1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xác định thành phần hoá học tinh dầu cây long não (cinnamomum camphỏa (l) j s presl) ở nghệ an

38 748 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xác định thành phần hoá học tinh dầu cây long não (Cinnamomum camphora) ở Nghệ An
Tác giả Đinh Trọng Vận
Người hướng dẫn PGS. TS. Lê Văn Hạc, PGS. TSKH. Nguyễn Xuân Dũng, TS. Hoàng Văn Lựu, Thạc sĩ Trần Đình Thắng
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Hữu cơ
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2003
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 292,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

chúng để làm phơng thuốc cổ truyền trong nhân dân thì có, nhng sự hiểu biếtvề thành phần hoá học của cây Long não ở Nghệ An thì rất hạn chế, đặc biệt làchúng thuộc loại nào thứ cây cho n

Trang 1

Lời cảm ơn

Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận đợc sựhớng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ hết sức tận tình và chu đáo của:

- PGS TS Lê Văn Hạc: đã giao đề tài và trực tiếp hớng dẫn

- PGS TSKH Nguyễn Xuân Dũng – Khoa Hoá trờng đại học Khoahọc Tự nhiên ĐHQG Hà Nội đã phân tích thành phần hoá học tinh dầu

- TS Hoàng Văn Lựu - Phó trởng khoa Hoá đã có những góp ý và chỉdẫn quý báu, bổ ích

- Thạc sĩ Trần Đình Thắng: đã cung cấp nhiều thông tin, tài liệu quantrọng

- Các thầy giáo, cô giáo và cán bộ bộ môn Hoá Hữu cơ khoa Hoá trờng

Đại học Vinh, cùng các bạn bè đã động viên và giúp đỡ trong quá trình hoànthành luận văn

Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới tất cả những sự độngviên và giúp đỡ quí báu đó

Tháng 5 năm 2003

Đinh Trọng Vận

Trang 2

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Nớc Việt Nam chúng ta nằm ở Đông Nam châu á Có điều kiện tự nhiênthuận lợi: nắng lắm, ma nhiều, khí hậu nhiệt đới gió mùa Do vậy mà hệ thựcvật đa dạng và phong phú, đặc biệt là các loài cây cho tinh dầu, đây là mộtnguồn tài nguyên thiên nhiên có giá trị

Từ thời xa xa ông cha ta đã phát hiện và sử dụng các cây chứa tinh dầuvới những mục đích khác nhau nh làm thuốc, làm gia vị, làm hơng liệu trongsinh hoạt Ngày nay với sự phát triển của Khoa học - Công nghệ, với sự nângcao không ngừng về đời sống tinh thần cũng nh vật chất thì nhu cầu đối vớitinh dầu cũng ngày một tăng lên

Theo số liệu thống kê gần đây, hệ thực vật Việt Nam có trên 10.000 loài[7], trong đó có khoảng 3.200 đợc sữ dụng trong y học dân tộc và 600 loài câycho tinh dầu [5]

Long não (cinnamomum) là một chi lớn trong họ long não (laurceae)

gồm 250 loài, phân bố từ vùng đại lục châu á đến khắp vùng Đông Nam á,Australia và khu vực Tây Thái Bình Dơng

Đến nay mới chỉ có 150 loài đã đợc nghiên cứu ở những chừng mực nhất

định về từng khía cạnh khác nhau

Long não (C Camphora) là một trong những cây thuộc chi long não

(cinnamomum) cho tinh dầu có nhiều giá trị.

Campho là một hoạt chất quan trọng nhất của tinh dầu long não, đợcdùng làm thuốc trợ tim, thuốc đau bụng, thuốc sát trùng

Tinh dầu long não (đã tách campho) là nguồn nguyên liệu cho ngànhcông nghiệp hơng liệu, thuốc trừ sâu

Cây Long não còn đợc trồng làm cây cảnh và bóng mát ở nhiều thànhphố Nó vừa tạo ra cảnh đẹp vừa làm trong lành không khí đồng thời lại là cây

có khả năng tạo rừng [8]

Theo các tài liệu điều tra ở trong nớc thì cây Long não Việt Nam có hailoài: một loài cây cho nhiều campho, ít tinh dầu và một loài cây cho chủ yếu làtinh dầu, rất ít campho Nhng hình thái thực vật của hai loài này lại rất giốngnhau, tới mức hầu nh rất khó phân biệt đợc chúng [1, 4,10]

Nớc ta cây Long não đợc trồng nhiều ở hầu khắp các tỉnh, nhất là cáctỉnh miền núi ngay từ hồi Pháp thuộc và sau hoà bình lập lại ở Nghệ An, câyLong não có rãi rác ở các núi, đồi, các khu rừng khắp toàn tỉnh.Việc sử dụng

Trang 3

chúng để làm phơng thuốc cổ truyền trong nhân dân thì có, nhng sự hiểu biết

về thành phần hoá học của cây Long não ở Nghệ An thì rất hạn chế, đặc biệt làchúng thuộc loại nào (thứ cây cho nhiều campho, ít tinh dầu, hay thứ cây cho ítcampho, nhiều tinh dầu) thì cha đợc khai thác

Xuất phát từ tình hình đó mà chúng tôi đã chọn đề tài “Nghiên cứu thành

phần hoá học tinh dầu cây Long não (C camphora) thuộc chi long não

(cinnamomum) ở Nghệ An” nhằm mục đích: xác định hàm lợng tinh dầu và

thành phần định tính của nó, qua đó góp phần tìm kiếm và phát hiện thêmnhững hợp chất có giá trị trong thành phần tinh dầu long não để giới thiệuchúng với t cách là nguồn nguyên liệu cho hoá dợc, hoá mỹ phẩm

2 Nhiệm vụ và phơng pháp nghiên cứu

Với mục đích nh trên, nhiệm vụ của luận văn này bao gồm:

- Dùng phơng pháp chng cất lôi cuốn hơi nớc để tách tinh dầu từ bộ phận

cành lá của cây long não (C camphora) và xác định hàm lợng của chúng.

