Ngày nay với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, kỹ thuật, đời sống xã hội, con ngời đã khám phá ra bản chất của tinh dầu cũng nh những biến đổi của tinh dầu ở trong cây, đ
Trang 1lời cảm ơn
Để hoàn thành luận văn này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến :
- Thạc sỹ: Nguyễn Thị Chung đã giao đề tài, tận tình hớng dẫn, tạo mọi điều kiện
và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn
- PGS.TS.NGƯT Lê Văn Hạc, TS Hoàng Văn Lựu và các thầy cô giáo trong tổ Hoá hữu cơ đã có nhiều ý kiến đóng góp quý báu cho tôi hoàn thành luận văn này
- TS Lê Kim Biên- Viện sinh thái tài nguyên sinh vật- TTKHTN và CNQG đã xác
định tên khoa học cho loài thực vật thuộc đối tợng nghiên cứu
Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô khoa Hoá- Trờng Đại Học Vinh, cùng gia đình và bạn bè đã quan tâm, động viên giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
và hoàn thành luận văn
Vinh 5 / 2003
Nguyễn Duy Phớc
Trang 2PhầnI Mở đầu
Hoá học là một trong những ngành quan trọng đóng góp rất lớn vào sự phát triển kinh tế, đời sống, xã hội Trong đó hoá học các hợp chất tự nhiên nói chung và các hợp chất có hoạt tính sinh học nói riêng ngày càng thu hút sự chú ý của nhiều nhà khoa học bởi những ứng dụng vô cùng quý giá của chúng trong các lĩnh vực y học, nông nghiệp, công nghiệp
Tinh dầu là hợp chất phổ biến trong thiên nhiên, chúng có phạm vi sử dụng rất rộng lớn trong đời sống hàng ngày của con ngời cũng nh trong nhiều ngành khác nhau
Từ thời xa xa con ngời đã phát hiện và sử dụng các cây chứa tinh dầu phục vụ cho cuộc sống nh: làm thuốc, gia vị, hơng liệu
Ngày nay với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, kỹ thuật, đời sống xã hội, con ngời đã khám phá ra bản chất của tinh dầu cũng nh những biến đổi của tinh dầu ở trong cây, đồng thời đã áp dụng công nghệ hiện đại để khai thác, chế biến và
sử dụng tinh dầu với hiệu quả tối u trong các lĩnh vực: chế biến thực phẩm, dợc phẩm,
mỹ phẩm, hơng liệu
Nớc ta có vị trí địa lý và địa hình đặc biệt, nằm trong vùng nhiệt đới chịu ảnh hởng của gió mùa, nhiệt độ và độ ẩm hàng năm khá cao, nên giới thực vật phát triển rất phong phú và đa dạng, nguồn tài nguyên thực vật chứa tinh dầu có tiềm năng rất lớn Nhu cầu
về tinh dầu cho các ngành công nghiệp ở trong nớc cũng nh trên thế giới ngày càng nhiều, trong khi việc nghiên cứu, khai thác sản xuất và chế biến tinh dầu của nớc ta vẫn còn hạn chế Do vậy việc đi sâu nghiên cứu phát hiện nguồn tài nguyên tinh dầu, thành phần hoá học và tìm hiểu hoạt tính sinh học của các loài cây này mang ý nghĩa rất lớn về mặt khoa học cũng nh thực tiễn
Trang 3Xuất phát từ tình hình thực tế và tầm quan trọng của các hợp chất tự nhiên nói chung, của tinh dầu nói riêng chúng tôi đã chọn đề tài “Nghiên cứu thành phần hoá
học của tinh dầu cây Cúc tần( Pluchea indica(L.) Less) ở Hà Tĩnh”
Với mục đích :
- Xác định hàm lợng tinh dầu từ bộ phận lá và cành non của cây Cúc tần
- Xác định thành phần hoá học của tinh dầu Cúc tần
ở những vùng khác nhau với điều kiện khí hậu, thổ nhỡng khác nhau Tìm ra những chất chính hay hợp chất chìa khoá của chúng đóng góp vào việc phân loại thực vật bằng hoá học
Trang 4- Pluchea eupatoroides Kurz mọc ở các tỉnh phía nam.
