Nhưng sự tồn tại và vận động của nền kinh tế theo mô hình này đếnmột giai đoạn nhất định, khi trình độ xã hội hóa của lực lượng sản xuất cao, thì nhữngkhuyết tật của thị trường lại bộc l
Trang 1Chương 1: Mô hình tăng trưởng của các nước.
Sản xuất hàng hóa và sau đó tiền tệ ra đời, đánh dấu sự phát triển về chất của kinh
tế nhân loại Đồng thời, dưới tác động của tiến bộ khoa học kỹ thuật, của lực lượng sảnxuất; sản xuất, lưu thông trao đổi hàng hóa ngày càng phát triển và kéo theo đó là sự xuấthiện ngày càng đa dạng các loại thị trường; cơ chế thị trường hoạt động ngày càng linhhoạt, rộng khắp Khi nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường thì gọi là nền kinh tế thịtrường hoặc mô hình kinh tế thị trường, hay kinh tế thị trường Đến nay, dù kinh tế thịtrường vẫn có những khuyết tật bản chất của nó, nhưng đây vẫn là mô hình kinh tế ưuviệt nhất
Lịch sử phát triển kinh tế thị trường nhân loại, tới hôm nay, ở góc độ tổng quát cóthể phân thành hai mô hình: mô hình kinh tế thị trường “cổ điển” và mô hình kinh tế thịtrường “hiện đại”
Đặc trưng cơ bản của mô hình kinh tế thị trường “cổ điển” là duy trì, và khuyếnkhích rộng rãi tự do cạnh tranh, tự do trao đổi, tự do tiến hành các hoạt động sản xuấtkinh doanh trên cơ sở tín hiệu và sự điều tiết của thị trường Do vậy, hoạt động của mọichủ thể kinh tế, sự vận động của giá cả đều chịu tác động trực tiếp của hệ thống quy luậtkinh tế thị trường, mà A.Smith gọi là “Bàn tay vô hình” Trong giai đoạn vận động, pháttriển của kinh tế thị trường “cổ điển”, Nhà nước chỉ đóng vai trò “giữ nhà”, nghĩa là Nhànước can thiệp rất hạn chế và mang tính gián tiếp vào các hoạt động kinh tế Tiêu biểucủa mô hình này là nền kinh tế Tây Âu từ thế kỷ XVI đến gần cuối thế kỷ XIX
Ưu điểm nổi bật của mô hình kinh tế thị trường “cổ điển“ là nền kinh tế phát triểnnăng động, linh hoạt Nhưng sự tồn tại và vận động của nền kinh tế theo mô hình này đếnmột giai đoạn nhất định, khi trình độ xã hội hóa của lực lượng sản xuất cao, thì nhữngkhuyết tật của thị trường lại bộc lộ một cách mạnh mẽ, mâu thuẫn nội tại trong phát triểnngày càng gay gắt, khủng hoảng kinh tế bột phát với sức tàn phá nặng nề Mà cuộc khủnghoảng 1929-1933 là một minh chứng
Trang 2Khuyết tật và mâu thuẫn trong phát triển kinh tế thị trường “cổ điển” đã đặt ra yêucầu khách quan về sự can thiệp, điều tiết sâu, rộng hơn của Nhà nước vào nền kinh tế Và
mô hình kinh tế mới xuất hiện – mô hình kinh tế thị trường hiện đại, hay còn gọi là nềnkinh tế “hỗn hợp” Đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường hiện đại là có “hai người”tham gia điều tiết nền kinh tế, đó là thị trường điều tiết ở tầm vi mô, Nhà nước điều tiết ởtầm vĩ mô; có “hai người” thực hiện các hoạt động đầu tư là Nhà nước và tư nhân Khókhăn lớn nhất trong kinh tế thị trường hiện đại là xác định giới hạn sự can thiệp, điều tiếtgiữa thị trường và Nhà nước với tính khoa học, khả thi trong những công cụ mà Nhànước sử dụng để điều tiết kinh tế Vì giới hạn sự can thiệp và điều tiết của Nhà nước cũngnhư của thị trường ở những giai đoạn phát triển khác nhau của nền kinh tế không phải làbất biến Trong khi đó, nếu Nhà nước can thiệp quá sâu, chính sách của Nhà nước khôngkhoa học và thiếu khả thi thì sẽ làm triệt tiêu những ưu thế, những động lực của thịtrường Ngược lại, nếu Nhà nước can thiệp không đủ liều lượng thì sẽ tạo điều kiện chonhững khuyết tật của thị trường phát sinh tác động tiêu cực mạnh mẽ Tương tự, tronglĩnh vực đầu tư, nếu kinh tế Nhà nước và phạm vi độc quyền của kinh tế Nhà nước quárộng, sẽ hạn chế tính năng động, sáng tạo và khả năng thu hút nguồn lực của kinh tế tưnhân Ngược lại, nếu tiềm lực kinh tế của Nhà nước quá yếu, cũng sẽ hạn chế hiệu quảcan thiệp, điều tiết của Nhà nước khi cần thiết và sự thiếu hụt hàng hóa công cộng sẽ trầmtrọng
