Mục đích của đề tài Thông qua khảo sát vốn từ láy trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5cung cấp cho học sinh trong các phần Tập đọc và Từ ngữ về các mặt: Số l-ợng, cấu tạo, từ loại, vai
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo trờng đại học vinh
Văn – Đại học Vinh) Đại học Vinh)
Vinh, 05 - 2005
= ?&@ =
III lịch sử nghiên cứu liên quan đến đề tài 3
I Giới thiệu khái quát về lớp từ láy trong Tiếng việt 10
6 Giá trị sử dụng của từ láy trong Tiếng việt 18
Trang 2II Giới thiệu về SGK môn Tiếng việt lớp 5 22
Chơng II: Vốn từ láy trong SGK môn Tiếng việt lớp 5 26
3 So sánh số lợng từ láy giữa phần tập độc và phần từ ngữ 36
II Đặc điểm ngữ pháp của vốn từ láy trong sGK tiếng việt lớp 5 37
1 Từ loại của từ láy trong SGK tiếng việt lớp 5 37
2 Vai trò của từ lày trong SGK Tiếng việt lớp 5 40
III Vai trong ngữ nghĩa của từ láy trong phần tập đọc 42
1 Vai trò ngữ nghĩa của từ láy trong việc thể hiện chủ đề măng non 44
2 Vai trò ngữ nghĩa của từ láy trong việc thể hiện chủ đề đất nớc 47
IV Nhận xét chung về vốn từ láy trong SGK tiếng việt lớp 5 55
l-Đây là điểm nổi bật của từ láy so với từ đơn và từ ghép Từ láy có thể miêu tả
đợc những âm thanh tự nhiên của đời sống hàng ngày, có thể phác hoạ đợchình dáng của sự vật, con ngời Cao hơn nữa, từ láy có thể biểu thị đợc nhữngtình cảm, cảm xúc, tâm trang khác nhau của mỗi con ngời Nói nh cách nóicủa Đỗ Hữu Châu, “Mỗi từ láy là một nốt nhạc về âm thanh, chứa đựng trongmình một bức tranh cụ thể của các giác quan thị giác, thính giác, xúc giác, vịgiác, khứu giác…kèm theo những ấn tkèm theo những ấn tợng về sự cảm thụ chủ quan những cách
đánh giá, những thái độ của lời nói trớc sự vật, hiện tợng đủ sức thông qua các
Trang 3giác quan hớng ngoại và hớng nội của ngời nghe mà tác động mạnh mẽ đếnhọ” (Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt – Đại học Vinh) Nxb GD – Đại học Vinh) HN 1981).
Nắm bắt đợc vai trò to lớn của lớp từ này cho nên ngay từ rất sớm, từláy đã đợc các nhà văn nhà thơ sử dụng vào trong các sáng tác của mình Cóthể nói, cùng với đời sống thì thơ văn là mảnh đất màu mỡ cho lớp từ láy hoạt
động Thế giới của văn thơ là thế giới của cảm xúc, tâm trạng con ng ời, do đó
nó cũng là thế giới muôn hình muôn vẻ của từ láy Trong văn thơ, từ láy khôngnhững đợc bảo tồn mà hơn thế nữa nó còn đợc phát triển với những sáng tạo
độc đáo của các thi sĩ, văn sĩ Chính vì vậy, cùng với thời gian, từ láy tiếngViệt đã có sự biến đổi, phát triển về số lợng, về hình thức cấu tạo và cả về ngữnghĩa Trong “Từ điển Việt Nam phổ thông” (Đào Văn Tập, 1951) có khoảng
2300 từ láy đợc thu thập; còn “Từ điển từ láy tiếng Việt” (Hoàng Văn Hànhchủ biên Nxb GD 1994) đã thống kê đợc hơn 5000 từ láy (gồm từ láy bậc I và
từ láy bậc II) Đây là một số lợng lớn trong vốn từ của tiếng Việt