- Pluchea polygonata Gagnep mới chỉ tìm thấy ở Phan Rang
ở Việt Nam cũng nh các nớc khác nhiều loài cây thuộc chi Pluchea Cass thờng
đ-ợc sử dụng làm thuốc chữa bệnh, tuy nhiên chúng chỉ đđ-ợc dùng trong y học dân
gian.Ng-ời da đỏ ở Mêhicô dùng nớc sắc của lá cây Pluchea symphytifolia (Miller) Gillis,để chửa
đau bụng,ỉa chảy,ký sinh trùng đờng ruột [23] Pluchea quitoc ở Brazil dùng làm thuốc long đờm,trung tiện,tiêu hoá [15] Pluchea indica(L.) Less có ở Việt Nam,Thái Lan,Pakistan dùng làm thuốc giảm đau,hạ sốt,chửa lị,loét tá tràng [4,17,22]
Cho đến nay các nhà khoa học mới chỉ phát hiện đợc 7 loài thuộc chi Pluchea
Cass chứa tinh dầu đó là:
Trang 5- Pluchea quitoc có 0,47%tinh dầu với thành phần hoá học chủ yếu là các monotecpen gồm P-Cynol, D-Campho, D-Camphen.
- Pluchea foetida chứa 0,025% tinh dầu với các thành phần chính là: cineol, eudesmon, các ankyl thiophen
- Pluchea purporescens; Pluchea salicifolia và Pluchea fastigiata có chứa caryophylen, cariophylen oxit, α-humulen
- Pluchea indica Less chứa 0,04-0,08% tinh dầu vời thành phần chính là β- selinen, 7β-H-Silphiperfol-5-en
- Pluchea dioscoridis từ tinh của loại cây này ngời ta đã tìm thấy 36 hợp chất,trong
đó các quitecpen và dẫn xuất chứa oxi của secquitecpen chiếm 65,86% [25]
Cúc tần thuộc loại cây thảo cao 2-3 m, cành gầy Lúc đầu có phủ lông sau nhẵn, lá
có hình bầu dục hơi nhọn ở đầu góc, thân dài Có răng ở mép, mặt dới có lông mịn phiến dài 4-5cm, rộng 1-2,5 cm, cụm hoa mọc thành ngà ở ngọn, hoa hình đầu có cuống ngắn, màu tím nhạt nhóm họp thành 2 đến 3 cái, lá bắc 4 đến 5 dãy hoa lỡng tính nhiều.Màu lông màu trắng bẩn, tràng hoa có mảnh, 4 răng nhỏ, tràng hoa lỡng tính phình to ở đỉnh ,
có 5 thuỳ, nhị 5, bao phấn có tai hình dùi bầu hơi có lông, quả bé hình trụ, thoi, 10 cạnh.Hoa quả thờng có vào tháng 12.Trên cây thờng có loại cây tơ hồng mọc và sống nhờ [3]
Trang 6đau ở hai bên thận chữa đau, mỏi lng[3] chữa phong thấp, gãy xơng, bong gân[5] ở một
số nớc cây Cúc tần còn đợc dùng làm thuốc lợi tiểu[22] chữa loét tá tràng Ngoài ra còn
có tác dụng gây sẩy thai, chống sự làm tổ của trứng[17]
2.2.2 Nghiên cứu về thành phần hoá học
Theo Đỗ Tất Lợi trong toàn cây chủ yếu có tinh dầu, mùi thơm ngải cứu 100g Cúc tấn tơi có 5,7g prôtit, 1g lipit, 5,1g xenluloza, 2,3g tro, 179mg canxi, 2,3mg photpho 0,5mg sắt, 4,6g mg caroten, 15g vitamin C [3]
Theo Vũ Việt Nam[8] và các công sự đã phân lập đợc hợp chất chính từ cây Cúc tần là thiophen axetylen Khảo sát bằng phổ MS và NMR đã xác định đợc dẫn suất thiophen là: 2-(prop-1-inyl)-5-(5,6 dihidroxyhexa-1,3-diinyl)- thiophen[8] có công thức phân tử:
Trang 7Sè
TT
thøc sè
Thµnh phÇn tinh dÇu c©y Cóc tÇn(%)
Trang 9Những nghiên cứu hoá thực vật về cây Cúc tần ở trên thế giới đã bắt đầu từ những năm 80 trở lại đây, nhất là các nhà khoa học ở Pakistan đã phát hiện ra hàng loạt các
Trang 10tecpenic glucozit [20] có cấu trúc rất đa dạng Các nhà khoa học ở ấn Độ khi nghiên cứu
về loại cây này đã phát hiện ra một dẫn xuất mới của ankyl thiophen [18] từ bộ phận rễ Theo Tippyany Santi [15] đã tách đợc các hợp chất hoá học phục vụ nông nghiệp từ
Pluchia indica(L.) Less.