Quá trình hình thành và phát triển kinh tế thị trường trong lịch sử kinh tế thị trườngnhân loại rất đa dạng, phong phú Dưới đây xin điểm qua một số mô hình với những nét
cơ bản nhất của nó
1 Nhật Bản
1.1 Khái quát quá trình phát triển
Trang 3Nhật Bản là một quốc đảo nằm ở phía Tây Bắc Thái Bình Dương của châu Á Đấtnước Nhật Bản do Hockaido, Honshu, Shigoku, Kyushu và hơn 3900 đảo hợp thành Bờbiển dài quanh co, khúc khuỷu, có nhiều cảng tự nhiên tốt, giao thông trên biển rất thuậnlợi Nhật Bản về cơ bản là một nước rất nghèo về tài nguyên khoáng sản Sau chiến tranhthế giới lần thứ hai, sự phát triển kinh tế của Nhật Bản càng phụ thuộc nghiêm trọng vàotài nguyên nguyên liệu của nước ngoài Nguyên liệu và nhiên liệu chủ yếu cần cho sảnxuất công nghiệp, tuyệt đại bộ phận phải nhập khẩu Điều kiện tự nhiên đặc biệt đã tạotiền đề cơ bản cho sự phát triển kinh tế Nhật Bản, có ảnh hưởng lớn thậm chí quyết địnhtrực tiếp tới chính sách và đường lối phát triển nhiều mặt về kinh tế xã hội, chính trị, vănhóa trong các giai đoạn lịch sử khác nhau
1.1.1 Lần cất cánh lần thứ nhất của kinh tế Nhật Bản
a.Giai đoạn cận đại hóa:
Giai đoạn cận đại hóa của Nhật Bản bắt đầu từ sau phong trào Minh Trị duy tânnăm 1868 Nhật Bản về cơ bản đã thực hiện cuộc cuộc cách mạng công nghiệp từ sảnxuất thủ công nghiệp đến sản xuất công nghiệp máy móc lớn; tốc đọ sản xuất côngnghiệp vượt qua nhiều nước mạnh, từ đó bước vào hàng ngũ các nước đế quốc Nguyênnhân chủ yếu đó là:
1.Chính sách cận đại hóa tích cực của chính phủ Phong trào duy tân Minh Trị đã lật
đổ ách thống trị của bọn quân phiệt, xây dựng nên nhà nước tư bản chủ nghĩa chuyênchính liên hợp của địa chủ và giai cấp đại tư sản
2.Thu hút kỹ thuật và chế độ của các nước tiên tiến Âu Mỹ Chính phủ đã đầu tưmột lượng vốn lớn để thu hút một loạt chuyên gia kỹ thuật và quản lý tổ chức từ nướcngoài Đồng thời tích cực cấp học bổng cho người Nhật Bản du học ở phương Tây Đốivới người học xong trở về nước, chính phủ rất trọng dụng
3 Ra sức phổ cập giáo dục
4 Phát huy vai trò của xí nghiệp lớn cận đại Như xí nghiệp của một số tài phiệtMitsui, Sumitomo, Mitsubisi, chiếm vị trí ưu thế các ngành khai khoáng, ngành dệt,
Trang 4ngành máy móc, ngành buôn bán và cả ngân hàng thương nghiệp Về khách quan họ đãtạo cơ sở vật chất lớn mạnh cho việc phát triển kinh tế của thời đại Minh Trị.
5.Quân sự hóa nền kinh tế quốc dân Giai cấp thống trị của Nhật Bản đã lợi dụng bộmáy nhà nước, dùng vũ lực thi hành chủ nghĩa quân phiệt, dựa vào chiến tranh xâm lượcnước ngoài để tiến hành tích lũy tư bản nguyên thủy, thực hiện cận đại hóa kinh tế quốcdân
a.Sự phục hưng toàn diện của kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh (1945-1955)
- Tuy toàn bộ nền kinh tế lâm vào cảnh tan rã, song thực lực của nó lại chưa bị pháhủy hoàn toàn Kết thúc chiến tranh thế giới lần thứ hai, của cải còn lại của Nhật Bảnbằng 101,4% so với năm 1935 Trong đó tư liệu sản xuất bằng 163% năm 1935, máycông cụ dùng cho công nghiệp bằng 180,6% năm 1935 Ngành chế tạo máy tuy bị pháhủy ở một mức độ nhất định, song khi ngừng chiến tranh, ngành chế tạo máy cái còn 75%