- Dùng sắc ký khí (GC) và sắc ký khí - khối phổ ký liên hợp (GC – MS) đểxác định thành phần hoá học của tinh dầu cành lá Long não

3 Đối tợng nghiên cứu

- Tinh dầu bộ phận cành, lá của cây Long não (cinamomum

camphora) thuộc họ long não (lauraceae) ở Nghệ An.

Phần 1. TổNG QUAN

1.1 Chi long não (Cinamomum schaefer)

1.1.1 Nguồn gốc và phân bố

Long não (Cinamomum) là một chi lớn trong họ Long não (Lauraceae)

gồm tới 250 loài, phân bố từ vùng đại lục châu á đến khắp vùng Đông Nam á,Australia và khu vực Tây Thái Bình Dơng Tại miền Nam châu Mỹ chỉ có một

số ít loài, nhng riêng khu vực Malesian đã phát hiện đợc 90 loài Đến nay mớichỉ có 150 loài đã đợc nghiên cứu nhng ở những chừng mực nhất định về từngkhía cạnh khác nhau

ở nớc ta, số loài thuộc chi Long não rất phong phú và đa dạng Năm

1991, Phạm Hoàng Hộ đã mô tả tóm tắt cho 40 loài và năm1994, Nguyễn Kim

Đào đã thống kê đợc 42 loài (chiếm 16,8% tổng số loài của chi Long não

(Cinamomum) trên toàn thế giới và 46,6% số loài ở khu vực Malesian) [10].

Trang 4

Những loài chứa tinh dầu đáng chú ý trong chi Long não (Cinamomum)

5 - C burmanni form heyneanum (Nees) H.W.Li (1978) - Quế lá hẹp.

6 - C camphora (L) presl (1825) - Long não.

7 - C cassia Presl (1825) - Quế thanh, Quế trung hoa, Quế yên bái,

Quế đơn, Quế quan

8 - C glaucescens (Nees) Drury (1869) - Re xanh phấn, Re mốc.

9 - C iners Reinw ex Blume (1825) - Quế rừng, Hậu phát, Quế lợn.

10 - C javanicum Blume (1826) - Quế java.

11 - C loureirii C Nees (1836) - Quế hơng, Quế lá tù, Quế thanh hoá,

Quế quì

12 - C micranthum (Hayata) Hayata (1013) – Re hoa nhỏ.

13 – C porrectum (Roxb) Kosterm (1952) – Re hơng, Xá xị, Gù hơng,

Vù hơng

14 - C tamala (Buch-Ham) J Nees et Ebem (1831) - Quế tamala, Quế

ấn độ

15 - C verum Presl (1825) - Quế hồi , Quế xây lan

16- C Tetragonum A Chev (1918) – Quế đỏ

1.1.2 Công dụng

Rất nhiều loài thuộc chi Long não là cây tinh dầu, cây thuốc, cây gia vị

và cây lấy gỗ có giá trị

Vỏ cây, vỏ cành và lá của loài Quế (Quế đơn C cassia, Quế xây lan

-C revum, Quế trèn - -C burmanni, Quế thanh- -C loureirii ) là nguồn nguyên

liệu lấy tinh dầu, nguồn gia vị để chế biến thực phẩm trong công nghiệp cũng

nh trong tập quán ẩm thực của nhiều dân tộc trên thế giới Hơng vị của quếcũng nh các hợp chất có chứa trong tinh dầu quế vừa có tác dụng trong kíchthích tiêu hoá, làm cho thức ăn có hơng vị hấp dẫn, ngon miệng, vừa sát trùng,tiêu diệt hoặc kìm hãm sự hoạt động của các vi sinh vật có hại Các sản phẩm

Trang 5

chế biến từ vỏ quế (húng lìu, bột ngũ vị ), tinh dầu quế đợc sử dụng rộng rãi

để ớp thịt, để xào nấu các loại thức ăn hàng ngày trong nhiều gia đình

Các hợp chất chứa trong tinh dầu quế (đặc biệt là andehit xinamic), tinhdầu long não (chủ yếu là campho) và trong tinh dầu xá xị (chủ yếu là safrol) lànguồn nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp (sản xuất thuốc, chế biếnthực phẩm, thuốc trừ côn trùng và sản xuất các loại hoá mỹ phẩm )

Trong Y học dân tộc nớc ta nói riêng và các nớc phơng Đông nói chung,quế đợc coi là một trong bốn vị thuốc bổ đầu bảng

Trong cả Đông y và Tây y, vỏ quế, tinh dầu quế, tinh dầu long não đợc

sử dụng rộng rãi để làm thuốc trợ tim, tăng cờng tuần hoàn, kích thích tiêuhoá, chữa cảm cúm, hô hấp, giảm bớt sự mệt mỏi, căng thẳng của hệ thần kinh

và cơ bắp

Vỏ, lá và rễ của nhiều cây khác thuộc chi Long não đã đợc dùng làmcác vị thuốc trong nhiều bài thuốc dân tộc và các bài thuốc gia truyền củanhiều bộ tộc ở nhiều khu vực khác nhau tại Đông Nam á

