Sang thế kỷ XV trở đi,nền văn học dân tộc bắt đầu xuất hiện những tác phẩm văn xuôi tự sự nhằmmục đích thoả mãn hứng thú văn chơng của ngời đọc, nghĩa l nhằm mụcà chính luđích văn học nh
Trang 1Mục lục
Mở đầu……… ……… .3
1 Lý do chọn đề tài……… … 3
2 Lịch sử vấn đề……… ……… .4
3 Phạm vi t liệu khảo sát……… … 8
4 Nhiệm vụ và phơng pháp nghiên cứu……… ……… … 9
5 Cấu trúc luận văn……… ……… … 9
Chơng 1 Vũ trung tùy bút và Tang thơng ngẫu lục trong bối cảnh lịch sử xã hội và văn xuôi tự sự thời kỳ cuối Lê đầu Nguyễn ……….10
1.1 Lịch sử xã hội Việt Nam thời kỳ cuối Lê đầu Nguyễn………… ……… 10
1.2 Tổng quan về văn xuôi tự sự thời cuối Lê đầu Nguyễn……… …… 13
1.3 Vũ trung tùy bút và Tang thơng ngẫu lục – những tác phẩm văn xuôi tự sự đặc sắc của thời kỳ cuối Lê đầu Nguyễn……… … … 20
1.3.1 Tiểu sử của các tác giả……… … 20
1.3.2 Sự đa dạng về bút pháp tự sự ……… …… 22
Chơng 2 Vũ trung tùy bút và Tang thơng ngẫu lục trên bình diện cảm hứng trần thuật ……… …… 37
2.1 Khái niệm cảm hứng ……… ………… .37
2.2 Các cảm hứng chủ đạo trong Vũ trung tùy bút và Tang thơng ngẫu lục …38 38 2.2.1 Bộc lộ xúc cảm và đánh giá của cá nhân về các danh nhân , di tích lịch sử, thắng cảnh……… … ………… … 38
2.2.1.1 Hoài vọng các danh nhân……… … ……… .38
2.2.1.2 Nỗi niềm trớc các di tích lịch sử, thắng cảnh……… ……… 45
2.2.2 Cảm hứng thế sự trong Vũ trung tùy bút và Tang thơng ngẫu lục…… 49
2.2.2.1 Bức tranh hiện thực đời sống trong xã hội Việt Nam thời kỳ cuối Lê đầu Nguyễn……… ……… … .49
2.2.2.2 Những sinh hoạt văn hoá, phong tục tập quán của cha ông ………… 59
Chơng 3 Vũ trung tùy bút và Tang thơng ngẫu lục trên bình diện thể loại nghệ thuật tự sự……… 65
3.1 Vũ trung tùy bút và Tang thơng ngẫu lục với đặc trng thể loại của văn học trung đại……… ……… … ……… 65
3.1.1 Vấn đề phân loại thể loại văn học trung đại………… ……… 65
3.1.2 Vũ trung tùy bút và Tang thơng ngẫu lục có sự hỗn dung giữa thể loại
Trang 2truyện ngắn và kí ……… ……… 71
3.2 Nghệ thuật tự sự trong Vũ trung tùy bút và Tang thơng ngẫu lục……… 75
3.2.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật ……… ……… 75
3.2.1.1 Tự sự khắc hoạ nhân vật……… …… 75
3.2.1.2 Các nhân vật danh nhân, nhân vật lịch sử……… 76
3.2.1.3 Bóng dáng nhân vật bình phàm……… …… 80
3.2.2 Giọng điệu tự sự ……… 84
3.2.2.1 Khái niệm giọng điệu và giọng điệu tự sự……….84
3.2.2.2 Đan xen thuật kể với bình luận……… 85
3.2.2.3 Giọng thuật kể khách quan bình đạm………88
3.2.2.4 Giọng trữ tình nhẹ nhàng, thâm trầm……….90
Kết luận……… 93
Tài liệu tham khảo……… ……… 96
Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Văn học trung đại Việt Nam, bên cạnh bộ phận văn học viết bằng
chữ Nôm còn có bộ phận văn học viết bằng chữ Hán Đây là bộ phận văn học
có cả thơ lẫn văn xuôi Nếu nh thơ thờng dùng cho thể loại trữ tình thì văn xuôi dùng cho thể loại tự sự v chính luà chính lu ận Những tác phẩm tự sự văn xuôi bằng chữ Hán không phải đến thời kỳ Lê mạt Nguyễn sơ (nửa sau thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX) mới xuất hiện Trớc đó, ở thời Lý, Trần (thế kỷ X đến
thế kỉ XIV) đã từng có những tác phẩm nh: Việt điện u linh tập của Lí Tế Xuyên; Lĩnh Nam chích quái lục của Trần Thế Pháp… Nhng các sáng tác ấy
Trang 3cha tách khỏi văn học dân gian và văn học chức năng Sang thế kỷ XV trở đi,nền văn học dân tộc bắt đầu xuất hiện những tác phẩm văn xuôi tự sự nhằmmục đích thoả mãn hứng thú văn chơng của ngời đọc, nghĩa l nhằm mụcà chính lu
đích văn học nh: Thánh Tông di thảo của Lê Thánh Tông, Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ, Thợng kinh kí sự của Lê Hữu Trác, Ho ng Lê nhất thống chí àng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái… Trong đó không thể không kể đến hai tác phẩm đặc
sắc: Vũ trung tuỳ bút của Phạm Đình Hổ, Tang thơng ngẫu lục của Phạm
Đình Hổ và Nguyễn án Đây thật sự là những tác phẩm nghệ thuật có ý nghĩalớn đối với lịch sử văn học dân tộc rất đáng đợc nghiên cứu để giúp ngời đọcnhận thức đợc thành tựu của văn xuôi tự sự bằng chữ Hán trong nền văn họcViệt Nam thời trung đại
1.2 Thời kì cuối Lê đầu Nguyễn (cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX)
trong lịch sử nớc ta là một thời kì loạn lạc, bãi bể nơng dâu Giai tầng quý tộcvua chúa sống xa hoa, hởng lạc; đám quan lại thì sự tham nhũng lộng hành,thi nhau “đục nớc béo cò”… làm cho cuộc sống của nhân dân vô cùng khổ
sở Văn chơng thời kì ấy cũng chịu ảnh hởng của hoàn cảnh, nặng ghi chép
“chuyện ngày thờng, chuyện sinh hoạt” với những chi tiết hiện thực nhất Đây
là giai đoạn đợc các nhà nghiên cứu, phê bình văn học đánh giá là đạt đợc
nhiều thành tựu rực rỡ nhất trong thời kì phong kiến Vũ trung tuỳ bút và chính lu Tang thơng ngẫu lục l những tác phẩm đặc biệt, phát triển đến đỉnh cao củaà chính luthời kì ấy Xét trong văn học trung đại nói chung và văn xuôi tự sự thời kìcuối Lê đầu Nguyễn nói riêng, không có các tác phẩm văn học nào mà tác giảcủa nó lại gần giống nhau về hoàn cảnh sống; đồng điệu với nhau về nếpcảm, nếp nghĩ và thể hiện tình cảm, thái độ đối với xã hội đơng thời bằng thể
văn tuỳ bút, ngẫu lục nh trờng hợp hai tác phẩm Vũ trung tuỳ bút, Tang
th-ơng ngẫu lục Đằng sau cá tính tự do, phóng túng của ngòi bút khi đa cảm
xúc chảy trôi theo các sự việc của thế sự để ghi lại những điều tai nghe mắt
thấy, Vũ trung tuỳ bút và Tang thơng ngẫu lục luôn luôn bộc lộ một thái độ
cảm xúc, đánh giá qua những lời bình luận trữ tình hay qua cách miêu tảnhiều khi hết sức thi vị, giàu chất văn chơng, để lại dấu ấn trong lòng độc giảyêu văn học trung đại Song cho đến nay, việc nghiên cứu hai tác phẩm vẫncha có những công trình to n diện, mang tính hệ thống.à chính lu
1.3 Tìm hiểu Vũ trung tuỳ bút và chính lu Tang thơng ngẫu lục nhằm góp phần
đánh giá vị trí của tác phẩm trong tiến trình văn học trung đại Việt Nam Việc
Trang 4tìm hiểu này cũng sẽ góp phần nâng cao nhận thức về loại hình văn xuôi tự sựtrung đại trên các bình diện nh: nội dung cảm hứng, hình thức thể loại vànghệ thuật tự sự Những kết quả của việc tìm hiểu hai tác phẩm này cũng sẽgiúp ích cho việc giảng dạy văn học trung đại theo đặc trng loại hình ở trờngphổ thông hiện nay
2 Lịch sử vấn đề
Vũ trung tùy bút, Tang thơng ngẫu lục ra đời đến nay đã mấy trăm năm
và đã có nhiều công trình nghiên cứu qua các thời đại Tuy nhiên hầu hết cáccông trình nghiên cứu đều nằm ở dạng khái quát hoặc điểm qua một bìnhdiện nào đó của tác phẩm mà cha đi sâu vào nghiên cứu một cách cụ thể, có
hệ thống về các giá trị nội dung, nghệ thuật tự sự của tác phẩm; khẳng định vịtrí của nó trong dòng chảy văn học trung đại Việt Nam Trong phạm vi quantâm của đề tài, chúng tôi xin điểm lại một số công trình, tài liệu có liên quan
làm cơ sở cho việc nghiên cứu hai tác phẩm Vũ trung tuỳ bút và Tang thơng ngẫu lục trong văn học trung đại Viêt Nam thời kì cuối Lê đầu Nguyễn.
Dơng Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu (1943) khi tìm hiểu các tác phẩm văn xuôi tự sự thời trung đại đã lu tâm đến Vũ trung tuỳ bút, Tang thơng ngẫu lục và đánh giá: “Sách Tang thơng ngẫu lục, Vũ trung tuỳ bút là những tác phẩm đặc biệt thời Lê mạt, Nguyễn sơ”; “các tác phẩm văn
học thời ấy phần nhiều ghi lại những điều tác giả đã nghe thấy, trông thấy và
là tài liệu quý về hiện thực xã hội, nhân vật, phong tục tập quán thời đã quabằng thể văn tuỳ bút, ngẫu lục” Cuốn sách của Dơng Quảng Hàm đợc xem làmột cuốn về “lịch sử văn học Việt Nam có tính phổ thông đầu tiên đợc biênsoạn bằng chữ quốc ngữ, một phác thảo về lịch trình, diễn biến của văn họcdân tộc”
Nguyễn Đổng Chi trong Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam (1959) rất
quan tâm đến hiện tợng “thể kí sự bằng văn xuôi đã bắt đầu xuất hiện và đã
có những tìm tòi riêng về kí sự, tuỳ bút trong nền văn học dân tộc giai đoạnnửa sau thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX” Ông có những điểm nhìn cụ
thể, tâp trung vào một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu ở giai đoạn này nh Tang thơng ngẫu lục, Vũ trung tuỳ bút…38 Nguyễn Đổng Chi đánh giá giá trị của sách Vũ trung tuỳ bút ở việc “ngời đơng thời ghi chép chuyện đơng thời”,
“phản ánh xã hội phong kiến suy đồi qua những biến đổi về phong tục”
Trang 5Công trình Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX
của Nguyễn Lộc đã khẳng định sức mạnh của thể kí trong văn học Việt Nam.Tác giả đặc biệt đánh giá sự gia tăng những ghi chép “chuyện ngày thờng,chuyện sinh hoạt” Ông cho rằng đó “là sự đem đến cho văn học những chitiết hiện thực nhất” trong các sáng tác ở giai đoạn này Trên cơ sở đó Nguyễn
Lộc kết luận một cách xác đáng :“ Vũ trung tuỳ bút và chính lu Tang thơng ngẫu lục
ghi đợc nhiều nét về hiện thực đen tối xã hội nớc ta những năm cuối thế kỷXVIII”
Nguyễn Phơng Chi trong Từ điển văn học đánh giá đây l hai tập sách cóà chính lugiá trị văn học đặc sắc Cùng với các tác phẩm văn xuôi tự sự thời kì cuối Lê
đầu Nguyễn, Vũ trung tuỳ bút và chính lu Tang thơng ngẫu lục l những thiên kí tiêuà chính lubiểu xuất sắc cho mảng văn xuôi gi u tính hiện thực của văn học Việt Namà chính luthế kỷ XVIII
Nguyễn Đăng Na với các công trình nghiên cứu Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại (tập 2- 2001) và Con đờng giải mã văn học trung đại Việt Nam (2006) đã đi vào tìm hiểu Tang thơng ngẫu lục và chính lu Vũ trung tuỳ bút dới
góc độ thể loại Nhà nghiên cứu đã đa ra cách nhìn nhận, đánh giá khoa học
về bút pháp tự sự, nghệ thuật tự sự của hai tác phẩm Nguyễn Đăng Na khẳng
định: Vũ trung tuỳ bút và Tang thơng ngẫu lục mở ra lối kí đa dạng về bút
pháp đợc viết với các thể t i khác nhau Các thiên trong tác phẩm phần lớnà chính lumang tính chất truyện v những thiên thuộc thể kí không nhiều, song chúngà chính lucũng khá tiêu biểu cho thể kí Đặc biệt Nguyễn Đăng Na đi sâu đánh giá ngòi
bút của Phạm Đình Hổ trong Vũ trung tuỳ bút: có thiên tác giả viết kiểu tự
thuật nhng ngắn gọn, không theo thứ tự thời gian v thà chính lu ờng viết về những kỷniệm thời thơ ấu Nhiều thiên tác giả viết theo kiểu khảo cứu Có lẽ ông có sởtrờng về kí khảo cứu Ông khảo từ hoa cỏ đến phong tục; từ chữ viết đến thểvăn, thể thơ; từ điềm kì dị đến phép thi cử; khảo từ nhân vật đến quỷ thần,tang lễ, cới xin, đất đai phong vật, nhân tình thế thái… Điều gì ông cũng trình
b y cặn kẽ, nói có sách, mách có chứng v so sánh với thực tại Văn ôngà chính lu à chính lugiản dị, trọng về thực chất v đậm đ chất kí Đọc tác phẩm của Phạm Đìnhà chính lu à chính lu
Hổ, ta thấy có chiều sâu của ngời uyên thâm Hán học; có chất lịch thiệp củangời trải đời; cứng cỏi ngạo nghễ, hóm hỉnh của bậc h n nho thanh bạch; tinhà chính lu
tế của trí thức kinh kỳ biết thởng thức ăn chơi… Đấy l nét riêng trong phongà chính lucách kí của Phạm Đình Hổ m các tác giả ký khác không có đà chính lu ợc Tuy nhiên,
Trang 6Vũ trung tuỳ bút phảng phất đó đây một phong vị buồn của con ngời luôn
trăn trở với dân với nớc Ông viết nhẹ nh ng không lên gân, không hô khẩuà chính luhiệu, rất đúng với t thế của một “thứ dân” Phạm Đình Hổ tuy nhìn thấynhững cái hay, cái đẹp, cái đợc của ngời Việt nhng ông không tự đại, khôngkì thị Ông vẫn nhận ra cái cha đợc của dân tộc, đặc biệt l những hủ tụcà chính lunặng nề về ma chay, cới xin, những thói suy đồi về đạo đức ở các thế hệ từ trẻcon đến ngời lớn, từ dân thờng đến quan lại…đã l m thà chính lu ơng luân bại lí Đến
Phạm Đình Hổ với Vũ trung tuỳ bút, thể kí đã đạt đến đỉnh cao, nở rộ v đaà chính ludạng về hình thức Có thể nói Nguyễn Đăng Na là tác giả đã có nhiều đónggóp trong hành trình khám phá, khẳng định giá trị tác phẩm đối với dòng vănxuôi tự sự trung đại
Trần Đình Sử trong Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam khi phân loại thể loại văn học trung đại đã cho rằng Vũ trung tuỳ bút v à chính lu Tang
thơng ngẫu lục thuộc về tạp kí Tức l đồng ý với quan điểm cho rằng Phạmà chính lu
Đình Hổ và Nguyễn án ghi lại những điều tai nghe mắt thấy Trần Đình Sử
cho rằng tuỳ bút hay ngẫu lục đều là thể loại tự do, phát huy năng lực quan
sát, hiểu biết, do đó m thể hiện cá tính nh văn rất rõ Cũng theo tác giả, haià chính lu à chính lutập sách n y có nội dung hết sức phong phú, đa dạng Nó không chỉ có giá trịà chính lu
sử liệu, văn liệu m còn à chính lu có giá trị văn học Lời văn ngắn gọn, súc tích, bình
đạm, nhẹ nh ng l m ngà chính lu à chính lu ời ta thích đọc Nó gây hứng thú hiếu kì, mở rộngkiến văn, cảm thụ
Trong cuốn Giáo trình Lí luận văn học (tập 2- Tác phẩm và thể loại văn học) nhóm tác giả Trần Đình Sử, Phan Huy Dũng, La Khắc Hoà, Phùng Ngọc
Kiếm, Lê Lu Oanh đặc biệt thấy đợc “ tính chất văn học đậm đà hơn của thể
kí đợc thể hiện ở các tác phẩm nh Vũ trung tuỳ bút của Phạm Đình Hổ, Tang thơng ngẫu lục của Phạm Đình Hổ, Nguyễn án và Thợng kinh kí sự của Lê
Hữu Trác”
Ngoài ra, rải rác trên Tạp chí văn học, Nghiên cứu văn học và một số
báo, tạp chí khác cũng đề cập đến hai tác phẩm Có thể liệt kê ra đây một số
công trình tiêu biểu nh: Các tác giả văn học Kinh Bắc thế kỉ XVIII “ ” của
Phạm Tú Châu, Chiêu Hổ và Phạm Đình Hổ “ ” của Tảo Trang- Nghiên cứu văn học số 3-1962… Cũng cần nhắc đến các bài giới thiệu, các công trìnhdịch thuật của các tác giả nh Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, Ngô Văn Triện,
Trang 7Trơng Chính, Giá Sơn Kiều Oánh Mậu, Nguyễn Lộc…Chính họ đã giúp chongời đọc đợc tiếp cận và có một cái nhìn toàn diện hơn về hai tác phẩm.