Take to Uchiuama, Toshiss Miyase, Akira Ueno và các cộng sự đã chiết và tách từ bộ phận trên mặt đất của cây Cúc tần với nguyên liệu khô đã xác định sự có mặt của hợp chất tecpenic gồm monotecpen glucozit, secquitecpen glucozit, lignan [23]
Kết quả nghiên cứu bộ phận trên mặt đất của cây Cúc tần ở Paskistan đã cung cấp thêm 5 hợp chất mới: tecpenic glucozit,linaloyl glucozit, linaloyl apiosylglucozit, 9-hydroxy linaloyl glucozit, plucheosid A và plucheosid B cùng với 15 hợp chất nữa đợc nhận biết [23]
Theo thống kê gần đây về sự nghiên cứu thành phần hoá học của cây Cúc tần ở một số nớc khác nhau trên thế giới đợc trích ra ở bảng sau [16]:
(III)
Nớc nghiên cứu
(IV)
Thành phần
% (V)
Paskistan ,, ,, ,, ,, ,,
0,00013% 0,00021% 0,00011% 0,00031% 0,00053% 0,0002 % 0,0002 %
Trang 11pro-pen-3-ol)- phenolxy]: erythro (8) Propan-1,3-diol-1(4-hydroxy-3-
propen-3-ol)- phenoxy]:threo (9) Syringaresinol mono glucozid
,, RÓ ,,
Th¸i Lan
Pakistan ,, ,, ,, ,, ,,
0,00008% 0,00022% 0,00015% 0,00023% 0,00046% 0,00008%
(3)Salixylic axit metyl este glucozit
Trang 12Loại chất có
huỳnh
(1) (5,6dihidroxy hexa-1,3 diinyl)
(1) Thiophen-2-(prop-1-inyl)-5-(6 axetoxy-5-hidroxy-hexa-1,3diinyl)
Bảng 3:Thành phần hoá học của cây Cúc tần.
Tinh dầu hay còn gọi là tinh du,hơng du là một hỗn hợp nhiều thành phần,thờng có mùi thơm hoặc mùi hắc khó chịu,không tan trong nớc,tan trong các dung môi hữu cơ ,có thể điều chế từ thực vật hoặc động vật
Tinh dầu khác hẳn với dầu béo ,tinh dầu là hỗn hợp các hợp chất hữu cơ có cấu tạo phức tạp bao gồm các hidrocacbon loại tecpen,các ancol dới dang este các andehit, xeton ,axit ,phenol Trong khi đó dầu béo là este của glixerin và axit béo
2.3.1 Trạng thái tự nhiên và phân bố của tinh dầu.
Trong tự nhiên tinh dầu ở trạng thái tự do hoặc tiềm tàng Tinh dầu ở trạng thái tự do
có thể đợc tạo thành và tập trung ở những tế bào trông giống nh các tế bào khác của cây, hoặc lớn hơn thờng đợc tập trung ở những cơ quan bài tiết và những khe trống do sự phân chia tế bào
Tinh dầu phân bố rất rộng trong giới thực vật đặc biệt tập trung nhiều ở một số họ:nh
họ Hoa tán Apiacae ,họ Cúc Compositae ,họ Long não Lauracae,họ Cam Rutaceae Một
số động vật cũng chứa tinh dầu nh Cà cuống
Trong cây tinh dầu có ở tất cả các bộ phận hoa ,lá,rể,thân,cũ và vỏ Trong cùng một cây thành phần hóa học của tinh dầu ở các bộ phận khác nhau có thể giống nhau về mặt
định tính: ví dụ nh tinh dầu vỏ và lá quế Cinnamomum cassia thành phần chính đều là andehit cinnamic,nhng cũng có thể khác nhau nh tinh dầu vỏ và lá quế Cinnamomum
Trang 13zeylanicum vỏ chứa andehit cinnamic còn lá thành chính là eugenol Sự thay đổi này còn tùy thuộc vào điều kiện sinh sống và mùa thu hái [6].