Theo “Dợc thảo” nớc Anh thì bột nghiền từ vỏ quế đợc ghi nhận là loạithuốc đặc biệt để chữa bệnh đau bụng, khó tiêu, đầy hơi hoặc đau bụng có kèm

theo nôn mửa Vỏ của cả ba loại quế (C cassia, C burmanni, C loureii ) đều

đợc biết đến nh loại thuốc dân tộc truyền thống để điều trị bệnh đau quặn bụngdữ dội, bệnh tiêu chảy, bệnh tả, bệnh phổi và ho Trong “Dợc thảo” của các n-

ớc châu Âu ghi nhận tinh dầu quế dùng pha trà uống (0,05 - 0,2 gam mỗingày) hoặc dùng uống chung với các loại cây cỏ khác sẽ có tác dụng diệtkhuẩn, kháng nấm và kích thích tiêu hoá

Gần đây có những thông tin đáng lu ý, đó là một số hoạt chất có tính

sinh học đợc chiết từ gỗ của loài Cinamomun mercadoi S Vidal, phân bố tại

Philippin có tác dụng kìm hãm rõ rệt đối với sự phát triển của một vài loại tế

bào ung th Chất nhựa lấy từ cây Quế rừng (C iners) là loại keo dính kết có

chất lợng cao, đợc dùng trong nhiều lĩnh vực công nghiệp (làm hơng, tẩm mànchống muỗi, dán gỗ, phocmica )

Gỗ của nhiều loài có độ bền trung bình, lại thờng chứa tinh dầu, có khảnăng chống chịu tốt đối với mối mọt, côn trùng nên đợc sử dụng nhiều trongxây dựng, trang trí nội thất và đóng đồ gỗ gia dụng Gỗ có khối lợng vừa phải(tỷ trọng của gỗ từ 350 - 860 kg/m3 ở độ ẩm 15%), thớ gỗ thẳng hoặc hơi vặn,cấu tạo tơng đối mềm và mịn Gỗ của một số loài trong chi Long não còn đợccoi là nguồn nguyên liệu tốt trong công nghiệp gỗ dán

Trang 6

1.1.3 Tinh dầu và đặc tính của tinh dầu

Hầu hết các loài thuộc chi Long não (Cinnamomun) đều có chứa tinh

dầu hoặc hơng thơm, song hàm lợng và thành phần hoá học của tinh dầu củamỗi loài thờng khác nhau Một số loài thì thành phần chủ yếu là xinamandehit,

ở những loài khác thì các thành phần u thế lại là eugenol, campho hoặc safrol

Vỏ và lá của loài Quế đơn (C.cassia) đều chứa tinh dầu với thành phần

tơng tự nhau Hàm lợng tinh dầu trong vỏ khá cao và thay đổi từ 1 - 4%, còntrong lá thờng thấp chỉ trong khoảng 0,3 - 0,8% Tinh dầu từ vỏ Quế đơn chứa

từ 70 - 95% (E) - xinamandehit, ngoài ra còn khoảng gần 90 hợp chất khácnữa Trong đó đáng lu ý là benzandehit, cumarin, xinamyl axetat, 2 -metoxyxinamandehit, 2-metoxybenzandehit, 2–phenyletyl axetat, (Z)–xinamic aldehit, salixylandehit, benzyl benzoat, phenylpropanal ; thờngkhông chứa eugenol hoặc không đáng kể Thành phần chủ yếu của tinh dầu láQuế đơn là (E) - xinamandehit (70 - 90%), ngoài ra còn có khoảng 20 hợp chấtkhác trong đó có 2- metoxyxinamandehit, benzandehit, salixylandehit,phenylpropanal, (E)- xinaman axetat, cumarin Chồi búp của Quế đơn cũngchứa tới 1,9% tinh dầu với thành phần chủ yếu là các andehit (80%)

ở Quế thanh (C.loureirii), tinh dầu chứa trong vỏ với hàm lợng khá cao

và thay đổi trong khoảng từ 1 - 7% Tinh dầu chng cất từ vỏ Quế thanh thờng

có màu vàng nâu và thành phần chính cũng là (E)- xinamandehit (80 - 92,5%),ngoài ra khoảng trên 10 hợp chất khác đã đợc xác định, trong đó có các chất3-phenylpropanal, (Z)-xinnamic andehit, cumarin, benzandehit, eugenol, β-caryophylen, campho, linalol… Tinh dầu từ lá quế thanh có màu nâu nhạt và Tinh dầu từ lá quế thanh có màu nâu nhạt vàthành phần hoá học có sai khác so với tinh dầu từ vỏ

Trong vỏ của loài Quế trèn (C.burmanni) chứa 1 – 4% tinh dầu, thờng

không màu hoặc có màu vàng nâu nhạt với thành phần chính cũng làxinamandehit (60 - 85%), các hợp chất khác có hàm lợng đáng kể gồm: 1,8 -xineol, α-tecpineol, campho, tecpinen-4- ol, bocneol, α-pinen, β-caryopylen,para-xymen, camphen ; không có eugenol Tinh dầu từ lá Quế trèn cũng gồmchủ yếu là xinamandehit nhng tinh dầu từ vỏ rễ lại có thành phần chính làcampho

Hàm lợng tinh dầu ở Quế xâylan (C.verum) thờng thấp (0,5 - 2% trong

vỏ và 0,7 - 1,2% trong lá) Tinh dầu từ vỏ cũng chứa chủ yếu là

Trang 7

(E)-xinamandehit (46,5 - 89%), các thành phần khác cũng đáng chú ý là limonen,β-caryophylen, eugenol, linalol, α-Pinen, para-xymen Khác với tinh dầu từ

vỏ, tinh dầu từ lá Quế xâylan lại có thành phần chính là eugenol (60 - 88%),ngoài ra còn có tới 45 hợp chất khác, trong đó các hợp chất có hàm lợng đáng

kể là linalol, xinamyl axetat, β-caryophylen, (E)-xinamic andehit, α-pinen,humulen, 1,8- xineol, para-xymen và safrol