Qua tập hợp, thống kê, tìm hiểu các công trình nói trên, chúng tôi nhậnthấy các nhà nghiên cứu đã quan tâm đến giá trị của tác phẩm trong thành tựuchung của văn học trung đại Việt Nam Nhng nhìn chung, những tác giả
nghiên cứu về Vũ trung tuỳ bút v à chính lu Tang thơng ngẫu lục mới chỉ dừng lại ở
những đánh giá mang tầm khái quát trên phơng diện về giá trị nội dung và chính luthể loại với cảm hứng ngợi ca m chà chính lu a có cái nhìn to n diện, mang tính hệà chính luthống về hai tác phẩm Dẫu sao đấy cũng l những tà chính lu liệu v gợi ý đáng quýà chính lugiúp chúng tôi có cái nhìn to n diện hơn khi thực hiện đề t i:à chính lu à chính lu Vũ trung tùy bút và Tang thơng ngẫu lục trong văn học Việt Nam thời kì cuối Lê đầu Nguyễn
3 Phạm vi t liệu khảo sát
Để thực hiện đề t i n y chúng tôi tập trung khảo sát 2 cuốn sách: à chính lu à chính lu Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ và Tang thơng ngẫu lục của Phạm Đình
Hổ, Nguyễn án Sách Vũ trung tùy bút với 82 đề mục đã đợc Nguyễn Hữu
Tiến dịch v đăng trên à chính lu Tạp chí Nam Phong từ số 121 tháng 9 năm 1927 đến
số 126 tháng 2 năm 1928 Đến năm 1989 đợc NXB Trẻ, Hội nghiên cứu
giảng dạy Văn học T.P Hồ Chí Minh in lại với tựa đề Vũ trung tuỳ bút Sách Tang thơng ngẫu lục với 89 đề mục đã đợc Ngô Văn Triện dịch to n văn lầnà chính lu
đầu tiên 1960 do NXB Văn hoá, H Nội in v đến năm 2001, NXB Vănà chính lu à chính luhọc, H Nội in lại bản dịch của Ngô Văn Triện đựơc Nguyễn Thị Thảo và chính lu à chính lu
Phạm Văn Thắm chú thích bổ sung ở một số chỗ cần thiết.
4 Nhiệm vụ và phơng pháp nghiên cứu
4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1.1 Tìm hiểu những đóng góp của Vũ trung tùy bút và Tang thơng
ngẫu lục trong bối cảnh văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam thời Lê mạt
Nguyễn sơ trên các bình diện: nội dung và hình thức tự sự
4.1.2 Xác định vị trí của Vũ trung tuỳ bút và chính lu Tang thơng ngẫu lục trong
văn học trung đại Việt Nam, đặc biệt là trong giai đoạn văn học thời kì cuối
Lê đầu Nguyễn
4.2 Phơng pháp nghiên cứu
Trang 8Luận văn vận dụng các phơng pháp nghiên cứu sau: khảo sát- thống kê;phân tích- tổng hợp; so sánh- loại hình v phà chính lu ơng pháp cấu trúc- hệ thống
5 Cấu trúc luận văn
Ngo i à chính lu Mở đầu, kết luận và chính lu T i liệu tham khảo àng Lê nhất thống chí , Luận văn đợc triển khaiqua 3 chơng:
Chơng 1 Vũ trung tùy bút và Tang thơng ngẫu lục trong bối cảnh lịch
sử xã hội và văn xuôi tự sự thời kì cuối Lê đầu Nguyễn
Chơng 2 Vũ trung tuỳ bút và Tang thơng ngẫu lục trên bình diện cảm hứng trần thuật
Chơng 3 Vũ trung tuỳ bút và Tang thơng ngẫu lục trên bình diện thể loại, nghệ thuật tự sự
Chơng 1
Vũ trung tùy bút và tang thơng ngẫu lục
trong Bối cảnh lịch sử xã hội và văn xuôI tự sự
thời kỳ cuối Lê đầu Nguyễn 1.1 Lịch sử xã hội Việt Nam thời kỳ cuối Lê đầu Nguyễn
Những vấn đề cơ bản của xã hội Việt Nam thời Lê mạt Nguyễn sơ đợcnêu lên rất rõ qua sử sách Đặc điểm nổi bật của lịch sử nớc ta thời kì cuối
Lê đầu Nguyễn đó là chế độ phong kiến bớc vào giai đoạn khủng hoảngtrầm trọng và không có lối thoát với các cuộc chiến tranh cứ kế tiếp nhaukhông dừng Trong khoảng hai mơi lăm năm từ 1778 khi Nguyễn Nhạc xngvơng đến năm 1802 khi Gia Long lên ngôi m trong nà chính lu ớc thay ngôi đổi chủmấy lần Vì thế lòng ngời không khỏi phân vân v cuộc sống của nhân dânà chính luhết sức khốn khổ Tất cả đợc các sử gia ghi lại với các sự kiện, các yếu tố,các lĩnh vực cụ thể từ nông nghiệp, kinh tế đến chính trị…
Nền kinh tế của xã hội đến giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII- nửa đầu thế
kỉ XIX suy sụp một cách toàn diện Nông nghiệp đình đốn Ruộng đất phầnlớn tập trung trong tay bọn địa chủ, quan lại và cờng hào, nông dân không
còn miếng đất cắm dùi Cuốn sách “Lịch sử Việt Nam từ nguyên thuỷ đến 1858” [36;216] đã giúp chúng ta thấy rằng: sau khi chiến tranh Trịnh-
Nguyễn chấm dứt, mâu thuẫn xã hội tạm lắng xuống, tình hình xã hội trở lại
ổn định một thời gian ngắn thì bọn cờng hào, địa chủ hoành hành khắp nơi
Trang 9Bọn này tìm mọi cách lũng đoạn ruộng công, liên kết với các quan phủ,huyện “tự tiện bán ngôi thứ trong làng và bán ruộng công lấy tiền” khiếncho dân lu tán “dù muốn về cũng không có đất mà cày, muốn đi kiện cũngkhông có sức mà theo đuổi” (Ngô Thì Sĩ) Từ cuối những năm 60 thiên taimất mùa lại xảy ra liên tiếp Mùa thu năm 1767 đến 1768 liên tục bị hạnhán, dân đói khổ: “Nghệ An, Kinh Bắc, Sơn Nam, Sơn Tây, giá gạo cao vọt,nhân dân đói khổ”, năm 1769 Thanh Hoá bị thuỷ tai, các năm1773,1774,1776,1777,1778 liên tục vỡ đê, mất mùa, lụt lội, hạn hán khiếncho “dân chết nằm liền nhau”, kinh tế nông nghiệp sa sút nghiêm trọng,làng mạc tiêu điều Trớc tình hình đó, để giữ vững thu nhập hàng năm, chúaTrịnh chủ trơng đánh thuế thật nặng bất cứ nghề gì, kết quả là “vì sự trngthu quá mức, vắt kiệt đến nôĩ ngời ta thành ra bần cùng nên phải bỏ nghề
nghiệp, làng xóm náo động” (Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chơng loại chí).
Công thơng nghiệp cũng không phát triển Chính quyền phong kiến ớng công thơng nghiệp vào mục đích phục vụ nhu cầu của giai cấp thống trị.Không kích thích sản xuất
h-Về thơng nghiệp, chúa Trịnh tìm mọi biện pháp bóp nghẹt ngoại th ơng,ngăn cản việc buôn bán của thơng nhân
Về chính trị, bộ máy phong kiến giai đoạn này vừa chuyên chế lại vừasâu mọt, thối nát Thời Lê mạt, ở Trung ơng vua Lê chỉ ngồi làm vì, tất cảquyền hành tập trung vào phủ Chúa chuyên quyền và độc đoán Các chúaTrịnh thờng lo việc ăn chơi và xây dựng chùa chiền hơn là lo việc trị n ớc…
Có thể nói chính quyền phong kiến giai đoạn này từ Trung ơng đến địa
ph-ơng là một bộ máy quan liêu nặng nề, nạn tham ô, hối lộ tha hồ phát triển.Càng ngày quan lại địa phơng càng bất chấp tình thế, ra sức đục khoét củacải của nhân dân làm giàu Làng xóm tiêu điều, ngời dân phiêu tán
Tất cả tình hình kinh tế và chính trị nh thế dẫn đến kết quả là sự phẫn
nộ của quần chúng và sự bùng nổ của phong trào nông dân khởi nghĩa
Cuốn sách “Việt sử thông giám cơng mục” của Quốc sử quán triều
Nguyễn miêu tả khá sinh động phong trào nông dân khởi nghĩa trong giai
đoạn này: “Lúc ấy về mặt Hải Dơng có bọn Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ ởNinh Xá, Vũ Trác Oánh ở Mộ Trạch; về mặt Sơn Nam có Hoàng Công Chất,
Trang 10đảng lớn phe nhỏ hết chỗ này đến chỗ khác thúc giục nhau phiến động, chỗnào cũng tự dấy quân, tự xng danh hiệu: Nguyễn Tuyển xng hiệu Minh chủ,Trác Oánh xng hiệu Minh công, họ hội họp nhau ở Ninh Xá đều mợn tiếng
“phù Lê” Dân ở vùng Đông, vùng Nam, ngời đeo bừa, ngời vác gậy đi theo.Chỗ nhiều có đến hơn vạn, chỗ nhỏ cũng hàng ngàn trăm, họ quấy rối c ớpbóc làng xóm, vây đánh các ấp, các thành, triều đình không thể nào ngăncấm đợc”
Đặc điểm của phong trào nông dân khởi nghĩa thời kì Lê mạt Nguyễnsơ là phát triển một cách liên tục và đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Đó là cuộc khởi nghĩa không những tiêu diệt tập đoàn phong kiến chúaNguyễn trong Nam, lật đổ triều đình Lê- Trịnh ngoài Bắc mà còn đánh tantác năm vạn quân xâm lợc Xiêm rồi 20 vạn quân xâm lợc Mãn Thanh trongchớp nhoáng Bảo vệ đợc độc lập cho dân tộc, thực hiện đợc thống nhất cho
đất nớc
Tóm lại, bối cảnh lịch sử xã hội nớc ta thời kì cuối Lê đầu Nguyễn là sựkhủng hoảng, bế tắc của nhà nớc phong kiến và sự sụp đổ của ý thức hệthống trị; là sự vùng dậy của quần chúng nông dân bị áp bức Cuộc đấutranh giai cấp trong xã hội ở giai đoạn này gay gắt, quyết liệt làm cho nhà n -
ớc phong kiến không còn khả năng tạo ra sự thống nhất trong nội bộ nó vàgiữa nó với quần chúng bị áp bức Trái lại, quần chúng bị áp bức ngày càng
đối lập sâu sắc với nhà nớc phong kiến Có thể thấy giai đoạn lịch sử bão táp
đầy biến động của lịch sử Việt Nam thời cuối Lê đầu Nguyễn qua con mắtcác sử gia hiện lên với các sự kiện, các yếu tố, các lĩnh vực cụ thể từ kinh tế
đến chính trị… Tất cả giúp họ cắt nghĩa hiện thực lịch sử: sự sụp đổ của tập
đoàn phong kiến Lê- Trịnh, sự thay ngôi đôỉ chủ của các tập đoàn phongkiến là tất yếu
Vậy, hiện thực xã hội giai đoạn này có tác động đến đời sống văn họclúc bấy giờ, đặc biệt là loại hình văn xuôi tự sự thời cuối Lê đầu Nguyễn nhthế nào?
1.2 Tổng quan về văn xuôi tự sự thời cuối Lê đầu Nguyễn
Xã hội thế n o văn nghệ thế ấy Bất cứ thời đại n o văn học ít nhiềuà chính lu à chính lucũng chịu sự tác động cuả ho n cảnh xã hội Văn học thời kỳ Lê mạt,à chính luNguyễn sơ cũng không l ngoại lệ Ra đời trong hoàn cảnh xã hội phongà chính lu
Trang 11kiến khủng hoảng trầm trọng, có nhiều biến động sâu sắc, ý thức hệ phongkiến đã suy tàn, ý thức hệ t sản cha nảy nở Văn học Việt Nam giai đoạn nửasau thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX nói chung và thời kì cuối Lê đầuNguyễn nói riêng, về một phơng diện, có thể gọi là nền văn học phê phán, tốcáo xã hội Nếu nh qua sử sách, các sử gia giúp chúng ta hiểu hơn về hiệnthực lịch sử thông qua các sự kiện, số liệu, sử liệu… thì qua các tác phẩmvăn học, những tác phẩm văn xuôi tự sự viết bằng chữ Hán, bộ mặt của xãhội phong kiến, của giai cấp phong kiến thống trị đợc dựng lên khá đậm nét.
