Trong Lịch sử văn học Việt Nam – Uỷ ban khoa học xã hội ViệtNam, các tác giả khi nói đến sự suy tàn của xã hội phong kiến cuối Lê đầu Nguyễn, đã dẫn Vũ trung tuỳ bút của Phạm Đình Hổ [40
Trang 1Trờng Đại học Vinh Khoa ngữ văn
********************
ngô thị ngà
vũ trung tùy bút của phạm đình
hổ với hiện thực lịch sử xã hội việt nam cuối thế kỷ xviii
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành: văn học việt nam
Trang 2nửa đầu thế kỷ XIX) là giai đoạn rực rỡ, phồn thịnh nhất trong lịch sử vănhọc dân tộc Ở loại hình văn xuôi trung đại thời kỳ này, bên cạnh sự xuất
hiện của tiểu thuyết chương hồi, mà tiêu biểu là Hoàng Lê nhất thống chí
(Ngô gia văn phái) thì chúng ta không thể không nói đến thể loại kí vớinhững tác phẩm có giá trị phản ánh hiện thực xã hội rộng lớn và sâu sắc
Tác phẩm mở đầu cho trào lưu viết kí ở thế kỷ XVIII – XIX là Công dư
tiệp kí của Vũ Phương Đề Tiếp đó là Tiên tướng công niên phả lục, Trần Khiêm Đường niên phả của Trần Tiến Rồi Thượng kinh kí sự của Lê Hữu
Trác, Bắc hành tùng kí của Lê Quýnh Kí trung đại chắc hẳn sẽ kém phần
đa dạng và thiếu sự hoàn thiện nếu không có Vũ trung tuỳ bút của Phạm
Đình Hổ Trong Vũ trung tuỳ bút, với kết cấu tự do, Phạm Đình Hổ đã ghi
lại một cách tự nhiên, chân thực những điều trông thấy thành những mẩuchuyện nhỏ Tác giả đã ghi lại những vấn đề xã hội, vấn đề con người trongnhững năm tháng cuối cùng của triều Lê – Trịnh Đó là những điều “trái taigai mắt” từ lối sống xa hoa hưởng lạc của vua chúa, sự tham nhũng, lộnghành, thừa cơ “đục nước béo cò” của đám quan lại cho đến chế độ thi cử
hay hiện thực trớ trêu trong cuộc sống của nhân dân Vũ trung tuỳ bút là
một tác phẩm tiêu biểu cho nền văn học trung đại nói chung và thể loại kítrung đại nói riêng Đây là lí do trước tiên để chúng tôi tìm hiểu đề tài này
1.2 Trong đời sống phê bình văn học Việt Nam, có ít công trình
nghiên cứu quan tâm đến Vũ trung tuỳ bút Dường như, chưa có một bài
viết nào đề cập, tìm hiểu một cách hệ thống, tỉ mỉ, cặn kẽ về những vấn đềtrong tác phẩm có giá trị trên Nó chỉ được đề cập một cách khái lược khingười ta bàn về những tác phẩm, những hiện tượng văn học cùng thời Với
lí do này, chúng tôi đi vào tìm hiểu bức tranh lịch sử xã hội thế kỷ XVIII –một phương diện quan trọng trong tác phẩm
1.3 Hiện nay, văn bản Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh – một trong
90 mẩu chuyện trong Vũ trung tuỳ bút được đưa vào giảng dạy trong
chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở (Lớp 9, Tập 1) Vì vậy, việc nghiên
Trang 3cứu tác phẩm này còn là một vấn đề có ý nghĩa thiết thực đối với người dạy
và người học ở trong nhà trường
2 Lịch sử vấn đề.
2.1 Kí là một loại hình văn học ra đời sớm trong lịch sử văn họcnước nhà Ngay từ thời Lý – Trần, nó đã xuất hiện dưới dạng các bài vănngắn khắc trên bia đá, chuông đồng…Đến thế kỷ XVIII thì kí phát triển rực
rỡ Bên cạnh các tác phẩm Thượng kinh kí sự (Lê Hữu Trác), Công dư tiệp
kí (Vũ Phương Đề), Bắc hành tùng kí (Lê Quýnh) còn có tác phẩm tiêu
biểu là Vũ trung tuỳ bút (Phạm Đình Hổ) Tuy nhiên, có một thực tế mà ta
không thể phủ nhận, đó là chưa hề có một công trình nào nghiên cứu về tácphẩm này một cách kỹ lưỡng và độc lập Các công trình nghiên cứu có đềcập đến nhưng đều nằm ở dạng khái quát, điểm qua Trong phạm vi quantâm của đề tài, chúng tôi xin điểm lại một số công trình, tài liệu có liênquan, làm cơ sở cho việc nghiên cứu hiện thực lịch sử Việt Nam cuối thế
kỷ XVIII trong Vũ trung tuỳ bút.
2.2 Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu, khi tìm hiểu văn học chữ Hán, đã lưu tâm đến hàng loạt các tác phẩm kí, trong đó có Vũ
trung tuỳ bút Với sự khảo cứu của mình, ông chia tác phẩm thành tám loại
cụ thể : tiểu truyện các bậc danh nhân; ghi chép các cuộc du lãm, nhữngnơi thắng cảnh; ghi chép các việc xảy ra về cuối đời Lê; khảo cứu về duyêncách địa lí; khảo cứu về phong tục; khảo cứu về học thuật; khảo cứu về lễnghi; khảo cứu về điển lệ [12, 142-143] Như vậy, công trình này chỉ mangtính khảo sát, điểm qua
2.3 Trong Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Nguyễn Đổng Chi đã
có những điểm nhìn cụ thể, tập trung vào một số tác phẩm kí tiêu biểu
Riêng Vũ trung tuỳ bút, ông coi trọng giá trị của nó ở chỗ “người đương
thời ghi chép chuyện đương thời”, “phản ánh xã hội phong kiến suy đồiqua những biến đổi về phong tục” [Dẫn theo 20, 5]
Trang 42.4 Trong Lịch sử văn học Việt Nam – Uỷ ban khoa học xã hội Việt
Nam, các tác giả khi nói đến sự suy tàn của xã hội phong kiến cuối Lê đầu
Nguyễn, đã dẫn Vũ trung tuỳ bút của Phạm Đình Hổ [40, 319] Điều này có nghĩa rằng, Vũ trung tuỳ bút là tác phẩm kí mang đậm chất hiện thực.
2.5 Công trình Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu
thế kỷ XIX của Nguyễn Lộc có nói đến tác phẩm Vũ trung tuỳ bút Nguyễn
Lộc cho rằng, tác phẩm này thuộc “loại văn kí sự”, có nhiều bài kí về sinhhoạt và phong tục [22, 26]
2.6 Phạm Thế Ngũ trong cuốn Việt Nam văn học sử giản ước tân
biên chỉ ra : Vũ trung tuỳ bút là một trong những tác phẩm soạn về triều
Nguyễn Qua khảo sát, ông chia tác phẩm thành tám mục giống như DươngQuảng Hàm Việc tìm hiểu tác phẩm đang còn mang tính khái quát [27,301-302]
2.7 Các tác giả Đặng Thanh Lê, Hoàng Hữu Yên, Phạm Luận trong
Văn học Việt Nam cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX khi bàn về văn học giai
đoạn cuối XVIII – đầu XIX đã khẳng định : văn học giai đoạn này cũng
không hoàn toàn thoát li với quan niệm “văn dĩ tải đạo” Vũ trung tuỳ bút là
một dẫn chứng vì nó có ý kiến “phê phán truyện Nôm” [21, 32]
2.8 Văn học Việt Nam (từ thế kỷ X đến thế kỷ XX) – Nguyễn Phạm Hùng điểm qua Vũ trung tuỳ bút – một tác phẩm đánh dấu sự phát triển của
văn xuôi tự sự vào giai đoạn cuối XVIII – đầu XIX [18, 144]
2.9 Đặc biệt, công trình Văn học trung đại Việt Nam (Tập 2) và Con
đường giải mã văn học trung đại Việt Nam của PGS.TS Nguyễn Đăng Na
đã có những đánh giá, nhận xét sâu sắc, cụ thể về giá trị của Vũ trung tuỳ
bút Về thể tài, Nguyễn Đăng Na khẳng định, Vũ trung tuỳ bút viết theo thể
tài tuỳ bút Qua khảo sát, tác giả khái quát Vũ trung tuỳ bút “khá đa dạng về
bút pháp Có thiên ông viết kiểu tự thuật ngắn gọn, không theo thứ tự thờigian và thường viết về những kỷ niệm thời thơ ấu Nhiều thiên, Phạm Đình
Hổ viết theo lối khảo cứu Tác giả có sở trường về kí khảo cứu Ông khảo
Trang 5từ hoa cỏ đến phong tục, từ chữ viết đến văn thể, thể thơ, từ điềm kì dị đếnphép thi cử, khảo từ nhân vật đến quỷ thần, tang lễ, cưới xin, đất đai phongvật, nhân tình thế thái…”[26, 73] Trình bày về điều gì ông cũng viết “cặn
kẽ, nói có sách, mách có chứng và so sánh thực tại”[26,73] Điều đáng ghinhận ở Phạm Đình Hổ là : “khảo cứu chỉ là cái cớ để nói về hiện tại và nói
về hiện tại mới là chủ yếu…”[26, 73] Văn ông lại thấm đậm chất trữ tình,
chất thời sự Lời văn nhẹ nhàng mà ý vị sâu xa Bởi vậy, Vũ trung tuỳ bút
không rơi vào lãnh địa văn học chức năng Nguyễn Đăng Na đã phát hiện
ra nét riêng trong phong cách kí của Phạm Đình Hổ: “Đọc tác phẩm củaPhạm Đình Hổ ta thấy có chiều sâu của người uyên thâm Hán học, có chấtlịch thiệp của người trải đời, có cái ngạo nghễ, hóm hỉnh của bậc hàn nhothanh bạch, có cái tinh tế của trí thức kinh kì biết thưởng thức ănchơi”[26,73] Đi sâu vào nội dung tác phẩm, Nguyễn Đăng Na đã cảm nhận
được Vũ trung tuỳ bút “phảng phất đó đây một phong vị buồn của con người luôn trăn trở với đời”[26,73] Cũng trong Vũ trung tuỳ bút, tác giả đã
có cái nhìn tiến bộ, ngoài “nhìn thấy những cái hay cái đẹp, cái khả thủ củangười Việt”, thì “vẫn nhận ra cái chưa đạt của dân tộc”[26, 73] Có thể nói,Nguyễn Đăng Na là nhà nghiên cứu có nhiều đóng góp nhất trong hành
trình khai thác, khẳng định giá trị to lớn của kí trung đại nói chung và Vũ
trung tuỳ bút nói riêng Nét độc đáo của tác phẩm đã được ông “giải mã”.
2.10 Trần Đình Sử cũng đã đưa ra ý kiến của mình trong Mấy vấn
đề thi pháp văn học trung đại Ông khảo sát tác phẩm, chia Vũ trung tuỳ bút thành bốn mục: nhân vật; đền chùa; ma quỷ, thần linh, chuyện lạ; các lễ
tục, thi cử, thể văn [ 33, 327]
2.11 Ở chương 11 trong Lý luận văn học (Tập 2), Trần Đình Sử đã
tìm hiểu về kí văn học Ông khẳng định, cùng với một số tác phẩm khác
như Thượng kinh kí sự, thì Vũ trung tuỳ bút là một trong những “thành tựu
đột xuất” của kí Việt Nam đời Lê, Nguyễn Sở dĩ như vậy là vì nó có sựphá cách, sáng tạo trong hình thức[34,357]
Trang 62.12 Ngoài ra, rải rác trên các Tạp chí văn học, Nghiên cứu văn học,
Tạp chí Hán Nôm, cũng đã đề cập đến những vấn đề trong Vũ trung tuỳ bút Chẳng hạn như: Về tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí – Nguyễn Đình
Thi trên Nghiên cứu văn học, số 6, 2005; Thi pháp truyện ngắn trung đại
Việt Nam – Trần Nho Thìn trên Nghiên cứu văn học, số 10, 2006; Thử phác hoạ tiến trình văn học trung đại Việt Nam ( theo quan điểm của một
số tác gia trung đại) – Trần Nho Thìn trên Tạp chí văn học số 5, 2003; Thi
tự của Phạm Đình Hổ - Trần Thị Kim Anh trên Tạp chí Hán Nôm, số 2,
2006; Sách văn và kinh nghĩa trong khoa trường – Trần Thị Kim Anh, trên
Tạp chí Hán Nôm, 2009 Tuy nhiên, các tác giả chỉ dùng Vũ trung tuỳ bút
như một dẫn chứng để làm sáng tỏ một vấn đề trung tâm nào đó, chứ chưa
đi sâu nghiên cứu nội dung, nghệ thuật của tác phẩm
Qua tập hợp, thống kê, tìm hiểu các công trình nói trên, chúng tôi
thấy rằng: các nhà nghiên cứu đã ít nhiều quan tâm đến tác phẩm Vũ trung
tuỳ bút Tuy nhiên, chưa có một công trình nào nghiên cứu về giá trị của tác
phẩm một cách độc lập, sâu sắc Có nhiều bài viết chỉ điểm qua tên tácphẩm, khảo sát tác phẩm để phân loại Chỉ có Nguyễn Đăng Na là đi vào cụthể hơn cả Bởi vậy, khoá luận của chúng tôi trên cơ sở tiếp thu, kế thừathành tựu khoa học của các nhà nghiên cứu đi trước, mong muốn đi vào tìm