- Tất cả các lọai tinh dầu đều là những hợp chất lỏng ,sánh có hoạt động quang
học,gây hiện tợng quay cực của ánh sáng Đa số các lọai tinh dầu thờng có tỷ trọng nhỏ hơn nớc (d<1) không tan hoặc ít tan trong nớc tan đợc trong các dung môi hữu cơ Riêng
ở một số lọai Hơng lau, Hơng nhu, Quế ,Xá xị, trong tinh dầu có chứa những cấu tử có phân tử lợng lớn ,nặng hơn nớc và thờng chìm trong nớc
- Có mùi thơm dễ chịu ,một số có mùi hắc khó chịu
- Tinh dầu có khả năng bay hơi [7]
- Tinh dầu thờng không màu hoặc màu vàng nhạt do hiện tợng oxi hóa màu có thể sẫm lại Một số có màu đặc biệt các hợp chất azulen có màu xanh mực
- Rất dể oxi hóa ,sự oxi hóa thờng xảy ra cùng với sự trùng hợp hóa tinh dầu sẽ chuyển thành chất nhựa
- Một số thành phần chính trong tinh dầu cho các phản ứng đặc hiệu của nhóm chức tạo thành các sản phẩm kết tinh hay cho màu [6]
2.3.3 Thành phần hóa học của tinh dầu.
Thành phàn hóa học của tinh dầu gồm hidrocacbon loại tecpen và dẫn xuất chứa oxi của tecpen (tecpenoit) ngoài ra trong tinh dầu con chứa một số loại hidrocacbonno ,r-
ợu tự do ,este,phenol,ete,phenolic,andehit,xeton,các axit dới dạng este hợp chất chứa N,S, halogen
Các hợp chất chính thờng gặp trong tinh dầu :
-Hidrrocacbon loại tecpec(chiếm nhiều nhất)gồm: limonen,pinen,camphen,sylnestren,
caryophellen
-Hidrrocacbonno : neptan,parfin
Trang 14-Rợu metylic,etylic,xinamic,genaniol,linalol,tepineol,mentol,santol,xineol.
-Phenol và ete phenolic : enotol,eugenol,safrol,apiol,tymol
-Andehit:benzoic,xinamic,salixilic,xitran,xitrolnellic
-Xeton:mentol ,campho
-Axit (dới dạng este):axetic butylic,valerialic,formic,benzoic,xinamic, salixylic
-Các hợp chất chứa N,S, Halogen: các tinh dầu có chứa S trong họ cây chữ thập
có kiến trúc đặc biệt gọi là senevo tức là este của axit izo sunfoxiamic
2.3.4 ứng dụng của tinh dầu.
Tinh dầu và các dợc liệu chứa tinh dầu có vai trò quan trọng trong đời sống hàng ngày của con ngời, các ngành tiêu thụ nhiều tinh dầu là :
-Ngành y dợc: một số tinh dầu đợc sử dụng làm thuốc sát trùng ,kháng khuẩn (tinh dầu Bạch đàn ,Bạc hà ) giúp cho sự tiêu hóa kích thích thần kinh trung ơng ,một só có tác dụng diệt các ký sinh trùng ( tinh dầu giun ) nhiều tinh dầu dùng để xoa bóp và chống viêm,làm lành vết thơng
Trong y học cổ truyền các dợc liệu chứa tinh dầu còn đợc sử dụng rất nhiều làm thuốc bắc, thuốc nam
-Ngành thực phẩm: dùng làm gia vị ( Quế , Hồi ,Thì là )tác dụng của những dợc liệu này là bảo quản thực phẩm làm cho thực phẩm có mùi thơm kích thích thần kinh vị giác giúp ăn ngon miệng ,ngoài ra còn kích thích tiết dịch vị giúp cho sự tiêu hóa thức ăn
dễ dàng một số tinh dầu dùng để pha chế rợu mùi ( tinh dầu Hồi, Đinh hơng ) pha chế
đồ uống ( tinh dầu võ Cam, Chanh )
-Ngành công nghiệp hơng liệu,mỹ phẩm: nớc hoa ,xà phòng đây là ngành công nghiệp rất lớn sử dụng chủ yếu là nguồn tinh dầu trong thiên nhiên ngoài ra còn những chất thơm tổng hợp hoặc bán tổng hợp [6]
2.3.5 Các phơng pháp nghiên cứu tinh dầu.
Trang 15Tùy thuộc vào điều kiện mục đích nghiên cứu và bản chất của từng loại tinh dầu mà ngời ta có thể tiến hành các phơng pháp khác nhau Có 5 phơng pháp đợc áp dụng để chế tạo tinh dầu :
1 1 Phơng pháp cất kéo bằng hơi nớc
2 2.Phơng pháp ép
3.Phơng pháp chiết xuất bằng dung môi
3 4.Phơng pháp ớp
4 5.Phơng pháp lên men
5 Tuy nhiên nguyên tắc của sự lựa chọn trong sản xuất là :
6 -Tinh dầu tách ra phải có thành phần và mùi thơm tự nhiên nh của nguyên liệu
7 -Phải khai thác tối đa lợng tinh dầu có trong nguyên liệu,thời gian ngắn và chi phíđầu