Từ việc mô tả các sự kiện, yếu tố lịch sử tiêu biểu, nhân vật lịch sử, các tácgiả gợi lên trong lòng ngời đọc nhiều suy nghĩ, nhiều cảm xúc: yêu- ghét,vui- buồn, lên án hay ngợi ca…
Mặt khác, đến thời kì cuối Lê đầu Nguyễn, văn xuôi tự sự trung đại đã
ra đời, tồn tại, phát triển trong một thời gian khá dài Theo Nguyễn Đăng
Na, văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam ra đời từ thế kỉ X Trải qua ba quátrình phát triển đến giai đoạn thứ ba (thế kỉ XVIII đến cuối thế kỉ XIX), đặcbiệt trong khoảng mấy mơi năm cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX thu đợcnhiều thành tựu và phát triển đến đỉnh cao, hoàn chỉnh về hình thức tự sựtrên cả truyện ngắn, kí và tiểu thuyết chơng hồi
Quá trình thứ nhất ra đời từ ngay những ngày đầu đất nớc mới giành
đ-ợc độc lập, khi chữ Nôm cha xuất hiện cho đến thế kỉ XIV Đặc điểm củavăn xuôi tự sự giai đoạn này là cha tách khỏi văn học chức năng (hànhchính, tôn giáo) và văn học dân gian, tức là lấy văn học dân gian và văn họcchức năng làm cơ sở Tác phẩm gồm hai loại chính là: truyện dân gian và
truyện lịch sử ở loại truyện dân gian có các sáng tác tiêu biểu nh: Việt điện
u linh tập của Lí Tế Xuyên nửa đầu thế kỉ XIV và Lĩnh Nam chích quái lục
của Trần Thế Pháp cuối thế kỉ XIV
Đối với dòng văn học tự sự lịch sử thì các tác giả thờng tập trung phản
ánh các sự kiện đã qua, các nhân vật quá khứ, nhân vật truyền thuyết vàhuyền thoại Phần lớn các nhân vật lịch sử đợc thần thánh hóa, tôn giáohóa… Nh vậy, dù cha tách khỏi văn học dân gian và văn học chức năng nh -
ng văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam thế kỉ X đến thế kỉ XIV có một vị tríkhá quan trọng trong việc đặt nền móng cho toàn bộ văn xuôi tự sự trung đạicũng nh truyện văn xuôi cận- hiện đại sau này
Trang 12Giai đoạn thứ hai đợc tính từ thế kỉ XV đến hết thế kỉ XVI Đây là giai
đoạn văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam đã giảm thiểu mối quan hệ với vănhọc dân gian và vơn lên thành một loại hình nghệ thuật mới mang đậm sắcthái dân tộc, phản ánh sâu sắc hiện thực đơng thời Đó là truyện truyền kì
với nhiều tác phẩm, trong đó Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ đợc mệnh danh là “Thiên cổ kì bút” và Thánh Tông di thảo của Lê Thánh Tông đợc
xem là những tác phẩm tiêu biểu Với hai tác phẩm này, Lê Thánh Tông vàNguyễn Dữ đã góp phần đa văn xuôi tự sự đi vào quỹ đạo nghệ thuật: vănhọc lấy con ngời làm đối tợng và trung tâm phản ánh, tức họ đã phát hiện và
đề cao sứ mệnh của con ngời
Bớc sang giai đoạn thứ ba, thế kỉ XVIII đến thế kỉ XIX đ ợc xem là giai
đoạn văn xuôi tự sự phát triển đến đỉnh cao, thu đợc nhiều thành tựu và hoànchỉnh các hình thức tự sự trong văn học Việt Nam trung đại
Thế kỉ XVIII-XIX, đặc biệt thời kì Lê mạt Nguyễn sơ đầy bão táp vàbiến động Những cũ kĩ bụi bặm của thời đại đang bị đập phá từ cơ sở hạtầng đến kiến trúc thợng tầng Cùng với văn học trung đại nói chung, vănxuôi tự sự có bớc chuyển biến mới: phản ánh trực tiếp, phản ánh tức thờinhững điều mắt thấy tai nghe, những điều đang xảy ra quanh ta Quan điểm
“văn dĩ tải đạo” và “thi ngôn chí” bị đẩy xuống hàng thứ yếu, quan điểmviết về những “sở văn”, “sở kiến” trội lên chiếm u thế
Nh vậy, đến thời kì cuối Lê đầu Nguyễn, cùng với các loại hình nghệthuật khác, văn xuôi tự sự có những đặc trng và quy luật phát triển riêng.Các tác giả văn xuôi tự sự không ngừng tìm tòi, kế thừa, đổi mới cả về nộidung lẫn hình thức Từ đó dần dần hoàn chỉnh cả ba hình thức tự sự: truyệnngắn, kí, tiểu thuyết chơng hồi và tiến gần đến chủ nghĩa hiện thực Nhng,càng tiến gần đến chủ nghĩa hiện thực thì chỉ có loại hình kí và tiểu thuyếtchơng hồi là thích hợp, còn loại hình truyện ngắn vẫn tiếp tục con đờngriêng của mình với sự “cách tân” ở chỗ gọi là truyền kì nh ng dới góc độnghệ thuật thì nó không đáp ứng đợc ý đồ sáng tác của tác giả
ở thời kì cuối Lê đầu Nguyễn văn xuôi tự sự phát triển đến đỉnh cao và
có nhiều đóng góp cho lịch sử văn học dân tộc, thu đ ợc nhiều thành tựu trên
thể loại kí, tiểu thuyết chơng hồi Kí xuất hiện với nhiều hình thức phong
phú nh: tùy bút, ngẫu lục, tạp thuật, kí sự… và nội dung rất đa dạng, đề cập
Trang 13đến nhiều vấn đề đời sống xã hội, đáp ứng nhu cầu phản ánh kịp thời hiệnthực sôi động của Việt Nam đơng thời Tuy nhiên, khi tiểu thuyết chơng hồi
ra đời đã đánh dấu sự trởng thành vợt bậc của văn xuôi tự sự trung đại ViệtNam Những vấn đề lịch sử xã hội rộng lớn, với sự khái quát cao của vănxuôi tự sự giai đoạn này đã phản ánh một cách sinh động, đầy đủ và sâu sắc.Vì thế không phải ngẫu nhiên ngời ta gọi thời kì này là thời kì của kí và tiểuthuyết chơng hồi Điều n y đà chính lu ợc thể hiện rất rõ qua những tác phẩm văn xuôi
tự sự tiêu biểu thời ấy nh: Thợng kinh ký sự của Lê Hữu Trác, Ho ng Lê àng Lê nhất thống chí nhất thống chí của Ngô gia văn phái, Tang thơng ngẫu lục của Phạm Đình
Hổ v Nguyễn à chính lu án, Vũ trung tuỳ bút của Phạm Đình Hổ…
Thợng kinh kí sự của Lê Hữu Trác là tác phẩm văn xuôi viết bằng chữ
Hán thuật lại chuyến đi của tác giả từ Hà Tĩnh ra Thăng Long (1781) đểchữa bệnh cho Trịnh Sâm và thế tử Trịnh Cán Tác phẩm kể về những điềumắt thấy tai nghe khi tác giả đến kinh thành, vào phủ chúa chữa bệnh, tiếp
xúc với ngời trong phủ chúa, với các nho sỹ ở kinh thành Thợng kinh kí sự
còn ghi lại tâm trạng của một con ngời cực kì bất mãn đối với xã hội đơngthời, cảm thấy mình “chẳng khác gì một ngời tù” Dới ngòi bút tinh tế, sắcsảo của tác giả hình ảnh phủ chúa Trịnh hiện lên kín đáo mà rõ nét vớinhững cung điện kiêu sa, cầu kì, với những con ngời từ chúa Trịnh Sâm, ôngquan đầu triều Hoàng Đình Bảo, đến đám công khanh, quan lại Tất cả đều
có cái gì nh vô nghĩa, tật bệnh Chẳng thấy một ngời nào làm việc, chỉ thấy
họ đi lại trịnh trọng, nói năng kiểu cách, biết qua loa chút ít về thuốc không
đủ để chữa bệnh nhng không tin ngời chữa bệnh giỏi, thích xớng họa thơvăn nhng chẳng có bài văn, bài thơ nào viết cho ra hồn Phủ chúa bao trùmmột không khí buồn tẻ, ảm đạm Cuối tác phẩm, chúa cha chết vì ăn chơi
đến kiệt sức, chúa con chết vì mắc một trong tứ chứng nan y Không khí phủchúa vẫn cứ âm u, bình lặng nh thế, cha thấy mầm mống của những biến
động
Thợng kinh kí sự là tác phẩm kí nghệ thuật đích thực đầu tiên của văn
học Việt Nam Nó đợc xem là tác phẩm thể hiện mẫu mực về kí sự hiệnthực, nghệ thuật viết, biết dùng chi tiết điển hình để nói về bản chất của sựviệc và con ngời một cách khách quan, từ ánh nến rọi trên khuôn mặt các côcung tần mĩ nữ đến cử chỉ và khẩu khí của chúa… Lê Hữu Trác hoàn toànlàm chủ ngòi bút, ông tự do tung hoành trên dòng sông cảm xúc của mình
Trang 14Cha bao giờ và cha có một tác phẩm nào mà cái tôi cá nhân của tác giả đợc
bộc lộ một cách mạnh mẽ, rõ ràng nh ở Thợng kinh kí sự Vì thế, khi tác
phẩm đã khép lại rồi, hình tợng Lãn Ông hiện lên sừng sững: một thi nhân,một ẩn sĩ thanh cao, một danh y lỗi lạc đã đặt mình ra ngoài vòng c ơng toả,nghe tới hai chữ “công danh” thì sợ đến “dựng cả tóc gáy” bởi mắc vào rồi
“trời cứu cũng không thoát đợc” Có thể nói, tác phẩm của Lê Hữu Trácchẳng vơng vấn gì đến văn học chức năng
Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái lại dựng lên đợc một bức
tranh rộng lớn, phức tạp và chân thực về xã hội nớc ta khoảng trên ba mơinăm cuối thế kỉ XVIII và mấy năm đầu thế kỉ XIX Mở đầu tác phẩm, tácgiả viết về sự lục đục trong phủ chúa: Trịnh Sâm mê Đặng Thị Huệ, bỏ contrởng lập con thứ Hoàng Đình Bảo về phe Đặng Thị Huệ Tiếp theo là việcTrịnh Tông dựa thế kiêu binh giết Hoàng Đình Bảo, tiêu diệt phe đối lập,truất ngôi Trịnh Cán Rồi kiêu binh lộng hành, Nguyễn Huệ trong Nam kéoquân ra Bắc dới danh nghĩa “phù Lê diệt Trịnh” đánh tan kiêu binh, đa LêChiêu Thống lên ngôi Khi Nguyễn Huệ kéo quân về Nam, Trịnh Bồng nhảy
ra dành ngôi chúa Mâu thuẫn vua Lê chúa Trịnh lại tái diễn Nguyễn HữuChỉnh đợc Nguyễn Huệ cử ra Bắc đánh đuổi Trịnh Bồng, nắm giữ chínhquyền Đàng Ngoài Vua Lê dựa thế Nguyễn Hữu Chỉnh đốt sạch cơ nghiệpnhà chúa Trịnh đã xây dựng trong ngót 200 năm Rồi Nguyễn Hữu Chỉnhlộng quyền, Nguyễn Huệ sai Vũ Văn Nhậm ra Bắc diệt Nguyễn Hữu Chỉnh
Lê Chiêu Thống hoảng sợ bỏ chạy, cho ngòi cầu cứu nhà Thanh Vua nhàThanh nhân cơ hội ấy cất quân sang xâm chiếm nớc ta Dới sự chỉ huy thiêntài của Nguyễn Huệ, quân đội nhà Thanh bị đánh tan tác, bỏ chạy Lê ChiêuThống cùng bọn quan lại tay chân cuốn gói chạy theo tàn quân của nhàThanh sang Trung Quốc, về sau chết luôn ở đó Nguyễn Huệ lên ngôi vua.Nhng triều đại Tây Sơn quá ngắn ngủi Sau khi Quang Trung mất, nội bộnhà Tây Sơn bị chia rẽ và suy yếu Nguyễn ánh nhờ thế lực ngoại viện trởlại tấn công, lật đổ nhà Tây Sơn, lập ra triều đại nhà Nguyễn Có thể nói
những sự kiện quan trọng của giai đoạn lịch sử này đều đợc Hoàng Lê nhất thống chí ghi chép lại Qua ngòi bút linh hoạt, sắc sảo của mình, các tác giả
đã tạo ra đợc cái không khí của lịch sử và đi sâu vào bản chất của lịch sử,nêu lên quá trình suy vong không gì cỡng lại đợc của chính quyền phongkiến lúc bấy giờ Tác phẩm là bức tranh sinh động về cảnh thối nát của triều
đình phong kiễn đơng thời Vua Lê chỉ ngồi làm vì, chúa Trịnh nắm quyền
Trang 15hành thì hôn mê, mù quáng, gây ra bè đảng trong phủ chúa Quan lại thì bấttài, bất lực, cơ hội và tuỳ thời, sẵn sàng làm bất cứ việc gì miễn là có lợi.Cuối cùng cái triều đình mục nát ấy bị quân đội Tây Sơn tiêu diệt cùng với
20 vạn quân xâm lợc nhà Thanh Nét tạo nên độc đáo đặc sắc cho Hoàng Lê nhất thống chí chính là tác phẩm viết về lịch sử- viết về những sự kiện, nhân
vật lịch sử có thật ở ngay thời kì mà tác giả đang sống và chứng kiến Tuybám sát các sự kiện đợc ghi chép nh trong các sách sử nhng với tài năngnghệ thuật sáng tạo: phá bỏ lối kể chuyện theo trình tự thời gian; biết chọnthời điểm nóng bỏng nhất, thời điểm bùng nổ những xung đột gay gắt, thời
điểm xảy ra những biến cố quyết định bớc ngoặt lịch sử để đa vào tác phẩm.Các tác giả họ Ngô cũng đã đa vào tác phẩm một không gian nghệ thuật cựckì rộng lớn trải dài khắp đất nớc Lần đầu tiên trong văn xuôi tự sự xuất hiệnmột tác phẩm phản ánh hiện thực trên không gian rộng lớn đến nh vậy Vớikhông gian hiện thực ấy, ngời cầm bút có điều kiện tung hoành, thâu tóm,lựa lọc các sự kiện lịch sử, các nhân vật lịch sử, các tính cách con ngời…vừa liên quan đến vận mệnh dân tộc vừa tiêu biểu cho thời đại Ngoài ra tácphẩm còn cho thấy khả năng lựa chọn các chi tiết điển hình, tiêu biểu, xâydựng nhân vật điển hình đa dạng, có cá tính và có tính khái quát cao đã làmcho những nhân vật lịch sử nh vua chúa quan lại, những danh nhân tên tuổitrong lịch sử hiện lên với những nét tính cách sinh động, điển hình nhất, từ
đó nhằm phơi bày rõ nét hiện thực xã hội Việt Nam lúc bấy giờ Chính điều
đó làm cho câu chuyện lịch sử vốn khô khan trở nên hấp dẫn, có tác độngsâu sắc và gợi nhiều suy ngẫm trong lòng ngời đọc
Nói tóm lại, loại hình văn xuôi tự sự ở thời cuối Lê đầu Nguyễn đạt đ ợcnhững thành tựu rực rỡ Nếu nh thành tựu nổi bật về văn xuôi tự sự ở nhữnggiai đoạn trớc là loại truyện chí quái và truyền kì, nghĩa là những truyện dângian có nhiều yếu tố hoang đờng, quái đản, tác giả ghi lại bằng văn xuôi Từ
Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái đến Thánh Tông di thảo … và cuối
cùng, đỉnh cao của nó là Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ Loại truyện này
đi từ chỗ có nhiều tính chất hoang đờng đến ít tính chất hoang đờng hơn; từchỗ ghi chép nhằm mục đích cúng tế, có tính chất phi văn học đến chỗ sángtác lại trên cơ sở h cấu của nhà văn nhằm mục đích văn học Loại truyệntruyền kì sang giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX còntiếp tục phát triển Song trong mấy mơi năm cuối thế kỉ XVIII đến nhữngnăm đầu XIX (thời Lê mạt Nguyễn sơ) thành tựu nổi bật của loại hình văn
Trang 16xuôi tự sự là loại văn kí sự Nó là sự biểu hiện của ý thức con ng ời thấykhông thể dửng dng trớc những vấn đề, những biến cố xẩy ra trong xã hội.