hiểu giá trị nội dung của Vũ trung tuỳ bút: hiện thực lịch sử xã hội Việt
Nam cuối thế kỷ XVIII
3 Mục đích nghiên cứu.
3.1 Vũ trung tuỳ bút là một tác phẩm chưa được đánh giá cụ thể của
giới nghiên cứu Với khoá luận này, chúng tôi muốn giới thiệu cho ngườiđọc về tác giả Phạm Đình Hổ, giá trị nội dung của tác phẩm – hiện thựclịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XVIII Từ đây, chúng ta thấy được sự độc đáotrong việc phản ánh hiện thực đương thời, cũng như đóng góp to lớn cho sựphát triển văn xuôi trung đại Việt Nam của tác giả họ Phạm
Trang 73.2.Thực hiện đề tài Vũ trung tuỳ bút với hiện thực xã hội Việt Nam
cuối thế kỷ XVIII, chúng tôi hy vọng thấy được cái hay, cái đẹp của tác
phẩm, để từ đó có thể cảm thụ và giảng dạy tác phẩm tốt trong nhà trườngphổ thông
Để thực hiện đề tài, chúng tôi lựa chọn bản dịch Vũ trung tuỳ bút
của Nguyễn Hữu Tiến dịch và chú thích, Lâm Giang giới thiệu (2001),NXB Văn học, Hà Nội Đây là bản dịch được các nhà nghiên cứu đã sửdụng nhiều bởi tính chính xác, độ tin cậy của nó cao
5 Phương pháp nghiên cứu.
Để thực hiện đề tài Vũ trung tuỳ bút của Phạm Đình Hổ với hiện
thực lịch sử xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XVIII, chúng tôi chủ yếu sử dụngcác phương pháp sau: Phương pháp hình thức, phương pháp tiểu sử,phương pháp thống kê, phương pháp loại hình, phương pháp so sánh đốichiếu, phương pháp phân tích - tổng hợp
6 Đóng góp của khóa luận.
- Khẳng định vị trí của Vũ trung tùy bút trong kí trung đại nói riêng
và văn xuôi trung đại Việt Nam nói chung
- Khẳng định được giá trị nội dung của Vũ trung tùy bút : tái hiện
được bức tranh lịch sử xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XVIII
- Khẳng định được tài năng của Phạm Đình Hổ qua việc sử dụng một
số thủ pháp nghệ thuật tiêu biểu để viết Vũ trung tùy bút.
7 Bố cục luận văn.
Trang 8Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chínhcủa khoá luận này sẽ triển khai trong ba chương.
Chương 1: Vũ trung tuỳ bút trong tiến trình kí trung đại Việt Nam.
Chương 2: Hiện thực lịch sử xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XVIII –
nội dung chính của Vũ trung tuỳ bút.
Chương 3: Một số thủ pháp nghệ thuật được vận dụng trong Vũ
trung tuỳ bút.
CHƯƠNG 1
VŨ TRUNG TÙY BÚT TRONG TIẾN TRÌNH KÍ
TRUNG ĐẠI VIỆT NAM 1.1 Thể kí trong tiến trình kí trung đại Việt Nam.
Trang 9Kí là một trong những thể loại thuộc hệ thống văn học ngoại nhập.Tuy vậy, nó vẫn có chỗ đứng quan trọng trong nền văn xuôi tự sự trung đạiViệt Nam.
Kí trung đại Việt Nam từ khi hình thành đến khi vận động và pháttriển tới đỉnh cao đã trải qua bốn giai đoạn: thế kỷ X – XIV, thế kỷ XV –XVII, thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX, nửa cuối thế kỷ XIX
1.1.1.Giai đoạn thứ nhất: thế kỷ X – XIV.
Đây là thời kỳ hình thành, phát triển của chế độ phong kiến ViệtNam, thời kỳ phục hưng các truyền thống tốt đẹp của dân tộc (yêu nước,nhân văn), kết hợp với việc tiếp thu văn hoá nước ngoài ( Phật, Đạo, Nho)
Từ thế kỷ X đến XIV, văn học viết chưa tách khỏi văn học dân gian
và văn học chức năng (hành chính, tôn giáo), tức nó lấy văn học dân gian
và văn học chức năng làm cơ sở Trong nền văn xuôi tự sự “kí lại phải dựahoàn toàn vào văn học chức năng, là văn học chức năng”[26, 61] Nó chưa
có tên gọi theo đúng nghĩa Tuy vậy, kí vẫn tồn tại dưới hai loại hình chính:văn khắc và tự bạt
Về thành tựu, nếu như loại hình truyện ngắn đã xuất hiện một số tácphẩm, mà ảnh hưởng của chúng có sức lan toả suốt thời trung đại, thì kíchưa đạt tới trình độ như vậy Giai đoạn này, chỉ có vai trò là đặt nền móngcho giai đoạn sau
1.1.2 Giai đoạn thứ hai: thế kỷ XV – XVII.
Đầu thế kỷ XV, nhà nước phong kiến trải qua nhiều biến động lớn HồQuý Ly cướp ngôi nhà Trần lập nên nhà Hồ Sau khi lên ngôi, Hồ Quý Lyban hành nhiều cải cách tiến bộ nhưng đều không thành công do vấp phải
sự phản ứng gay gắt, quyết liệt của tầng lớp quý tộc đương thời Đất nướcrơi vào ách đô hộ của giặc Minh Ngót hai mươi năm đó, kho tàng thư tịch,sách vở, điển chương phần lớn bị thiêu huỷ, hoặc bị đem về Trung Quốc
Vì vậy, sau khi lãnh đạo nhân dân giành lại nền độc lập thì nhà Lê, đặc biệt
là Lê Thánh Tông cho sưu tầm sao chép những thư tịch đã bị mất
Trang 10Sau năm thế kỷ hình thành và phát triển, dòng văn học viết có nhiềuthành tựu rực rỡ Đến thế kỷ XV, dòng văn học ấy phát triển mạnh mẽ, toàndiện hơn Văn xuôi tự sự đã giảm thiểu mối quan hệ với văn học dân gian
và văn học chức năng; để vươn lên thành một loại hình nghệ thuật mớimang đậm sắc thái dân tộc, phản ánh sâu sắc hiện thực đương thời Có
nhiều tác phẩm đáng chú ý như: Lam Sơn thực lục (Nguyễn Trãi), Thánh
Tông di thảo (Lê Thánh Tông), Lĩnh Nam chích quái (Trần Thế Pháp), Nam Ông mộng lục (Hồ Nguyên Trừng), Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ)
Kí ở giai đoạn này tồn tại dưới dạng tự, bạt Nó tách ra thành mônkhoa học riêng: nghiên cứu, phê bình, lí luận văn học và đặt nền móng choloại hình kí nghệ thuật “Bằng phương pháp ghép những đoạn suy tư vàbình giá đối tượng mình đang phản ánh cuối mỗi thiên tự sự, Hồ NguyênTrừng đã đặt một chân lên biên giới thể kí.Riêng Lê Thánh Tông vàNguyễn Dữ thì đã đi những bước đi đầu tiên lên lãnh địa của kí bằng conđường dựng lên những nhân vật của thế giới khác để trực tiếp đối thoại với
họ về thế cuộc”[25,429].Tuy nhiên, chúng ta phải thấy rằng, ranh giới giữa
kí và truyện rất mỏng manh, tính chất kí trong văn xuôi tự sự giai đoạn nàyrất yếu, đôi khi đó chỉ là lối viết tự sự nhiều thiên, cái tôi cá nhân trong đó
chưa bộc lộ, chưa thoát khỏi vỏ bọc của cái ta cộng đồng (như Nam Ông
mộng lục của Hồ Nguyên Trừng Hoặc như nhiều thiên trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, được xếp vào thể kí lại mang đặc trưng của
truyện Bích câu kì ngộ kí của Đặng Trần Côn cũng không thể xem là tác
phẩm thuộc thể kí Điều làm nên sự khác biệt giữa truyện và kí về bản chất
là do “thái độ của người cầm bút Nếu người cầm bút tách mình ra khỏi các
sự kiện, các nhân vật đang được miêu tả như người ngoài cuộc thì đó làtruyện, còn tác giả hoà vào sự kiện, vào các nhân vật là tư cách là ngườitrong cuộc thì đấy lại là kí”[25,427]
Như vậy, “kí chỉ thực sự ra đời khi người cầm bút trực diện trình bàyđối tượng mình đang phản ánh bằng cảm quan của chính mình” [Dẫn theo
Trang 1120,19] Văn học, mà cụ thể là văn xuôi tự sự thế kỷ XV – XVII chưa làmđược điều đó vì cái tôi cá nhân chưa phá vỡ khỏi cái ta cộng đồng, phải đợiđến giai đoạn thế kỷ XVIII – XIX khi có đủ điều kiện.
1.1.3 Giai đoạn thứ ba: thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX.
Lịch sử xã hội Việt Nam thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX là mộtgiai đoạn đầy biến động Sau khi phát triển đến đỉnh cao ở triều Lê ThánhTông, nhà nước phong kiến Việt Nam đi dần vào khủng hoảng Nội chiếnkéo dài nhiều năm giữa Lê – Mạc (1545 – 1592) và Trịnh – Nguyễn (1627– 1672) đã phá vỡ trật tự mà xã hội trước đây từng gây dựng Đất nước có
sự ngăn cách, đời sống nhân dân vô cùng cực khổ Hậu quả nặng nề đó kéodài và trở nên nghiêm trọng hơn khi mà triều Lê – Trịnh lại có những biểuhiện suy thoái trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Càng về sau do vua
Lê “ nhu nhược cầu an, rủ áo chắp tay” để “chúa gánh cái lo, còn mìnhhưởng cái vui” thì xã tắc giang sơn đã chuyển dần sang tay nhà chúa ChúaTrịnh tìm mọi cách lấn át hoàng tộc, thâu tóm quyền hành Vua Lê chỉ còn
là cái bóng hư vị Mâu thuẫn giữa vua và chúa ngấm ngầm diễn ra Sựkhủng hoảng không chỉ ở chúa Trịnh Đàng Ngoài mà còn diễn ra với cácchúa Nguyễn ở Đàng Trong Chính sự thay đổi nhanh chóng của các triềuđại, đã kéo theo sự khủng hoảng về kinh tế, chính trị, tư tưởng ngày càngtrầm trọng trong mấy chục năm cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX Đặcbiệt, nó ảnh hưởng một cách sâu sắc đến vốn sống, tình cảm, quan niệmsống, quan điểm thẩm mĩ của các nhà văn thời bấy giờ Họ đã chú tâm ghichép “thực tế bể dâu”, “những điều trông thấy” trong từng trang sách
Giai đoạn này, kí phát triển mạnh, đạt được thành tựu rực rỡ Tác
phẩm mở đầu cho kí thế kỷ XVIII – XIX là Công dư tiệp kí của Vũ Phương
đề Lần đầu tiên, trong văn xuôi tự sự Việt Nam xuất hiện một tác phẩm cóquy mô lớn tới 43 thiên, được người viết dùng thuật ngữ chỉ thể loại là kí
Tiếp theo Trần Tiến viết Cát Xuyên tiệp bút, Trần Quý viết Tục công dư
tiệp kí Trần Tiến viết tiếp hai tác phẩm kí khá đặc sắc là Tiên tướng công
Trang 12niên phả lục và Trần Khiêm Đường niên phả lục Thành công của hai tác
phẩm này là, tác giả đã tách tác phẩm của mình ra khỏi lối viết truyện Thể
kí đã được Trần Quýnh đưa lên một bước phát triển mới Tuy nhiên, tácphẩm của ông vẫn chưa cắt dứt mối dây ràng buộc với văn học chức năng
Phải đến Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác, hạn chế này mới được khắc phục “Thượng kinh kí sự là tác phẩm kí nghệ thuật đích thực đầu tiên của
Việt Nam” [27, 69] Nó là đỉnh cao, thể hiện sự hoàn thiện của kí thời trungđại trong nền văn học dân tộc Tác phẩm của Lê Hữu Trác chẳng có chútvấn vương đến văn học chức năng Tác giả đã kết hợp nhiều bút pháp nghệthuật trong tác phẩm của mình: du kí, nhật kí, hồi kí, kí phong cảnh, kí
người, kí vật…Sau Thượng kinh kí sự, Bắc hành tùng kí của Lê Quýnh ra
đời “Sự độc đáo của tác phẩm là, tác giả đã phản ánh chân thật cuộc sốnglưu vong của vua tôi Lê Chiêu Thống, đặc biệt là đời sống ngục tù cùngnhững thủ đoạn hiểm độc của nhà Thanh” [27, 72] Nếu như những tác giảtrước mở ra lối viết kí dài hơi , thì Phạm Đình Hổ “mở ra lối kí đa dạng về
bút pháp” [27, 72] Ông đã viết bốn tác phẩm kí: Vũ trung tuỳ bút, Tang
thương ngẫu lục (viết chung với Nguyễn Án), Châu Phong tạp thảo và Hành tại diện đối kí với bốn thể tài khác nhau: tuỳ bút, ngẫu lục, tạp thảo