và thiết bị ngành chế tạo máy hơi nước còn 72,5% được lưu giữ Công nghiệp điện tử donhu cầu về quân sự trong chiến tranh được phát triển khá nhanh, đồng thời sau chiếntranh phần lớn được giữ nguyên Thiết bị tàu thuyền, chế tạo xe hơi, công nghiệp điệnlực… tuy bị phá hủy tương đối lớn, song thiết bị cơ bản, lực lượng kỹ thuật của nó vẫnđược bảo tồn Xét về nguồn vật lực, bốn tập đoàn tài phiệt lớn như Mitsui, Mitsubishi,Sumitomo, Yasuda chiếm 48% tổng số vốn của toàn bộ ngân hàng, 544 công ty lớn của
họ chiếm 24,5% tổng số vốn của xí nghiệp cả nước, trong chiến tranh họ không hề bị pháhủy, mãi tới năm 1946 vẫn giữ được tỷ lệ cao như vậy Ngoài ra, chiến tranh đã làm hàngtriệu người chết, nhưng độ ngũ kỹ thuật được bồi dưỡng trước chiến tranh vẫn còn, họ lànhững người tiếp thu kỹ thuật mới nhất trên thế giới sau chiến tranh, đã phát huy vai tròquan trọng cho việc phục hưng nền kinh tế Nhật Bản
- Dưới sự can dự trực tiếp của Mỹ sau chiến tranh, Nhật Bản đã triển khai mộtphong trào cải cách từ trên xuống dưới gồm 3 nội dung: cải cách ruộng đất thu mua bắtbuộc đất dư thừa của địa chủ đem bán cho nông dân không có ruộng hoặc ít ruộng, giảitoán tập đoàn tài phiệt, xây dựng luật lao động Ba cái lớn về cải cách dân chủ kinh tế đã
Trang 5loại bỏ một cách có hiệu quả nhân tố phong kiến của Nhật Bản, làm cho thể chế kinh tếcủa chủ nghĩa tư bản Nhật Bản được một lần cải tổ lớn mở ra con đường phát triển thêmmột bước cho sức sản xuất
Từ năm 1946 đến năm 1955 do Mỹ áp dụng chính sách nâng đỡ trực tiếp đối vớiNhật Bản, trải qua nỗ lực của 10 năm, đặc biệt là 5 năm cuối, đã hoàn thành nhiệm vụphục hưng nền kinh tế Chiến lược mà chính phủ Nhật Bản thực hiện chủ yếu đó là:
1.Tổ chức xây dựng và phát triển tập đoàn tài chính tư bản tiền tệ hiện đại Các
xí nghiệp của hệ thống tài phiệt vốn thuộc Mitsui, Mitsubishi, Sumitomo bị phân tántrước 1950 được tập trung và hợp nhất lại với nhau, đồng thời sáp nhập với các ngânhàng tư bản hình thành các tập đoàn tư bản tiền tệ, bất động sản lớn Ngoài ra Nhật Bảncòn tổ chức các công ty tổng hợp kiểu công ty xuyên quốc gia
2.Thực hiện phương thức sản xuất lệch, ưu tiên sản xuất loại tư liệu phát triển sản xuất Nhật Bản sau chiến tranh đứng trước cục diện sản xuất bị thu hẹp, vật phẩm
thiếu thốn, giá cả tăng vọt, do thiếu than nên gang thép, điện, phân bón, máy nông nghiệpcũng không có cách nào khôi phục sản xuất bình thường Than chính là nguồn nguyênliệu cơ sở mà Nhật Bản đang nắm duy nhất Việc tăng sản lượng than và thép đã trởthành nhiệm vụ trọng tâm của kinh tế Nhật Bản lúc đó Khoản tiền chênh lệch giữa giáxuất xưởng với giá nhà nước quy định đối với sắt thép và than được đảm bảo để ngànhnghề trọng điểm thu được lợi nhuận ổn định, đồng thời thông qua việc phục hưng pháthành kho bạc thực hiện khoản tiền mua hàng trọng điểm đối với các ngành này việc thựchiện cách thức sản xuất này (từ năm 19471949) đã thu được hiệu quả kinh tế rất lớn.năm
1950 so với năm 1946, sản lượng thép tăng 2,9 lần, điện tăng 3,1 lần Sản xuất ngành mỏcũng có bước phát triển dài, làm tăng việc cung cấp phân bón và công cụ máy móc chonông nghiệp Sản xuất nông nghiệp được khôi phục
3.Đáp ứng nhu cầu đặc biệt cho chiến tranh xâm lược Triều Tiên của Mỹ, coi đây là một thời cơ kích thích phát triển kinh tế khi Mỹ coi Nhật Bản là căn cứ cung cấp cho chiến tranh của mình Thu nhập từ nhu cầu đặc biệt của 5 năm trung gian gấp
Trang 62,5 lần tổng kim ngạch viện trợ của Mỹ 7 năm sau chiến tranh Dự trữ ngoại hối từ 200triệu USD vào cuối năm 1949 lên 1,14 tỷ USD cuối tháng 11/1952 Sự kích thích của nhucầu đặc biệt cho chiến tranh đối với sản xuất, tiến tới chuyển thành sự kích thích của tiêudùng Tiêu dùng phồn vinh ngược lại thúc đẩy sự phát triển của sản xuất.