Sử học phong kiến chỉ ghi chép những việc làm của vua chúa, những việc
“quốc gia đại sự”, không chép chuyện hàng ngày, chuyện sinh hoạt, cáchviết lại khô khan, nên các nhà văn đã tìm đến loại văn kí sự Một tập bút kí
đặc sắc của nhà y học nổi tiếng Lê Hữu Trác với Thợng kinh kí sự ghi lại
những điều tai nghe mắt thấy và tâm trạng của ông trong chuyến ra Kinhthăm bệnh cho thế tử Trịnh Cán Hay tác phẩm kí sự về lịch sử tiêu biểu của
Ngô gia văn phái với tên gọi Hoàng Lê nhất thống chí ở đó nhà văn tiếp thu
truyền thống chép sử theo lối biên niên kết hợp với tiểu thuyết ch ơng hồicủa Trung Quốc, kết hợp chân lí lịch sử với chân lí nghệ thuật Văn xuôi tự
sự đến thời kì cuối Lê đầu Nguyễn mang đậm nội dung hiện thực, chất liệuhiện thực Các tác giả đều cố gắng bám sát hiện thực cuộc sống, đồng thờivơn lên mức độ hoàn thiện về phơng diện nghệ thuật
Nh vậy ở thời kì cuối Lê đầu Nguyễn, nền văn xuôi Việt Nam đã xuấthiện những tác phẩm giá trị, có tính chất phê phán hiện thực xã hội phongkiến thối nát, già cỗi…, nổi bật là tập đoàn phong kiến Lê- Trịnh Và từ trớctới nay, các nhà nghiên cứu dờng nh mới chỉ tập trung đi sâu tìm hiểu,
khẳng định đóng góp, giá trị của những tác phẩm có quy mô lớn nh Hoàng
Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái, Thợng kinh kí sự của Lê Hữu Trác
mà cha đi sâu nghiên cứu đóng góp, giá trị, nét đặc sắc riêng của những tác
phẩm văn xuôi tự sự có quy mô vừa và nhỏ nh Vũ trung tùy bút của Phạm
Đình Hổ, Tang thơng ngẫu lục của Phạm Đình Hổ và Nguyễn án… Tìmhiểu những tác phẩm này sẽ giúp chúng ta có cách nhìn toàn diện, đánh giá
đầy đủ hơn về thành tựu của văn xuôi tự sự Việt Nam thời cuối Lê đầuNguyễn trong nền văn học trung đại Vậy, cái tạo nên giá trị và nét đặc sắc
của Vũ trung tuỳ bút, Tang thơng ngẫu lục so với các tác phẩm văn xuôi tự
sự khác là gì? Đó là điều mà luận văn này đề cập đến, nhằm góp tiếng nóinhỏ bé trong việc hiểu và cảm tác phẩm một cách đầy đủ hơn
1.3 Vũ trung tuỳ bút v à Tang thơng ngẫu lục- những tác phẩm văn
xuôi tự sự đặc sắc của thời kỳ cuối Lê đầu Nguyễn
1.3.1 Tiểu sử của các tác giả
Về tác giả Phạm Đình Hổ (1768-1839)
Trang 17Phạm Đình Hổ có ba tên tự là Tùng Niên, Bỉnh Trực, Kiều Niên và mộttên hiệu là Đông Dã Tiều Ông sinh năm 1768, mất năm 1839 ngời làng ĐanLoan, huyện Đờng An, trấn Hải Dơng, nay là huyện Bình Giang, Hải Dơng,sau dời ra ở phờng Thái Cực, huyện Thọ Xơng, phủ Hoài Đức, Thăng Long,nay thuộc nội thành Hà Nội Ông là con một đại thần nhng mồ côi cha từ bé,sống nghèo khổ.
Phạm Đình Hổ ngay từ lúc còn bé đã ôm ấp cái mộng làm văn chơng.Năm lên 9 tuổi ông đã học sách Hán th, nhng sau đó cha mất, việc học hành
bê trễ, mãi đến khi đoạn tang ông mới tiếp tục học lại Cuối đời Chiêu Thống
ông có vào học ở trờng Quốc Tử Giám, thi đậu sinh đồ, nhng thời thế lúc bấygiờ không yên, ngai vàng của vua Lê bị lung lay, Lê Chiêu Thống cho ngờichạy sang cầu cứu nhà Thanh và quân Thanh nhân cơ hội đó kéo sang xâmchiếm nớc ta đã bị Nguyễn Huệ đánh cho tan tác Triều đình Lê- Trịnh sụp
đổ, nhà Tây Sơn lên cầm quyền… Suốt giai đoạn này Phạm Đình Hổ ở quêdạy học Đến khi Gia Long lên ngôi, dần dần khôi phục việc học hành thi cử,Phạm Đình Hổ có mang lều chõng đi thi
Mặc dù tài cao, học rộng, biết nhiều kinh sử nhng đi thi Phạm Đình Hổ
cứ bị rớt hoài Năm 1920, khi mới lên ngôi vua, Minh Mệnh nhân chuyếntuần du ra Bắc Thành đã vời Phạm Đình Hổ tới diện đối Biết đợc gia cảnhbần khốn của ông, vua Minh Mệnh lệnh cấp cho mỗi tháng gạo 2 phơng, tiền
2 quan, y theo lệ hơng cống nhậm chức hành tẩu ở lục bộ để Phạm Đình Hổ
có điều kiện ăn học chờ khoa thi tới sẽ ra ứng thí Dẫu Phạm Đình Hổ không
có học hàm, học vị gì nhng do ông có thực tài nên năm 1827 đợc vua MinhMệnh cử làm tế tửu Quốc tử giám, một chức vụ quan trọng đứng đầu trờngGiám kiêm Thị giảng học sĩ
Phạm Đình Hổ trớc tác không nhiều, cả văn xuôi lẫn thơ ca, cả văn học
chức năng lẫn văn học nghệ thuật Các tác phẩm chính của ông bao gồm: Vũ trung tuỳ bút, Tang thơng ngẫu lục (viết chung với Nguyễn án), Châu phong tạp thảo, Châu phong thi tập, Quán th tham khảo, Lê triều hội điền, Bang giao điểm lệ, An Nam chí, Ô Châu lục, Nhật dụng thờng đàm…38 Những sáng
tác ấy Phạm Đình Hổ thờng ghi lại đợc nhiều nét về hiện thực đen tối của xãhội nớc ta những năm cuối thế kỉ XVIII
Về tác giả Nguyễn án (1770-1835)
Trang 18Nguyễn án tự là Thanh Ngọc, hiệu là Kính Phủ và Ngu Hồ quê BắcNinh sau chuyển về thôn Du Lâm, Đông Ngàn (nay thuộc xã Mai Lâm, ĐôngAnh, Hà Nội) Ông nổi tiếng thông minh v ham học, xem rộng các sách.à chính luNguyễn án từng đậu hơng cống năm 1808, làm tri huyện huyện Tiên Minh(nay thuộc Hải Phòng) và sau đó nhân có việc riêng từ quan về.
Về sáng tác, ngoài Tang thơng ngẫu lục viết chung với Phạm Đình Hổ,
ông còn là tác giả của Phong lâm minh lại thi tập gồm khoảng 75 bài thơ đề
vịnh, tiễn tặng…
Nh vậy có thể nhận thấy cả hai tác giả cùng sống trong một giai đoạnlịch sử có nhiều biến động Nguyễn án và Phạm Đình Hổ sinh ra, lớn lên khitấn bi kịch của giai cấp phong kiến ở vào giai đoạn bi đát nhất Họ sớm ý hợptâm đầu, có nhiều nét tơng đồng về con đờng đời, khả năng văn chơng và nếpcảm, nếp nghĩ, tình cảm, thái độ đối với xã hội đơng thời Có lẽ ngoài chuyệntuổi tác, nhà cửa còn có một điều cơ bản là cùng chung số phận trớc các biến
cố lịch sử Cùng chứng kiến một triều đại mất hết kỉ cơng, luân thờng đảo
ng-ợc, phủ chúa trở thành nơi làm hề với đủ mặt chân dung…Chính vì thế từ vuachúa, quan lại, danh nhân cho đến những con ngời bình thờng đều đã trở
thành đối tợng phản ánh trong sáng tác của hai tác giả, đặc biệt ở trong Vũ trung tuỳ bút và Tang thơng ngẫu lục Xét trong dòng chảy của văn học trung
đại Việt Nam nói chung, văn xuôi tự sự cuối Lê đầu Nguyễn nói riêng không
có cuốn sách nào mà hoàn cảnh sống của hai tác giả lại gần giống nhau vàhình thức tự sự trong tác phẩm lại gần gũi, liên quan với nhau đến nh thế
1.3.2 Sự đa dạng về bút pháp tự sự
Văn xuôi tự sự thời kì cuối Lê đầu Nguyễn nếu nh các tác phẩm Tiên ớng công niên phả lục của Trần Tiến, Thợng kinh kí sự của Lê Hữu Trác, Bắc hành tùng kí của Lê Quýnh… mở ra lối viết kí dài hơi, toàn tác phẩm là một
t-thiên thì Vũ trung tuỳ bút của Phạm Đình Hổ, Tang thơng ngẫu lục của Phạm
Đình Hổ và Nguyễn án lại mở ra lối kí đa dạng về bút pháp Tác phẩm đợctriển khai thành nhiều đề mục dới dạng những bài văn ngắn hết sức phóngtúng, tự do
Khác với Tiên tớng công niên phả lục, cả tác phẩm tập trung đi vào kể về
cuộc đời của thân phụ mình- Diệu quận công Trần Cảnh Mở đầu là lời tựa,Trần Tiến viết những suy nghĩ của bản thân đối với ngời cha đáng kính và lí
Trang 19do làm niên phả; phần thứ hai thuật lại cuộc đời Trần Cảnh từ lúc lọt lòng tớilúc từ giã cõi đời; phần thứ ba su tập một số lời giáo huấn và một số di văncủa Trần Cảnh ở đây Trần Tiến không chỉ đơn thuần ghi lại hành tích mộtcon ngời có thật, mà chủ yếu qua cuộc đời con ngời đó, muốn bộc lộ trực tiếp
sự nhận thức cũng nh những cảm xúc về thời thế của bản thân mình Tácphẩm là nỗi băn khoăn, trăn trở mẫn thế u thời: “Bấy giờ kỉ cơng bại hoại, uylệnh không thiêng, trong kinh ngoài trấn binh kiêu tớng nhác, đoái trông mờmịt chỉ có một thân” Với cách viết nh vậy, Trần Tiến đã tách tác phẩm củamình khỏi lối viết truyện Ngời sáng tác trở thành nhân vật trung tâm trongtác phẩm, để từ đấy mọi sự kiện đợc quan sát, đánh giá, miêu tả dới điểm
nhìn trực diện chủ quan của tác giả Các tác phẩm Vũ trung tuỳ bút, Tang
th-ơng ngẫu lục lại đi vào thuật chuyện, kể ngời, khảo cứu… của hiện thực đời
sống phong phú hết sức tự nhiên
Vậy tại sao các tác giả lại đặt tên cho tác phẩm, đứa con tinh thần của
mình là Vũ trung tuỳ bút, Tang thơng ngẫu lục? Thiết nghĩ tên gọi ấy cho
thấy nét riêng của loại hình văn học trung đại: nhìn bề ngoài từ bề mặt hìnhthức văn bản tác phẩm, dễ thấy tên thể loại đợc nêu ngay từ đầu đề tác phẩm-
điều mà B.L.Ríptin từng khái quát về thể loại văn học phơng Đông: “Thể loạitrong văn học trung đại là một phạm trù chủ đạo đợc thể hiện trong cách th-
ờng xuyên nêu bật nó lên ở ngay tên gọi tác phẩm” Đó là thể tuỳ bút, ngẫu lục những thể văn xuôi thuộc loại kí Về quy mô, nó không có độ dài nh tiểu
thuyết, hình thức biểu hiện tơng đối tự do; thể văn này dùng để phản ánhnhững vấn đề có tính chất tự sự hoặc bình luận
Vũ trung tùy bút, tên gọi thể hiện một lối nói khiêm nhờng nhng không
hoàn toàn mang nghĩa đen: “Viết một cách tuỳ hứng theo ngòi bút trong lúctrời ma” Tác giả ở đây dờng nh muốn nói với ngời đọc rằng: tôi viết tácphẩm văn xuôi này một cách tơng đối tự do vào lúc rỗi rãi (trời ma) khôngbiết làm gì cả Tác phẩm là tập tùy bút đặc sắc ghi chép những điều tai nghemắt thấy, hoặc theo trí nhớ, hoặc theo lời kể của ngời khác, hoặc khảo cứuqua sách vở… Cuốn sách đã tái hiện một cách sinh động, hấp dẫn hiện thực
đen tối lịch sử nớc ta thời kì đó Đồng thời cung cấp những kiến thức về vănhoá truyền thống, về phong tục, về địa lí, những danh lam thắng cảnh, về xãhội- lịch sử
Trang 20Tang thơng ngẫu lục, đầu đề này có thể đợc diễn nôm với nghĩa “Tình
cờ chép về những cuộc dâu bể” (tức là những việc biến đổi) Tên gọi ấy cũnggợi lên đợc cá tính, tâm hồn của các tác giả: giản dị, tự khiêm, tình cờ ghichép chuyện bãi bể nơng dâu – những chuyện đời thờng, tai nghe mắt thấy
Dĩ nhiên ngời đọc cũng không hoàn toàn hiểu theo nghĩa gốc: “Tình cờ chép
về những cuộc dâu bể” mà đằng sau vẻ tình cờ ấy là sự đau đáu, trở trăn củacác tác giả về thế sự, về hiện thực xã hội phong kiến Việt Nam Phó bảng GiáSơn Kiều Oánh Mậu từng nhận xét khi viết lời giới thiệu tác phẩm Trong bài
có đoạn:
“Từ Lí, Trần, Lê, Trịnh đến nay, trên dới mấy trăm năm, có những điều quốc sử cha ghi, dã sử cha chép, hai ông đều thu cả vào trong cõi mắt tang thơng Nếu hai ông hết thảy đều cho là việc tang thơng mà quên đi, thì những chuyện ấy phỏng đợc mấy lâu mà mai một mất May mà lấy ngòi bút tang th-
ơng biên chép, nên nó còn là cánh bè chở bến mê, ngọn đèn soi nhà tối, đặt tên là Tang thơng ngẫu lục, ý nghĩa có thể nhận” [44;249].
Các tác giả hai cuốn sách dờng nh muốn thông báo rằng mình không làmcông việc của ngời sáng tác văn chơng Nhng đặt trong dòng chảy của vănhọc trung đại Việt Nam, của văn xuôi tự sự thời kì Lê mạt Nguyễn sơ nó thật
sự lại là “những tác phẩm đặc biệt của thời kì ấy” [49;682] Cả hai cho thấy
đợc cá tính tự do, phóng túng của ngòi bút khi đa cảm xúc chảy trôi theo các
sự việc của thế sự đơng thời, gặp cái gì chép cái ấy Nó thật sự không phải làvăn học chức năng mà là văn học nghệ thuật Những tác phẩm văn chơng ấycác tác giả đã kết hợp ở đó nhiều bút pháp nghệ thuật: du ký, ký phong cảnh,
tự thuật, khảo cứu, kể ngời, thuật chuyện… đậm đà chất ký mà không lạcsang lĩnh vực văn học chức năng
Ngay từ đầu tác phẩm Vũ trung tuỳ bút, Phạm Đình Hổ đã đa chúng ta
đến với một thiên viết theo lối “tự thuật” Có thể thấy, thế kỉ XVIII hội đủ cácyếu tố văn hoá, xã hội, t tởng, văn học… khiến cho loại hình “tự thuật” ra
đời Đó là lúc ngời cầm bút ý thức về mình một cách tự giác ở Phạm Đình
Hổ cũng vậy, với bài “Tự thuật” ngắn gọn, tác giả viết về con ngời mình,
cuộc đời cũng nh cá tính của bản thân đợc kể qua các sự kiện không theo thứ
tự thời gian Đằng sau mỗi sự kiện là tâm trạng, thái độ của tác giả trớc các sựkiện ấy
Trang 21Mở đầu tác giả thuật lại gia cảnh và thuở ấu thơ cha đi học:
“ Ta sinh năm Mậu Tý (1768) niên hiệu Cảnh Hng Lúc bấy giờ, đấng tiên đại phu ta làm Hiến sát tỉnh Nam mới về Bà tiên cung nhân ta mới hoài thai ta mà vẫn ăn uống đi lại nh thờng, đến bảy tám tháng cha biết là có thai Năm ta lên sáu tuổi, đấng tiên đại phu ta mới thăng làm Tuần phủ Sơn Tây, bổng lộc đã d dụ, song những cách chơi cây, đá, hoa, chim, ta không để bụng ham mê Bà bảo mẫu họ Hoàng thờng hỏi ta: Về sau có chí muốn gì“
không? Ta nói: Làm ng” “ ời con trai phải lập thân hành đạo, đó là phận sự của mình rồi, không phải nói nữa Sau này trởng thành mà đợc lấy văn thơ nổi tiếng ở đời để cho ngời ta biết là con cháu nhà nọ, nhà kia, chí tôi chỉ muốn nh thế mà thôi Bà bảo mẫu nghe ta nói thế, lại mách cho đấng tiên”
đại phu và bà cung nhân ta biết, các vị đều ban khen cả Thấm thoắt hơn hai mơi năm trời mà lời dạy bảo của cha mẹ vẫn văng vẳng bên tai Nay đến bớc
đờng cùng lận đận, biết còn đội gạo vì ai, chỉ than thở cùng trời xanh, chứ biết gửi lòng mình vào đâu nữa?”