Ngoài tinh dầu trong vỏ của các loài quế còn chứa các hợp chất nhựadầu, tanin, protein, pentosan, keo nhựa, xelulosơ, oxalat canxium và các chấtkhoáng

Long não (C camphora) cũng chứa một lợng đáng kể tinh dầu ở trong

tất cả các bộ phận của cây (1 - 3% trong gỗ, 0,5 - 2,5% trong lá và 0,4 -1,5%trong hoa quả) Nhng trong tinh dầu thì campho lại là thành phần chủ yếu(trung bình 48 - 50%) Dựa vào các hợp chất hoá học chủ yếu trong tinh dầu,ngời ta đã xác định nhiều nòi hoá học (chemotype) khác nhau trong loài Longnão

Chỉ ở Việt Nam và Trung Quốc hiện đã phân biệt đợc 8 nòi hoá học(chemotype): Campho typ, Bocneol typ, α-phelandren typ, iso – nerolidol typ,Linalol typ, Xineol typ, Secquitecpen typ và Safrol typ

ở các loài xá xị (C porectum), Re hoa nhỏ (C micranthum) thì thànhphần chủ yếu trong tinh dầu là safrol (70 - 90%)

Tinh dầu từ quả của loài Re mốc (C glaucescens) lại có thành phần

chính là δ - pinen, (Z) - metyl xinamal 1,8 - xineol, safrol, limonen, linalol,elemixin

Tinh dầu của các loài C inunctum (Nees) Meissn và C wilsonii

Gamble phân bố tại Trung Quốc lại chứa chủ yếu là xineol, ngoài ra còn nhiềuhợp chất khác (trong đó đáng lu ý là linalol, campho, xinamic andehit )

Với loài C glanduliforum (Wall) Nees thì trong tinh dầu lại chứa hợp

chất chính là α-pinen (50 - 60%), sau đó là dipenten (C10 H16), campho,bocneol và xineol

1.2 Cây long não - Cinnamomum camphora (L.) J.S Presl

1.2.1 Đặc điểm thực vật học

Nhìn chung các tài liệu đều thống nhất miêu tả cây Long não

(Cinamomum camphora (L.) Sieb, hoặc C camphor nees et Eberm, hoặc C.

Trang 8

camphor (L.) Pres và đợc gọi bằng nhiều tên khác nhau: Long não, Chơng

não, Rã hơng, Dã hơng, Camphrier [2, 9], Mạng khảo khuông

( tên tiếng Tày) [4], tiếng Lào gọi là May khao khinh [2] thuộc họ Long não

ở mặt trên, nhẵn hoặc rải rác có lông mịn ở mặt dới, có mùi thơm; ba gânchính ở gốc nổi rõ trên cả hai mặt lá, các lông bên hình lông chim, có haituyến xen kẻ ở gốc giữa ba gân chính Cụm hoa hình chuỳ mọc ở nách lá hay ởtận cùng, dài tới 7cm; nhẵn, hoa lỡng tính; gốc bao hoa hợp thành hình ốngngắn, 6 thuỳ, thuôn, có lông màu nâu nhạt, nhị 9, sắp xếp theo 3 vòng, 3 nhịvòng trong có hai tuyến ở gốc, nhị lép 3; bầu hình trứng, nhẵn, vòi nhuỵ hìnhtrụ ngắn Quả hình cầu, đờng kính 6 – 10 mm, khi non có màu xanh lục, khichín có màu tím đen; một hạt, kích thớc 6 – 7 mm [6]

Trang 9

1.2.2 Nguồn gốc và phân bố

Loài Long não (C camphora) có vùng phân bố tự nhiên ở Nhật Bản

(quần đảo Ruykuy), Trung Quốc (miền Nam sông Yangtze, các đảo Đài Loan,Hải Nam) và miền Bắc Việt Nam

Long não đã đợc đa vào trồng trên diện tích rộng lớn tạo nguồn nguyênliệu lấy tinh dầu (chủ yếu là Campho tự nhiên) ở nhiều nớc thuộc vùng nhiệt

đới và cận nhiệt đới nh: các nớc Đông Nam á, ấn Độ, Sri-Lanka, các nớcmiền Tây Nam châu âu, Đông và Bắc châu Phi, miền Nam Hoa Kỳ, Braxin,Goatêmala, australia từ rất lâu đời

ở nớc ta, Long não cũng đợc trồng trên đồi, trong vờn hoa, quanh công

sở và làm cây bóng mát ven đờng ở Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng và ở hầukhắp các tỉnh trung du miền núi phía Bắc (Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, HàGiang, Yên Bái, Lào Cai, Tuyên Quang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hoà Bình, BắcGiang, Thái nguyên, Sơn La ) [6]

1.2.3 Giá trị sử dụng của cây Long não

Cây Long não cho nhiều sản phẩm có giá trị sử dụng cao nh Campho,tinh dầu long não, gỗ và ngay cả khi cây đang tồn tại đã có giá trị rất lớn vềmôi trờng

Campho đợc dùng ngoài làm thuốc sát trùng, tiêu viêm, kích thích (dớidạng cồn hay dầu 5 -10%) Nó còn đợc dùng dới dạng thuốc tiêm dầu (phatrong dầu thảo mộc) hay nớc (dạng muối natricamphosunfonat) để hồi tỉnh cơtim, chữa truỵ tim mạch hay suy nhợc, hoặc dùng để uống chữa đau bụng,giảm lợng phân [9]