Khảo sát vốn từ láy trong một văn bản cụ thể và phân tích giá trị ngữnghĩa của nó không phải là một công việc mới mẻ, nhng việc khảo sát từ láytrong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5 thì cha ai làm cả
1.2 Về mặt thực tiễn
Từ năm học 1981 đến nay, tiếng Việt đã bắt đầu trở thành một môn họcriêng rất quan trọng trong nhà trờng phổ thông các cấp Nó có nhiệm vụ rènluyện khả năng dùng ngôn ngữ mà trớc hết là nhận thức các quy luật, các yếu
tố ngôn ngữ, trong đó từ láy là một lớp từ quan trọng Chính vì vậy, ngay từcấp tiểu học, các soạn giả sách giáo khoa đã có ý thức dạy cho các em nhữngkiến thức sơ đẳng nhất về lớp từ này Với học sinh lớp 5 là lớp học cuối cấptiểu học, trình độ của các em đã đợc nâng cao hơn so với các lớp dới, việctrang bị cho các em những hiểu biết về lớp từ này để các em có một vốn hiểubiết nhất định nhằm bớc vào một cấp học mới là điều hết sức cần thiết Đócũng là lý do giải thích vì sao trong phần Từ ngữ của sách Tiếng Việt lớp 5(tập 1) lại dành nhiều tiết để dạy cho các em về từ láy nh vậy
Tuy nhiên, từ việc nhận thức vai trò của lớp từ láy là việc lựa chọn để đacác kiến thức đó vào dạy cho các em là cả một quá trình nghiên cứu và cânnhắc kỹ lỡng, đòi hỏi các soạn giả sách giáo khoa phải trả lời những câu hỏinh: Phải cung cấp cho các em số lợng bao nhiêu từ là vừa đủ? Với lứa tuổi ấy,việc cung cấp nh thế nào là hợp lý? Tính phổ biến của những từ đợc đa vào đó
ra sao? Việc giải nghĩa những từ khó nên đợc thực hiện nh thế nào?…kèm theo những ấn tĐề tài
“Khảo sát vốn từ láy trong sách giáo khoa môn Tiếng Việt lớp 5” nhằm đi sâu
Trang 4vào khảo sát vốn từ láy trong văn bản cụ thể là sách Tiếng Việt lớp 5 (Gồm 2tập) từ đó góp phần trả lời cho những câu hỏi trên Đồng thời qua khảo sátchúng ta thấy đợc giá trị ngữ nghĩa của lớp từ láy trong việc thể hiện nội dungcho các bài đọc trong sách Tiếng Việt lớp 5.
2 Mục đích của đề tài
Thông qua khảo sát vốn từ láy trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5cung cấp cho học sinh (trong các phần Tập đọc và Từ ngữ) về các mặt: Số l-ợng, cấu tạo, từ loại, vai trò ngữ pháp và ngữ nghĩa, nêu lên một số nhận xét vềviệc cung cấp từ láy qua môn Tiếng Việt lớp 5
II Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
1 Đối tợng nghiên cứu
Đề tài này có đối tợng khảo sát là tất cả các từ láy với mọi dáng vẻ, tần
số xuất hiện đợc dùng trong SGK Tiếng Việt 5 (Nxb Giáo Dục 2004) trongphần Bài đọc và phần Từ ngữ
2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt đợc mục đích đề ra của khoá luận, chúng tôi định ra các nhiệm vụ:
a Thống kê và phân loại vốn từ láy trong sách Tiếng Việt lớp 5 trongcác phần Tập đọc và Từ ngữ (Trong phần Tập đọc, thống kê riêng ở thể loạivăn xuôi và thể loại thơ) lần lợt theo từng tập
b Khảo sát, miêu tả lớp từ láy đó về hình thức cấu tạo, từ loại, vai tròngữ pháp
c So sánh, đối chiếu tần số xuất hiện của các từ láy thu thập đợc ở cácphần để rút ra những nhận xét cần thiết