4.Cấu tạo thể chế vận hành tương đối với kinh tế thế giới, thu hút kỹ thuật tiên tiến của nước ngoài, thực hiện cải tạo kỹ thuật kinh tế quốc dân Chính phủ Nhật Bản
đã tìm cách thu hút kỹ thuật và thiết bị tiên tiến, kinh nghiệm quản lý nhằm cải tạo vàthay thế công nghệ sản xuất lạc hậu, thiết bị củ kỹ nâng cao việc hợp lý hóa ngành nghề
và hợp lý hóa đầu tư năng lực cạnh tranh quốc tế của sản phẩm
Phục hưng kinh tế sau chiến tranh là lần cất cánh thứ nhất trong lịch sử kinh tế hiệnđại của Nhật Bản Lần cất cánh ngày đã tạo cơ sở trực tiếp cho Nhật Bản đứng vào khốicác nước mạnh mẽ về kinh tế
1.1.2 Tái cất cánh của nền kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh
a.Sự cất cánh của nền kinh tế Nhật bản sau đại chiến thế giới lần thứ hai (từ sau năm 1955)
-Về tốc độ và qui mô của cất cánh kinh tế:
Trang 7Sau đại chiến thế giới lần hai, tốc độ và qui mô phát triển của kinh tế Nhật Bản đãđạt kỳ tích Trong thời gian 55 năm từ 1885-1940, hệ số tăng trưởng kinh tế bình quânnăm của Nhật bản đạt khoảng 4 %, tổng giá trị sản lượng quốc dân thực tế tăng gấp 4 lần.Trong thời gian 18 năm từ 1955-1973, Nhật Bản đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao, bìnhquân năm là 9,8% Tổng giá trị sản lượng quốc dân thực tế tăng 5,2 lần, vượt gấp 2 lần
- Thay đổi cơ bản kết cấu lại ngành nghề:
Trước đại chiến thế giới lần thứ hai, kết cấu ngành công nghiệp của Nhật Bản lấycông nghiệp nhẹ là chính Thời kỳ chiến tranh, tỷ trọng công nghiệp hóa học nặng có liênquan đến công nghiệp quân sự nhanh chóng tăng lên Từ 1955-1973, sản xuất của ngànhcông nghiệp mỏ tăng trưởng 10 lần, sản xuất của ngành công nghiệp chế tạo tăng trưởng
11 lần, còn tỷ trọng của công nghiệp hóa học nặng trong ngành chế tạo năm 1955 là44,8%, đầu những năm 70 tăng lên đến 62% Việc nâng cao tỷ suất công nghiệp hóa họcnặng đã trực tiếp kéo theo sự phát triển của ngành nghề thứ hai, khiến cho sản lượng sảnphẩm công nghiệp chủ yếu của Nhật Bản lấy sản phẩm hóa học nặng làm trung tâm đứnghàng đầu thế giới Năm 1936 sản lượng gang chỉ đạt 436 vạn tấn, thép đạt 704 vạn tấn;đến năm 1975 sản lượng sắt thép của Nhật Bản đã tăng lên đến 10,9 lần (sản lượng thépthế giới tăng 2,4 lần) Cuối những năm 70 đã đạt gần 100 triệu tấn Sản lượng gang thépcủa Nhật Bản chiếm 15% sản lượng gang thép của thế giới, trong đó trên 1/3 tiêu thụ trênthị trường quốc tế
Hóa dầu là ngành mới được xậy dựng và phát triển từ những năm 50 Nhật Bản đã
có 18 trung tâm công nghiệp hóa học loại lớn lấy gia công dầu mỏ làm chủ đạo, trong đóqui mô tương đối lớn là Xuyên Kỳ, Thị Nguyên, Lộc Đảo, Tứ Nhật Thị, Thủy Đảo…Ngoài ra, ngành sợi dệt của Nhật Bản, làm giấy, in, xi măng, gốm sứ và côngnghiệp thực phẩm cũng được phát triển tương đối nhanh, chiếm vị trí nhất định trên thếgiới
- Cải thiện mức sống của nhân dân Nhật Bản
Trang 8Chất lượng và mức sống của quốc dân Nhật Bản là chỉ tiêu cụ thể hóa mức độ pháttriển kinh tế của một nước Tăng thu nhập của người lao động, tổng mức độ tiêu dùngcũng được nâng cao ở diện rộng Do sự thay đổi kết cấu ngành nghề đã dẫn đến sự thayđổi của sản phẩm Kết cấu tiêu dùng của cư dân và chất lượng tiêu dùng được nâng caomột bước.
Tóm lại 20 năm sau đại chiến thế giới lần thứ hai là thời kì phát triển cao độ của nềnkinh tế Nhật bản, đã thu được thành tích to lớn Đây không chỉ là một thành tích ở châu Á
mà còn là một kì tích của thế giới Sự tăng trưởng mang tính kỳ tích của kinh tế Nhật Bản
đã thu hút sự chú ý rất lớn của toàn thế giới Bất luận là các nước phát triển hay các nướcđang phát triển, đều coi kinh tế Nhật Bản là điều huyền bí
a.Nguyên nhân về kỳ tích tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản:
- Thay đổi môi trường phát triển kinh tế
Nhật Bản lấy thị trường quốc tế làm chỗ dựa, vai trò của môi trường nổi lên càng rõnét
Hiến pháp của Nhật Bản sau chiến tranh qui định một cách nghiêm ngặt: Từ nay vềsau quyết không cho phép sử dụng chiến tranh để giải quyết tranh chấp quốc tế, cũngkhông thể trực tiếp bị cuốn hút vào tranh chấp vũ lực Về mặt quân sự Mỹ trở thành cái ôhạt nhân của Nhật Bản Đến năm 1969, Nhật Bản chỉ riêng thu nhập về nhu cầu đặc biệtcho chiến tranh đã tới 600 triệu đôla
Xét từ môi trường kinh tế, sự thay đổi về hành vi quốc tế cũng đã xúc tiến một cách
có hiệu quả sự phát triển của kinh tế Nhật Bản
Giai đoạn cất cánh của kinh tế Nhật Bản, chính là thời kì tăng cường hợp tác quốc