Đoạn trích cho thấy gia cảnh của Phạm Đình Hổ từ nhỏ đợc sống sungtúc, cha làm quan Tuần phủ, “bổng lộc d dụ nhiều” Tuy nhiên, tính cách tácgiả đã hình thành từ bé, có thể nói là tính trời: không ỷ thế thần, không ănchơi nh những con nhà giàu khác Thủa đó ở kinh đô Thăng Long đang cóphong trào đua nhau chơi cây cảnh, làm non bộ, nuôi chim lạ song với tác giả
“những cách chơi cây, đá, hoa, chim, ta không để bụng ham mê” Từ nhỏ,Phạm Đình Hổ đã ý thức đợc trách nhiệm của bản thân “làm ngời con traiphải lập thân hành đạo” và coi đó là “phận sự” của mình Con đờng lập thânhành đạo là “lấy văn thơ nổi tiếng ở đời” Chỉ chừng ấy nó đã cho thấy đợcphẩm chất, khí tiết làm ngời cao đẹp của tác giả đối với cuộc đời mình Vàkhi thuật về tuổi thơ cha đi học, một tâm trạng bao trùm là cảm giác thời giantrôi chảy quá nhanh “thấm thoắt hơn hai mơi năm trời” và hối tiếc rằng mìnhkhông còn cách nào phụng dỡng cha mẹ đợc nữa vì cha mẹ đã sớm qua đời
“biết còn đội gạo vì ai” Với Phạm Đình Hổ tất cả những kỉ niệm thuở ấu thơ
đều gắn liền với cha mẹ, với bà nhũ mẫu và những lời dạy bảo Những lời nóicủa họ lúc nào cũng “văng vẳng bên tai” Để rồi khi nghĩ về tuổi thơ, tác giảxót xa, hối tiếc bởi “nay đến bớc đờng cùng lận đận” đã thực sự làm xúc độngngời đọc
Trang 22Tiếp đó tác giả thuật lại những điều thích và không thích của bản thânthời niên thiếu Với ông, điều thích nhất là “cái mũ trại quan, dẫu cấm khôngcho chơi nghịch cũng không thể đợc” Còn điều không thích gồm : Sáchtruyện nôm, trò thanh sắc, nghề cờ bạc “bịt tai lại không muốn nghe” Bởi vì
“Ta đã học vỡ đợc ít kinh sử, thế mà chữ Nôm ta không biết hết, câu ca, bản
đàn thoảng qua ngoài rồi lại lờ mờ không hiểu gì cả” làm cho tác giả khônghào hứng với chúng Phạm Đình Hổ thuật lại việc mình không thích đánh cờ:
“Còn nh những trò chơi cờ bạc, phán thán thì ta vốn không thích, đôi lúc đùa,thử tập chơi, nhng ít lâu cũng chẳng hiểu cái thuật nó ra thế nào” Chơi cờvốn là một thú chơi thanh cao của các nho gia và thông thờng, cờ gắn vớinhững thế công, thủ, thiên về chính trị và quân sự Việc không thích chơi cờcho thấy chí hớng đam mê văn chơng của tác giả Và bên cạnh điều mìnhthích, không thích, tác giả còn thuật lại tật xấu của mình là “nghiện chè tàu”.Tuy tiền thiếu nhng “các thứ chè tùng quế thơm tho, thứ nào cũng mua nếmqua cả”.Vậy nhà văn thuật lại điều này có ý nghĩa gì? Phải chăng nhằm thôngbáo cho mọi ngời thấy tính cách của bản thân: không thích đua đòi, khôngmuốn mất thời gian vào việc chơi bời kể cả việc chơi cờ mà nhà nho xa coi làmột thú thanh tao Để nói lên mình không muốn đầu t thời gian vào việc chơibời, tác giả không nói thẳng là do mình không thích, mà “đổ lỗi” cho t chất
“trời cho có phần mờ tối không thể cỡng mà học đợc” Đấy là cách nói khôngkhoe khoang mà vẫn bộc lộ tính cách rõ ràng, mới nghe tởng nh khiêm nhờngnhng thật ra, tác giả rất “tự hào” về “phần mờ tối” của mình Cùng với lời
“nhận xét” về t chất mình, tác giả còn “tự phê” bản thân “bốn điều răn ấy đãphạm mất ba” Ba điều mà tác giả cho rằng mình phạm phải là chơi cờ, uốngchè, uống rợu, chỉ có đánh bạc là không ham Thực ra, chơi cờ (nhng khôngham), uống rợu (nhng không nghiện), uống trà (tuy có nghiện) đều là nhữngthú tao nhã của bậc văn nhân Trong ba điều “phạm” ấy, Phạm Đình Hổ chỉnghiện có trà mà nghiện trà là thứ đợc ngời trung đại coi là cao quý, đángkhen Bởi vậy, về hình thức, tác giả tự phê nhng thực ra lại tâm đắc về đứchạnh của mình Phê để mà khen, khen lại không khen trực tiếp, đấy chính lànét riêng trong bút pháp viết kí của Phạm Đình Hổ
Bằng bút pháp kí tự thuật, tác giả còn thuật lại chuyện học hành củamình Phạm Đình Hổ cũng nh thế hệ thanh thiếu niên thủơ đó, học Hán th rồihọc đến các sách kinh điển nho gia Ngoài kinh và sử, tác giả còn học rộngcác sách khác: thơ cổ, sách cổ, “không lúc nào rời tay”
Trang 23Nơi học của tác giả qua lời tự thuật là nơi con ngời hoà với thiên nhiên.Nhà thì rộng rãi, giàu sang Nhà trung đờng có bảy gian, nhà khách năm gian,phía trớc là ao sen hồng, sen trắng, quanh ao trồng liễu xanh, cam quýt; giápnhà trồng hoa nhài, hoa hồng, hoa ngâu, hoa mẫu đơn Quang cảnh khoáng
đạt, yên tĩnh, đẹp đẽ, nên thơ, phù hợp với tâm hồn cao khiết của một nhànho Không những thế, gia đình của Phạm Đình Hổ còn có truyền thống họchành Nhà sách “chồng chất mấy giá sách, tuỳ ý muốn đọc quyển nào thì
đọc” Có thể nói, cuộc sống ở nơi học là một thế giới riêng tách khỏi cuộcsống ồn ào, bụi bặm và mu sinh Tuy rằng sách không lúc nào rời tay nhngtác giả biết hoà với thiên nhiên và vẫn giữ đợc chất hồn nhiên tuổi thơ của kẻcòn cắp sách tới trờng: cũng ngủ ngày, cũng lắng nghe tiếng hát, tiếng kènthổi ti toe của lũ mục đồng và mơ màng cảm giác nh “tiếng ca thuyền chài
ánh ỏi ở đầu bến Nhợc Gia”
Hình tợng Phạm Đình Hổ, một cậu bé con nhà sang trọng, có nền nếp và
truyền thống giáo dục nổi bật lên trong thiên Tự thuật Ngay từ thuở ấu thơ,
cậu đã có thiên hớng muốn nổi danh với đời bằng thơ văn, lánh xa những tròchơi có hại đến nhân phẩm, làm mất thời giờ Cậu bé Phạm Đình Hổ cũngnghịch ngợm, chơi bời, cũng có một tuổi thơ nh bao trẻ khác thời bấy giờ.Song cậu ghét cờ bạc, chỉ thích đọc sách Cậu đợc đào tạo theo khuôn mẫucủa các nho gia: học sử, học kinh, học thơ Đờng… Tuy không lúc nào sáchrời tay nhng cậu bé Phạm Đình Hổ vẫn sống một cách hài hoà và đã có mộtthời thơ ấu đẹp đẽ, khó quyên Bằng những lời tự thuật về bản thân, Phạm
Đình Hổ đã cho ngời đọc thấy đợc hình mẫu một nhà nho cuối thế kỉ XVIII
đầu thế kỉ XIX
Bút pháp nghệ thuật ở Vũ trung tuỳ bút và Tang thơng ngẫu lục không dừng lại ở kí tự thuật Ta thấy trong đó có thiên lại viết bằng bút pháp kí phong cảnh Nói đến các bài kí phong cảnh ở hai tác phẩm này thành công hơn cả là các thiên Phật Tích sơn kí của Tùng Niên và Tiên Tích tự của Kính
Phủ Đánh giá giá trị của hai thiên kí phong cảnh này, ông Phùng Dực Bằng
Sô trong lời tựa sách Tang thơng ngẫu lục nhận xét rằng: “Đó là những bài kí,
“trong kí có tranh”, thực đáng đợc truyền tụng nh là Đào Hoa nguyên kí của
Đào Uyên Minh thời Tấn”[28;55]
Đúng vậy, đọc Phật Tích sơn kí tác giả đa ngời đọc đến với núi Phật Tích
trong sự quan sát, miêu tả, cảm nhận của Tùng Niên- Phạm Đình Hổ nhân
Trang 24chuyến đi chơi cùng các bác Nguyễn Nghiêu Minh, Trần Vấn Chi, Nhã QuếNam, Hoàng Hi Đỗ vào ngày 12 tháng 03 năm 1796 Dới cặp mắt của tác giả,ngời nghệ sỹ có sở thích thởng ngoạn cảnh đẹp để cảm nhận, khám phá danhthắng của đất nớc Núi Phật Tích nhìn từ đằng xa trông thấy “sắc núi xanhxanh”, núi ở giáp ranh giữa hai làng Thiên Phúc, Thuỵ Khuê Đó là nơi chứng
đạo của Từ Đạo Hạnh đời Lí Phía tả núi là ngọn Hàm Long, hình thế caongất và bay bớm, có ao Long Trì ôm lấy; một cái gò dựa vào ngọn ấy là chính
điện chùa Thiên Phúc
Với cách miêu tả tỉ mỉ, dờng nh Tùng Niên không bỏ sót một chi tiết nào
về cảnh quan của núi Phật Tích để đem lại cho ngời đọc một cái nhìn toàncảnh Trên núi Phật Tích có chùa Thiên Phúc, có mả và miếu thờ Lí Nam Đế,hang Bồ Cốc, cầu Nguyệt Tiên, chùa Phật Tích, chỏm Chợ Trời, chùa Bối
Am… Tất cả đều đợc tác giả ghi lại:
“Giờ Tỵ, qua cầu Nguyệt Tiên, lần bậc lên núi Trên lng núi có bia, khắc bài thơ của Chúa Định Vơng (Trịnh Căn) Lên mấy bậc nữa đến chùa Phật Tích, nơI thiền s đốt hơng trì tụng khi trớc Trụ trì chùa này nguyên là một viên nội thần của tiên triều, thấy khách đến, thiết đãi ân cần bằng những món
ăn trong núi Trớc chùa đi ba bậc đến vờn trúc, nay không có trúc nữa, trong vờn dựng bốn cây tháp Động Phật Tích ở sau chùa, ngoài động không đến nỗi tối lắm, có bàn thờ Sơn thần bên phía tả Một dòng suối ở khe đá từ trên núi chảy xuống, miệng suối có đầu rồng trỗi lên, đầy về mùa hạ mà cạn về mùa đông Những tấm bia, mài đá tạc thành, lớn nhỏ rất nhiều, nét chữ mờ,
đều là bia từ hồi Trung hng trở về sau cả Khoảng giữa động, vách đá đứng sững Chồng đá trèo lên độ một trợng đến cửa động trong, đi vào phải bò, gọi
là hang Cắc Cớ Động trong ngang dọc ớc độ một trợng, Thiền s trút xác ở
đó, vết đầu, vết chân trên vách đá đến nay hãy còn, ngời ta thờng lấy son rập
in Cạnh đấy là pho tợng của Thiền s …38”
Với đoạn trích này, Tùng Niên đã thể hiện đợc bút lực của mình, một sựkết hợp giữa cảm xúc và trí tuệ để miêu tả, tìm hiểu đến tận “ngọn nguồn lạchsông” về những chi tiết liên quan đến danh thắng
Nếu nh Phật Tích sơn kí (Bài kí chơi núi Phật Tích) Tùng Niên đa ngời
đọc đến với phong cảnh của núi Phật Tích ở đó có núi, đền, chùa và đợcquan sát, cảm nhận theo cuộc hành trình của tác giả trong cuộc dạo chơi thì
Trang 25Tiên Tích tự (Chùa Tiên Tích), Kính Phủ- Nguyễn án lại đa ngời đọc đến với
phong cảnh chùa Tiên Tích:
“Chùa Tiên Tích phía nam Kinh thành, đời chúa Trịnh có sửa chữa lại.Ngời ở Kinh thành khuân tre gỗ, vác xẻng cuốc, bôn tẩu ở đờng sá mấy năm,công việc mới xong Chùa rộng lớn, nóc chồng, cửa kép Sân bày tám miếng
đá vuông, cao chừng hai thớc, trên bày những chậu lan, gió thổi hây hây,
h-ơng đa thơm phức Chùa đàng sau dựa vào đờng cái, đàng trớc trông xuốngmột con ngòi nớc trong Cây tháp ở phía hữu, cao chín tầng, bốn góc đeochuông, trang sức bằng những nét vàng xanh rực rỡ Từ đàng phía tây đi vềphía nam vào đến chùa, đờng đi quanh co, lát đá cả Con ngòi ngoằn ngèochảy ra một cài hồ Hồ sâu mà rộng, nớc rất trong, mùa hè hoa sen nở nhiều,mùi hơng bay xa mấy dặm Men bờ hồ vào đến bờ ngòi, chỗ cây chỗ đá chennhau Phía trớc chùa, về phía tả, chỗ nớc ngòi chảy thông ra hồ, có bắc cầu,dới cầu ghe thuyền đi lại đợc Trên cầu dựng thành mái nhà, khắc vẩy rồnglên trên những tấm ván Cạnh cầu mấy chục bớc, phía nam ngòi và phía bắc
hồ, dựng cái ly cung để làm chỗ vua Chúa ngự chơi, trồng sáu bảy cây muỗm,cây trắc và cây thông, cành lá chi chít đến nỗi ánh mặt trời không lọt xuống
đợc Dới đất bày trâu đá, hơu đá, mỗi thứ một con, sừng châu vào nhau, chếtạo rất tinh tế sinh động”
Bằng cảm quan của nhà văn, chùa Tiên Tích đợc hiện lên thật cụ thể Tácgiả dẫn dắt ngời đọc đến với một danh thắng của đất nớc Chùa Tiên Tíchkhông chỉ rộng lớn, kiến trúc đặc biệt với “nóc chồng, cửa kép”, có cây thápcao chín tầng mà còn là chốn thanh tịnh thấm đẫm màu thiền Chùa có “sânbày tám miếng đá vuông, trên bày những chậu lan, gió thổi hây hây hơng đathơm phức”… Tất cả tạo nên vẻ đẹp, sự hấp dẫn của một danh thắng Có thể
nói, cùng với Phật tích sơn kí, Tiên Tích tự thật sự là những bài kí phong cảnh
hay của văn xuôi tự sự trung đại
Bút pháp nghệ thuật của Vũ trung tuỳ bút và Tang thơng ngẫu lục so với
các tác phẩm văn xuôi tự sự cùng thời quả thật nó rất đa dạng, phong phú.Với hình thức dới dạng những bài văn ngắn, theo những đề mục khác nhaucho phép tác giả tự do, linh hoạt theo dòng cảm xúc của mình ở trong hai tác
phẩm có thiên tác giả lại viết theo kiểu kí khảo cứu Đặc biệt là ở trong Vũ trung tuỳ bút, “tác giả khảo từ hoa cỏ đến trang phục, từ chữ viết đến thể văn,
thể thơ, từ điềm kì dị đến phép thi cử, khảo từ nhân vật đến quỷ thần, tang lễ,
Trang 26cới xin, đất đai phong vật, nhân tình thế thái… Điều gì ông cũng trình bàycặn kẽ, nói có sách, mách có chứng và so sánh với thực tại” [28;55] Khi nói
đến kí khảo cứu tiêu biểu có bài Hoa thảo trong Vũ trung tuỳ bút Mở đầu tác
giả viết:
Đời x
“ a gọi lan là vơng giả hơng, vì hoa lan thanh nhã bất phàm; những thứ hoa kì quái dễ làm cho ngời ta say mê không thể ví với nó đợc Đời xa còn có những tên cửu uyển lan, song nay không thể biết hết Hãy cứ sở kiến
mà bàn, thì những thứ thạch lan, thanh lan cũng hiếm có, mà thứ tố lan cũng không dễ mua Đông lan là một giống huệ đời xa, cái thứ ta thờng gọi là hoa huệ tức là thứ cỏ huệ ở ngoài đồng vậy Còn thứ kiến lan, thì cánh hoa ngoài xanh trong trắng, hoa điểm sắc đỏ, lại có lốm đốm lỡi gà nh lông gà gô, giống ấy gọi là giống lan ngọc quế”.