và kí
Như vậy, ở giai đoạn thứ ba, kí đạt tới đỉnh cao với nhiều tác phẩmmẫu mực
1.1.4 Giai đoạn bốn: nửa cuối thế kỷ XIX.
Bắt đầu từ thế kỷ XVI, thế giới bước sang giai đoạn phát triển củanền kinh tế hàng hoá Chủ nghĩa tư bản châu Âu bắt đầu tìm kiếm thuộc địabằng con đường xâm lược Trong bối cảnh chung đó, năm 1858, Phápchính thức nổ súng xâm lược nước ta Xã hội Việt nam trở thành xã hộithực dân nửa phong kiến Văn học chịu ảnh hưởng rõ nét của lịch sử
Trang 13Nếu ở giai đoạn thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX, kí đạt đến độviên mãn, thì nửa cuối thế kỷ XIX, nó rơi vào bế tắc Thể kí đi theo haihướng Hướng thứ nhất, tiếp tục truyền thống viết kí bằng chữ Hán Đại
diện là Phạm Phú Thứ, Phan Thanh Giản, Nguỵ Khắc Đản với Giá Viên
biệt lục ghi lại hành trình từ Huế xuống Gia Định, từ Gia Định đến Tân
Gia Ba, Mã Lai; rồi từ Mã Lai qua kênh đào Xuyê đến Ai Cập rồi vào nướcPháp; sau đó từ Pháp đến Tây Ban Nha đi Italia Hơn chín tháng ở Tây Âu,
họ được sống giữa những trung tâm phát triển nhất của Chủ nghĩa Tư bản:Julông, Mácxây, Pari, Cairô…để xem xét, khảo sát phương Tây về kinh tế,
văn hóa, xã hội, khoa học kĩ thuật Chỉ có điều Giá Viên biệt lục viết ra để
trình lên nhà vua Bởi thế, tác phẩm trở thành biên bản, tác giả trở thành
thư kí “Và vì vậy, Giá Viên biệt lục quay lại với hình thức văn học chức năng Hình thức ấy mâu thuẫn với nội dung Giá Viên biệt lục báo hiệu sự
bế tắc của thể kí” [25,457] Sau Phạm Phú Thứ và nhóm tác giả của Giá
Viên biệt lục là các tác giả kí cuối cùng của thế kỷ XIX: Đặng Huy Trứ,
Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch Họ tận mắt chứng kiến cuộc sốngcủa người Việt “ từ năm Mậu Ngọ 1858 đến nay, lũ lụt, hạn hán, bão tố,hoàng trùng, binh đao, tật dịch, chi phí ngày càng nhiều, tài chính ngàycàng thiếu hụt Ba tỉnh Gia Định, Biên Hoà, Định Tường ở Nam Kì lànhững nơi tài nguyên nhiều, đất đai rộng thì đã bị bọn Phú Lãng Sa chiếmđóng…” [Dẫn theo 20,22] Tác phẩm của Đặng Huy Trứ có nội dung sâusắc, mang tính chất hùng biện, nhưng thiên về hình thức nghị luận Kí củaNguyển Tường Tộ và Nguyễn Lộ Trạch lại ngả hẳn sang điều trần và kếsách Thể kí càng rơi vào bế tắc
Hướng thứ hai, kí viết bằng chữ quốc ngữ hiện đại Tác phẩm
Chuyến đi Bắc Kì năm Ất Hợi 1876 do Trương Vĩnh Kí viết đánh dấu bước
chuyển của kí Từ kí trung đại chuyển sang loại hình kí hiện đại Trước thờicuộc mới, kí trung đại kết thúc vai trò lịch sử của mình và nhường chỗ chonền văn học hiện đại
Trang 14Tóm lại, qua mười thế kỷ (X – XIX), ta thấy được quá trình hìnhthành, vận động và phát triển của kí trung đại Từ chỗ nó còn là văn họcchức năng đã trở thành một loại hình nghệ thuật với nhiều thành tựu rực rỡ.Bên cạnh loại hình truyện ngắn và tiểu thuyết chương hồi, kí đã góp phầntạo nên diện mạo hoàn chỉnh cho nền văn học trung đại Việt Nam.
Như trên đã khẳng định, Vũ trung tuỳ bút (Phạm Đình Hổ) là tác
phẩm kí ra đời vào giai đoạn thứ ba trong tiến trình kí trung đại Hầu hết,
các nhà nghiên cứu đều có ý kiến chung như vậy Và thực sự, Vũ trung tuỳ
bút là một tác phẩm tiêu biểu, có giá trị trong giai đoạn văn học có bước
Phạm Đình Hổ là con một ông quan đại thần, tư chất thông minh,được học hành từ nhỏ Lên chín tuổi, Phạm Đình Hổ đã đọc sách Hán Thư.Nhưng đến năm mười ba tuổi, cha ông qua đời, nên việc học hành có phần
bị ngưng lại Ông có học ở trường “Quốc Tử Giám”, đi thi đậu sinh đồ ( tútài ) Thế rồi, nhiều biến cố lịch sử đã dồn dập xảy ra: Tây Sơn lên thay nhà
Lê, họ Trịnh bị diệt vong Phạm Đình Hổ đều không làm quan, mà ở nhàdạy học Đến năm 1821, Minh Mệnh tuần du Bắc Hà, có xuống chiếu cầusách hay Phạm Đình Hổ đem dâng một số sách đã viết, được nhà vua chú
ý, cho làm chức Hành tẩu, rồi cất nhắc lên làm Tế tửu Quốc Tử Giám, kiêmThị giảng học sĩ Đối với một tú tài, được giữ chức vụ ấy kể ra cũng đã là
Trang 15một sự biệt đãi Tuy vậy, chỉ một thời gian ngắn, ông lấy cớ dưỡng bệnh đểnghỉ Ông mất năm 1839.
Phạm Đình Hổ làm rất nhiều sách, được chia làm ba loại
Loại điển lệ có Lê triều hội điển (chia làm 6 bộ, chép tường điển lệ
về cuối đời Lê) và Bang giao điển lệ (phép tắc về việc giao thiệp nước này
nước nọ)
Loại địa lí có An Nam chí, Ô Châu lục, Kiến khôn nhất lãm, bắt đầu trích lục các bộ Nhất thống chí đời Thanh rồi đến bản đồ các đường đi ở nước Nam, Ai Lao sứ trình (Đường đi Ai Lao)
Tạp loại có Hi kinh trắc lãi ( Bàn về kinh Dịch), Nhật dụng thường
đàm (Sách dạy những chữ nho hàng ngày dùng đến khi nói chuyện
thường)
Về sáng tác văn học, ông có các tập thơ Đông dã học ngôn thi tập;
Tùng, cúc, trúc, mai tứ hữu Ngoài thơ, Phạm Đình Hổ còn có bốn tập kí
Vũ trung tuỳ bút, Tang thương ngẫu lục (viết chung với Nguyễn Án), Châu Phong tạp thảo và Hành tại diện đối kí Bốn tác phẩm trên viết bằng bốn
thể tài khác nhau: tuỳ bút, ngẫu lục, tạp thảo và kí
Phạm Đình Hổ sáng tác từ những năm dưới thời Tây Sơn, nhưng giaiđoạn chủ yếu là thời nhà Nguyễn Qua các sáng tác, ông đã “khiến chongười đọc có thể hiểu sâu thêm phần nào một giai đoạn lịch sử đầy sử biến
bể dâu”[25, 418] Vì vậy, tác phẩm của ông là những tài liệu quý giá để thế
hệ đời sau khảo cứu về lịch sử, địa lí, điển lễ, phong tục về cuối đời Lê.Đằng sau bức tranh xã hội mà tác giả tái hiện thấm đượm nỗi buồn khônnguôi trước cảnh ngộ éo le, thất thế; nhưng điểm xuyết trong một số tácphẩm đã nói lên được niềm lạc quan, vui tươi
Nói đến sự nghiệp sáng tác của Phạm Đình Hổ gợi cho chúng ta nhớ
đến một câu chuyện trong Tự thuật – Vũ trung tuỳ bút
“Bà bảo mẫu họ Hoàng thường hỏi ta: “Về sau có chí muốn gì?”
Ta nói: “Làm người con trai phải lập thân hành đạo, đó là phận sự của
Trang 16mình rồi; không phải nói nữa Sau này, trưởng thành mà được lấy văn thơ nổi tiếng đời để cho người ta biết là con cháu nhà nọ nhà kia thì đó chính
là chí muốn của tôi vậy” [14,9].