Campho và tinh dầu long não là một trong những thành phần chính củaphần lớn các loại dầu xoa, cao xoa và đợc dùng nhiều trong chế phẩm dợcdụng khác Trong danh mục thuốc thống nhất toàn ngành của Bộ y tế (in lầnthứ 2, năm 1982 [1] có ghi 14 chế phẩm có chứa campho, trong đó có 5 (trong

số 8) loại cao xoa, dầu xoa, 5 loại thuốc điều trị ỉa chảy, 2 loại thuốc trợ tim, 1loại thuốc xoa bóp, và một loại thuốc đau răng Trong cuốn sách về biệt dợccủa Vidal (Pháp) (1989) có ghi 48 chế phẩm có thành phần là campho

Campho còn đợc dùng làm nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chấtdẻo, làm ngà voi nhân tạo, công nghiệp cao su, công nghiệp quốc phòng (làmthuốc súng không khói), trong nông nghiệp dùng để kích thích hạt nảy mầm[9]

Trang 10

Tinh dầu long não (phần đã lấy hết campho) đợc dùng làm nguyên liệucho công nghiệp hơng liệu (nớc hoa, xà phòng; làm nguồn nguyên liệu để tách

ra các chất thơm có giá trị ), ngành công nghiệp thuốc trừ sâu [9, 19]

Gỗ Long não đợc dùng để đóng tàu, thuyền và đồ dùng trong gia đình,làm đồ mỹ nghệ [3, 20 ]

Cây Long não có dáng đẹp, lại tạo môi trờng trong sạch (do lá Long não

có khả năng hấp thụ các ion khối lợng nặng nh chì ) nên đợc trồng làm câycảnh trong các thành phố và làm sạch môi trờng nơi đông dân c Cây Long não

có thể sống lâu đời, trên 1000 năm nên có thể tạo đợc rừng phòng hộ có hiệuquả Bản thân cây Long não là loại cây có khả năng cải tạo rừng.[3]

Cây Long não thuộc loại cây có nhiều công dụng

1.2.4 Thành phần hoá học và đặc tính của tinh dầu

1.2.4.1 Đặc tính của tinh dầu

Hầu nh tất cả các bộ phận (lá, hoa, gỗ thân, rễ… Tinh dầu từ lá quế thanh có màu nâu nhạt và) ở cây Long não đềuchứa tinh dầu, song hàm lợng tinh dầu lại biến động rất lớn Những t liệu đã

có, cho thấy tinh dầu trong gỗ thân thay đổi trong giới hạn 0,8 – 6,6 % (trungbình 3,5 – 4,2 %) trong gỗ rễ từ 1,5 – 6,4% (trung bình: 3 – 4%) trong lá

từ 0,1 – 2,5% (trung bình: 0,8 – 1%) và trong hoa từ 0,1 – 1,5 (trung bình0,6%) [6] Các kết quả nghiên cứu của Phạm Văn Khiển (1992) cũng đã xác

định hàm lợng tinh dầu trong gỗ Long não trồng tại các khu vực ở Việt Nam

có xu hớng giảm dần từ gỗ thân đến gỗ rễ, sau đó là lá và cuối cùng là hoa,quả

Hàm lợng tinh dầu trong gỗ và rễ Long não khô tại Trung Quốc thờng từ

3 – 5% còn ở ấn Độ trung bình 1 – 1,2% [6]

Campho là thanh phần quan trọng nhất trong tinh dầu long não Camphothiên nhiên ở dạng tinh thể có màu trắng, trong suốt, dễ gãy, có mùi thơm đặctrng, vị nóng Về mặt hoá học campho là một xeton có nguồn gốc từ mộttecpen nhị vòng, có thể thăng hoa chậm ở nhiệt độ phòng, không tan trong n-

ớc, song lại tan dễ dàng trong các dung môi hữu cơ (cồn, ete, clorofoc… Tinh dầu từ lá quế thanh có màu nâu nhạt và).Campho là một chất rất độc, với liều lợng 50 - 500 mg/kg có thể gây chết ngời,

ở liều lợng thấp có thể gây nôn mửa, với liều lợng cao hơn có thể gây rối loạn

bộ máy tiêu hoá Trong y học Campho đợc sử dụng theo những quy định chặtchẽ

Hàm lợng tinh dầu, động thái của campho và thành phần các hợp chấthoá học trong tinh dầu long não rất phức tạp: chúng thay đổi không chỉ tuỳ

Trang 11

thuộc vào các bộ phận khác nhau của cây mà cả vào tuổi cây, điều kiện môi ờng sống và đặc biệt là tính di truyền.

tr-Những nghiên cứu [19, 20] cho thấy:

- Tỷ lệ campho trong tinh dầu gỗ cây Long não tăng dần theo tuổi cây

Gỗ cây non chứa ít campho hơn gỗ cây già ở những cây 60 năm, lợng camphotrong gỗ gần nh bằng lợng tinh dầu

- ở những cây già hơn 60 năm lợng campho tăng dần theo tuổi cây, cònlợng tinh dầu thì ngợc lại

Đối với tinh dầu lá long não thì Rao và cộng sự (1925) đã nghiên cứuthấy tinh dầu lá cây 20 năm và cây 40 năm tuổi cho số lợng campho nh nhau[33]

Trong 1 năm, theo Masao [26] thì campho trong lá tăng lên từ tháng 4

đến tháng 6, giảm đi vào tháng 7, rồi lại tăng lên vào tháng 9 Đây là cơ sởgiúp chúng ta có thể khai thác vào thời gian nào và loại cây nào (bao nhiêutuổi) để có đợc hàm lợng tinh dầu hay campho theo mong muốn