tế trên thế giới, thời gian này ở lĩnh vực mậu dịch đã thành lập tổng hiệp định quan hệmậu dịch quốc tế; ở lĩnh vực tiền tệ, đã tổ chức quỹ tiền tệ quốc tế Toàn bộ trật tự kinh tếthế giới được đặt dưới sự khống chế của hai hệ thống lớn, đối với Nhật Bản mà nói, đócũng là điều kiện tốt cho việc phát triển kinh tế Nhật Bản
Trang 9Điều đặc biệt quan trọng là kinh tế Nhật bản cất cánh đúng vào lúc hình thành caotrào hiệu ứng cách mạng khoa học kĩ thuật lần thứ ba trên thế giới Cuộc cách mạng khoahọc kĩ thuật mới lấy năng lượng nguyên tử, vi điện tử và chất bán dẫn làm trung tâm, đãtrực tiếp tạo ra sự thay đổi của kết cấu ngành nghề, đã thúc đẩy sự khai hoa toàn diện của
kỹ thuật mới và công nghệ mới trong các lĩnh vực như hóa dầu, sợi hóa học, chế tạo cơkhí, luyện kim loại…
Nhật Bản có điều kiện tự nhiên tương đối ưu việt, lợi dụng cảng vịnh có điều kiện
tự nhiên tốt, Nhật bản đã phát triển mạnh ngành đóng tàu và ngành vận tải để vận chuyển
về Nhật bản những tài nguyên khoáng sản chất lượng tốt giá rẻ từ các nơi trên thế giới.Sau đại chiến thế giới lần thứ hai, dưới sự can dự của quân Mỹ chiếm đóng, NhậtBản đã tiến hành ba cải cách dân chủ kinh tế lớn: cải cách ruộng đất, giải tán tài phiệt,xâydựng luật lao động Tất cả những điều đó đã trở thành điều kiện có lợi cho việc cất cánhkinh tế của Nhật Bản
Nhân tố trực tiếp quyết định cất cánh kinh tế
- Nguồn tài nguyên sức lao động phong phú, chất lượng tốt mà giá rẻ
Đầu những năm 50, hệ số lao động sản xuất của Nhật bản tương đối cao, song mức
độ tiền của nhật Bản so với Mỹ lại tương đối thấp Giá thành thấp, một mặt đã hạ thấp giá
cả tiêu dùng Năm 1967, nếu coi chỉ số tiền lương thực tế của công nhân Nhật Bản là 100thì Mỹ là 371, Tây Đức 179, Anh Pháp là 107 Năm 1981 nếu coi chỉ số công nghiệp chếtạo của Nhật Bản là 100 thì Đức là 134, Pháp là 106 Mặt khác đã nâng cao tính cạnhtranh của sản phẩm, tạo cơ chế kích thích phát triển kinh tế
- Phát triển khoa học kỹ thuật cao
Nhật Bản đã sử dụng thành quả nghiên cứu cơ sở, nghiên cứu ứng dụng của cácnước Âu Mỹ ,do họ bỏ ra lượng tiền lớn và thời gian tương đối dài mới thu được kết quả
Họ đã nhanh chóng tiếp thu, tiến hành nghiên cứu khai thác ở trong nước Nhờ vậy đã rútngắn rất lớn thời gian đầu tư nghiên cứu khai thác và tăng nhanh chu kỳ chuyển hóa khoahọc kỹ thuật thành sức sản xuất hiện thực Đây là chiến lược có hiệu suất rất cao
Trang 10Ba chế độ lớn trong quản lý xí nghiệp của Nhật Bản được mọi ngưới mệnh danh là
“ba pháp bảo lớn” Trải qua sự phát triển lâu dài, nó đã hình thành tinh thần của xí nghiệpNhật Bản đặc biệt độc đáo:
Tinh thần “hòa giữa trời và đất”, “dĩ hòa vi quí” Nhấn mạnh sự hợp tác của nhà tưbản với người lao động trong nội bộ xí nghiệp, phản đối việc tranh giành lẫn nhau gâytiêu hao
Tinh thần lấy con người làm trọng tâm Người Nhật Bản đã kết hợp chủ nghĩacông lợi của giai cấp tư sản lũng đoạn hiện đại phương Tây với chủ nghĩa Nho giáotruyền thống của Trung Quốc, thống nhất chất lượng quản lý khoa học của Mỹ với hành
vi khoa học nhân tế của phương Đông, nổi bật sự quản lý của con người, đề cao sự quantâm đối với con người
Tinh thần tính toán kỹ lưỡng Thế giới gọi người Nhật Bản hiện đại là “động vậtkinh tế” Cụm từ này vừa có ý xấu nhưng cũng có nhiều ý tốt Người lãnh đạo xí nghiệpcủa Nhật Bản cũng tự coi họ là dưa vào “luận ngữ” của Trung Quốc cộng với bàn tính màđánh khắp thiên hạ
Môi trường thị trường cạnh tranh tự do Sau chiến tranh, do tập đoàn tài phiệt bịgiải thể, chính phủ đã định ra “điều lệ cấm lũng đoạn”, về cơ bản mà hình thành thịtrường cạnh tranh tự do.thời kỳ cuối những năm 70, do sự tăng lên mạnh mẽ của thực lựckinh tế Nhật Bản, mức độ cạnh tranh tăng lên một bước, đó cũng là nhân tố động lực chokinh tế Nhật Bản đi theo hướng kinh tế thế giới
Hệ số dự trữ cao Phát triển kinh tế trước hết được quyết định bởi đầu tư trongnước, mà đàu tư không chỉ quyết định bởi tích lũy nội bộ của xí nghiệp, mà còn đượcquyết định bởi việc tổng tích lũy của một quốc gia Tổng tích lũy đối với tỷ suất của tổnggiá trị sản lượng quốc dân tức là sự cao thấp của hệ số tổng dự trữ là nhân tố quan trọngquyết định việc tăng trưởng đầu tư nhanh chậm và quy mô đầu tư lớn nhỏ, từ đó lải là yếu
tố quyết định tăng trưởng kinh tế Trong thế giới tư bản, hệ số tổng dự trữ của Nhật Bản
đã tăng hơn các nước phát triển phương tây khác một cách rõ rệt
Theo logic thông thường, tăng trưởng dự trữ bị ràng buộc bởi hai mặt:
Trang 11Tốc độ tăng trưởng kinh tế quốc dân Tốc độ phát triển kinh tế càng nhanh, mọingười thu nhập càng nhiều, khi bộ phận tiêu dùng chi ra tăng lên tuyệt đối thì hệ số dự trữtăng lên ở diện rộng.