Quả thật, Phạm Đình Hổ đã thực hiện được chí nguyện lớn lao vàđẹp đẽ của đời mình
duy của con người Vũ trung tuỳ bút là một tác phẩm tiêu biểu của kí giai
đoạn này Nó góp phần tạo nên sự phong phú văn học giai đoạn từ XVIIIđến đầu XIX - giai đoạn văn xuôi tự sự phát triển rưc rỡ nhất trong nền vănhọc trung đại
Vũ trung tuỳ bút là tác phẩm kí viết bằng chữ Hán Theo lời giới
thiệu của Lâm Giang trong Vũ trung tuỳ bút (2001), NXB Văn học, Hà Nội thì tập sách Vũ trung tuỳ bút được phân chia thành hai quyển: Quyển
thượng có 38 đề mục, quyển hạ có 52 đề mục Tác phẩm này hiện còn 5 dịbản, với 5 kí hiệu thư viện khác nhau, lưu trữ tại Thư viện Viện Nghiên cứuHán Nôm (4 bản) và Thư viện Quốc gia (1 bản) Sau khi so sánh đối chiếu,các nhà nghiên cứu đều cho rằng: sự ghi chép giữa các bản đều khá thốngnhất,các đề đề mục cũng sắp xếp theo trật tự như nhau, sự sai lệch về từngữ không đáng kể Đây là cơ sở thuận lợi cho các nhà biên dịch dịch tácphẩm ra tiếng Việt
Vũ trung tuỳ bút lần đầu tiên được Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến
dịch ra tiếng Việt,đăng tải trên Tạp chí Nam Phong từ số 121 đến 126 trong
Trang 17khoảng thời gian từ tháng 9 năm 1927 đến tháng 2 năm 1928 Tiếp đó, năm
1972, NXB Văn học cho in thành sách nguyên văn bản dịch của NguyễnHữu Tiến, với lời giới thiệu của Trương Chính Đến 1989, NXB Trẻ thuộchội Nghiên cứu Giảng dạy Văn học Thành phố Hồ Chí Minh tái bản saukhi Nguyễn Quảng Tuân khảo đính và chú thích Để phục vụ cho đề tài
“Vũ trung tuỳ bút” của Phạm Đình Hổ với hiện thực lịch sử xã hội Việt
Nam cuối thế kỷ XVIII; chúng tôi chọn Vũ trung tuỳ bút, Nguyễn Hữu Tiến
dịch và chú thích, Lâm Giang giới thiệu, NXB Văn học, Hà Nội, 2001 làm
cứ liệu
Theo bản dịch trên, Vũ trung tuỳ bút gồm 90 bài văn ngắn (kể cả bài
Tự thuật) , mỗi bài chép một đề mục Việc phân nhóm cho tác phẩm kí này
cũng là một vấn đề phức tạp.Dựa trên những tiêu chí nhất định, các nhà phêbình nghiên cứu có cách phân chia riêng
Nguyễn Lộc trong Lời bạt in sau sách Vũ trung tùy bút do NXB Trẻ
và Hội nghiên cứu giảng dạy Văn học Thành phố Hồ Chí Minh tái bản năm
1989, phân Vũ trung tuỳ bút ra làm bốn loại: ghi chép những việc xảy ra
trong xã hội thời bấy giờ; bàn về các thứ lễ( lễ, tệ tục, thi cử, phong tục, âmnhạc, chữ viết); viết về nhân vật lịch sử, di tích lịch sử; một số sự vật linhtinh khác
Trong Việt Nam văn học sử yếu, NXB Tổng hợp Đồng Tháp,1993
(tái bản) Dương Quảng Hàm đã chia tác phẩm ra làm nhiều loại; tiểu truyện
các bậc danh nhân ( Phạm Ngũ Lão, Phạm Trấn, Đỗ Uông, Lê Lợi, Nhà Họ
Nguyễn ở Tiên Điền…); loại ghi chép các cuộc du lãm, những nơi thắng
cảnh ( Cảnh chùa Sơn Tây, Cảnh chùa Đế Thích…); ghi chép các việc xảy
ra về cuối đời Lê ( Chuyện cũ trong Phủ chúa Trịnh, Cuộc bình văn trong
nhà Giám, Các việc tai dị, Các điềm ghở…); khảo cứu về duyên cách địa
lý( Thay đổi địa danh, Xứ Hải Dương, Tên huyện Đường An, Tên làng
Châu Khê…); khảo cứu về học thuật (các thể văn, các lối chữ, âm nhạc,
đàn, y học); khảo cứu về lễ nghi(lễ đội mũ, tang, tế, lễ tế giao…);khảo cứu
Trang 18về điển lễ (khoa cử, phép thi, quan chức…) Cách phân chia này tương đối
cụ thể, dựa trên tiêu chí nội dung được phản ánh trong tác phẩm
Phạm Thế Ngũ trong công trình nghiên cứu Việt Nam văn học sử
giản ước tân biên (tập 1), NXB Đồng Tháp (tái bản),1996 cũng đồng tình
với cách phân chia như của Dương Quảng Hàm [27,301-302]
Theo Lâm Giang trong Giới thiệu văn bản (Vũ trung tuỳ bút, NXB Văn học, Hà Nội, 2001), Vũ trung tuỳ bút được chia làm bốn nhóm: Nhóm
những bài bút kí được ghi chép những điều “mắt thấy tai nghe”, nhómnhững bài bút kí được ghi theo trí nhớ, nhóm những bài bút kí được ghitheo lời kể của người khác, nhóm những bài bút kí được viết qua khảo cứusách vở[17, 6]
Cuối cùng, trong Từ điển văn học (bộ mới),NXB Thế giới(2004) do Nguyễn Phương Chi chủ biên, mục Vũ trung tùy bút cũng đã phân ra bốn
loại nhưng khác hơn trên Đó là: một phần lớn sách dành cho các bàinghiên cứu phong tục và các biến thiên của nó qua các thời đại Ở phần này
tác giả đã phê phán một cách nghiêm khắc việc thờ cúng nhảm nhí (Thần
trẻ con, Miếu bà chúa Ngựa) cũng như nhiều hủ tục cưới xin, ma chay,
đình đám khác Thông qua đó, tác phẩm phản ánh được thực trạng thối nátcủa xã hội phong kiến đương thời và sự sụp đổ tất yếu của thể chế xã hội
đó Một số những mẩu kí sự hồi ức trực tiếp phản ánh hiện thực xã hộiđàng ngoài thời Lê mạt Ở một số truyện khác tác giả miêu tả và thưởngngoạn thiên nhiên với con mắt nhà nghệ sĩ Đồng thời, ở một số truyệnPhạm Đình Hổ còn phân tích một số hiện tượng văn học, tìm hiểu đặc điểmcủa văn học Việt Nam ở từng thời đại cũng như sự phát triển của các thể tàivăn học [29, 2037]
Qua việc phân loại, phân nhóm trên chứng tỏ Vũ trung tuỳ bút là một
tác phẩm viết về nhiều đề tài khác nhau Và đây chính là tài liệu quý giá, đểngày nay các nhà nghiên cứu có thể khảo cứu về lịch sử, địa lý, điển lễ,
phong tục…cuối đời Lê Đồng thời, Vũ trung tuỳ bút cũng là minh chứng
Trang 19cho sự hiểu biết phong phú, sâu rộng của Phạm Đình Hổ về văn hoá, đấtnước; những nỗi niềm tâm sự về nhân tình thế thái, về cuộc đời của mộtnhà nho mực thước Trong những cách phân chia trên, chúng tôi đồng tình
hơn cả với cách chia của Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử
yếu, bởi nó phục vụ đắc lực cho đề tài nghiên cứu ở khoá luận này.
Một điểm đáng chú ý khi chúng ta tìm hiểu tác phẩm này, chính là
tiêu đề của nó Vũ trung tuỳ bút – một cái tên đầy sức gợi, sức lan toả sâu
xa Vũ trung tuỳ bút được hiểu là “ tuỳ bút viết trong mưa”, hay có người
dịch là “theo ngọn bút viết trong khi mưa” Mưa ở đây có thể là một hiệntượng có thật, nhưng cũng có thể là hình ảnh mang tính chất tượng trưng –tượng trưng cho một xã hội loạn lạc đau thương Nhan đề tác phẩm đã gửigắm bao niềm xót xa thầm kín Người đọc không khỏi bâng khuâng xaođộng Chỉ với nhan đề, bức tranh hiện thực của xã hội đương thời đã hiệnlên trong tâm trí người đọc
Đi sâu vào tìm hiểu, chúng tôi thấy Vũ trung tuỳ bút đã tái hiện một
cách sinh động, hấp dẫn hiện thực đen tối lịch sử nước ta vào cuối thế kỷXVIII, đồng thời cung cấp những kiến thức về văn hoá truyền thống, vềphong tục, địa lý, những danh lam thắng cảnh Lối ghi chép rất thoải mái,
tự nhiên, nhưng chân thực, tỉ mỉ, không nhàm chán, xen kẽ những lời bìnhluận ngắn gọn đầy cảm xúc, đôi khi rất kín đáo của tác giả càng làm tăng
thêm sức hấp dẫn cho Vũ trung tuỳ bút.
Trên đây, là những nét chính, cơ bản, khái quát về tác phẩm Vũ
trung tuỳ bút của Phạm Đình Hổ Chúng ta có thể khẳng định rằng, đây là
tác phẩm kí tiêu biểu trong văn học trung đại Nói tới kí trung đại, người ta
không thể không nhắc tới cái tên Vũ trung tuỳ bút Tuy nhiên, ở khoá luận
này, chúng tôi chỉ bàn đến phương diện tác phẩm: hiện thực lịch sử xã hộiViệt Nam cuối thế kỷ XVIII được phản ánh trong đó
1.2.3.Vấn đề thể loại của Vũ trung tuỳ bút.
Trang 20Có thể nói rằng, thể loại là một trong những phạm trù cơ bản nhấtcủa sáng tác, cũng như tiếp nhận văn học Không có một tác phẩm văn họcnào lại không thuộc về một loại thể dưới dạng một thể tài nhất định nào đó.Người nghệ sĩ bắt buộc phải lựa chọn một phương thức, một cách thức vớimột dạng thức cấu trúc – tổ chức ngôn từ nhất định khi muốn chiếm lĩnhhiện thực cuộc sống Hiện thực cuộc sống là phong phú, là bề bộn, là đachiều Chính vì thế, sự chiếm lĩnh của nhà văn cũng phải phù hợp, tinh tế.Đến lượt người tiếp nhận - có thể là học sinh, sinh viên học tập; giáo viêngiảng dạy, người làm công tác nghiên cứu phê bình- thể loại tác phẩmchính là “đường dẫn” để người ta lý giải, giải mã, tìm hiểu toàn bộ chiều
sâu bên trong của tác phẩm…Đối với Vũ trung tuỳ bút cũng vậy, muốn tìm
hiểu phương diện nào của tác phẩm, chúng ta cũng cần phải xác định thểloại của nó Đứng ở góc độ thể loại, độc giả sẽ thâm nhập sâu vào nhữnggiá trị đích thực mà nhà văn thể hiện trong đó
“Thể loại văn học là nơi thể hiện rõ nhất đặc trưng loại hình của vănhọc” [8, 39] Thể loại là phương diện phân biệt rõ nét nhất hai loại hình vănhọc trung đại và hiện đại Qua hệ thống thể loại văn học trung đại, Phó giáo
sư Tiến sĩ Biện Minh Điền, trong bài nghiên cứu “Vấn đề phân loại thể
loại văn học trung đại Việt Nam” đã chỉ rõ ba đặc điểm khu biệt của hệ
thống thể loại văn học trung đại trong tương quan với hệ thống thể loại vănhọc hiện đại Thứ nhất, nó có sự “hỗn dung, bề bộn, chồng chéo hay có thểgọi là đậm tính nguyên hợp”[8, 39] Thứ hai, “ nó mang tính quy phạm cao,
có đặc trưng thi pháp hết sức chặt chẽ” [8, 39] Thứ ba, “ nhìn bề ngoài từ
bề mặt hình thức văn bản tác phẩm, dễ thấy tên thể loại được nêu ngay từ
đầu đề tác phẩm”[8, 39] Trong khi đó, Vũ trung tuỳ bút là một tác phẩm
thuộc một thể loại nhất định trong hệ thống thể loại văn học trung đại Tìm
hiểu, đưa ra vấn đề thể loại của Vũ trung tuỳ bút có nghĩa rằng, chúng tôi
đang làm rõ đặc trưng của một thể loại văn học trung đại Tên thể loại của
Vũ trung tuỳ bút, có thể trùng với tên thể loại trong hệ thống thể loại văn
Trang 21học hiện đại, nhưng chúng có những điểm khác nhau, không đồng nhất vớinhau như nhiều người nhầm tưởng.