Những nghiên cứu ở Nhật Bản [19] cho thấy :

- Cây mọc tự nhiên chứa nhiều tinh dầu và campho hơn là cây trồng

- Cây mọc riêng biệt chứa nhiều tinh dầu và campho hơn cây mọc tậptrung

- Những cây phát triển tốt chứa nhiều tinh dầu và campho hơn là câyphát triển kém

- Cây già chứa nhiều campho hơn cây non

- Cây mọc trên đất cát chứa nhiều campho hơn cây mọc trên đất thịt

- Cây mọc trên đất khô ráo chứa nhiều campho hơn cây mọc trên đất ẩmớt

Những nghiên cứu của Fujita [17] cũng cho thấy cây mọc nơi nhiều ánhsáng chứa nhiều tinh dầu và campho, còn những cây ở nơi thiếu ánh sáng thìtrong tinh dầu có nhiều safrol hơn

1.2.4.2 Thành phần hoá học

Cho tới năm 1950, một số lợng khá lớn các hợp chất đã đợc phát hiệntrong các loại tinh dầu long não trên thế giới.Theo E Guenther [20] đã có 75các hợp chất đợc xác định trong các loại tinh dầu long não ở Đài Loan, có thể

đợc chia thành các nhóm nh sau:

1 - Các axit gồm: 12 hợp chất

2 - Các andehit gồm: 13 hợp chất

Trang 12

3 - Các xeton và oxit gồm: 6 hợp chất

4 - Các ancol gồm: 13 hợp chất

5 - Các phenol và etephenol gồm: 11 hợp chất

6 - Các monotecpen gồm: 13 hợp chất

7 - Các secquitecpen gồm: 4 hợp chất

8 - Các ditecpen gồm: 3 hợp chất

Từ 1950 tới những năm gần đây đã có thêm nhiều công trình nghiên cứu tinh dầu của rễ, cành, lá, chồi, quả của cây Long não có ít nhất 77 hợp chất mới đợc phát hiện đa tổng số các hợp chất đã đợc phát hiện từ các loại tinh dầu long não lên tới 152 chất cụ thể nh sau:

Năm 1963, N Hirota và Hiroi đã phát hiện trong tinh dầu lá cây Long não mọc ở Đài Loan có chứa 2 secquitecpen mới là: nerolidol và fumuren [23]

nerolidol Năm 1967, sau nhiều năm nghiên cứu về cây Long não ở Đài Loan, N Hirota và Hiroi [24] ngoài việc phân chia các cây Long não thành 4 nhóm theo một quan điểm thực tiễn hơn, đã phân tích tinh dầu lá của cây Long não trên và phát hiện thêm 5 hợp chất mới (trong số 14 hợp chất đã đợc xác định) trong tinh dầu lá của cây Long não linalol miền Đông là: xitral (geranial và neral), -ylangen, -elemen, -humulen và -calacoren Hai hợp chất mới (trong số 16 hợp chất đã đợc xác định) trong tinh dầu lá cây Long não secquitecpen miền Đông là: -xyperon và caryophylen oxit

geranial neral  - humulen

3 hợp chất mới trong tinh dầu lá cây safrol miền Đông là: -bisabolen, facnesen và trans--nerolidol

Trang 13

 - bisabolen Cùng năm đó H Hikino và cộng sự đã xác định cấu trúc của 2secquitecpen mới đợc tách từ tinh dầu long não xanh là capherenon vàcapherenol Năm 1968 H Hikino và cộng sự lại xác định đợc cấu trúc của 1secquitecpen ancol mới đợc tách từ tinh dầu long não xanh là kusunol [22].Cùng năm đó S Hayashi và cộng sự đã xác định đợc15 hợp chất secquitecpenmới trong các phân đoạn sau:

- Từ phân đoạn có nhiệt độ sôi lớn hơn 2150C đã xác định đợc 5secquitecpen mới là: -quaien, calamen, 1,6-dimetyl 4-isopropyl 7,8-dihidronaphtalen, -patchoulen và cadien-9,11(12)-dien Cũng từ phân đoạnnày, ông đã xác định đợc 5 hợp chất secquitecpen ancol mới là: elemol, guaiol,

-cadiol, -endesmol và junipercampho [21]

OH

elemol

- Từ tinh dầu long não xanh đã xác định đợc 5 hợp chất secquitecpen là:myristixin, 2-pentadicanon, 2,2-metylendioxi, naphtalen và piperonylacrolein,cùng một vài hợp chất azulen khác [21]

Cũng trong năm 1968, T Ioshida [27] đã tách và xác định đợc 27 chất

từ tinh dầu lá Long não Nhật bản, trong đó có 17 chất mới là: me-vinylxeton,me-isobuxeton, mezityloxit, hexanol, cis-hexen-3- ol, mircen, p-xymol, cis

và trans-oximen, cis và trans-linaloloxit, (+) trans và (+) vinyl-5-hidroxy tetrahydropyran, nerol, (+) -sabinen, (+) tragetonol, (-) trans-hotrienol

OH OH

O CH2OH

Trang 14

mycren (+) tragetonol ( -) trans-hotrienol nerol oximen Năm 1970, Y Fujita và công sự đã tách từ tinh dầu long não nhật bản

(C.japanicum) 2 monotecpenancol mới là cis và trans-yabunikeol [14] Từ một loài Long não khác (Cin.nominale var linalia), Y Fujita đã phát hiện thấy tinh

dầu của nó chứa tới 92% linalol và khoảng 4,5 đến 7,6% nerolidol [13]