d Phân tích vai trò biểu nghĩa của từ láy đối với việc thể hiện nội dung
III lịch sử nghiên cứu liên quan đến đề tài
1 Những công trình nghiên cứu về từ láy trong tiếng Việt
Từ láy là một hiện tợng độc đáo trong kho tàng từ vựng Việt Nam nênviệc nghiên cứu từ láy đã đợc đề cập đến từ những năm 60 của thế kỷ XX Đặcbiệt đến những năm 70 của thế kỷ trớc thì từ láy thực sự đợc giới nghiên cứungôn ngữ quan tâm Hàng loạt các công trình nghiên cứu về từ láy của các nhàngôn ngữ trong và ngoài nớc đã đợc công bố trong các báo báo khoa học, tạpchí “Ngôn ngữ”, các giáo trình Chúng ta có thể điểm qua một số tác giả tiêubiểu:
Nguyễn Anh Quế (“Ngữ pháp tiếng Việt”, Nxb Giáo dục): Xem từ láy
là từ ghép âm Theo tác giả: “Từ ghép theo quan hệ ngữ âm là loại từ ghéptrong đó các hình vị tạo thành chỉ có quan hệ ngữ âm với nhau” (Tr.12)Nguyễn Anh Quế chia từ ghép âm ra làm 2 loại: Từ ghép âm toàn bộ và từ
Trang 5ghép âm bộ phận Tác giả cũng phân biệt từ ghép âm và phép láy từ “Từ ghép
âm, nh đã nói, là một kết cấu hoàn chỉnh, có thể đem dùng để tạo thành câutrong mọi hoàn cảnh; còn ghép láy từ là một biện pháp có tính chất ngữ ngônhoặc có tính chất tu từ, đợc tạo ra nhất thời” (Tr.15)
Nguyễn Tài Cẩn (“Ngữ pháp tiếng Việt”, Nxb ĐHQG, Hà Nội, 1996)gọi từ láy là từ láy âm Tác giả định nghĩa: “Từ láy âm là loại từ láy, trong đótheo con mắt nhìn của ngời Việt Nam hiện nay, các thành tố trực tiếp đợc kếthợp lại với nhau chủ yếu là theo quan hệ ngữ âm Quan hệ ngữ âm đợc thểhiện ra ở chỗ là các thành tố trực tiếp phải có sự tơng ứng với nhau về hai mặt:mặt yếu tố siêu âm đoạn tính (thanh điệu) và mặt yếu tố âm đoạn tính (phụ âm
đầu, âm chính giữa và âm cuối vần)” Tác giả nói đến hiện tợng chuyển từghép sang từ láy âm; tác dụng của mặt quan hệ từ láy âm đối với mặt ý nghĩacủa thành tố, phân biệt từ láy âm với hiện tợng nói láy trong lời nói Tác giả đãchia từ láy ra làm 3 kiểu: láy đôi, láy ba, và láy t
Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung (“Ngữ pháp tiếng Việt” tập 1, Nxb
GD, 1992) định nghĩa “Từ láy là từ phức đợc tạo ra bằng phơng thức láy âm cótác dụng tạo nghĩa” (Tr.51) Theo tác giả: “Sự láy không đơn thuần là sự lặplại âm, thanh của các âm tiết ban đầu mà bao giờ cũng kèm theo một sự biến
đổi âm, thanh nhất định, dù là ít nhất, để tạo ra cái thế vừa giống nhau lại vừakhác nhau” Cái thế ấy đợc gọi là “vừa điệp vừa đối” (chữ dùng của HoàngVăn Hành) Vì vậy tác giả khẳng định “với những cấu tạo có điệp (chỗ lặp) màkhông có đối (chỗ khác biệt) thì ta có dạng lặp chữ không phải là từ láy” Cáctác giả phân loại từ láy dựa vào hai cơ sở : bậc láy và số lợng tiếng Khi bàn vềnghĩa của từ láy, các tác giả đã chia từ láy thành 3 nhóm: từ láy phỏng thanh,
từ láy sắc thái hoá và từ láy cách điệu Từ đó tác giả khẳng định “từ láy cách