Khi đánh giá về Vũ trung tuỳ bút có, một số ý kiến, mà tiêu biểu là của Lại Nguyên Ân và Bùi Văn Trọng Cường trong Từ điển văn học Việt
Nam (từ nguồn gốc đến hết thế kỷ XIX), xem nó có giá trị sử liệu và văn
liệu, chứ không như một thể loại trong văn học trung đại Tuy nhiên, quanghiên cứu ta có thể khẳng định, đây là một tác phẩm văn học có giá trị Về
vấn đề thể loại thì Vũ trung tuỳ bút là một tác phẩm kí đích thực Nó có
đóng góp cho kí trung đại Việt Nam Tuy nhiên, nó thuộc thể tài nào, loạinào trong thể kí, thì đang còn nhiều ý kiến khác nhau Lâm Giang trong
Giới thiệu văn bản ( Vũ trung tuỳ bút, Nhà xuất bản Văn học Hà Nội 2001, Nguyễn Hữu Tiến dịch và chú thích, Lâm Giang giới thiệu) cho rằng Vũ
trung tuỳ bút là tập bút kí [17, 6] Nguyễn Đình Thi trong một bài nghiên
cứu cũng khẳng định “Vũ trung tuỳ bút thuộc loại văn bút kí” [37] Còn
Nguyễn Lộc trong văn học Viêt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII- hết thế kỷ
XIX lại xem Vũ trung tuỳ bút thuộc loại kí sự [22, 26] Ý kiến thứ ba về
vấn đề trên là của tác giả Trần Đình Sử trong công trình nghiên cứu nổi
tiếng Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Viêt Nam Khi bàn tới tạp kí,
cụ thể là tạp kí thế kỷ XVIII- XIX ông khẳng định “Tạp kí cũng có một
phạm vi ghi chép của nó”[33, 326] Ngoài những tác phẩm như Tang
thương ngẫu lục (Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án), Công dư tiệp kí (Vũ
Phương Đề) hay Kiến văn tiểu lục (Lê Quý Đôn), Trần Đình Sử đã đưa Vũ
trung tuỳ bút (Phạm Đình Hổ) ra làm dẫn chứng cho ý kiến của mình Điều
đó có nghĩa, tác giả đã khẳng định, đã thừa nhận Vũ trung tuỳ bút thuộc thể
tạp kí Trong các ý kiến bàn về thể tài của tác phẩm trên, chúng ta khôngthể không nhắc đến ý kiến của Dương Quảng Hàm và Nguyễn Đăng Na
Trong công trình Việt Nam học sử yếu, Dương Quảng Hàm cho rằng Vũ
trung tuỳ bút là tác phẩm thuộc thể tuỳ bút [12, 341] Cùng ý kiến với ông,
có Nguyễn Đăng Na Nguyễn Đăng Na là người có công nhất trong việc
Trang 22nghiên cứu kí trung đại ở Việt Nam Ông liệt kê bốn tác phẩm liên quan
đến kí của Phạm Đình Hổ trong đó có Vũ trung tuỳ bút- tác phẩm thuộc thể
tài tuỳ bút [26, 72 ]
Với những lý do trên, chúng ta thấy được tầm đúng đắn và sự cần
thiết khi đưa ra vấn đề thể loại của Vũ trung tuỳ bút Trong khả năng có thể,
chúng tôi đưa ra kiến giải của mình
Trước hết chúng ta bàn về thể loại kí
So với các thể loại văn học khác, thì kí là một thể loại ra đời sớmtrong lịch sử văn học nhân loại, bởi nó có sự năng động, linh hoạt, nhạybén trong việc phản ánh hiện thực ở cái thế trực tiếp nhất, sinh động nhất.Tác phẩm kí vừa có khả năng đáp ứng yêu cầu bức thiết của thời đại, đồngthời vẫn thể hiện được tiếng nói sâu sắc của nghệ thuật
Trong lí luận văn học hiện đại, có nhiều ý kiến về khái niệm thể loại kí
Theo Từ điển tiếng Việt: “kí là thể văn tự sự viết về người thật, việc
thật có tính chất thời sự, trung thành với mức cao nhất” [30,122]
Trong 150 thuật ngữ văn học định nghĩa: kí là “tên gọi chung cho
một nhóm thể tài nằm ở phần giao nhau giữa văn học và ngoài văn học…chủ yếu là văn xuôi tự sự, gồm các thể như bút kí, hồi kí, du kí, phóng sự,
kí sự, nhật kí…Kí nói chung khác với truyện ở chỗ tác phẩm kí không cómột xung đột thống nhất, phần khai triển của tác phẩm chủ yếu mang tínhmiêu thuật Đề tài và chủ đề của tác phẩm kí có khác so với truyện”[3,179]
Cuốn Từ điển thuật ngữ văn học do nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần
Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên quan niệm: kí là “một loại hìnhvăn học trung gian, nằm giữa báo chí và văn học gồm nhiều thể, chủ yếu làvăn xuôi tự sự như bút kí, hồi kí, du kí, phóng sự, kí sự, nhật kí, tuỳ bút…
Kí không nhằm vào việc miêu tả quá trình hình thành tính cách của các cánhân trong tương quan với hoàn cảnh Những câu chuyện đời tư khi chưanổi lên thành các vấn đề xã hội cũng không phải là đối tượng quan tâm của
Trang 23kí Đối tượng thẩm mĩ của kí thường là một trạng thái đạo đức – phong hoá
xã hội, một trạng thái tồn tại của con người hoặc những vấn đề xã hội nóngbỏng Vì thế có nhiều tác phẩm kí rất gần gũi với truyện ngắn Nhưng khácvới truyện ngắn, truyện vừa, đặc biệt là tiểu thuyết, kí có quan điểm thể loại
là tôn trọng sự thật khách quan của đời sống, không hư cấu Nhà văn viết kíluôn chú ý đảm bảo cho tính xác thực của hiện thực đời sống được phảnánh trong tác phẩm…” [13, 162 – 163]
Hoàng Ngọc Hiến trong Năm bài giảng về thể loại (Kí và tiểu luận)
có nói: “Trong nghiên cứu văn học Việt Nam đương đại, kí là một thuậtngữ được dùng để gọi tên một thể loại văn học bao trùm nhiều “thể” hoặc
“tiểu loại”: Bút kí, hồi kí, du kí, kí chính luận, phóng sự, tuỳ bút, tản văn,tạp văn, tiểu phẩm…” [14, 5] Ông đã chỉ ra đặc trưng của kí: viết về cuộcđời thực tại, về “người thật”, về “việc thật” Tác phẩm kí “thường được viếtnhư là sự phản ứng trực tiếp với những biến cố thời sự trước những vấn đềnóng bỏng đương đặt ra trong cuộc sống” [14, 5]
Như vậy, có nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra ý kiến của mình về kháiniệm, cũng như đặc trưng của thể loại kí Nhưng dù đứng ở góc độ nào, họcũng quan tâm tới các sự kiện, hoàn cảnh lịch sử, những biểu hiện của đờisống có thực cùng với cá tính sáng tạo của nhà nghệ sĩ “Với thể loại kí, từ
sự thôi thúc của cuộc sống mà tác giả có nhu cầu được công bố kịp thờinhững nhận xét, những đánh giá, những ý tưởng…”[Dẫn theo 34, 243]
So với các thể loại văn học khác, kí có những nét đặc thù riêng Tácphẩm kí luôn lấy sự thực khách quan và tính xác thực của đời sống làm cơ
sở Với thể loại kí, cuộc sống được ghi rõ từng chi tiết, từng sự kiện đẻthông qua đó thể hiện nhận thức, suy tư, thái độ của viết một cách đúngđắn Chính vì lí do trên, mà trong nhiều trường hợp, kí có sức lay động sâu
xa đối với người đọc Chẳng hạn như, đọc Người mẹ cầm súng của Nguyễn
Thi “Lòng yêu thương và ngưỡng mộ đối với người anh hùng đã trở nênsâu nặng hơn, nỗi ước muốn được găp mặt càng thúc giục hơn, khi người ta
Trang 24biết rằng một người mẹ như vậy đã sống thực, và đã đánh giặc ở một mảnhđất gọi là “ xã Tam Ngãi, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh” có thực của Tổquốc” [14, 6].
Tuy nhiên, có khi người viết kí vẫn sử dụng yếu tố hư cấu, nhưng hưcấu không làm nhoà đi diện mạo của sự thật được phản ánh, mà chỉ là biệnpháp nhằm làm cho hình tượng cuộc sống càng hấp dẫn hơn, có giá trị sâurộng hơn Hư cấu phải sử dụng đúng chỗ Nếu không thì nó sẽ phải trả giárất đắt: đánh mất sự tin cậy của độc giả, không có khả năng thuyết phụclòng người Như vậy, cái chính để khẳng định kí văn học đích thực chính lànhờ vào tài năng của tác giả Bên cạnh đó, nhà nghệ sĩ cũng cần phải cóvốn sống và tấm lòng Nhờ vậy, mà hiện thực trong kí không phải là sự saochép nguyên si, bê nguyên cuộc sống vào tác phẩm, mà nó đã trở thànhhình tượng nghệ thuật, lời văn có tính thẩm mĩ Từ một chuyến đi lên kinhcủa Lê Hữu Trác, từ những tang thương dâu bể của xã hội Việt Nam,chuyến đi hiệu lực lấy công chuộc tội của Lí Văn Phức sang phương Tây,chuyến lên Tây Bắc của Nguyễn Tuân đến các chiến dịch chống Pháp củadân tộc ở thế kỷ XX đã được các tác giả viết nên những tác phẩm kí có giátrị Bức tranh cuộc sống được dựng lên qua sự quan sát, tìm tòi với trái timdạt dào cảm xúc của tác giả Họ trực tiếp tham gia vào thế giới hình tượngnghệ thuật của tác phẩm và đã bộc lộ rõ lập trường, tư tưởng, chính kiếncủa mình về các sự việc, hiện tượng
Lớp ngôn từ trong tác phẩm kí cũng mang đặc trưng riêng Ở trong
đó, chúng ta bắt gặp cách sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh, được gọt giũabởi “cái tôi” thẩm mĩ của nhà văn Có nhiều nhà nghiên cứu còn khẳngđịnh rằng: “đặc điểm văn học của kí lộ rõ nhất ở văn phong, ngôn từ nghệthuật” [3, 179] Ngôn từ của kí, chủ yếu là ngôn ngữ trực tiếp của nhà văn –người trực tiếp chứng kiến và tái hiện hiện thực cuộc sống – nên nó vừa cụthể, vừa sinh động, vừa đậm chất đời thường Do vai trò đặc biệt quantrọng của tác giả trong tác phẩm kí, nên ngôn từ trong kí cũng mang đậm
Trang 25tính chủ thể Nhà văn luôn là người chứng kiến, ghi nhớ, ghi chép lại và đốithoại trước những hiện tượng mà bản thân mình quan sát được So với ngôn
từ nghệ thuật của các thể loại văn học khác, ngôn từ của kí luôn có xuhướng dung nạp nhiều hình thức và phong cách sáng tạo
Kí còn là thể loại rất linh hoạt về giọng điệu: giọng thuật kể kháchquan – bình đạm, giọng trần thuật kết hợp giữa kể - tả với bình luận trữtình đến lối viết kí giản dị, kể sự ngụ tình…
Như vậy, kí là một thể loại không chỉ có vai trò, vị trí riêng trong đờisống văn học, mà “kí còn là thể loại lưu giữ nhiều tài liệu xác thực về đờisống và cảm quan nghệ thuật của con người, là nguồn dự trữ tư liệu tin cậycho sáng tạo nghệ thuật về sau” [ 34, 255]
Đề tài mà chúng tôi nghiên cứu trong khoá luận này là hiện thực lịch
sử xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XVIII trong tác phẩm kí Vũ trung tuỳ bút.
Với đặc trưng thể loại kí nêu trên, thì việc tìm hiểu vấn đề này càng thuậnlợi, càng rõ ràng hơn Ý nghĩa, vai trò quan trọng của phạm trù thể loạicàng được minh chứng
Rõ ràng, Vũ trung tuỳ bút là một tác phẩm kí tiêu biểu của văn học Việt
Nam trung đại Nhưng nó thuộc thể tài bút kí? kí sự? tạp kí? hay tuỳ bút?
Khác với các tiểu loại khác trong kí, kí sự “nhằm ghi chép lại mộtcâu chuyện, một sự kiện tương đối hoàn chỉnh” [13, 167] Hơn nữa, có thểnói đây là thể tài đòi hỏi tiếng nói khách quan của sự kiện nghiêm ngặt hơn
cả Người viết kí sự “ có quyền bình luận, phân tích nhưng chủ yếu vẫn làtiếng nói của bản thân sự sống đang vận động, phát triển” [9, 228] Tác giảphải biết phát hiện, chọn lọc để làm nổi lên những sự kiện điển hình, mangtính xã hội, có sức khái quát cao Chính vì vậy mà kí sự, so với bút kí haytuỳ bút thì “ phần bộc lộ cảm nghĩ của tác giả và những yếu tố liên tưởng,
nghị luận thường ít hơn” [13, 167] Trong kí trung đại, Thượng kinh kí sự của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác và Bắc hành tùng kí của Lê Quýnh, được đánh giá là tác phẩm tiêu biểu cho tiểu loại này Thiên kí sự Thượng
Trang 26kinh kí sự được Lê Hữu Trác viết nhân chuyến ra Thăng Long chữa bệnh
cho thế tử Trịnh Cán năm 1782 Tác phẩm kể lại cuộc hành trình của LãnÔng trong vòng 9 tháng 20 ngày, thể hiện cái nhìn tương đối rõ nét, chânthực về xã hội phong kiến Việt Nam cuối thời Lê – Trịnh của một nhà nho
có cốt cách thanh cao…Còn Bắc hành tùng kí của Lê Quýnh xoay quanh
một chủ đề: người Thanh dùng mọi thủ đoạn để bắt ông cùng năm đồng sựcủa mình gọt tóc, thay đổi trang phục như người Mãn Thanh Cuộc đấutranh của Lê Quýnh với bọn người đó diễn ra trong vòng 15 năm trời Cuốicùng, nhà Thanh phải khuất phục trước lí lẽ sự kiên định của Lê Quýnh vàchấp nhận: “đầu tóc, ăn mặc được phép tự do, phần mộ chúa cũ được phépthăm viếng Con cái được phép qua lại” [Dẫn theo 20, 33]
Vũ trung tuỳ bút của Phạm Đình Hổ, rõ ràng không phải là tác phẩm
thuộc thể kí sự Nó tuy phản ánh chân thực hiện thực lịch sử, nhưng vẫn thểhiện một cách rõ ràng thái độ của tác giả trước các hiện tượng đó Đồngthời, tác phẩm không kể về một câu chuyện trọn vẹn, mà là tập hợp nhiều
bài văn ngắn kể về những chuyện khác nhau Vũ trung tuỳ bút,vì thế phải
thuộc về một thể tài khác
Tạp kí là thể kí ghi chép lại những điều mắt thấy tai nghe từ lịch sử
về nhân vật, sông núi, đền chùa, phương vực, vật phẩm, chuyện lạ…Nộidung của tạp kí hết sức đa dạng Lời văn ngắn gọn, súc tích, bình đạm gâyđược hứng thú ở người đọc Theo Trần Đình Sử, tạp kí với tư cách là mộttiểu loại của thể kí, như tuỳ bút, kí sự…bắt đầu từ đời Tống Nó bao gồmnhững truyện “kể ngắn về nhân vật, dật sử, dã sử, kì quái, bao gồm cả loạikhảo, biện, thư,trát, thuyết, thư, bình văn, phong tục, đồ dùng…” [33, 329].Tạp kí trong văn học Việt Nam có truyền thống thể loại từ văn học TrungQuốc Tuy nhiên, sang thế kỷ XVIII – XIX, tạp kí Việt Nam hoàn toàn hhácách Sáng tạo của các nhà viết kí Việt Nam trung đại thể hiện rõ nét ởdung lượng tác phẩm, lời văn, giọng văn, đề tài…Tính “sùng cổ” giảm hẳn;chỉ còn một mình nhà văn đối diện với sự việc, kể chuyện, trữ tình, bình
Trang 27luận…Với tính chất đó, tạp kí cùng với tuỳ bút là loại tác phẩm mang
những đặc trưng của thể loại tạp kí Chính vì thế, Vũ trung tùy bút được
Trần Đình Sử xếp vào thể tạp kí cũng là điều có lí
Đối với bút kí, đây là “thể loại thuộc loại hình kí, thường có quy môtương ứng với truyện ngắn…Bút kí ghi lại những con người thực và sự việc
mà nhà văn đã tìm hiểu, nghiên cứu cùng với những cảm nghĩ của mình
nhằm thể hiện một tư tưởng nào đó” [13, 28] Đối sánh ta thấy, Vũ trung
tùy bút đúng như Lâm Giang nói là một tập bút kí.