OH

linalol

Năm 1971, Y Fujita và cộng sự đã tách đợc 49 hợp chất từ tinh dầu lá,

chồi và cành con của một loài long não Nhật Bản (C japonicum Sieb = C pedunculatum Nees) Điều đặc biệt là lần đầu tiên tìm thấy ở Nhật Bản loài

Long não có thành phần tinh dầu lá, chồi và cành con có nhiều p-xymen (40%,45,2% và 24,1%) Trong tinh dầu cành con ngoài p-xymen, 1,8-xineol còn cóthêm linalol là thành phần chính [15]

HH

Trang 15

Năm 1977, U N Senanayake [34] đã xác định sự có mặt của 45 hợp chấttrong tinh dầu long não trong đó 16 hợp chất mới là: -phelandren, tecpinolen,phenylaxetandehit, metylchavicol, piperiton, geranylaxetat, cumiodandehit,xinamandehit, metylxinamat, ancolxinamic, fenchonbenzandehit, linalylaxetat

và viridiflorol

OCOCH3

H

- phelandren tecpinolen linalylaxetat

Năm 1978, B M Lawrence [31] nghiên cứu tinh dầu lá Ho-Sho, xác

định đợc 17 hợp chất (linalol chiếm 95%) trong đó có một hợp chất mới lànerylaxetat

Năm 1979, H Huego và cộng sự đã phát hiện ra một hợp chất mớitrong phần axit và phenol của tinh dầu long não là campho [25]

nerylaxetat campho Các kết quả nghiên cứu cho thấy loại Long não có thành phần tinh dầu

chủ yếu là linalol, ngoài 2 cây rất quen biết là cây Linalol miền Đông (C.

camphora Subsp formosana var orientalis sub var linalola Hirota) và cây

Linalol miền Tây (C Camphora Subsp formosana var occidentalis sub var.

linalola Hirota), còn có 9 thứ cây Long não khác đợc công bố là tinh dầu có

chứa một lợng lớn linalol:

1 Cây C nominale var linalia Fujita.Y Fujita và các cộng sự đã xác

định trong tinh dầu của nó chứa tới 92% linalol [13]

2 Cây C japonicum Y Fujita thấy tinh dầu của nó có chứa một tỷ lệ cao

linalol [13]

OOCOCH3

Trang 16

3 Cây C reticulatum Hayata, một thứ cây Long não nhỏ, chỉ mọc ở vùng

Heng-chun ở Đài Loan Y Fujita và cộng sự đã nghiên cứu thấy tinh dầu lá tơicủa nó chứa tới 96,7% linalol, không có campho hoặc etephenol [16]

4 Cây C tamala Nees et Eberm Sood nghiên cứu thấy tinh dầu của nó

chứa chủ yếu là linalol [35]

5 Cây C daphnoides.Y Fujita thấy tinh dầu chứa 59 - 77% linalol [14].

6 Cây C doederleini Tinh dầu chứa 45% linalol [18].

7 Cây C camphora var linalolifera ở Trung Quốc Tao Quangfu thông

báo trong tinh dầu lá tơi có chứa 89,59% linalol [37]

8 Cây C parthenoxylon ở Trung Quốc cũng chứa 81,41% linalol trong

tinh dầu [37]

9 Cây C termipilis ở Trung Quốc Xuejian Yu phát hiện trong tinh dầu

chứa 97,51% linalol [38]

Một số nghiên cứu về sự biến dị của các cây Long não mọc từ hạt đã

đợc công bố: hạt của cây Long não cho nhiều linalol khi mọc lại cho nhữngcây con có thành phần chủ yếu là xineol hoặc safrol hoặc campho hoặc linalol[29]

Trong 64 cây Long não (loại có tỷ lệ xineol cao) lại có 21% số câychứa tỷ lệ cao tecpineol, 51% số cây chứa linalol và campho, còn khoảng 4%

số cây chứa safrol [32] Song những nghiên cứu của A K S Baruah lại chothấy tỷ lệ xineol trong những cây Long não nhập từ Đài Loan vào vùng Assam(ấn Độ) lại không thay đổi [11]

Sự phong phú về thành phần tinh dầu của cây Long não còn thấy đợcqua một số kết quả nghiên cứu nh:

- B M Lawrence nghiên cứu thấy tinh dầu cây C mercadoi ở Philippin

chứa safrol (30,3 %), 1,8-xineol (29,4%), cả eugenol (15,4%) Còn cây

C.mindanae chứa eugenol (39,3%), linalol (19,4%) và safrol (15%) [30].

- Y Fujita (1960) thấy tinh dầu cây C kanahirai có chủ yếu là tecpineol, còn cây C micranthum lại có thành phần chủ yếu trong tinh dầu là

dexylandehit và pentadexylandehit [12]

- Tinh dầu long não của Pakistan lại chứa 0,6% campho [36] và tinh dầu

cây C reticulatum lại hoàn toàn không có campho [16].

Các kết quả nghiên cứu ở Trung Quốc, Nhật Bản và ấn Độ cũng nh ở

n-ớc ta về các thành phần chủ yếu của tinh dầu long não đã chia chúng thànhnhững dạng hoá học sau:

Trang 17

- Long não chứa campho (campho type) - trong tinh dầu chứa camphochiếm từ 70 - 90%.