điệu là kiểu từ láy thuần khiết nhất, xứng đáng với vai trò kiểu tiêu biểu củatoàn bộ cơ chế láy – Đại học Vinh) một cơ chế lấy sự hoà phối ngữ âm tạo ý nghĩa biểu trnglàm cơ sở”
Đỗ Hữu Châu (“ Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt”, Nxb Giáo dục, 1999)
định nghĩa:“Từ láy là những từ đợc cấu tạo theo phơng thức láy, đó là phơngthức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết của một hình vị hay đơn vị
có nghĩa ” (Tr.41) Tác giả đã phân loại từ láy dựa vào các tiêu chí: số lần tác
động của phơng thức láy, dựa vào cái đợc giữ lại trong âm tiết của hình vị cơ
sở, trật tự trớc sau của hình vị cơ sở Tác giả đã đề cập đến ý nghĩa của từ láy,
đặc biệt nhấn mạnh tác dụng sắc thái hoá của từ láy
Trang 6Đỗ Thị Kim Liên (“Ngữ pháp tiếng Việt”, Nxb Giáo dục, 1999) địnhnghĩa: “ Từ láy là những từ đợc cấu tạo dựa trên phơng thức láy ngữ âm” Vídụ: mấp mô, lóng lánh, chập chờn, chon von…kèm theo những ấn t Tác giả đã đa ra các tiêu chí đểphân loại từ láy, đó là: căn cứ vào số lợng âm tiết (từ láy đôi, từ láy ba và từláy t); căn cứ vào bộ phận đợc láy (có từ láy hoàn toàn và từ láy bộ phận ); căn
cứ vào tính chất mô phỏng hay không mô phỏng (từ tợng thanh, từ tợng hình,
từ láy biểu trng) Tác giả cũng đã đề cập đến đặc điểm của từ láy đó là: đặc
điểm tổng thể của kết cấu và đặc điểm của từng thành tố
Hữu Quỳnh (“Ngữ pháp tiếng Việt hiện đại”, Nxb Giáo dục, 1980) đãxếp từ láy vào một tiểu nhóm của từ ghép gọi là từ ghép láy Tác giả địnhnghĩa “Từ ghép láy (hay còn gọi là từ ghép lắp láy, từ láy) là những từ ghépgồm hai hình vị kết hợp với nhau chủ yếu là theo quan hệ ngữ âm Các thành
tố của từ ghép láy có mối quan hệ tơng quan với nhau về thanh điệu hoặc vềcác bộ phận ngữ âm tạo nên các thành tố đó, đồng thời chúng tạo nên một nộidung ngữ nghĩa nhất định” (Tr 23) Tác giả chia từ ghép láy làm hai bộ phận
là từ ghép láy hoàn toàn và từ ghép láy bộ phận Đặc biệt tác giả đã xếp nhóm
từ láy phụ âm đầu và vần nhng thanh điệu thay đổi vào nhóm từ ghép láy phụ
âm Tác giả đã đa ra một số vần khác nhau đợc sử dụng để tạo thành hệ thống
Nh vậy, theo định nghĩa về từ ghép láy của tác giả thì tác giả đã không thừanhận các tổ hợp láy ba và láy t là từ láy
Nguyễn Văn Tu (“Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại” Nxb ĐHTHCN,1985) gọi từ láy là từ lấp láy và cho rằng “những từ lấp láy gồm những âm tiếttơng quan với nhau hay giống nhau về ngữ âm” (Tr 35) Tác giả có đề cập đến
ý nghĩa của các từ lấp láy: “ý nghĩa của từ lấp láy so với từ căn có thể giảmbớt hay tăng cờng, xấu đi, tổng quát hơn…kèm theo những ấn t” (Tr 36) Tác giả cũng đã chia từlấp láy ra làm hai loại: từ lấp láy toàn bộ và từ lấp láy bộ phận Đặc biệt, tronggiáo trình của mình tác giả đã chú ý tới vấn đề từ loại cho các từ lấp láy
Nguyễn Thiện Giáp (“Từ vựng học tiếng Việt”, Nxb Giáo dục, 2003)gọi đơn vị từ láy của tiếng Việt là ngữ láy âm “Ngữ láy âm là những đơn vị đ-
ợc hình thành do sự lặp lại hoàn toàn hay lặp lại có kèm theo sự biến đổi ngữ