t thấp
-Kỷ thuật để khai thác phải thuận tiện ,nhanh chóng và có tính khả thi
2.3.5.1 Phơng pháp cất kéo bằng hơi nớc.
Phơng pháp này dựa trên nguyên tắc cất một hổn hợp hai chất lỏng bay hơi đợc không trộn lẫn vào nhau ( nớc và tinh dầu ) khi áp suất hơi nớc bảo hòa bằng áp suất khí quyển ,hổn hợp bắt đầu sôi và hơi nớc kéo theo hơi tinh dầu
Hơi nớc có thể đợc đa từ bên ngoài, do các nồi hơi cung cấp hoặc tự tạo trong nồi cất
Đây là phơng pháp không đòi hỏi thiết bị phức tạp lắm mà lại có khả năng lấy triệt
để tinh dầu, ngoài ra dùng phơng pháp này cho phép chúng ta dựa vào tính chất bay hơi của các cấu tử trong tinh dầu để phân ly chúng ra những phần riêng biệt có độ tinh khiết hơn
Nguyên liệu để nguyên hoặc thái nhỏ vừa phải cho vào nồi cất Sau đó cho chạy qua nguyên liệu một luồng hơi nớc hoặc cho nguyên liệu trực tiếp vào nớc rồi đun sôi Hơi nớc và hơi tinh dầu đợc kéo sang hệ thống ống sinh hàn làm lạnh, đến bình florentin
Trang 16chỉ một phần rất ít tinh dầu tan trong nớc, còn tinh dầu nhẹ nổi lên trên mặt nớc hoặc tinh dầu nặng chìm xuống dới nớc Để lấy hết tinh dầu ngời ta cho thêm vào phần cất đợc một
ít muối ăn để tăng tỉ trọng của nớc làm cho tinh dầu nổi lên trên nhiều hơn hoặc có thể dùng một dung môi dể bay hơi (ete, pentan) để chiết rồi bốc hơi hay cất tách dung môi
Sử dụng phơng pháp này có u điểm: tiết kiệm,thiết bị đơn giản do đó nó đợc sản xuất trong công nghiệp Tuy nhiên nhợc điểm của pháp này là không thể áp dụng đợc đối với tinh dầu bị sức nóng phân huỷ hay làm thay đổi tính chất
2.3.5.2 Phơng pháp ép.
Đối với một số vỏ quả nh : vỏ Chanh,Quýt,Cam,Bởi có hàm lợng tinh dầu cao ngời
ta hay dùng phơng pháp ép vỏ tơi để tách lấy tinh dầu Có thể tiến hành ép bằng tay hoặc bằng máy ép Tinh dầu khi mới ép bị đục, dần dần sẽ trong trở lại, hơng vị thơm tế nhị hơn tinh dầu chế bằng phơng pháp cất vì thành phần tinh dầu ít thay đổi do hiện tợng ete hóa, xà phòng hóa, tecpen hóa nhựa trong quá trình cất
Ưu điểm:Tiến hành đơn giản, thành phần hóa học của tinh dầu ít bị thay đổi
Nhợc điểm:Không tiết kiệm đợc tinh dầu, tinh dầu vẩn bị đục phải tinh chế lại, ờng đem lẩn vào tinh dầu chất nhầy, những mô và tạp chất khác
th-2.3.5.3 Phơng pháp chiết xuất bằng dung môi.