Phạm Đình Hổ đi vào khảo sát hoa lan, tác giả truy tìm, giải thích cáctên gọi của các giống hoa lan khác nhau Theo ông, sở dĩ gọi lan là loại hơngcủa vơng giả là bởi vì “Xa kia, ông Khuất Nguyên đi trên bờ đầm vừa hát vừakết hoa lan để đeo; đức Khổng Phu Tử dừng xe trớc một hẻm núi, cũng đànhát thơng cho cây lan có vẻ thơm tho mà ngời đời không ai hay biết, từ đóhoa lan mới nổi tiếng là quốc hơng”
Tác giả cũng đi vào khảo cứu cách trồng lan, cách thởng thức hơng lancủa ngời đời: “Trồng nó phải để ý giữ gìn trân trọng: nào là trồng vào chậu sứTrung Hoa, bón bằng một thứ bùn đã phơi khô đốt ủ đi rồi, hoặc lấy những bãsừng hơu, bã chè khô phủ lên trên gốc, rồi lấy thứ nớc ngâm cá ơn tới cho nó;mỗi ngày phải cắt lá úa, rửa lá tơi vài ba lần Nó đâm lá xanh tốt, có khi dài
đến hai thớc, mỗi dò có đến vài mơi cái hoa; lúc thởng hoa thì lấy hơng tùngchi để trớc gió mà thởng ngoạn” Và dõi theo cách khảo cứu của tác giả vềvấn đề này ngời đọc dễ dàng nhận thấy Phạm Đình Hổ chẳng những không
đồng tình mà còn có ý chê trách, biện bác: “Ôi! nh thế có phải là bản sắc củahoa đâu Đó chỉ là lấy cái màu sắc rực rỡ, vẻ nùng diễm mà thởng lan, chứkhông biết lấy cái phẩm cách của lan mà thởng lan”; “Nếu bảo đất bùn là đất
ủ đi rồi, nớc cá đã ngâm lâu rồi thì không còn có xú vị nữa, việc gì mà hại
đến lan, nh thế là dùng cái khí vị bại hoại để giúp cho cây cỏ phát sinh, thực
là trèo cây tìm cá, không thể đợc” Khi khảo cứu về hoa lan, tác giả có phát
hiện thú vị về cách chơi lan của ngời đời nay: “Ta mới hay ngời đời chơi lanchỉ biết thởng thức bằng mắt, chứ không biết thởng thức bằng mũi, chỉ biết đ-
Trang 27ợc cái hình của hoa, chứ không biết đợc cái thần của hoa” Để rồi từ đó Phạm
Đình Hổ đi vào bình luận: “Chậu sành nào phải là nơi sơn cốc, phờng phốnào phải chốn thôn quê, thế mà hoa lan trồng đợc nơi u tĩnh thì đã phát ra kì
hơng nh thế”.Với Hoa thảo cùng với các thiên đợc viết dới hình thức khảo
cứu nhng thực chất không lạc sang lĩnh vực văn học chức năng, bởi khảo chỉ
là cái cớ để nói về hiện tại và nói về hiện tại mới là chủ yếu Nói về hoa lannhng Phạm Đình Hổ không chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu các giống lan, cáchtrồng lan, cách thởng ngoạn hơng sắc của lan mà sâu xa hơn tác giả muốncon ngời hãy tôn trọng thiên tính của loài vật, giữ lấy cái thiên chân vốn cócủa chúng, đừng tỉa tót, uốn éo phá đi tính tự nhiên của loài vật
Ngoài ra, nói Vũ trung tuỳ bút và Tang thơng ngẫu lục đa dạng về bút
pháp cũng có nghĩa là các tác giả không lệ thuộc vào tính hệ thống, kết cấu,thậm chí đôi khi không cần cả mạch lạc Nh ở trên chúng ta đã thấy, cả haitác phẩm đợc triển khai thành nhiều thiên khác nhau và gắn liền với các đềmục Các thiên cũng không đồng đều nhau về độ dài ngắn Có thiên tác giảviết đến năm, bảy trang; có cái tác giả chỉ viết mấy dòng Có thiên trình bàytơng đối cặn kẽ, có cái chỉ ghi vắn tắt một vài chi tiết Đơng tự thuật tác giả
có thể chuyển sang khảo cứu, đơng viết về danh lam thắng cảnh lại có thểchuyển sang thuật chuyện, kể ngời… Cả hai tác giả đã giành nhiều thiên đểviết về những câu chuyện xảy ra về cuối đời Lê hay về những con ngòi ítnhiều để lại những ấn tợng, cảm xúc mà nhà văn muốn đem lại cho ngời đọc.Chẳng hạn câu chuyện về ông Nguyễn Bá Dơng của Tùng Niên Có thể xem
đây là một thiên tiêu biểu cho bút pháp kí ngời, kí việc trong Tang thơng ngẫu lục Một mặt Tùng Niên giới thiệu về tên tuổi, quê quán, gia thế, tính
cách của Nguyễn Bá Dơng mặt khác, tác giả tập trung đi vào câu chuyệnNguyễn Bá Dơng bị một ngời đàn bà đòi nợ và lại đợc một ngời con gái kháctrả hộ để rồi từ đó Bá Dơng tu thân, chăm lo đèn sách, quyết tâm đỗ đạt để
đáp lại tấm lòng cao đẹp của ngời con gái đã giúp đỡ mình trong cảnh khốnkhó
Nguyễn Bá Dơng, ngời làng Nguyên Xá, huyện Thần Khê Lúc cha đỗ
đạt làm quan là con ngời có tính cách tuệch toạc, thích uống rợu Nhà nghèokiết nhng vẫn sống một cách thản nhiên Bá Dơng nghèo đến nỗi chỉ có mộttấm áo che thân chứ không có một thứ gì đáng giá.Sau khi đỗ đạt làm quantrong triều, ông lại có tiếng ngay thẳng Chuyện kể rằng, khi giữ việc hình án
Trang 28ái Châu, có viên án trấn nọ, cậy thế chính cung Đặng Phi, làm việc càn bậy.
Ông bắt trói, bảo phải nộp số tiền ăn đút, nếu không sẽ đánh trợng cho chết
(Ông Nguyễn Bá Dơng- Tang thơng ngẫu lục).
Vậy vì sao Nguyễn Bá Dơng, một con ngời “nghèo kiết”, “tuệch toạc” lại
có thể trở thành một ông Tiến sĩ và làm quan ngay thẳng trong triều? Thiếtnghĩ tất cả đều bắt nguồn từ tình tiết hết sức thú vị đợc Tùng Niên kể lại trongcâu chuyện:
“Nguyễn Bá Dơng vì nghèo nên thờng uống rợu chịu của ngời đàn bà
Kẻ Mơ, nợ đến chín tiền, bị ngời đàn bà đón đờng lột áo May mắn thay, cùng đi với ngời đàn bà ấy có cô con gái cũng ngời Kẻ Mơ Cô đặt gánh can ngăn ngời đàn bà kia không đợc, tức mình liền cởi tiền lng ra trả hộ, rồi quảy gánh đi Ông đuổi theo tạ ơn, hỏi họ tên, cô xua tay nói:
- Tôi thấy cậu là học trò, vì rợu chè mà bị xấu hổ với một ngời đàn bà nên không đành lòng mà trả hộ, không có ý mong đền báo”
Phải chăng chính vì lời nói của ngời con gái ấy đã đánh thức lòng tựtrọng cũng nh danh dự của con ngời sống ở trên cõi đời để rồi từ đó Bá Dơng
có những bớc chuyển tích cực: chăm lo đèn sách, thực hiện ớc mơ lập nêncông danh sự nghiệp Cuối cùng ông cũng toại nguyện, lấy lại danh dự chobản thân Nguyễn Bá Dơng thi đậu tiến sĩ và niềm vui nối tiếp niềm vui, ôngcho ngòi tìm lại ngời con gái khi xa rồi cới làm vợ
Nói tóm lại Vũ trung tuỳ bút, Tang thơng ngẫu lục là những tác phẩm văn
xuôi tự sự đặc sắc của văn học trung đại Việt Nam thời kì cuối Lê đầuNguyễn Tác phẩm chính là sự minh chứng cho tính phong phú, đa dạng củabút pháp tự sự Nhà văn có thể viết theo kiểu tự thuật, khảo cứu, ghi ngời, ghiviệc…Tất cả đều xuất phát từ cá tính tự do, phóng túng và tấm lòng, vốn
sống, tài năng của ngời nghệ sỹ Đến Vũ trung tuỳ bút, Tang thơng ngẫu lục
văn xuôi tự sự Việt Nam trung đại đã đạt tới đỉnh cao, nở rộ và đa dạng vềhình thức
Tiểu kết
Qua những phân tích trên, chúng tôi nhận thấy rằng bối cảnh lịch sử xãhội nớc ta thời kì cuối Lê đầu Nguyễn là sự khủng hoảng, bế tắc của nhà nớcphong kiến và sự sụp đổ của ý thức hệ thống trị Thời kì ấy, trong lịch sử của
Trang 29dân tộc ta là một thời kì loạn lạc; các cuộc chiến tranh cứ kế tiếp nhau khôngdừng, hết cuộc Tây Sơn đánh chúa Nguyễn, đánh chúa Trịnh, đánh quân Tàu,lại đến cuộc đức Nguyễn ánh đánh nhà Tây Sơn Hoàn cảnh lịch sử xã hội
nh thế tác động đến đời sống văn học Xét riêng loại hình văn xuôi tự sự cóthể nhận thấy các tác phẩm trong thời kì ấy chịu ảnh hởng rất lớn của hoàncảnh Thông qua các tác phẩm văn xuôi tự sự, bộ mặt của xã hội phong kiến,của giai cấp phong kiến thống trị đợc dựng nên khá đậm nét Dờng nh tìnhhình lịch sử xã hội rối ren, thối nát ở giai đoạn này đã trở thành đề tài, nguồncảm hứng cho các nhà văn sáng tác, ghi chép những điều mà họ đã trông
nghe thấy vào trong rất nhiều tác phẩm tiêu biểu nh: Thợng kinh kí sự, Hoàng
Lê nhất thống chí, Vũ trung tuỳ bút và Tang thơng ngẫu lục…38Qua mỗi tác
phẩm một mặt đa đời sống văn học, loại hình văn xuôi tự sự vơn đến đỉnhcao, thu đợc nhiều thành tựu cả về nội dung lẫn nghệ thuật, trở thành thời kìrực rỡ nhất của văn xuôi tự sự thời trung đại Mặt khác giúp ngời đọc hiểu rõhơn về hiện thực xã hội lúc bấy giờ Từ đó nhận thức đợc thái độ, suy nghĩcủa mỗi tác giả trớc hiện thực đen tối Tất cả cùng góp lên tiếng nói lên án,phê phán, tố cáo chế độ xã hội phong kiến thối nát, già cỗi mà nổi bật là hai
tập đoàn phong kiến Lê- Trịnh Độc giả không chỉ biết đến một Hoàng Lê nhất thống chí- cuốn tiểu thuyết lịch sử viết theo thể loại chơng hồi đầu tiên
đạt đến đỉnh cao về thành tựu nghệ thuật thông qua bút pháp hiện thực kháchquan, qua sự kết hợp tơng đối hài hoà giữa chân lí nghệ thuật và chân lí lịch
sử; một Thợng kinh kí sự- tác phẩm kí nghệ thuật đích thực đầu tiên của văn
học Việt Nam đợc viết bằng tâm hồn phóng khoáng, bản lĩnh tự tin, cá tínhmạnh mẽ và tài năng thật sự của Lê Hữu Trác Độc giả còn biết đến những
tác phẩm nh Vũ trung tuỳ bút, Tang thơng ngẫu lục dẫu không đồ sộ về quy
mô nhng thật sự là những tác phẩm văn xuôi tự sự đặc sắc của thời kì cuối Lê
đầu Nguyễn Bởi những tác phẩm ấy đợc các tác giả triển khai thành nhiềuthiên với nhiều bút pháp nghệ thuật linh hoạt để tái hiện, bày tỏ tình cảm, thái
độ về hiện thực đời sống xã hội
Trang 30Chơng 2
vũ trung tuỳ bút và tang thơng ngẫu lục
trên bình diện cảm hứng Trần thuật 2.1 Khái niệm cảm hứng
Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa Cảm hứng là một trạng thái tình
cảm mãnh liệt say đắm xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật gắn liền với một t
t-ởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động đến cảm xúc của ng ời
tiếp nhận tác phẩm Bêlinxki coi cảm hứng là điều kiện không thể thiếu của
việc tạo ra những tác phẩm đích thực, bởi nó “biến sự chiếm lĩnh thuần tuý trí
óc đối với t tởng thành tình yêu đối với t tởng, một tình yêu mạnh mẽ, một
khát vọng nhiệt thành”
Lí luận văn học xem cảm hứng là một yếu tố của bản thân nội dung
nghệ thuật, của thái độ t tởng xúc cảm ở nghệ sĩ đối với thế giới đợc mô tả
Theo nghĩa này, cảm hứng chủ đạo thống nhất với đề tài và t tởng của tác
phẩm.Tức là các hiện tợng đời sống đợc miêu tả, phản ánh trực tiếp trong
sáng tác văn học Đề tài là phơng diện khách quan của nội dung tác phẩm “
Cảm hứng đem lại cho tác phẩm một không khí xúc cảm tinh thần nhất định,
thống nhất tất cả các cấp độ và yếu tố của nội dung tác phẩm Đây là cái mức
căng thẳng cảm xúc mà nhờ đó nghệ sỹ khẳng định các nguyên tắc thế giới
quan và cách cấu trúc tác phẩm của mình trong quá trình tái hiện đời sống
Cảm hứng trong tác phẩm cụ thể là một hiện tợng độc đáo, không lặp lại, gắn
với tình cảm của tác giả” [11;39]
Trang 312.2 Các cảm hứng chủ đạo trong Vũ trung tùy bút v à Tang thơng ngẫu lục
2.2.1 Bộc lộ xúc cảm và đánh giá của cá nhân về các danh nhân, di tích lịch sử, thắng cảnh