âm nào đó của từ đã cho Chúng vừa có sự hài hoà về ngữ âm, vừa có giá trịgợi cảm gợi tả Hiện tợng láy không chỉ riêng tiếng Việt mà còn ở nhiều ngônngữ khác trong vùng Đông Nam á” (Tr 86) Tác giả đã phân loại ngữ láy âmthành ngữ láy âm đơn nhất và ngữ láy âm mô hình
Hoàng Văn Hành (“Từ láy trong tiếng Việt”, Nxb KHXH, Hà Nội,1985) và (“Từ điển từ láy tiếng Việt”, Nxb Giáo dục, Hà Nội 1994) cho rằng:
Trang 7“cơ trình cấu tạo từ láy trong tiếng Việt chịu sự chi phối của xu hớng hoà phốingữ âm” Sự phối hợp ngữ âm trong từ láy biểu hiện ở quy tắc đối và điệp.Theo ông, hình vị làm cơ sở nhân đôi đó gọi là tiếng gốc, còn tiếng mới xuấthiện trong quá trình ấy là tiếng láy Hệ quả của quá trình nhân đôi là tạo ra đ-
ợc thế điệp giữa hai tiếng, hệ quả của sự biến đổi hoặc kết hợp ở tiếng láy tạo
ra thế đối Từ cách hiểu về từ láy nh vậy, Hoàng Văn Hành đã cho xuất bảncuốn “Từ điển từ láy tiếng Việt” gồm hơn 5000 từ gồm cả từ láy bậc I và từláy bậc II
Bên cạnh các giáo trình của các tác giả trên, ta có thể kể đến một sốcông trình tiêu biểu nghiên cứu về từ láy đợc đăng ở các số của tạp chí “Ngônngữ” nh:
Đào Thản : “Những đặc điểm về từ láy tiếng Việt” (Ngôn ngữ, số 1, 1970).Hoàng Tuệ: “Về những từ gọi là từ láy trong tiếng Việt” (Ngôn ngữ, số 3, 1978).Nguyễn Phú Phong: “Vấn đề từ láy trong tiếng Việt” (Ngôn ngữ, số 2, 1977).Phi Tuyết Hinh: “Từ láy và sự biểu trng ngữ âm” (Ngôn ngữ, số 3, 1983)
Hà Quang Năng và Bùi Thị Mai: “Đặc trng ngữ pháp của từ tợng thanhtrong sự tơng ứng giữa âm và nghĩa” (Ngôn ngữ, số 2, 1994)
Nói chung, đây là những công trình nghiên cứu về từ láy rất công phu.Các tác giả đã đi sâu vào miêu tả từ láy từ nhiều phơng diện khác nhau nh địnhnghĩa, cơ sở phân loại, đặc điểm, ý nghĩa đến hoạt động, vai trò của lớp từ láynói chung trong văn học Có thể nói rằng, những kiến thức này về từ láy là cơ sở
lý thuyết cần thiết mà chúng tôi tham khảo khi thực hiện khoá luận này
2 Lịch sử khảo sát, nghiên cứu từ láy đợc dùng trong văn bản cụ thể
Từ láy là một mảng từ quan trọng trong vốn từ vựng của ngời Việt, nóchiếm số lợng không nhỏ Mảng từ đó đã đợc vận dụng sáng tạo và đợc pháttriển phong phú trong văn học Vì vậy mà việc nghiên cứu từ láy trong các vănbản cụ thể là hết sức quan trọng và cần thiết Chúng ta có thể kể đến một sốcông trình nh :
- Luận văn thạc sĩ (Phan Viết Đan, Đại học Vinh, 1996): “Khảo sát từláy trong thơ Quốc âm thế kỷ XV” (Qua hai thi phẩm “Quốc âm thi tập” và
“Hồng Đức Quốc âm thi tập”)
- Luận văn thạc sỹ (Hoàng Thị Lan, Đại học Vinh, 1997): “Từ láy trongtruyện Kiều và Lục Vân Tiên”
- Luận văn thạc sĩ (Đỗ Thanh, Đại học Vinh, 1981): “Khảo sát tần xuất
và giá trị sử dụng của từ láy trong hai tập thơ: Một ngày xuân và Sức bền bỉcủa đất”
Trang 8- Luận văn thạc sĩ (Đặng Thị Lan, Đại học Vinh, 1998): “Khảo sát từláy trong thơ Xuân Diệu và thơ Chế Lan Viên”.