Mức độ dao động của vật giá Trước khi bùng nổ về vật giá có thể có hiện tượngtiêu dùng mang tính cạnh tranh nhau mua tạm thời, còn khi giá cả tăng lên biến thànhhiện thực lâu dài phổ biến, nó có thể là một động lực buộc một bộ phận trong thu nhậpchuyển thành dự trữ
Hai nhân tố này không chỉ tác dụng đối với Nhật Bản, mà còn có thể có tác dụngtương tự đối với Âu Mỹ Sự thực nó là một loại phân hóa của tình hình Nhật Bản
Ngoài ra, nó có quan hệ rất lớn đối với chính phủ Nhật Bản trong thời gian tươngđối dài trước đây, để tăng nhanh tiến trình cận hiện đại, cổ vũ quốc dân tiến hành dự trữ.Nội dung chủ yếu của chính sách ngành nghề buôn bán:
Ra sức nâng đỡ bồi dưỡng ngành nghề cơ sở, ngành nghề mới xây dựng và ngànhnghề xuất khẩu, tạo môi trường đầu tư tốt cho việc phát triển của xí nghiệp lớn
Hạn chế nghiêm ngặt sản phẩm của nước ngoài và đầu tư của nước ngoài vào NhậtBản
Tóm lại, chúng ta có thể thấy rằng, để nâng đỡ bồi dưỡng và bảo hộ ngành nghề cơ
sở, ngành nghề mới được xây dựng và ngành nghề xuất khẩu, Nhật bản đã định ra mộtloạt chính sách ngành nghề tương đối đồng bộ Những chính sách này đã cấu thành nhân
tố rất quan trọng của việc tăng trưởng nhanh chóng kinh tế Nhật Bản
1.1.3 Những mâu thuẫn mà nền kinh tế Nhật Bản gặp phải:
- Sau những năm 70, giống như tất cả các nước phương Tây, kinh tế Nhật Bản đangđứng trước thử thách mới: chế độ tiền tệ thế giới tan rã, chế độ hối suất cố định thay thếbởi chế độ hối suất thả nổi, các nước xuất khẩu dầu mỏ lợi dụng dầu mỏ làm vũ khí triểnkhai đấu tranh với các nước tư bản chủ nghĩa dẫn đến khủng hoảng dầu mỏ
Song kinh tế Nhật Bản cuối những năm 80 lại đang đứng trước mâu thuẫn gay gắt:
Trang 12- Mâu thuẫn trong nước biểu hiện ở chất lượng đời sống, tức là thực lực kinh tế lớnmạnh mâu thuẫn với việc dừng lại của chất lượng sinh hoạt quốc dân
- Mâu thuẫn quốc tế chủ yếu từ thu chi quốc tế do xuất siêu mậu dịch đưa đếnkhông cân bằng
1.2 Đánh giá chung về nền kinh tế thị trường Nhật Bản
1.2.1 Những thành công
Nền kinh tế Nhật Bản là nền kinh tế đạt được nhiều thành tựu trong số các quốc giacông nghiệp phát triển ở thế kỷ XX Thời kỳ thành công nhất của Nhật Bản là những năm1950-1987, khi tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm đạt 7,1%, và tốc độ tăng trưởngtrung bình của GDP thực tế là 6,0% Đặc biệt trong giai đoạn 1952-1972 tốc độ tăngtrưởng rất cao, trung bình là 9,8% Trong những năm 60, Nhật Bản đã dần dần mangnhiều đặc trưng quan trọng của nền kinh tế phát triển như: đạt được mức toàn dụng laođộng, hiện đại hóa cơ cấu công nghiệp, giảm bớt hiệu lực nền kinh tế song hành, tầmquan trọng của xuất khẩu sản phẩm công nghiệp nặng, thặng dư thường xuyên trong tàikhoản vãng lai Từ năm 1965 trở đi, mô hình kinh tế Nhật Bản có sự thay đổi Do buônbán đã trở nên dư thừa, nên các khoản vay đã được hoàn trả, và các công ty còn đầu tư ranước ngoài Năm 1968, các khoản nước ngoài nợ Nhật Bản dần dần vượt quá các khoản
mà Nhật Bản nợ nước ngoài Nhật Bản đã trở thành một nước cho vay và năm 1968, tổngsản phẩm quốc dân của Nhật Bản đã đứng hàng thứ hai trong thế giới TBCN, Nhật Bảntrở thành một cường quốc kinh tế
- Chúng ta có thấy lĩnh vực thành công nhất của Nhật Bản đó là về xuất khẩu; sảnphẩm của Nhật được bán ra toàn thế giới, từ máy nghe nhạc Sony Walkman đến ô tôNissan hay Toyota Đầu thế kỷ XX, Nhật Bản đứng vị trí 23 xét trên kim ngạch xuất khẩu
so với vị trí thứ 12 của Trung Quốc Tổng kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản tại thờiđiểm đó chưa bằng 2% của Vương quốc Anh, quốc gia dẫn đầu thế giới về xuất khẩu.Nhưng đến cuối thế kỷ XX, năm 1997 nước Nhật đã xếp thứ 3 thế giới về phương diệnxuất khẩu, với tổng kim ngạch lớn hơn so với Vương quốc Anh là khoảng 150 tỷ đôla
Trang 13Năm 1992 Nhật Bản đứng đầu thế giới xét trên chỉ tiêu giá trị thiết bị, máy móc, tính bìnhquân trên một công nhân, đứng thứ ba thế giới xét trên chỉ tiêu tổng số năm được đào tạotính trên một công dân bình thường so với các quốc gia công nghiệp phát triển.