Tuy nhiên, trong các ý kiến trên, chúng tôi nghiêng về quan điểm:
Vũ trung tùy bút thuộc thể tài tùy bút, giống như ý kiến của Dương Quảng
Hàm và Nguyễn Đăng Na Sở dĩ như vậy, là có nhiều lí do xác đáng PGS –
TS Biện Minh Điền khi đưa ra “vấn đề phân loại thể loại văn học trung đạiViệt Nam” đã khái quát lại một đặc điểm : “nhìn bề ngoài từ bề mặt hìnhthức văn bản tác phẩm dễ thấy tên thể loại được nêu ngay từ đầu đề tácphẩm” [8, 39] Đây cũng là điều mà B.L.Riptin từng khái quát về thể loạivăn học phương Đông: “thể loại trong văn học trung đại là một phạm trùchủ đạo được thể hiện trong thường xuyên nêu bật nó lên ngay tên gọi tác
phẩm” [Dẫn theo 8, 39] Ngay từ nhan đề Vũ trung tuỳ bút ta đã có quyền
nói tác phẩm này thuộc tiểu loại tuỳ bút Tuy nhiên, trong nhiều trườnghợp, chúng ta không thể chỉ căn cứ vào đầu đề, bởi rất nhiều tác phẩm trênđầu đề không phản ánh đúng bản ánh đúng bản chất thể loại của nó Chẳng
hạn, “lấy khái niệm “lục” làm ví dụ: “lục” trong Lĩnh Nam chích quái lục,
Truyền kì mạn lục thuộc thể loại truyện, còn trong Bắc hành tạp lục thuộc
thể loại thơ” [Dẫn theo 8, 39] Muốn khẳng định chắc chắn Vũ trung tuỳ
bút thuộc thể tài tuỳ bút, chúng ta phải tiến hành khảo sát thực tế tác phẩm.
Đây chính là lí do quan trọng nhất Tuỳ bút trong văn học Việt Nam trungđại không được viết như lối tuỳ bút bây giờ Nó được hiểu một cách nôm
na là “muốn viết cái gì thì viết, không cần hệ thống, kết cấu và mạch lạc”.Tuy nhên, chúng ta không nên hiểu muốn viết cái gì thì viết ở đây là sự tuỳtiện, mà đó là sự tự do trong quá trình sáng tạo của nhà văn Sự việc và con
Trang 28người khi đi vào tuỳ bút, vẫn giữ được tinh thần người thật việc thật, nhưngđược trình bày một cách tản mạn, thoải mái, không gò ép Nó có thể viết vềquá khứ hay hiện tại Bởi thế, cấu trúc của tuỳ bút nói chung không bị ràngbuộc bằng một cốt truyện cụ thể, chặt chẽ, song nội dung vẫn được triểnkhai theo một cảm hứng chủ đạo, một tư tưởng nhất định Trong các thể kívăn học, tuỳ bút là thể loại giàu chất trữ tình nhất Qua ghi chép về sự thật
và con người cụ thể, có thực, tác giả đặc biệt chú trọng đến việc bộc lộ cảmxúc, suy tư, đánh giá của mình
1.3 Tiểu kết.
Qua những phân tích trên, chúng tôi nhận thấy rằng: văn xuôi trungđại Việt Nam nói chung và kí trung đại Việt Nam nói riêng có từng bướcphát triển, mà đỉnh cao là thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX Văn học giaiđoạn này chịu ảnh hưởng rõ nét của hoàn cảnh – thời kì cuối Lê – Trịnhkhủng hoảng, bế tắc Tình hình lịch sử thối nát, mục ruỗng đã trở thành đềtài, nguồn cảm hứng cho các nhà văn sáng tác, ghi chép những điều “trái tai
gai mắt” Những tác phẩm tiêu biểu: Hoàng Lê nhất thống chí, Thượng
kinh kí sự, Tang thương ngẫu lục…Và chúng ta không thể không kể đến Vũ trung tuỳ bút của Phạm Đình Hổ Nếu như Hoàng Lê nhất thống chí được
đánh giá là cuốn tiểu thuyết lịch sử viết theo thể loại chương hồi đầu tiên
đạt đến đỉnh cao về chất lượng nghệ thuật, Thượng kinh kí sự được xem là tác phẩm kí nghệ thuật đích thực đầu tiên của văn học Việt Nam, thì Vũ
Trung tuỳ bút là một tác phẩm thuộc thể loại tuỳ bút, được triển khai thành
nhiều thiên với nhiều bút pháp linh hoạt Nó tái hiện bức tranh xã hộiphong phú của nước ta cuối thế kỷ XVIII và là minh chứng cho nhân cách,phong cách kí của Phạm Đình Hổ
CHƯƠNG 2 HIỆN THỰC LỊCH SỬ XÃ HỘI VIỆT NAM CUỐI THẾ KỶ XVIII -
NỘI DUNG CHÍNH CỦA VŨ TRUNG TÙY BÚT
2.1 Giới thuyết về mối quan hệ giữa lịch sử và văn học
Trang 292.1.1.Tính chất “văn - sử - triết bất phân” của văn học trung đại
Tính chất “văn - sử - triết bất phân”còn có cách gọi khác là tính
“nguyên hợp” của văn học trung đại Trong một tác phẩm văn học thời nàythường có các yếu tố văn, sử, triết.Có tác phẩm thì thiên về văn - sử nhiềuhơn Có tác phẩm thì thiên về văn - triết nhiều hơn Trong quá trình tìmhiểu, đã có lúc người ta phân vân đây là tác phẩm sử học hay tác phẩm vănhọc Việc đó là cần thiết, nhưng sẽ không đi đến chân lí cuối cùng; bởi làmsao có thể tách chiết một cách rõ ràng, trong khi tác phẩm là sự hội tụ của
cả văn, sử Điều này tạo nên sức hấp dẫn cho tác phẩm
Có thể khẳng định rằng, tính chất “văn - sử - triết bất phân” trongvăn học Việt Nam thời trung đại là một hiện tượng mang tính đặc trưng, làquy luật đặc thù của văn học thời trung đại Phạm vi của nó không chỉ ởriêng Việt Nam mà mang tầm thế giới Chẳng hạn như ở Trung Quốc người
ta cũng đã bàn đến tính chất này Năm 1958, trên tạp chí Văn sử triết (Sơn
Đông - Trung Quốc) đã có một số bài nghiên cứu Nhìn một cách tổng thể,thì tính chất trên là một phương diện để khu biệt loại hình văn học trungđại với loại hình văn học hiện đại Cũng chính từ quy luật trên, tính chấttrên, mà trong lịch sử văn chương, người ta đã đưa ra nhiều khái niệm địnhtính cho văn học trung đại, như: văn học hành chức, văn học chức năng,văn học cận văn học, văn học phi văn học
Sở dĩ, trong thời trung đại văn học có tính chất đó là vì khối lượng trithức trong xã hội chưa phong phú tới độ đòi hỏi sự phân ngạch rạch ròi như
về sau ở thời hiện đại Hơn nữa, ở Việt Nam thời trung đại, nho sĩ là mẫungười trí thức mang tính chất hỗn hợp Nho sĩ kiêm cả nho y lý số Chẳnghạn như Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác hay cụ Nguyễn Đình Chiểu
Họ vừa là những bậc văn nhân có tâm hồn rất nghệ sĩ, vừa là những bậcdanh y nổi tiếng Nhiều người vừa sáng tác văn chương, lại vừa giữ vai tròquan trọng trong triều đình phong kiến Họ viết thơ, viết văn với nội dung
Trang 30nói đến những vấn đề lịch sử đương thời thì đó là điều dễ hiểu Chẳng hạnnhư Nguyễn Trãi, Trần Quốc Tuấn, Ngô gia văn phái…
Nói đến hiện tượng “văn - sử - triết bất phân”thời trung đại, là nóiđến hiện tượng đan xen giữa hai hình thái tư duy: tư duy luận lý và tư duyhình tượng Tuy nhiên, tư duy hình tượng chưa thể lấn át hoàn toàn tư duyluận lý Sự kiện chưa tan vào hình tượng như trong văn học hiện đại saunày Chính vì thế, tính chất “nguyên hợp” của văn học có liên quan mậtthiết với quan niệm văn chương thời trung đại Khái niệm “văn”, khônghiểu như bây giờ; tức là để nhấn mạnh tính hình thức, tính nghệ thuật, màđược hiểu theo nghĩa rộng “Văn” gần như đồng nhất với văn hoá, họcthuật, văn hiến nói chung Các nhà văn thừa nhận “văn dĩ tải đạo”, “văn dĩquán đạo”, “văn dĩ minh đạo”, “thi ngôn chí” Với quan niệm như thế, thìchức năng phản ánh, chức năng nhận thức của văn học là điều tất yếu
Xét trên đại thể, tính chất “nguyên hợp” được thể hiện rõ ở hệ thốngthể loại văn xuôi hơn văn vần, vì bản chất trữ tình là thuộc tính nổi trội củaloại hình văn vần Nó có khả năng hạn chế sự xâm lấn của sử học, hay triếthọc Đối với nhiều thể loại của văn xuôi, thì tính chất “văn - sử bất phân”,
“văn -triết bất phân” trở thành đặc trưng của thể loại Nhiều tác phẩm cụ
thể, chẳng hạn như Hoàng Lê nhất thống chí, Thượng kinh kí sự…thì khi
các nhà sử học nghiên cứu, tìm hiểu lịch sử vẫn không quên nhắc đến nó.Văn học nhưng có giá trị sử học Tuy nhiên, người ta vẫn minh chứng đượcnhững tác phẩm ấy là tác phẩm văn học đích thực, là những mốc đánh dấu
sự trưởng thành của văn xuôi tự sự trung đại dân tộc
Vũ trung tuỳ bút của Phạm Đình Hổ, là một tác phẩm thuộc thể kí của
văn xuôi chữ Hán trung đại nên không thể không mang đặc trưng của loại
hình văn học trung đại Qua tìm hiểu, chúng tôi thấy Vũ trung tuỳ bút có sự kết hợp giữa yếu tố văn học và sử học Vũ trung tuỳ bút là một tác phẩm văn
học thuộc tiểu loại tuỳ bút của thể kí Nội dung của nó là phản ánh lịch sử xãhội Việt Nam cuối thế kỷ XVIII - một giai đoạn đau thương của dân tộc
Trang 31Nếu nói về xã hội của một giai đoạn, chẳng hạn như cuối thế kỷ XVIII thìcác nhà sử học sẽ cung cấp cho chúng ta các sự kiện Nhưng, đối với nhàvăn, điều quan trọng với họ là vai trò các chi tiết của sự kiện Trong một
thiên kí cụ thể, Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh cho chúng ta thấy được nét
chân thực, sinh động, hấp dẫn bởi bức tranh xã hội đương thời Với những
hình tượng cụ thể, nghệ thuật viết kí độc đáo, thì Vũ trung tuỳ bút là một tác phẩm văn học đích thực Tuy nhiên, Vũ trung tuỳ bút vẫn là sự giao thoa
giữa văn học và sử học.Với tính chất “văn-sử bất phân”, thì bức tranh hiệnthực xã hội Việt Nam - vấn đề trung tâm của khoá luận này - sẽ hiện lên rõnét
Tóm lại, “tính chất văn - sử - triết” bất phân là đặc trưng riêng củaloại hình văn học trung đại Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung.Và,trong từng tác phẩm cụ thể nó có biểu hiện sinh động
2.1.2 Phản ánh hiện thực lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XVIII là một nội dung của văn xuôi chữ Hán thời kì này.
Lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XVIII gắn liền với triều đại vua Lêchúa Trịnh Lúc bấy giờ, vua chúa chỉ lo ăn chơi xa xỉ, không quan tâm đếntriều chính Đời sống của nhân dân vô cùng cực khổ Chế độ phong kiếnkhủng hoảng trầm trọng Hiện thực trên là mảnh đất màu mỡ cho cây vănhọc phát triển Những đứa con tinh thần của các nhà văn, đã được “thaingén” và “sản sinh” trong hoàn cảnh ấy Tiêu biểu là những tác phẩm thuộc
dòng văn xuôi chữ Hán: Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác, Hoàng Lê
nhất thống chí của Ngô gia văn phái, Tang thương ngẫu lục của Nguyễn
Án và Phạm Đình Hổ…Nội dung của các tác phẩm rất đa dạng, đề cập đếnnhiều vấn đề trong đời sống xã hội, đáp ứng nhu cầu phản ánh kịp thời vàsinh động hiện thực sinh động của xã hội nước ta lúc bấy giờ
Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác là tác phẩm văn xuôi viết bằng
chữ Hán, thuật lại chuyến đi của tác giả từ Hà Tĩnh ra Thăng Long để chữabệnh cho chúa Trịnh Sâm và thế tử Trịnh Cán (1781) Tác phẩm kể về
Trang 32những điều mắt thấy tai nghe khi tác giả đến kinh thành, vào phủ chữa
bệnh, tiếp xúc với chúa, với các nho sĩ ở kinh thành Thượng kinh kí sự còn
ghi lại tâm trạng của một con người bất mãn đối với xã hội đương thời,cảm thấy mình “chẳng khác gì một người tù” Dưới ngòi bút tinh tế, sắc sảocủa tác giả thì hình ảnh phủ chúa Trịnh hiện lên kín đáo mà rõ nét vớinhững cung điện kiêu sa, cầu kì với những con người từ chúa Trịnh Sâm,ông quan đầu triều Hoàng Đình Bảo đến đám quan lại công khanh Tất cảđều có cái gì như vô nghĩa, bệnh tật Tác giả chẳng nhìn thấy người nàolàm việc, chỉ thấy họ đi lại trịnh trọng, nói năng kiểu cách, biết qua loa chút
ít về thuốc, không đủ khả năng để chữa bệnh nhưng không tin người chữabệnh giỏi, thích xướng hoạ thơ văn nhưng chẳng có bài thơ bài văn nào cho
ra hồn Phủ chúa không còn là hình mẫu lí tưởng, vua chúa không phải làđấng minh quân cho muôn dân mà bao trùm phủ chúa là một không khíbuồn tẻ, ảm đạm với những con người bệnh tật chỉ biết chăm chút cho bảnthân mình Cuối tác phẩm, chúa cha chết vì mắc một bệnh trong “tứ chứngnan y” Không khí phủ chúa vẫn cứ âm u, bình lặng, chưa thấy mầm mốngcủa những biến động
Thượng kinh ký sự được đánh giá là tác phẩm “kí nghệ thuật đích
thực đầu tiên của Việt Nam” [26, 69] Nó được xem là tác phẩm mẫu mựccho nghệ thuật viết kí : biết dùng chi tiết điển hình để nói về bản chất của
sự việc và con người một cách khách quan, từ ánh nến rọi trên khuôn mặtcác cung tần mĩ nữ đến khẩu khí và cử chỉ của chúa Lê Hữu Trác hoàntoàn làm chủ ngòi bút của mình Ông tự do tung hoành trên dòng sông cảmxúc của bản thân “Chưa bao giờ và chưa có một tác phẩm nào mà cái tôi
cá nhân của tác giả được bộc lộ mạnh mẽ và rõ ràng như ở Thượng kinh kí
sự Mọi sự kiện trong tác phẩm đều quy tụ về một cái tôi cá nhân tác giả : tôi thấy , tôi nghĩ , tôi cho rằng…”[26, 70-71] Khi tác phẩm khép lại,
trong tâm trí người đọc hiện lên sừng sững hình tượng Lãn Ông có cốt
Trang 33cách thanh cao của một danh y lỗi lạc, một ẩn sĩ sẵn sàng từ bỏ sự giàusang phú quý để sống cuộc đời có ý nghĩa giữa cỏ cây chốn Hương Sơn.
Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái lại dựng lên một bức
tranh rộng lớn, chân thực, hết sức phức tạp về xã hội nước ta ở vào khoảng
ba mươi năm cuối thế kỷ XVIII và mấy năm đầu thế kỷ XIX Mở đầu tácphẩm, tác giả viết về sự lục đục trong phủ chúa : Trịnh Sâm mê Đặng ThịHuệ, bỏ con trưởng lập con thứ Hoàng Đình Bảo về phe Đặng Thị Huệ.Tiếp theo là việc Trịnh Tông dựa thế kiêu binh giết Hoàng Đình Bảo, tiêudiệt phe đối lập, truất ngôi Trịnh Cán Rồi kiêu binh lộng hành, NguyễnHuệ trong Nam kéo quân ra Bắc dưới danh nghĩa “phù Lê diệt Trịnh” đánhtan kiêu binh, đưa Lê Chiêu Thống lên ngôi Khi Nguyễn Huệ kéo quân vềNam, Trịnh Bồng nhảy ra tranh ngôi chúa Mâu thuẫn nội bộ giữa vua Lêchúa Trịnh lại tái diễn Nguyễn Hữu Chỉnh được Nguyễn Huệ cử ra Bắc đểđánh đuổi Trịnh Bồng, nắm giữ chính quyền đàng ngoài Vua Lê dựa thếNguyễn Hữu Chỉnh đốt sạch cơ nghiệp nhà chúa Trịnh đã xây dựng trongngót hai trăm năm Rồi Nguyễn Hữu Chỉnh lộng quyền, Nguyễn Huệ sai
Vũ Văn Nhậm ra Bắc diệt Nguyễn Hữu Chỉnh Lê Chiêu Thống hoảng sợ
bỏ chạy, cho người cầu cứu nhà Thanh Vua nhà Thanh nhân cơ hội ấy cấtquân sang xâm chiếm nước ta Dưới sự chỉ huy thiên tài của Nguyễn Huệ -Quang Trung, nghĩa quân Tây Sơn đánh tan quân Thanh, Lê chiêu Thốngcùng bọn quan lại tay chân cuốn gói chạy theo tàn quân nhà Thanh sangTrung Quốc, về sau chết luôn ở đó Nhưng, triều đại Tây Sơn quá ngắnngủi Sau khi Quang Trung mất, nội bộ nhà Tây Sơn bị chia rẽ và suy yếu.Nguyễn Ánh nhờ thế lực ngoại viện trở lại tấn công lật đổ nhà Tây Sơn, lập
ra triều đại nhà Nguyễn Có thể nói, những sự kiện quan trọng của giai
đoạn lịch sử đau thương “dâu bể” này, đều được Hoàng Lê nhất thống chí
phản ánh Bằng ngòi bút sắc sảo linh hoạt của mình, các tác giả đã tạo rađược cái không khí của lịch sử và đi sâu vào bản chất của lịch sử, nêu lênquá trình suy vong không gì cưỡng lại được của chính quyền phong kiến
Trang 34thời bấy giờ Tác phẩm là bức tranh sinh động về cảnh thối nát của triềuđình phong kiến thời Lê-Trịnh Vua Lê thì bù nhìn, chúa Trịnh nắm quyềnhành thì xa hoa, mù quáng, gây ra bè đảng trong phủ chúa Quan lại thì bấttài bất lực, cơ hội và tuỳ thời, sẵn sàng làm bất cứ việc gì miễn là có lợi chobản thân mình Cuối cùng, triều đình mục ruỗng ấy bị quân đội Tây Sơntiêu diệt cùng với hai mươi vạn quân xâm lươc nhà Thanh Nét tạo nên độc
đáo, đặc sắc cho Hoàng Lê nhất thống chí chính là tác phẩm viết về sự
kiện, nhân vật lịch sử có thật ở ngay thời kì mà tác giả đang sống và trựctiếp chứng kiến Tuy bám sát các sự kiện được ghi chép như trong các sách
sử, nhưng với tài năng nghệ thuật sáng tạo : phá bỏ lối kể chuyện theo trình
tự thời gian, biết chọn thời điểm nóng bỏng nhất, thời điểm xảy ra những
biến cố tạo bước ngoặt cho lịch sử để đưa vào trong tác phẩm, thì Hoàng
Lê nhất thống chí là một tác phẩm văn xuôi tự sự đầu tiên phản ánh hiện
thực trên một không gian rộng lớn Trong không gian muôn màu muôn vẻcủa cuộc sống, nhà nghệ sĩ có điều tung hoành, thâu tóm, lựa chọn các chitiết sự kiện tiêu biểu, có ý nghĩa khái quát Vua chúa, quan lại, danh nhântên tuổi trong lịch sử hiện lên với nét tính cách sinh động, điển hình, nhằmphơi bày rõ nét hiện thực xã hội Điều đó làm cho câu chuyện lịch sử vốnkhô khan trở nên sinh động, khơi gợi cảm xúc, suy nghĩ, trăn trở, suy ngẫmtrong lòng độc giả
Tang thương ngẫu lục là tác phẩm viết chung của hai tác giả Nguyễn
Án và Phạm Đình Hổ Nhan đề của nó nghĩa là tình cờ ghi chép chuyện
“bãi bể nương dâu” Tác phẩm gồm 90 thiên trong đó chủ yếu nói về các vịvua anh minh như Lê Thánh Tông, Lê Thần Tông; kể chuyện các vị danhhiền như Chu Văn An, Trương Hán Siêu, Phạm Ngũ Lão…Nổi bật, đọc tácphẩm, chúng ta biết rõ hơn về những vị quan thanh liêm như Thượng thưNguyễn Công Hãng, Lê Anh Tuấn, Tể tướng Nguyễn Duy Thời; những nhàthơ nhà văn nổi tiếng như Nguyễn Bá Lân, Đoàn Thị Điểm, Đặng Trần
Côn…Tuy nhiên, trong Tang thương ngẫu lục có nhiều thiên mang nặng
Trang 35yếu tố kì ảo, hoang đường Gạt phần hoang đường đó, chúng ta thấy, đây lànhững áng văn chương có giá trị hoặc là tư liệu lịch sử quý giá của mộtthời Trong bài nhận xét khi viết lời giới thiệu tác phẩm, Phó bảng Giá SơnKiều Oánh Mậu khẳng định: “Từ Lí, Trần, Lê, Trịnh đến nay, trên dướimấy trăm năm, có những điều quốc sử chưa ghi, dã sử chưa chép, hai ôngđều thu cả vào trong cõi mắt tang thương Nếu hai ông hết thảy đều cho làviệc tang thương mà quên đi, thì những chuyện ấy phỏng được mấy lâu màmai một mất May mà lấy ngòi bút tang thương biên chép, nên nó còn là
cánh bè chở bến mê, ngọn đèn soi nhà tối, đặt tên là Tang thương ngẫu lục,
ý nghĩa ấy có thể nhận” [20, 35]
Vũ trung tuỳ bút là một tác phẩm tiêu biểu so với những tác phẩm
trên Chúng tôi sẽ tìm hiểu kĩ nó trong phần tiếp theo của khoá luận
Như vậy, văn xuôi Việt Nam đã xuất hiện những tác phẩm có giá trịvào giai đoạn cuối thế kỷ XVIII Nội dung chủ yếu là bức tranh hiện thực
xã hội phong kiến già cỗi, thối nát và thái độ của tác giả trước hiện thực đó
Có một thực tế, từ trước tới nay, các nhà nghiên cứu chỉ mới tập trung đi
sâu vào giá trị của tác phẩm có quy mô lớn như Hoàng Lê nhất thống chí (Ngô gia văn phái) hay Thượng kinh kí sự (Lê Hữu Trác) chứ chưa đi sâu vào giá trị, nét đặc sắc riêng của Vũ trung tuỳ bút (Phạm Đình Hổ) Việc
tìm hiểu tác phẩm này, giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về văn xuôi
tự sự Việt Nam thời Lê-Trịnh, đồng thời thấy được nét độc đáo trongphong cách kí của Phạm Đình Hổ
2.2 Vũ trung tuỳ bút với việc phản ánh hiện thực xã hội thời vua
Lê chúa Trịnh.