Tác phẩm văn học là một công trình nghệ thuật ngôn từ do một cá nhânhoặc tập thể sáng tác nhằm thể hiện những khái quát bằng hình tợng về cuộcsống con ngời, biểu hiện tâm sự, tình cảm, thái độ của chủ thể trớc thực tại.Mỗi tác phẩm văn học là một hệ thống phức tạp bao gồm nhiều yếu tố nh chủ
đề, t tởng, kết cấu, ngôn ngữ, hình tợng, đề tài…Tính phức tạp của tác phẩmvăn học không chỉ biểu hiện qua cấu trúc nội tại của bản thân nó, mà cònbiểu hiện qua hàng loạt quan hệ khác “Với ngời sáng tạo, tác phẩm văn học
là nơi kí thác, nơi khẳng định quan điểm nhân sinh, lí tởng thẩm mĩ Với hiệnthực khách quan tác phẩm văn học là hình ảnh phản ánh sống động, là tấm g-
ơng ghi giữ diện mạo lịch sử của một thời kì một đi không trở lại và dự báo
t-ơng lai” [11;94] Có thể nhận thấy rằng những đề tài trở thành nguồn cảmhứng trong văn học nghệ thuật nói chung và văn chơng trung đại nói riêng đó
là đề tài viết về các danh nhân, những nhân vật lịch sử, các danh lam thắngcảnh và những di tích lịch sử Khi nói về điều này sẽ là thiếu sót nếu nh
chúng ta không nhắc đến các tác phẩm Vũ trung tuỳ bút và Tang thơng ngẫu lục Trên cơ sở khảo sát một cách có hệ thống và toàn diện về hai tác phẩm
chúng tôi nhận thấy các tác giả không chỉ dừng lại ghi chép những điều “tainghe mắt thấy” về các danh nhân, di tích, thắng cảnh mà đằng sau đó còn thểhiện sự nhận thức và đánh giá hết sức thú vị, thể hiện tầm nhìn, tình cảm, dấu
ấn chủ quan của ngời sáng tác
2.2.1.1.Hoài vọng các danh nhân
Nói đến các danh nhân đất Việt luôn luôn là niềm tự hào của ngời dânViệt Nam từ xa tới nay bởi họ là những con ngời có công trạng, có đóng góp
về một lĩnh vực nào đó cho lịch sử phát triển của dân tộc Bằng cảm quan của
những nhà văn, Vũ trung tuỳ bút và Tang thơng ngẫu lục viết về các danh
nhân, những nhân vật lịch sử nhng không chỉ dừng lại ở việc ghi chép tiểu sử,công trạng mà đi vào thuật tả, bình luận về những sự việc liên quan đến cuộc
Trang 32đời của họ làm cho câu chuyện trở nên sinh động, ấn tợng, ám ảnh nơi lòngngời đọc Đó là những chân dung sống động, ghi lại đợc những chi tiết điểnhình, những sự kiện đặc biệt liên quan đến cuộc đời của họ Với văn phonggiản dị, có lúc ghi chép, có khi tự sự cả hai tác giả đã đa đến cho ngời đọc vớirất nhiều tên tuổi từng đợc lu danh trong sử sách Đó là các vị vua sáng nh LêThánh Tông, Lê Thần Tông; các vị danh hiền nh Chu Văn An, Trơng HánSiêu, Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Trãi…, các vị quan thanh liêm nh Tể tớngNguyễn Duy Thời, Chởng quản lục bộ Nguyễn Văn Giai, Thợng th NguyễnCông Hãng, Lê Anh Tuấn…, các dannh tớng nh Hoàng Ngũ Phúc, Lê ThờiHiến, Phạm Đình Trọng…, những nhà văn nổi tiếng nh Nguyễn Công Hoàn,Nguyễn Bá Lân, Đoàn Thị Điểm, Đặng Trần Côn… Họ phần lớn là nhữngcon ngời có học vị, giữ những trọng trách trong các triều đại phong kiến ViệtNam Đó là những con ngời xuất thân ở rất nhiều tầng lớp khác nhau: thờngdân có, quan lại có, thậm chí còn có cả những vơng tôn công tử Theo thống
kê của chúng tôi, ở trong Tang thơng ngẫu lục có 42 thiên và Vũ trung tuỳ bút có 15 thiên viết về các danh nhân, nhân vật lịch sử Khi viết về những
nhân vật này, các tác giả đã đa phẩm chất trung hiếu lên trên hết Nhà nhophải trung với vua, hiếu với cha mẹ Quan lại phải thanh liêm, chính trực Bềtôi phải trung thành tuyệt đối, khi ra trận phải là những anh hùng vì nghĩaquên thân Nhiều thiên nhà văn đã xây dựng hình ảnh những vị quan cơngtrực Quan tể tớng thời Lê Trung hng Nguyễn Duy Thời là một ví dụ Một lần
ông giả cách ngã vào trong cái kiệu “kiểu cách và sơn vẽ rất lộng lẫy” đểngầm khuyên ngăn chúa không nên xa hoa lãng phí Ông cũng từng “phục lạy
ở bến sông” để buộc chúa hồi loan, ông cho rằng chúa không nên “vì một
ng-ời đàn bà mà nhọc đến cả sáu quân” Nguyễn Duy Thng-ời đợc tác giả khen ngợikhông chỉ là ngời “khéo thay đổi đợc ý chúa” mà còn là ông quan “biết quýmình ngay thẳng” Ông từ chối nhận hối lộ của một gia đình tội nhân mà lẽ ra
phải chịu án tử hình (Ông Nguyễn Duy Thời – Tang th ơng ngẫu lục).
Nguyễn Bá Dơng cũng là ngời nổi tiếng ngay thẳng Khi còn ở trong triều,
ông còn dám bắt trói, bỏ ngục một viên án trấn nọ cậy thế chính cung ĐặngPhi làm điều càn bậy rồi đem số vàng hắn hối lộ cùng tờ khải đem vào cho
chúa (Ông Nguyễn Bá Dơng- Tang thơng ngẫu lục) Ông Võ Công Trấn khi
làm quan trong triều cũng là ngời “cứng thẳng không kiêng tránh những kẻquyền cao…” “Bấy giờ huyện quận công Đỗ Thế Giai là bề tôi cũ nơi tiềm
để, đợc chúa rất tin yêu, cầm quyền chính có vẻ chuyên quyền Ông xin chém
Trang 33đầu viên ông” (Ông Võ Công Trấn- Tang thơng ngẫu lục) Quan t nghiệp
Quốc Tử Giám Chu Văn Trinh cũng từng “dâng sớ xin chém đầu bảy tên nịnh
thần rồi treo mũ áo từ quan về ở ẩn” (Ông Chu Văn Trinh – Tang th ơng ngãu lục) Những thiên viết về các vị quan thanh liêm cơng trực trên của tác giả có phong cách “ghi chép chuyện cũ” khá tơng đồng với Văn Trinh ngạnh trực (Thiên thứ bảy ca tụng phẩm cách của Chu Văn An) Cái khác là ở chỗ
viết về các danh nhân đất Việt cả Phạm Đình Hổ và Nguyễn án không chỉkhẳng định phẩm chất tốt đẹp, cơng trực của họ mà còn phát hiện ở nhữngcon ngời ấy rất trọng nghĩa tình Họ hiếu thuận với cha mẹ, nhiệt tình giúp đỡbằng hữu và không quyên ân huệ của ân nhân Viết về những con ngời nàytác giả thờng sử dụng các chi tiết cụ thể, hết sức gần gũi với đời sống hàngngày Võ Thạnh – một bậc đại quan đợc chúa kính trọng không chỉ vì tàigiỏi mà còn bởi vì sự hiếu nghĩa với mẹ Một hôm ông đợc chúa ban cho
khúc cá trắm rất ngon, ông “để dành đem về cho mẹ” (Ông Võ Thạnh – Vũ trung tuỳ bút) Ngời con ấy khi hởng của ngon vật lạ đã nhớ đến ngời mẹ sinh
thành nuôi dỡng mình Các tác giả đã dần thoát khỏi việc sử dụng những yếu
tố kì vĩ, phi thờng trong thi pháp truyền thống mà đặt họ vào cuộc sống trầnthế, nhìn họ từ khía cạnh những con ngời phàm trần Quan Thái uý Lê ThìHiến quen và chơi thân với ông Năm (Đào Duy Từ) – con một kép hát, rấtnghèo Vì thế Lê Thì Hiến đã đi lấy trộm đồ để giúp đỡ ông Năm Sau nàykhi trở thành một vị tớng của Nam chúa, biết ông Lê Thì Hiến coi giữ việc ởChâu Hoan, Đào Duy Từ đã thu binh về không đánh châu Hoan nữa
Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Trãi, Phạm Đình Trọng… qua trang viết củaPhạm Đình Hổ, Nguyễn án đều là những con ngời anh kiệt, bề tôi trung liệt,
có tài năng phi thờng cả về mặt trí lực lẫn thể lực
Câu chuyện về ông Phạm Ngũ Lão đợc Tùng Niên kể lại đầy xúc động.Qua văn bản tác giả tập trung làm nổi bật hình tợng Phạm Ngũ Lão- mộtdanh nhân đất Việt dới triều đại nhà Trần Phạm Ngũ Lão có hoàn cảnh xuấtthân rất đỗi bình thờng nh bao con ngời khác: “Ông ngời làng Phù ủng huyện
Đờng Hào Nhà mấy đời vẫn làm nghề nông” Song lại toát lên phẩm chất,khí phách của một ngời anh hùng: “ông mặt mũi khôi ngô, có văn tài võ lợc”.Chuyện kể rằng, nhà Phạm Ngũ Lão ở gần đờng cái quan, ông thờng ngồi xếpbằng vót nan ở bên đờng Nhân khi đức Trần Hng Đạo từ dinh Vạn Kiếp vềKinh, quân đi trớc đến nơi, quát đuổi đứng dậy Ông vẫn ngồi im không cựa
Trang 34quậy Quân lấy ngọn giáo đâm vào đùi, ông vẫn cứ ngồi yên nh cũ Với hành
động ấy đủ làm cho Trần Hng Đạo lấy làm lạ và hỏi, ông tha rằng: “Tôi đơngmải nghĩ một việc nên không để ý đến” Khi hỏi đến học hành thì “kinhtruyện thao lợc, ông ứng đáp đâu ra đấy” Chỉ chừng ấy thôi cũng khiến chongời đọc cảm thấy tự hào trớc một Phạm Ngũ Lão đầy bản lĩnh, có khí chấtcứng cỏi và trí tuệ mẫn tiệp Tất cả đã khiến cho Trần Hng Đạo phải nể phục
để rồi sau đó tiến cử ông lên triều đình: “Ngài sai lấy thuốc rịt vào chỗ bị
đâm, rồi cho lên một chiếc xe sau đem về, tiến lên triều đình cho coi quânCấm vệ” Vậy là từ một con ngời bình thờng Phạm Ngũ Lão trở thành ngờicủa triều đình Những ngày tháng đầu tiên ở kinh thành ông gặp nhiều khókhăn khi đám vệ sỹ không phục và đòi đọ sức cùng ông: “Vệ sĩ không phục,tâu xin cùng ông đọ sức Ông bằng lòng Nhng trớc khi đọ sức, xin phép vềnghỉ ở nhà ba tháng Về nhà, ngày ngày ông ra cái gò lớn ngoài đồng, đứngcách một tầm mà nhảy lên Hết hạn nghỉ, ông trở lại Cấm thành, cùng bọn vệ
sĩ so đọ tài nghệ Tay đấm chân đá, đi lại vùn vụt nh bay, nghìn ngời khôngkháng ngự nổi, ai nấy đều phải phục tài cả”
Với cách nhìn, cách kể của tác giả, chân dung Phạm Ngũ Lão đợc miêutả, ngợi ca qua những sự kiện liên quan đến lịch sử của dân tộc Ông có côngrất lớn trong cuộc chiến chống giặc Ai Lao Bằng bản lĩnh phi thờng, khi gặpgiặc “ông xua quân lùi lại, một mình đi chân không vào, vớ những khúc tre
mà đánh vào chân voi Voi đau, kêu rống lên, chạy tán loạn Quân Ai Lao
đ-ơng đêm phải trốn” Không chỉ có vậy, trong cuộc chiến chống giặc Nguyên
ông cũng giúp sức đợc nhiều cho đức Hng Đạo Vơng Ông cũng là tác giảcủa bài thơ “Thuật hoài” nổi tiếng Một bài thơ yêu nớc hùng tráng tuy chỉ cóbốn câu nhng đã làm nổi bật đợc Hào khí Đông A và hình ảnh ngời con traithời Trần trong thời đại có giặc ngoại xâm:
Hoành sóc giang sơn cáp kỉ thuTam quân tỳ hổ chí thôn NguNam nhi vị liễu công danh trái
Tu thính nhân gian thuyết Vũ HầuHai câu thơ mở đầu Phạm Ngũ Lão miêu tả sức mạnh chiến đấu củaquân dân đời Trần Sức mạnh ấy đợc thể hiện ở hình ảnh ngời tráng sĩ “Cầmngang ngọn giáo gìn giữ non sông đã mấy thu” trông thật xông xáo, tung
Trang 35hoành, đánh đông dẹp bắc Đó là sức mạnh chiến đấu chống quân thù với “Baquân nh hổ báo át cả sao Ngu” của quân đội nhà Trần Hai hình ảnh lồng vàonhau làm nổi bật hào khí, sự mạnh mẽ và quyết tâm tiến lên diệt giặc dành lạichủ quyền cho đất nớc Song kẻ thù quá mạnh, bản thân tác giả lại là mộttrong những ngời chỉ huy của cuộc chiến vậy mà cha dành đợc thắng lợi cuốicùng Do đó hai câu thơ sau Phạm Ngũ Lão lại thể hiện nỗi lòng, cái tâm, cáichí của ngời con trai thời loạn và cũng là của chính mình rằng phải lập nêncông danh, sự nghiệp để lại tiếng thơm cho đời Nếu không sẽ cảm thấy thẹnthùng khi nghe ngời đời kể chuyện Vũ Hầu.
Nh vậy, điều làm nên nét phi thờng ở Phạm Ngũ Lão đó chính là lòngyêu nớc, lí tởng sống dấn thân cho dân tộc và trách nhiệm, bổn phận đối với
đất nớc đã đa ông từ một ngời dân bình thờng trở thành một nhân vật lịch sử
“văn võ song toàn” xứng đáng để cho mọi ngòi trân trọng, biết ơn, nể phục
(Phạm Ngũ Lão – Vũ trung tuỳ bút).