Những dung môi đợc sử dụng là dung môi hữu cơ dể bay hơi hoặc không bay hơi.Dung môi bay hơi thờng là ete dầu hơng sunfuacacbon, tetraclorua cacbon, cồn, dung môi không bay hơi là hổn hợp mỡ bò, mỡ lợn hoặc một số chất béo khác Có thể hoà tan nóng hoặc hòa tan nguội
Hòa tan nóng: Cho nguyên liệu vào chất béo ở 50-55o C khuấy liên tục trong vòng 1-2 ngày cho tới khi tinh dầu hòa tan hết vào chất béo Lấy nguyên liệu cũ ra cho nguyên liệu mới vào, cứ tiếp tục nh vậy cho đến khi chất béo no tinh dầu Chất béo no tinh dầu có thể đa dùng thẳng hoặc dùng một dung môi nữa nh cồn cao độ để chiết lấy tinh dầu
Trang 17Hòa tan nguội: Tiến hành ở nhiệt độ thờng cũng nh trên Tinh dầu thu đợc có mùi thơm của tinh dầu tự nhiên
C
2.3.5.5 Phơng pháp lên men
Đây là phơng pháp đợc áp dụng cho các loại nguyên liệu chứa tinh dầu ở dạng tiềm tàng ( trạng thái liên kết glucozit) để tách tinh dầu ở trạng thái liên kết thì ta phải ủ nguyên liệu ( lên men) hoặc cho các loại enzim vào sau đó tùy thuộc vào bản chất của loại tinh dầu mà ta có thể sử dụng các phơng pháp : chng cất, chiết, hấp thụ để tách tinh dầu
Tóm lại : Chúng ta cần phải chú ý rằng với cùng một nguyên liệu nếu dùng phơng pháp chế tinh dầu khác nhau thì kết quả thu đợc tinh dầu có thành phần và giá trị khác nhau
2.3.6 Bảo quản tinh dầu
Sự biến chất của tinh dầu là do nó bị oxi hóa thành chất nhựa vì sự thủy phân các este và tác dụng giữa những gốc với nhau Những biến đổi này thờng xảy ra ở nhiệt độ cao, hơi nớc, ánh sáng và không khí Vì vậy tinh dầu sau khi thu đợc cần phải loại nớc ( có thể dùng Na2SO4 khan ) Sau đó bảo quản tinh dầu nơi thoáng mát, tối, trong những chai lọ vừa phải, miệng nhỏ màu vàng [ 9]
2.4 Các phơng pháp xác định thành phần hóa học của tinh dầu
2.4.1 Phơng pháp sắc ký khí
Trang 182.4.1.1 Khái niện chung
Sắc ký là quá trình tách liên tục từng vi phân hổn hợp các chất do sự phân bố không
đồng đều của chúng giữa pha tĩnh và pha động khi cho pha động đi xuyên qua pha tĩnh Phơng pháp sắc ký khí tách chất dựa vào hiện tợng động học hoặc cân bằng pha nên phơng pháp sắc ký khí là phơng pháp vật lý Sắc ký khí là một quá trình tách liên tục từng phần hổn hợp các chất do sự phân bố không đồng đều của chúng giữa pha tĩnh và pha động Khi cho pha động di chuyển qua pha tĩnh các chất khác nhau thì sẽ có ái lực khác nhau với pha tĩnh và pha động Chất nào có ái lực lớn hơn với pha tĩnh thì sẽ chuyển
động chậm hơn qua hệ sắc ký so với các chất có tơng tác yếu hơn pha này
Phơng pháp sắc ký khí là một phơng pháp tách hiện đại có hiệu lực, đã xâm nhập vào nhiều lĩnh vực trong Hóa học hữu cơ có khoảng 80% các hợp chất đợc phân tích bằng phơng pháp sắc ký khí
2.4.1.2 Bản chất của phơng pháp sắc ký khí
Sắc ký khí là quá trình dựa trên cơ sở của sự chuyển dịch lớp gián đoạn chất dọc lớp chất hấp phụ trong một pha động và liên hệ với sự lặp lại nhiều lần các giai đoạn hấp phụ và giải hấp phụ Quá trình sắc ký xảy ra khi có sự phân bố hấp phụ giữa hai pha, trong đó một pha chuyển dịch với pha kia Nói cách khác cơ sở của sắc ký khí là quá trình hấp phụ hoặc hấp thụ và quá trình giải hấp phụ
Nguyên lý cơ bản của sự tách bằng sắc ký khí là sự phân bố chất thành hai pha Một pha gọi là pha tĩnh có bề mặt tiếp xúc rộng, pha kia gọi là pha động là chất khí di chuyển qua pha tĩnh
Khi đa vào cột một hổn hợp chất nào đó, muốn đạt đợc mức độ tách hoàn toàn trớc hết bề mặt tiếp xúc giữa hai pha phải lớn, bề dày lớp tiếp xúc giữa hai pha phải đủ nhỏ (vì quá trình khuyếch tán chất sẽ làm giảm hiệu quả tách ) và sau cùng là sự chuyển dịch có hớng của một pha (pha động ) với pha kia (pha tĩnh ) nh thế nào đó để mỗi cấu tử trong hổn hợp đợc phân bố giữa hai pha phù hợp với tính chất hấp phụ hoặc hòa tan của nó