143032 Prob(F-statistic) 0.000563
Trong Bảng 3, sự kết hợp của tỷ lệ nữ thành viên trong HĐQT (PWOMAN) và giá trị doanh nghiệp (Q) – cũng là đại diện cho HQTC của công ty Có thể thấy thấy tỷ lệ nữ thành viên trong HĐQT càng cao thì HQTC của công ty càng thấp
Bảng 4: Hồi quy của Tobin’s Q và BLAU
Biến phụ thuộc: Q (Tobin’s Q)
Variable Coefficient Std Error t-Statistic Prob
R-squared 0.402351 Mean dependent var 1.294712
Adjusted R-squared 0.332040 S.D dependent var 0.285062
S.E of regression 0.232978 Akaike info criterion 0.043465
Sum squared resid 1.845480 Schwarz criterion 0.256742
Log likelihood 4.152426 F-statistic 5.722405
Durbin-Watson stat 2.327407 Prob(F-statistic) 0.001241
Bảng 4 cho thấy mối quan hệ giữa chỉ số Blau (BLAU), như một biến đại diện cho
sự đa dạng của giới tính trong HĐQT và giá trị thị của doanh nghiệp (Q) Như kết quả cho thấy có sự phù hợp với hai kết quả trước đó trong Bảng 2 và 3 đó là sự không đồng
Trang 22nhất lớn hơn về mặt giới tính ảnh hưởng làm giảm HQTC của công ty và ngược lại Cơ cấu HĐQT của các công ty theo mẫu, gần như hầu hết các vị trí của HĐQT được nam giới nắm giữ, đa dạng giới tính là đề cập đến một lượng đại diện của phụ nữ trong HĐQT Như vậy kết quả chỉ ra rằng một số lượng phụ nữ lớn hơn trong HĐQT dẫn đến giá trị doanh nghiệp thấp hơn và ngược lại
Bảng 5: Hồi quy của Tobin’s Q và Shannon
Biến phụ thuộc: Q (Tobin’s Q)
Variable Coefficient Std Error t-Statistic Prob
R-squared 0.401654 Mean dependent var 1.294712
Adjusted R-squared 0.331260 S.D dependent var 0.285062
S.E of regression 0.233114 Akaike info criterion 0.044632
Sum squared resid 1.847634 Schwarz criterion 0.257909
Log likelihood 4.129682 F-statistic 5.705826
Durbin-Watson stat 2.362833 Prob(F-statistic) 0.001264
Nhìn vào kết quả của Bảng 5 cho thấy, có một mối tương quan m có nghĩa giữa chỉ số Shannon, chỉ số đại diện cho độ phân tán của giới tính trong nghiên cứu này của HĐQT với giá trị cuả doanh nghiệp (Q) Lý giải tương tự như Bảng 4, kết quả chỉ ra rằng một số lượng phụ nữ lớn hơn trong HĐQT dẫn đến giá trị doanh nghiệp thấp hơn và ngược lại Kết quả này là phù hợp các kết quả trên, trình bày ở Bảng 2, 3, 4
Trang 23Mô hình hai được thông qua kiểm tra mối quan hệ nhân quả (chỉ xảy ra một chiều, tác động của các biến độc lập là nguyên nhân và Q - giá trị thị của công ty là kết quả) của các biến để chắc chắn rằng sẽ không có mối quan hệ nhân quả giữa chúng
Các kết quả của MH2 được trình bày trong Bảng từ Bảng 6 đến 9
Bảng 6: Hồi quy của DWOMAN và Tobin’s Q
Biến phụ thuộc: DWOMAN
Variable Coefficient Std Error t-Statistic Prob
R-squared 0.309921 Mean dependent var 0.589744
Adjusted R-squared 0.250772 S.D dependent var 0.498310
S.E of regression 0.431327 Akaike info criterion 1.253015
Sum squared resid 6.511513 Schwarz criterion 1.423637
Log likelihood -20.43380 F-statistic 5.239614
Durbin-Watson stat 2.119359 Prob(F-statistic) 0.004301
Bằng cách sử dụng biến giả đại diện cho sự có mặt của phụ nữ trong HĐQT (DWOMAN) là biến phụ thuộc, nhận thấy rằng một mối tương quan m có nghĩa giữa
Q, giá trị của công ty, và DWOMAN Nói cách khác, một công ty với giá trị doanh nghiệp cao hơn có xu hướng không có sự hiện diện của nữ trong HĐQT
Bảng 7: Hồi quy của PWOMAN va Tobin’s Q
Biến phụ thuộc: PWOMAN
Variable Coefficient Std Error t-Statistic Prob