Viết về các danh nhân của dân tộc Việt Nam luôn là nguồn cảm hứngcủa Phạm Đình Hổ và Nguyễn án Bằng hiểu biết, tình cảm, thái độ của mộtngời đời sau đối với bậc tiền nhân, các tác giả đã cho ngời đọc cảm nhận sâusắc về cuộc đời của ức Trai- Nguyễn Trãi Với danh nhân Nguyễn Trãi, tácgiả không đi sâu vào sự nghiệp văn chơng, không dụng công dựng lên mộtchân dung văn học với những đóng góp lớn lao đa văn học viết lên đến đỉnhcao ở thế kỉ XV mà tập trung đi vào ghi chép tiểu sử, thuật lại con đờngNguyễn Trãi đến với Lê Lợi, ngợi ca tài năng mu lợc hơn ngời của NguyễnTrãi trong cuộc chiến chống giặc Minh ở thế kỉ XV
Nguyễn Trãi tên hiệu là ức Trai, sinh năm 1380, quê gốc ở làng ChiNgại, tỉnh Hải Dơng, sau dời đến Nhị Khê , tỉnh Hà Tây Cha ông là Nguyễnứng Long (sau đổi tên là Nguyễn Phi Khanh), một học trò nghèo, đỗ Tháihọc sinh đời Trần Mẹ là Trần Thị Thái, con quan T đồ Trần Nguyên Đán.Năm 1400, Hồ Quý Li lên ngôi thay nhà Trần Năm đó, Nguyễn Trãi thi
đỗ Thái học sinh khoa thi đầu tiên và cùng cha ra làm quan Năm 1407, giặcMinh cớp nớc ta, cha con Hồ Quý Li cùng các triều thần bị bắt đa về TrungQuốc, trong đó có Nguyễn Phi Khanh Nguyễn Trãi muốn trọn đạo hiếumuốn theo cha sang Trung Quốc Nghe theo lời cha khuyên: “rửa nhục cho n-
ớc, trả thù cho cha mới là đạo hiếu”, ông trở về đến thành Đông Quan (Thăng
Trang 36Long) thì bị bắt và giam lỏng Sau đó tìm gặp Lê Lợi và tham gia cuộc khởinghĩa Lam Sơn Nguyễn Trãi đã giúp Lê Lợi có đợc đội quân hùng mạnh,khắc phục hoàn cảnh khó khăn do thiếu lực lợng trong những ngày đầu bằngcách “lấy mỡ viết khắp lá cây trong rừng: “Lê Lợi vi quân, Lê Trãi vi thần”(Lê Lợi làm vua, Lê Trãi làm tôi) Sâu kiến ăn mỡ, đục thành nét chữ Kẻ đikiếm củi thấy thế, cho là chuyện thần linh Ngời nọ bảo ngời kia, nhân thế,theo về ngày một nhiều” Trong cuộc khởi nghĩa “ông thờng tham dự vàoquân trớng bàn tính mu lợc” để rồi cuộc chiến đi đến thắng lợi Giặc Minhthất bại thảm hại, đầy nhục nhã “Liễu Thăng bị chém chết; bọn Thôi Tụ,Hoàng Phúc và hơn ba ngàn ngời bị bắt sống; Vơng Thông thì mở cửa rahàng; Mộc Thạnh đơng đêm phải chạy trốn” Sau cuộc khởi nghĩa Lam Sơn,vì công lao, Nguyễn Trãi đợc ban theo họ nhà vua, trao chức Vinh lộc đại
phu, Nhập nội hành khiển, Tri tam quán sự (Ông Lê Trãi – Tang th ơng ngẫu lục).
Nh vậy, với tấm lòng hớng tới ngời thật việc thật, về “những điều trôngthấy”, những cảm nhận mang đậm dấu ấn cá nhân, con ngời trong cuộc sốngthực tại đã bớc vào văn học Họ là những danh nhân đất Việt, những nhân vậtlich sử tuy có cuộc đời riêng, số phận riêng, cá tính riêng nhng hầu hết đều đ-
ợc tái hiện sâu sắc qua việc lựa chọn những chi tiết độc đáo, những thời điểmquan trọng trong cuộc đời để làm nổi rõ những phẩm chất cao đẹp của nhânvật Cả hai tác giả viết về họ với cảm hứng trân trọng, ngợi ca giúp độc giảnhận thức đúng đắn và càng thêm tự hào về một dân tộc:
“Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhauSong hào kiệt đời nào cũng có”
(Đại cáo bình Ngô- Nguyễn Trãi)
2.2.1.2 Nỗi niềm trớc các di tích lịch sử, thắng cảnh
Với truyền thống lịch sử hơn 4000 năm, dân tộc Việt Nam đã có một nềnvăn hoá giàu bản sắc dân tộc gắn liền với các di tích lịch sử, thắng cảnh Cóthể nói, danh lam thắng cảnh, các di tích của đất nớc là đề tài khá quen thuộc
mà cha ông ta thờng nói đến Kí chính là thể loại ghi chép một cách chânthực và phong phú nhất vẻ đẹp của những danh lam thắng cảnh đó Mỗi điểm
Trang 37dừng chân là nơi giúp các tác giả gửi gắm đợc nỗi niềm tâm sự của mình.Qua đó cũng tạo điều kiện để họ khắc hoạ nên những danh lam thắng cảnh
tuyệt đẹp, mĩ lệ Nói nh Lê Đình Thắng trong bài kí Chơi chùa thầy đăng trên Tạp chí Nam Phong, số 3 năm 1925:
Ng“ ời ta sinh trởng trong một nớc mà không biết đến giang sơn, thắng cảnh, danh lam của nớc mình thời làm sao có thể sinh ra lòng mến nớc Không những thế mà thôi, đã làm trai thời phải tang bồng hồ thỉ, đi cho biết
đó biết đây, phải tới những chỗ thâm sơn cùng cốc, nhiên hậu kiến văn mới rộng”.
Quả đúng nh vậy, qua cuộc đời thực của mình cả Phạm Đình Hổ và
Nguyễn án đã đặt chân đến nhiều miền của đất nớc, thả tâm hồn bay bổngcùng danh thắng, hoà vào thiên nhiên “để chợt bừng tỉnh và đốn ngộ ra quãng
đời quá khứ chỉ nh một sự sắc sắc không không nay cần vứt bỏ lòng dục, vơntới cái tâm thanh thoát, an bằng”[38, 166] Sự tuần hoàn của vũ trụ, cái vòngquay vô tận của thời gian, cảnh sắc thiên nhiên chuyển đổi muôn màu muôn
vẻ bao giờ cũng gợi nhiều cảm xúc và suy t trong tâm hồn văn nhân Đốicảnh sinh tình, từ một bông hoa ngoài dậu, một ngọn cỏ bên đờng, một gợnsóng dới nớc, một bóng mây trên trời, một tên đất, tên làng, ngọn núi, ngôichùa… đều làm cho lòng ngời rung động, nảy sinh cảm hứng sáng tác.Những danh lam thắng cảnh, những di tích lịch sử chính là những đoá hoatrăm hơng nghìn sắc tô thắm cho vẻ đẹp của đất nớc làm mỗi ngời thêm tựhào và yêu quý quê hơng xứ sở của mình Ngời xa nói: “Bậc đức nhân tìm vềvới núi, kẻ trí giả tìm về vời biển”, hẳn ngời đọc sẽ đợc thoả mãn khi tìm đến
với những danh thắng, những di tích lịch sử của đất nớc trong Tang thơng ngẫu lục và Vũ trung tuỳ bút Với hai tác phẩm này những trang văn viết về
danh thắng có khi tồn tại dới dạng từng thiên độc lập nhng cũng có khi đanxen với những mảng kí viết về con ngời hoặc ở những trang kí khảo cứu
Trong Vũ trung tuỳ bút, Tang thơng ngẫu lục thay vào chuyện kể các vị thần thờ ở đền, đài nh trong Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái, Phạm
Đình Hổ và Nguyễn án “đã chú tâm miêu tả cảnh trí đền, chùa danh tiếng vànhững di tích lịch sử mà mình từng du lãm” [15;13] nh chùa Tiên Tích, chùaPhật Tích, đền Trấn Vũ, tháp Báo Thiên, chùa Linh Lang, chùa Kim Liên, bianúi Thành Nam, núi Dục Thuý, thành cũ Triều Khẩu, cảnh chùa Sơn Tây,chùa Thiên Mụ, Hồ Hoàn Kiếm, Hồ Gơm…Những danh thắng đó thật sự là
Trang 38món quà vô giá mà thiên nhiên, cha ông ta gây dựng nên để ban tặng cho conngời Nó giúp ngời đọc thêm một cách nhìn về đất nớc, con ngời, cảnh sắcViệt Nam.
Cảnh chùa Sơn Tây trong Vũ trung tuỳ bút tác giả đa chúng ta đến với
một miền không gian thanh tịnh, nhuỗm đẫm màu thiền ở đó có chùa NgọaPhật Chùa ở trong một hốc đá trớc nhà tiền đờng, bên tả bên hữu có gian thờPhật và vị long thần; gian giữa treo một bức mành mành rủ xuống tận đất, lại
có xây một toà hoa sen cao đến vài trùng ở đó còn có chùa Viễn Sơn, “vàimơi gian” đợc xây dựng trên một cái đồi cao trơ trọi, không có cây cỏ tạpnhạp, nhìn ra bốn bên thì làng mạc xa gần trông nh tranh vẽ Có sông HátGiang vòng quanh phía đông nh một giải lụa trắng, nớc chảy uốn éo quanh
co Lác đác giống nh lá tre điểm xuyết trên tấm lụa là những chiếc thuyền đitrên mặt sông Qua cách ghi chép, cảm nhận của tác giả nh đa ta thoát ra khỏichốn trần tục đầy bon chen để bớc vào chốn cửa Phật không lo toan, hoà hợpvới thiên nhiên ở đó một miền không gian đầy yên tĩnh để con ngời sốngthật với lòng mình, trở về với chính mình để suy niệm, lí giải về lẽ đợc mất,những điều thiện ở đời
Bài ký chơi núi Phật Tích trong Tang thơng ngâu lục của Tùng Niên đa
chúng ta đến với một thế giới tĩnh lặng của cõi Phật “sắc sắc không không”:
Đền gối vào núi Núi ở giáp giới hay làng Thiên Phúc, Thuỵ Khê, sử gọi
là núi Thạch Thất, tục gọi núi Thầy, đó là nơi chứng đạo của Từ Đạo Hạnh
đời Lý Phía tả núi là ngọn Hàm Long, hình thế cao ngất và bay bớm, có ao Long Trì ôm lấy …38 Hai bên nách chùa bắc hai cái cầu qua ao; bên tả là cầu Nhật Tiên, trong vào đền Tam phủ ở trên cái đảo giữa ao, bên hữu là cầu Nguyệt Tiên, chặn lên trên tay phải quả núi …38”.
Thiên nhiên thanh sạch dờng nh là nơi để con ngời di dỡng tính tình, làthớc đo nhân cách kẻ sỹ mỗi khi con ngời hồi vọng, so sánh , đặt mình bêncái dừng lặng của non xanh nớc biếc:
Giờ Tỵ, qua cầu Nguyệt Tiên, lần bậc lên núi Trên l
Trang 39bia mài đá tạc thành, lớn nhỏ rất nhiều, nét chữ mờ, đều từ hồi Trung hng trở
về sau cả Khoảng giữa động, vách đá đứng sững Chồng đá trèo lên độ một trợng đến cửa động trong, đi vào phải bò gọi là hang Cắc Cớ ”
Hớng về cõi Phật, tác giả để lòng hoà hợp trớc núi cao trời rộng, coi đó làcội nguồn thanh sạch- nơi có thể ký thác mọi nỗi vui buồn
Giờ Ngọ lên chỏm Chợ Trời Khắp trời mây quang, gió hây hây Đá núilởm chởm, cái hình bàn, cái hình ghế rồi hình vò rợu, hình chén rợu, vị tríthiên nhiên đẹp tuyệt vời Trên đỉnh có một tảng đá phẳng lỳ Đứng trên ngọnnày trông ra xung quanh, các núi Phợng Hoàng, Quý Lân, Mã Yên, Long
Đẩu đều quay chầu lại
Giờ Thân kéo chân tuý ông…Sen trong ao mới mọc tốt tơi, màu xanhphơi phới trên mặt nớc
Giờ Tỵ, từ núi Hoa Phát lên núi Phợng Hoàng Hình thế núi này nh mộtcon chim lớn sà xuống, giữa mở ra một cái động đá có bày thờ tợng phật Hơilam nặng trĩu, ớt cả áo ngời vào du lãm
Hay thiên ký về chùa Tiên Tích của Kính Phủ
Chùa Tiên Tích phía Nam kinh thành…chùa rộng lớn, nóc chồng, cửakép…Chùa đằng sau dựa vào đờng cái, đằng trớc trong thấy một con ngòi nớctrong Cây tháp ở phía hữu, cao chín tầng, bốn góc đeo chuông, trang sứcbằng những nét vàng xanh rực rỡ Từ đàng phía tây đi về phía Nam vào đếnchùa, đờng đi quanh co, lát đá cả Con ngòi oằn oèo chảy ra một cái hồ Hồsâu mà rộng, nớc rất trong, mùa hè hoa sen nở nhiều, mùi hơng bay xa mấy
dặm (Chùa Tiên Tích - Tang thơng ngẫu lục).
Sống trong thời ly loạn, cả Nguyễn án, Phạm Đình Hổ thấu hiểu cái bụilầm than của cõi đời và khao khát tìm đến một lẽ yên bình, thanh sạch chốntùng lâm Tự đặt mình khỏi vòng danh lợi gần cảnh chùa, gần lòng thiền hai
ông đã “có sự gặp gỡ, thông kênh với cái bình lặng, an nhiên, siêu thoát củanhà Phật” [38;164]
Viết về các di tích lịch sử, các danh lam thắng cảnh hai tác phẩm củaNguyễn án và Phạm Đình Hổ có những thiên đợc đánh giá rất cao Ông
Phùng Dực Bằng Sô nhận xét rằng: “Tùng Niên có bài Phật Tích sơn ký, Kính Phủ có bài Tiên tích sơn ký…38những bài ký đó, trong ký có tranh, thực đáng
Trang 40truyền tụng nh là Đào hoa nguyên ký của Đào Uyên Minh thời Tấn” [26; 55].
Nó cũng đa ngời đọc vào thế giới mộng mơ của ẩn sỹ lánh đời Chính vẻ đẹpcủa những danh thắng là nơi gửi gắm biết bao tâm sự trĩu nặng trong lòng tácgiả khi cuộc đời thay đổi vô chừng, trớc là bãi bể, nay đã là nơng dâu Các tácgiả lui về ở ẩn, họ đặt chân đến nhiều miền của đất nớc, thả tâm hồn baybổng muốn hoà cùng thiên nhiên “để chợt bừng tỉnh và đốn ngộ ra quãng đờiquá khứ chỉ nh một sự “sắc, không” nay cần vứt bỏ lòng dục, vơn tới cái tâmthanh thoát, an bằng” [38;166]
2.2.2 Cảm hứng thế sự trong Vũ trung tuỳ bút và Tang thơng ngẫu lục
Văn học trung đại Việt Nam phát triển trong sự tác động mạnh mẽ củatruyền thống dân tộc và tinh thần thời đại Cảm hứng thế sự biểu hiện khá rõnét từ văn học cuối thời Trần Khi triều đại nhà Trần có những biểu hiện suythoái là lúc văn học hớng tới phản ánh hiện thực xã hội, phản ánh cuộc sống
đau khổ của nhân dân
Cảm hứng thế sự trở thành nội dung lớn trong sáng tác của Nguyễn BỉnhKhiêm qua những bài thơ viết về nhân tình thế thái và nó thật sự phát triểntrong hai thế kỉ XVIII, XIX Nhiều tác giả hớng tới hiện thực cuộc sống, hiệnthực xã hội đơng thời để ghi lại “ những điều trông thấy”, trong đó có Phạm
Đình Hổ và Nguyễn án Với Vũ trung tuỳ bút và Tang thơng ngẫu lục thật sự
có giá trị nổi bật, góp phần tạo tiền đề cho sự ra đời của văn học hiện thựctrong thời kì sau
2.2.2.1 Bức tranh hiện thực đời sống trong xã hội Việt Nam thời kì cuối Lê đầu Nguyễn
Mặc dù văn học trung đại Việt Nam vẫn tồn tại một quan niệm là coitrọng thơ phú và coi thờng văn xuôi, xem văn xuôi là thứ văn chơng rẻ rúngmạt hạng, là chuyện “dùng lời lẽ nông cạn, vụn vặt để góp nhặt những câuchuyện đầu đờng xó chợ”[26;76] Quan niệm đó đã ảnh hởng không nhỏ đến
sự phát triển của loài hình văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam Nhng trongthực tế chúng ta lại thấy có một nền văn xuôi tự sự Việt Nam phát triển và cónhững tác phẩm có giá trị, phản ánh chân thực những vấn đề của đời sống xã
hội đơng thời nh Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái và đặc biệt là Truyền
kỳ mạn lục Qua các tác phẩm này ngời đọc có thể cảm nhận đợc rõ hơn