2.2.1 Hình ảnh vua chúa, quan lại.
Vũ trung tuỳ bút dẫu không đồ sộ về quy mô, không đi vào những
biến động lớn cùng với hệ thống nhân vật phong phú như Hoàng Lê nhất
Trang 36thống chí hay Thượng kinh kí sự, mà chỉ tập hợp những thiên kí có quy mô
nhỏ, cốt truyện đơn giản, nửa hư cấu - nửa ghi chép hoặc ghi chép tuỳhứng, nhưng vẫn làm nổi bật được bức tranh đời sống xã hội đương thời
Trung tâm của bức tranh đời sống xã hội đương thời là cuộc sống, làsinh hoạt của vua chúa, quan lại Bằng kết cấu tự do, khi thì ghi chép, khi
thì tự sự, tác giả của Vũ trung tuỳ bút đã cho ta cảm nhận được hiện thực
trực tiếp: giai cấp phong kiến chỉ lo hưởng lạc xa hoa, lộng hành sa đoạ,ngu dốt, không chăm lo đến tình hình của đất nước và tồn tại những mâuthuẫn
Có nhiều thiên kí đề cập đến vấn đề trên Tiêu biểu là Chuyện cũ
trong phủ chúa Trịnh, Tả Chí Hầu, Thay đổi địa danh, Học thuật, Cách uống chè, Xét về địa mạch và nhân vật, Bàn về lễ, Lễ tế giao, Áo mặc, Khoa cử, Cuộc bình văn trong nhà Giám, Xứ Hải Dương, Vũ Thái Phi, Nhà họ Nguyễn ở Tiên Điền, Thần lễ, Truyện vua Lê Lợi…
Trước hết, Vũ trung tuỳ bút miêu tả một cách chân thực, sinh động cuộc sống sinh hoạt xa hoa hưởng lạc của vua chúa thời Lê-Trịnh Chuyện
cũ trong phủ chúa Trịnh là câu chuyện ghi chép về cuộc sống và sinh hoạt
trong phủ chúa thời Thịnh Vương Trịnh Sâm (1742-1782) Trong lịch sửphong kiến, Trịnh Sâm nổi tiếng là một vị chúa thông minh quyết đoán,nhưng lại kiêu căng xa xỉ, càng về cuối đời càng chìm đắm vào hưởng lạccùng Tuyên phi Đặng Thị Huệ Thời gian, khung cảnh được thuật lại tỉ mỉ,sinh động Những điều nhà văn ghi lại tưởng như là sự ghi nhận về thời vô
sự - bốn phương yên hưởng thái bình, nhưng đau đớn thay thực trạng làmột bức tranh với sắc màu chói chang, lộng lẫy của mũ áo cân đai, đối lậpvới thực tại tinh thần tối sẫm - những cảm giác bất an trong đời sống dânlành Trong bối cảnh “trong nước vô sự” việc Vương “thích đi chơi ngắmcảnh đẹp, thường ngự ở các ly cung” là việc chẳng có gì đáng nói Nhưngxem “việc xây dựng đền đài cứ làm liên tục”.Sự việc này làm cho chúng ta
nhớ đến cảnh phủ chúa trong Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác: “nơi nào
Trang 37cũng lâu đài đình gác, rèm châu cửa ngọc, ánh nước mây lồng, suốt lối toànhoa kì cỏ lạ, gió thoảng hương trời, thú đẹp chim quý, nhảy nhót hótbay…”[39, 53].Ngoài chính cung cũng là cả một thế giới cầu kì, xa hoanhư vậy Chúa thưởng ngoạn cảnh đẹp mà cũng kéo theo cả một đội quân
“tiền hô hậu ứng” với binh lính, nội thần, các quan hỗ tụng đại thần Qua sự
mô tả của tác giả về quang cảnh phô bày, người đọc thấy được sự sắp đặtnịnh hót làm đẹp mặt chúa của thị thần Đồng thời, nó cũng thể hiện rõ tínhchất phồn hoa giả tạo của cuộc sống kinh kì:
“Mỗi tháng ba bốn lần vương ra cung Thuỵ Liên trên bờ Tây Hồ, binh lính dàn hầu vòng quanh bốn mặt hồ, các nội thần thì đầu bịt khăn mặc áo đàn bà, bày bách hoá chung quanh bờ hồ để bán.
Thuyền ngự đi đến đâu thì các quan hỗ tụng đại thần tuỳ ý ghé vào
bờ mua bán các thứ như ở cửa hàng trong chợ Cũng có lúc cho bọn nhạc công ngồi trên gác chuông chùa Trấn Quốc, hay dưới bóng cây bến đá nào đó, hoà vài khúc nhạc”.
Chỉ cần qua vài cảnh đã cho thấy sự xa hoa của Thịnh vương TrịnhSâm - quyền hành trên cả hoàng đế Đằng sau cái vẻ phô trương hàonhoáng đó là sự lố bịch hiện hữu, sự phồn hoa giả tạo: bọn nội thần mặcquần áo đàn bà đứng bán hàng, cảnh đi chợ của các quan như trò chơi trẻ
con…Trong một thiên kí khác, Nhà họ Nguyễn ở Tiên Điền (Tiên Điền
Nguyễn thị) cũng miêu tả cảnh ăn chơi xa xỉ của chúa Trịnh “Thịnh Vương
lại thích đi ngự chơi, lúc đi thưởng hoa, lúc đi câu cá”, thường xuyên nghehát “chúa Trịnh lên ngự chơi Tây Hồ, kẻ thị thần vệ sĩ bày hàng chungquanh cả bốn mặt hồ, nhà chúa chỉ cùng với bà Đặng Tuyên Phi ngồi trênthuyền.” Chúa trọng Nguyễn Khản - một vị quan trong triều Nguyễn Khảnkhi đang làm quan thường xin nghỉ phép ở nhà, chúa Trịnh đưa cho ôngmột bài thơ Nôm rằng :
Đã phạt năm đồng bỏ buổi chầu Lại phạt năm đồng bỏ buổi câu
Trang 38Nhắn nhủ ông bay về nghỉ đấy, Hãy còn phạt nữa chửa thôi đâu.
Đáng ra chúa phạt quan nếu quan không chăm lo cuộc sống cho trămdân Nhưng ở đây chúa lại phạt quan vì “bỏ buổi câu”, vì không cùng chúahưởng thú vui Thử hỏi đây là vị chúa thế nào? Ý nghĩa phê phán tố cáocàng mạnh mẽ khi cảnh sống xa hoa lãng phí của giai cấp phong kiến đốilập với cuộc sống khốn khổ của nhân dân
Để thoả mãn nhu cầu ích kỉ của mình, để phục vụ cho cuộc sốngvương giả của mình, bọn vua chúa quan lại ra sức bóc lột nhân dân
Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh gợi trong tâm trí người đọc nhiều suy
ngẫm trước cảnh : “bao nhiêu những loài trân cầm, dị thú, cổ mộc, quáithạch và chậu hoa cây cảnh ở chốn dân gian, Chúa đều sức thu lấy khôngthiếu một thứ gì…” Quyền lực, ngang ngược, xa xỉ là những gì chúng tahình dung được về ông vua nổi tiếng ăn chơi này Tác giả đã bình luậnbằng việc kể một điềm báo : “Mỗi khi đêm thanh cảnh vắng, tiếng chimkêu vượn hót ran khắp bốn bề, hoặc nửa đêm ồn ào như trận mưa sa giótáp, đổ vỡ tan đàn, kẻ thức giả biết đó là triệu bất thường” Câu văn miêu tả
vẽ ra viễn cảnh u ám, đầy âm khí, như kết đọng nỗi oán hờn của dân gian,chứa đựng ý nghĩa cảnh báo sự sụp đổ không thể tránh khỏi của một vươngtriều mục ruỗng
Thực trạng xã hội trên còn được tác giả khắc sâu thêm thông quamiêu tả hành động, thái độ của bọn chân tay nhà chúa :
“Họ dò xem nhà nào có chậu hoa cây cảnh, chim tốt khướu hay, thì
biên ngay hai chữ “ phụng thủ” vào Đêm đến các cậu trèo qua tường thành lẻn ra, sai tay chân đem lính lấy phăng đi rồi buộc tội đem dấu vật cung phụng để dậm doạ lấy tiền”.
Có thể nói, chúa cũng như quan lại chỉ lo vơ vét bóc lột của cải củanhân dân đủ bề để đầy túi tham Chế độ phong kiến mục ruỗng từ trênxuống dưới Hiện thực đáng lên án này còn được thể hiện trong một số
Trang 39thiên kí nữa như Cuộc bình văn trong nhà Giám ( Quốc học bình văn).
Cuối truyện tác giả có viết: “mặt trời đứng trưa, quan Tri giám sai nha dịchbảo lính lệ sửa soạn cơm trưa, cỗ bàn cũng lịch sự lắm Cứ lệ thì do nhàbếp riêng quan Tri giám làm cỗ mà tiền thì dân tạo lệ cung ứng và lấy tiềnthuế hồ Hy Văn” Các quan của triều đình hiện lên là những kẻ ăn chơihưởng lạc trên chính mồ hôi, xương máu của nhân dân Lời văn có vẻ kể lểkhách quan nhưng nặng nỗi niềm phẫn uất, đau đớn
Sự tồn tại, sự hưng thịnh của một vương triều là do nhiều yếu tố kếthợp tạo nên Ngoài sức mạnh của muôn dân, thì giai cấp phong kiến đóngvai trò trụ cột Những vị vua anh minh lỗi lạc, những vị quan thanh liêmluôn chăm lo cho đời sống của nhân dân sẽ giúp nhân dân được hưởng tháibình Trong lịch sử phong kiến nước ta có không ít triều đại như thế.Nhưng, giai cấp phong kiến Việt Nam thời Lê- Trịnh được tác giả Phạm
Đình Hổ tái hiện như thế nào trong Vũ trung tuỳ bút? Không chỉ ăn chơi xa
hoa, không chỉ bóc lột nhân dân mà vua chúa, quan lại thời Lê - Trịnh còn
là những kẻ lộng hành, hết sức ngu dốt và không quan tâm đến triều chính
Trong tác phẩm, có một số thiên kí tác giả kể về sự lộng hành củanhững kẻ có quyền “ Bọn hoạn quan cung giám lại thường nhờ gió bẻ
măng, ra ngoài doạ dẫm” ( Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh) Thái độ ỷ vào quyền thế của bọn thống trị tiếp tục được nói đến trong Vũ Thái Phi Vũ
Thái Phi có công với chúa Trịnh, được tiến phong Vì họ hàng bà ở làng TửDương không còn ai cả, nên mới nhận họ Vũ ở làng Mi Thự làm họ quốcthích Em nghĩa đệ tên là Bính Trung Công lại có công phù lập nhà chúa,tước vị đến cực phẩm nhân thần “ Con cháu họ hàng ỷ thế làm càn, bắt dân
đi phu lấy đá về xây nhà từ đường” Một người làm quan, một người cóchức có quyền thì bao kẻ có quan hệ dựa vào đó để ức hiếp người khác.Hành động “ đục nước béo cò”, “ mượn gió bẻ măng” đó thật xấu xa biếtnhường nào Đó là mầm mống của những cuộc loạn trong chế độ phongkiến, là biểu hiện cho sự suy yếu của giai cấp thống trị
Trang 40Quan lại giai đoạn cuối của chế độ phong kiến Lê- Trịnh thực sự cónhiều kẻ ngu dốt, không còn nhân cách của một người quan phụ mẫu của
dân Qua Cuộc bình văn trong nhà Giám - một thiên kí tiêu biểu trong Vũ
trung tuỳ bút ta sẽ thấy rõ điều đó Toàn bộ thiên kí nói về thế giới của bọn
quan lại trong bối cảnh rộng là thời Lê mạt, bối cảnh hẹp là nhà Giám HàNội - trường học cao cấp thời phong kiến với sự kiện diễn ra là bình văn -nơi thể hiện trí tuệ tâm hồn nghệ sỹ của mỗi người Tiếp đó, Phạm Đình Hổgiới thiệu vị trí của từng người ngồi:
“Ở trên là vị quan Tri giám ngồi, ở giữa là vị quan Tham tụng và quan Hành tham tụng ngồi, ở dưới là các quan Bồi tụng ngồi Các quan Thị lang, Tam đô thì ngồi phía đông, ngoảnh mặt về hướng tây Còn các người khác đều ngồi phía tây mà ngoảnh mặt về hướng đông Chiếu người bình văn ngồi về phía tây”.
Vị trí của những người trong cuộc bình văn tương ứng với địa vị của
họ trong xã hội Vậy, trong khi bình văn các quan đã thể hiện vai trò nhưthế nào? Hoàng Vĩnh Trân là người tham gia bình văn nhưng không cóchức vụ quan trọng gì cả, thì tiếng “ rất trong, rất vang” Lưu Tiệp và ThiềuSưởng là quan có địa vị cao hơn, mà lại “ giọng ngắn mà đọc không rõ”hay “ đọc không nghe tiếng gì cả” Tác giả đã sử dụng thủ pháp đối lậptương phản một cách đắc địa, để nhấn mạnh sự kém cỏi, dốt nát của bọnquan lại.Trong cuộc bình văn để bình phẩm văn ai hay, ai dở, ai khéo, aivụng thì phải có sự đánh giá công minh, kiến thức uyên thâm của giámkhảo Nhưng ở đây, qua sự kể lại của Phạm Đình Hổ thì đó là vai trò độctôn của Bùi Huy Bích: “cái quyền nhắc lên đánh xuống, lấy hay bỏ thì chỉ
do Bùi Huy Bích quyết định” Một hình ảnh tạo tiếng cười mỉa mai đối vớingười đọc là quan Tri giám Nếu như xét theo địa vị xã hội, thì quan Trigiám giữ địa vị cao nhất, được xếp ngồi trên cùng Nhưng ở đây, hắn hiệnlên là một kẻ dốt nát, không biết gì, bất lực:“ duy quan Tri giám NguyễnHoãn thì thuỷ chung nín lặng, không nói câu nào, thỉnh thoảng chỉ sẽ cười