- Long não chứa linalol (linalol type) - trong tinh dầu chủ yếu chứa linalol(80 - 90%), ngoài ra còn metylisobutylketon, -pinen, limonen, difenten,geraniol, xitral, campho, -caryophylen, -selinen, -ylangen, -elemen,humulen và -calacoren

- Long não chứa xineol (xineol type) - trong tinh dầu chứa chủ yếu là xineol (76%), các thành phần còn lại có hàm lợng đáng lu ý là limonen, -pinen, - tecpineol, caryophylen và -selinen

- Long não chứa secquitecpen (secquitecpen type) - trong tinh dầu chứachủ yếu là nerolidol (40 – 60%), các thành phần khác có hàm lợng đáng chú

ý là pinen, limonen, 1,8-xineol, p-xymen, linalol, geraniol, campho, ylangen, -elemen, caryophylen, -humulen, -selinen, caryophylenoxit, -xyperon

- Long não chứa safrol (safrole type) - trong tinh dầu chứa chủ yếu làsafrol (80%), các thành phần còn lại đáng chú ý là -pinen, -pinen, limonen,1,8-xineol, sabinen, campho , linalol, caryophylen

- Long não chứa -phelandren (-phelandrene type) - trong tinh dầu cóthành phần chính là -phelandren (60%), các thành phần còn lại có hàm lợng

đáng kể là -thujen, -pinen, sabinen, linalol, campho, -tecpineol, carvacrol,

-caryophylen, -selinen

- Long não chứa iso-nerolidol (iso-nerolidol type) - thành phần chủ yếutrong tinh dầu là iso-nerolidol (57,7%), các thành phần khác là -tecpineol,linalol, tecpine-4-ol, bocneol, - caryophylen

- Long não chứa bocneol (bocneol type) - thành phần chính trong tinh dầu

là bocneol (81,8%), các thành phần còn lại là campho, -pinen, 1,8-xineol,limonen, camphen, myrcen, -caryophylen

- Long não chứa campho - secquitecpen (campho - secquitecpen type)

- Long não chứa campho - 1,8- xineol (campho - 1,8- xineol type)

Nhiều tài liệu đã công bố ở Đài Loan,Trung Quốc cũng nh ở nớc ta đã

định loại thứ Long não chứa linalol (linalol type) là C camphora var.

linalolifera.

ở nớc ta cũng đã có thứ Long não mà trong tinh dầu lá chứa chủ yếu làlinalol (91,1%), các thành phần khác gồm 4-metyl-2-pentanol (vết), -pinen(vết), myrcen (vết), 1,8-xineol (0,3%), limonen (vết), an-oximen (vết), cis-

Trang 18

linalol oxit (0,2%), trans - linalol oxit (0,5%), campho (2,3%), -tecpineol(1,8%), safrol (vết), -copaen (vết), cis-sabinol (0,1%), -caryophylen (0,2%),

- humulen (0,1%) và (z)-nerolidol (0,6%) (Nguyễn Xuân Dũng và cộng sự1995) [6]

Nghiên cứu các thành phần hoá học của tinh dầu trong gỗ, thân, lá vàhoa của từng cá thể Long não riêng biệt, sinh trởng ở Hà Nội và nhiều tỉnh

miền núi nớc ta, Phạm Văn Khiển (1992) [8] đã cho rằng loài Long não (C.

camphora) hiện đang sinh trởng ở nớc ta có thể bao gồm ít nhất 6 dạng hoặc 6

nòi hoá học (chemotype) bao gồm:

- Nhóm 1: Thành phần chính trong tinh dầu của gỗ thân và lá đều là

campho (tỷ lệ campho trong tinh dầu gỗ thân là 67,65  2,42% trong tinh dầulá là 74,06  1,33%)

- Nhóm 2: Thành phần chính của tinh dầu gỗ thân là campho (69,11 

0,71%), song tinh dầu lá lại có thành phần chính là các secquitecpen (53,14 2,48%)

Nhóm 3: Thành phần chính của tinh dầu gỗ thân là hỗn hợp campho

-xineol, trong đó campho chiếm tỷ lệ nhiều hơn so với xineol (42,08  4,36%

so với 25,23  4,32%) Thành phần chính trong tinh dầu lá lại là cácsecquitecpen (74,28  5,31%)

Nhóm 4: Thành phần chính trong tinh dầu gỗ thân là hỗn hợp campho

-xineol, trong đó tỷ lệ xineol nhiều hơn (campho: 27,21  2,76%; xineol: 41,76

 3,6%) Tinh dầu lá lại chứa chủ yếu là xineol (52,74  3,03%)

- Nhóm 5: Thành phần chính trong tinh dầu lá là linalol với tỷ lệ là

90,23  0,61% (gổ cha có điều kiện nghiên cứu)

- Nhóm 6: Thành phần chính của tinh dầu lá là phelandren (khoảng

- Nhóm 2: Gồm những cây Long não có thành phần chủ yếu trong tinh

dầu lá là xineol (50 - 55%), campho tồn tại với một lợng không đáng kể

- Nhóm 3: Gồm những cây có thành phần chủ yếu là trong tinh dầu lá là

các secquitecpen (65 - 80%), campho và xineol tồn tại với một lợng không

đáng kể

Trang 19

- Nhóm 4: Gồm những cây Long não có thành phần chính trong tinh

dầu lá là linalol (90,23  0,61%) với một lợng nhỏ các secquitecpen, còncampho và xineol tồn tại với một lợng nhỏ không đáng kể

- Nhóm 5: Gồm những cây có thành phần chính trong tinh dầu lá là

phelandren (khoảng 60%)

Ngày đăng: 24/12/2013, 09:37

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Thành phần hoá học của tinh dầu lá cành Long não ở Nghệ An - Xác định thành phần hoá học tinh dầu cây long não (cinnamomum camphỏa (l) j s presl) ở nghệ an
Bảng 1 Thành phần hoá học của tinh dầu lá cành Long não ở Nghệ An (Trang 29)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w