- Khoá luận tốt nghiệp (Lê Thị Hà, Đại học Vinh, 2004) : “Khảo sát từláy trong thể Ngâm khúc”
- Bài viết “Diện mạo và vai trò của từ láy trong thơ Việt Nam” của TS.Trần Văn Minh (trong sách: Những vấn đề văn học và ngôn ngữ học Nxb
ĐHQG Hà Nội, 2004)
Tóm lại, nghiên cứu về từ láy không phải là một vấn đề mới mẻ Việckhảo sát từ láy trong các văn bản cụ thể cũng đã có một số công trình, từ khoáluận tốt nghiệp cho đến các luận văn thạc sĩ Tuy nhiên, có thể khẳng địnhrằng việc khảo sát, nghiên cứu về từ láy trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5
là đề tài mới mẻ, thú vị và gần nh cha có ai đi sâu
IV Phơng pháp nghiên cứu
Khoá luận chọn đối tợng là từ láy trong sách Tiếng Việt lớp 5 để khảosát do đó mang tính chất liên ngành Chính vì thế các phơng pháp nghiên cứu
là đa dạng và tuỳ thuộc vào nội dung, mục đích của từng chơng mục hoặccông đoạn nghiên cứu khác nhau
Để thực hiện đợc mục đích và nhiệm vụ khoá luận này đặt ra, chúng tôivận dụng phối hợp các phơng pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
V Đóng góp của khoá luận
Cung cấp bảng từ láy đợc dùng trong các bài Tập đọc và đợc cung cấp
ở phần Từ ngữ của sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5 (2004 – Đại học Vinh) 2005) và nhữngnhận xét qua khảo sát về lớp từ đó
Trang 9VI Bố cục của khoá luận
Ngoài các phần mở đầu, kết luận và phụ lục (bảng từ láy), phần nội
dung của khoá luận này gồm hai chơng:
I Giới thiệu khái quát về lớp từ láy trong tiếng Việt
Láy là một hiện tợng cấu tạo từ độc đáo của tiếng Việt nói riêng và một
số ngôn ngữ đơn lập khác nói chung bởi nó phản ánh đặc trng có tính chất loạihình của tiếng Việt cũng nh các ngôn ngữ đơn lập khác Từ láy đã tạo nên bản
Trang 10sắc riêng biệt khi đặt cạnh các lớp từ khác trong một ngôn ngữ Từ bao đờinay, trong giao tiếp hàng ngày, ngời Việt Nam đã dùng từ láy trong hoạt độngngôn ngữ để tạo nên vẻ duyên dáng, hài hoà cân đối trong lời ăn tiếng nói Đểthể hiện hết các cung bậc tình cảm, các trạng thái tâm lý cũng nh để mô phỏngcác cung bậc âm thanh của tự nhiên thì không có gì hiệu quả hơn là sử dụngcác từ láy Từ láy không còn là một hiện tợng mới lạ đối với mỗi ngời dân ViệtNam Từ láy chiếm một số lợng không nhỏ trong vốn từ tiếng Việt Theo “Từ
điển từ láy tiếng Việt” (Hoàng Văn Hành chủ biên), trong tiếng Việt có tớihơn 5000 từ láy Quả thực đó là môt số lợng lớn trong vốn từ tiếng Việt
1 Khái niệm từ láy
Xung quanh vấn đề từ láy, từ trớc tới nay đã có nhiều nhà ngôn ngữ học
ở trong nớc và trên thế giới bàn đến Họ đã đi vào nghiên cứu, tìm hiểu để nêu