- Nhật Bản là một trong những nước có dân số già nhất thế giới Tuổi thọ trung bìnhcủa người dân Nhật Bản thuộc loại cao nhất trong số các quốc gia phát triển và nó vẫn sẽtiếp tục tăng lên trong thời gian tới Đồng thời, Nhật Bản phải đương đầu với hai vấn đềlớn: thứ nhất, nước Nhật chống lại việc nhập cư và giữ sự đồng nhất về chủng tộc; thứhai, người Nhật rất không muốn phụ nữ phải lao động vất vả, họ không muốn bóc lột sứclao động của phụ nữ và do đó càng làm gánh nặng thuế khoá đối với dân Nhật Bản tănglên
- Mô hình Nhật Bản một thời được nhiều người ngưỡng mộ, nay đã dần dần trở nênkhiếm khuyết, kìm hãm sự vận động tiến lên của nền kinh tế, vai trò của các chủ thể kinh
tế tiếp tục giảm, nó không còn phù hợp khi chuyển sang giai đoạn xã hội hậu công
Trang 14nghiệp, cần phải có sự điều chỉnh, tiến hành các cuộc cải cách cơ cấu sâu sắc nhằm biếnđổi chính hệ thống kinh tế.
- Xuất phát từ thực tiễn trên, từ những năm 90, Nhật Bản tiến hành phi điều chỉnhnền kinh tế nhằm mục đích giảm xuống mức tối thiểu sự can thiệp của Nhà nước, đưa nềnkinh tế trở lại hoạt động theo cơ chế tự điều chỉnh, dựa trên những nguyên tắc của nềnkinh tế thị trường đích thực, hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới Cụ thể:
- Tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước: nhằm tạo cho các công ty hoạt độngnăng động và có hiệu quả hơn, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách do phải trợ cấp để bù
lỗ cho những công ty thuộc sở hữu nhà nước
- Cải cách hành chính: nhằm tăng cường quyền lực của các cơ quan lập pháp,chuyển dần quyền chủ động vạch chính sách và chiến lược phát triển kinh tế xã hội từtay các quan chức về cho các chính khách Tăng cường tính minh mạch và hiệu lực củapháp luật Thu hẹp bớt quyền lực của Chính phủ trung ương Xây dựng một cơ cấu bộmáy nhà nước gọn nhẹ hơn, song tinh nhuệ hơn
- Tự do hóa tài chính: hệ thống tài chính Nhật Bản vào những năm 90 vẫn đầynhững bê bối, yếu kém, các hoạt động ngân hàng vẫn bị chia cắt và bị đè nặng bởi nhữngmón nợ khó đòi và thua lỗ triền miên Tháng 11-1996, Thủ tướng R.Hashimoto kêu gọiphải tiến hành cải cách toàn diện nhằm làm thị trường tài chính “năng động, linh hoạt, tự
do, công bằng, minh bạch và toàn cầu hơn” Và như vậy, kế hoạch Big Bang cải cách độtbiến ra đời, đi vào thực hiện ngày 1-4-1998 với 8 nội dung thực hiện trong 3 năm, đây làmột cuộc đại cải cách tài chính, có tầm cỡ
- Cải cách hệ thống ngân hàng như: nâng cao tính độc lập của ngân hàng Nhật Bản(BOJ); tiến hành phi điều chỉnh đối với hệ thống ngân hàng; phi điều chỉnh lãi suất; giảmbớt tình trạng chia cắt trong hoạt động ngân hàng; giảm bớt các hàng rào ngăn cách giữacác hoạt động kinh doanh ngân hàng và kinh doanh chứng khoán
- Điều chỉnh ngân sách và cải cách chế độ thuế:
* Về điều chỉnh ngân sách: để giải quyết tình trạng thiếu hụt ngân sách, nợ quốcgia, Chính phủ chủ trương cắt giảm các khoản chi tiêu không cần thiết, tận thu các khoản
Trang 15phí và lệ phí, rà soát lại các khoản chi tiêu cho các công trình công cộng quy mô lớn songhiệu quả kém
* Về cải cách chế độ thuế: Chính phủ tiến hành đơn giản hệ thống thuế thu nhập
cá nhân và công ty, giảm và bỏ một số loại thuế đánh quá cao
- Cải cách hệ thống bảo hiểm xã hội theo hướng: cho phép khu vực tư nhân thamgia rộng rãi hơn vào lĩnh vực bảo hiểm, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa Nhànước và tư nhân, giữa các công ty tư nhân với nhau Giảm dần trợ cấp của Nhà nước như:cải cách chế độ hưu bổng, chăm sóc sức khỏe và phúc lợi nhằm tạo lập một hệ thốngbảo hiểm xã hội đáp ứng các nhu cầu mới của xã hội đang lão hóa