ra khái niệm và các đặc điểm ý nghĩa của lớp từ đó Tuỳ theo cách hiểu, cáchnhìn nhận riêng của từng ngời, từng nhóm ngời mà lớp từ này đã có những têngọi khác nhau nh: từ lấp láy, từ láy âm, từ trùng điệp, từ kép phản phúc,…kèm theo những ấn tTựutrung, có thể thấy từ trớc tới nay có ba cách nhìn khác nhau về từ láy:
1.1 Coi từ láy là phụ tố
Tiêu biểu cho quan niệm này là L.Blumphin Tác giả này đã bàn đếnhiện tợng này nhiều lần Ông đã xác định rằng “Những hình thái hạn chế màtrong hiện tợng phát sinh thứ hai đợc thêm vào hình thái cơ sở thì gọi là phụtố” Từ cách hiểu về phụ tố nh thế, ông cho rằng “Láy là phụ tố, biểu hiện sựlặp lại một phần của hình thái cơ sở” (tác phẩm “Laguage” (1933))
Lê Văn Lý (1972) tuân theo quan niệm này, ông gọi từ láy là “từ ngữkép phản phúc” Trong cuốn “Sơ thảo ngữ pháp Việt Nam” (1972) ông viết “láy lànhững từ ngữ đơn đợc lặp đi lặp lại trong những yếu tố thành phần của chúng”
Tu,…kèm theo những ấn t)
Trong cuốn “Khái niệm về ngữ pháp Việt Nam” (1963) các tác giả
Tr-ơng Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê đã viết “Chúng ta có những từ hai âm,
Trang 11cũng có từ ba âm và từ bốn âm Tiếng đôi, tiếng ba, tiếng t ta gọi là kép trongngôn ngữ của ta, từ kép hai âm nhiều nhất, từ kép ba, bốn âm ít hơn Dù hai,
ba hay bốn âm từ kép cũng diễn chỉ diễn tả ý đơn giản nh từ đơn” Vì thế cáctác giả gộp từ láy với từ ghép vào một khái niệm chung, bao quát hơn gọi là
“từ kép” Khái niệm “từ kép” này gần nh tơng đồng với khái niệm “từ ghép”
mà những nhà Việt ngữ học vốn quen dùng
Nguyễn Tài Cẩn trong “Ngữ pháp tiếng Việt” (1975 đã cho rằng “Từ láy
âm là loại từ ghép trong đó theo con mắt nhìn của ngời Việt Nam hiện nay, cácthành tố trực tiếp đợc kết hợp lại với nhau của yếu là theo quan hệ ngữ âm”)
Còn tác giả Nguyễn Anh Quế trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt” cũnggọi từ láy là từ ghép âm Theo tác giả “Từ ghép theo quan hệ ngữ âm là loại từghép trong đó các hình vị tạo thành chỉ có quan hệ ngữ âm với nhau”
Nguyễn Văn Tu (1976) gọi chung những từ láy âm là từ ghép vì “thựcchất chúng đợc tạo ra bởi một từ tố với bản thân nó”
Ví dụ: Nguyễn Tài Cẩn đã chia từ ghép ra làm hai loại:
+ Từ ghép âm: vui vẻ, rải rác, mênh mông, trồng trọt…kèm theo những ấn t+ Từ ghép nghĩa: đất nớc, thuyền bè, đợi chờ, ngọt bùi…kèm theo những ấn t
1.3 Coi láy là sự hoà phối ngữ âm có giá trị biểu trng hoá
Trần Trọng Kim (1953), Đinh Trọng Lạc (1964) cho rằng “láy là một sựhoà phối ngữ âm”, trong hiện tợng láy có sự chi phối của luật hài âm, hài thanh