- Tóm lại, mô hình kinh tế thị trường Nhật Bản cộng đồng đã đóng vai trò hết sứcquan trọng trong việc thực hiện chiến lược “xây dựng đất nước bằng mậu dịch”, “tất cảcho xuất khẩu”, tạo ra sự thần kỳ kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh Ngày nay, trước sựphát triển mạnh mẽ của xu hướng toàn cầu hóa kinh tế và kinh tế tri thức, Nhật Bản cần
có sự điều chỉnh và thay đổi thể chế kinh tế mới cho phù hợp với xu thế phát triển Đếnnay Nhật Bản đã thực hiện các cuộc cải cách thể chế kinh tế nhưng vẫn còn nhiều hạnchế, tình trạng nền kinh tế còn trì trệ khó khăn Nhưng với tiềm lực kinh tế tài chính củaNhật Bản và tài trí của dân tộc, tính phối hợp hài hoà để giải quyết các vấn đề, hy vọngNhật Bản sẽ thực thi mô hình mới về sự kết hợp Đông-Tây trong thời đại mới có hiệu quảcao
2 Hàn Quốc
2.1 Khái quát quá trình phát triển của Hàn Quốc:
Hàn Quốc có nền kinh tế đứng thứ 3 ở Châu Á và thứ 13 trên thế giới Sau cuộcchiến tranh Triều Tiên, nước này đã xây dựng từ một nước nghèo đói thành một trongnhững nền kinh tế phát triển hàng đầu, thường được mọi người biết đến như "Kỳ tíchsông Hàn" Trong quá khứ, nền kinh tế Hàn Quốc phụ thuộc chủ yếu vào nông nghiệp.Chỉ vào đầu những năm 1960, nền sản xuất công nghiệp mới bắt đầu có những bướcchuyển biến mạnh mẽ Sau chiến tranh Triều Tiên (1950-1953), nguồn trợ cấp kinh tế từHoa Kỳ đã giúp Nam Hàn phục hồi nhanh chóng Chính phủ ưu tiên phát triển các ngành
Trang 16sản xuất để làm động lực kích thích xuất khẩu Chỉ sau 1 thế hệ, Hàn Quốc đã phát triển
từ một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới thành một trong những trung tâm pháttriển công nghiệp tiềm năng nhất
Trong những năm 70, 80 của thế kỷ XIX nền kinh tế Hàn Quốc tập trung chủ yếuvào công nghiệp nặng và công nghiệp sản xuất ôtô Với sự hỗ trợ của nhà nước, POSCO,một công ty sản xuất thép đã trở thành xương sống của cả nền kinh tế Ngày nay, POSCO
là nhà sản xuất thép lớn thứ 3 trên thế giới Hàn Quốc cũng nổi tiếng với ngành đóng tàuvới những tập đoàn đa quốc gia như Hyundai, Samsung đang chiếm ưu thế trên thị trườngtàu biển toàn cầu Sản xuất xe cũng phát triển khá nhanh, tạo nên nhiều nhãn hiệu xe cótiếng
Kể từ cuối những năm 80, chính phủ đã cho phép phát triển kinh tế theo cơ chế thịtrường, tự do cạnh tranh Trước đây, chính phủ thường đưa ra những kế hoạch phát triểnkinh tế 5 năm để thúc đẩy công nghiệp hóa Để đạt được những thành tựu như vậy, chínhphủ đã tác động trực tiếp vào nền kinh tế thông qua những ưu tiên đặc biệt cho một sốngành nghề kinh doanh, điều chỉnh tỷ giá hối đoái và thực hiện những chính sách tài khóamang tính tập trung cao
Cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1997,1998 đã chỉ ra những yếu kém về cơ cấu củanền kinh tế nước này Những mối quan hệ mật thiết giữa chính phủ, các ngân hàng và cáctập đoàn lớn đã tạo điều kiện dễ dàng cho các tập đoàn vay 1 lượng tiền lớn từ những tổchức tài chính để đầu tư mạo hiểm Hậu quả là những tập đoàn này đã trở thành con nợkhổng lồ Khi chúng sụp đổ, nó đã tạo ra cú sốc lớn cho khu vực ngân hàng Giá trị đồngnội tệ giảm xuống quá một nửa vào cuối năm 1997, kéo theo lạm phát và thất nghiệp tăngnhanh
Vào tháng 12 năm 1997, Hàn Quốc chấp nhận số tiền viện trợ khổng lồ từ Quĩ tiền
tệ thế giới (IMF) Kèm theo số tiền là những yêu cầu chính phủ Hàn Quốc phải có nhữngcải cách kinh tế tích cực bao gồm tái cơ cấu khu vực doanh nghiệp và tài chính Chínhphủ tiến hành chuyển đổi tài sản nhà nước sang cho khu vực tư nhân, mở cửa thị trường