Hoàng Tuệ trong bài “Về những từ gọi là từ láy trong tiếng Việt”, đăngtrên tạp chí “Ngôn ngữ” năm 1972 đã nhấn mạnh “Nên hiểu rằng láy là phơngthức cấu tạo những từ mà trong đó có một sự tơng quan âm nghĩa nhất định T-
ơng quan ấy có tính chất tự nhiên, trực tiếp nhng tơng quan ấy tinh tế hơnnhiều và có thể nói là đã đợc cách điệu hoá Sự cách điệu ấy chính là sự biểutrng hóa ngữ âm - mối tơng quan này tạo ra sắc thái biểu cảm gợi ý, giá trị của
từ láy”
Cũng đi theo hớng này, Hoàng Văn Hành trong cuốn “Từ láy trongtiếng Việt” (1985) cho rằng “Cơ trình cấu tạo từ láy trong tiếng Việt chịu sựchi phối của xu hớng hoà phối ngữ âm” Sự phối hợp ngữ âm trong từ láy biểuhiện ở quy tắc đối và điệp Đối là sự sai khác, dị biệt về âm, về nghĩa Điệp là
sự lặp lại, sự đồng nhất về âm, về nghĩa Điệp và đối là hai mặt của một cơtrình gắn bó hữu cơ với nhau nhng cũng cần chú ý rằng: có thể chỉ có toàn là
điệp mà không có đối nhng tuyệt nhiên không thể có trở lại Từ đó ông đã cókết luận “Với t cách là một phơng thức cấu tạo từ, cơ chế láy là một quá trìnhdiễn ra nh sự hoạt động của một hệ những quy tắc ngữ âm, ngữ nghĩa chi phối
Trang 12việc tạo ra những từ mà các tiếng của chúng vừa nằm trong thế điệp vừa nằmtrong thế đối, nằm trong sự hoà phối về âm và về nghĩa, có giá trị biểu tr nghoá”.
Ví dụ:
Điệp thanh: xanh xanh xanh ở đây có đối ở trọng âm
hồng hồng hồng (trọng âm rơi vào chữ thứ nhất)Biến thanh: trắng trăng trắng
đỏ đo đỏchậm chầm chậm
Từ ba quan niệm trên, chúng ta có thể thấy quan niệm xem “láy là sựhoà phối ngữ âm có giá trị biểu trơng hoá” là quan niệm có có nhiều u điểm.Vì thế khoá luận này sẽ đi theo cách hiểu này Tuy nhiên, trong quá trìnhnghiên cứu chúng tôi không nhất nhất chỉ theo cách hiểu đó để tìm hiểu về từláy mà còn tham khảo bổ sung một số khía cạnh khác về từ láy ở một số côngtrình nghiên cứu khác mà chúng tôi thấy là hợp lý
Khoá luận này xem từ láy là sự hoà phối ngữ âm có giá trị biểu trng hoá
có nghĩa là xem láy là một cơ chế, nó có quy luật riêng Biểu hiện của sự hoàphối ngữ âm nh đã nói ở trên đó là các quy tắc điệp và đối Điệp và đối ở phụ
âm đầu, vần và thanh điệu Từ láy không đơn thuần chỉ là sự lặp lại âm thanh
mà bao giờ cũng kèm theo một sự biến đổi âm thanh nhất định để tạo ra cáithế vừa giống nhau vừa khác nhau Các thế ấy đợc Hoàng Văn Hành gọi là
“vừa điệp vừa đối”
Cũng theo quan niệm này thì trong tiếng Việt để cấu tạo từ láy ngời tanhân đôi tiếng gốc theo quy tắc nhất định Thực chất quá trình tạo từ láy làqua hai bớc:
Nếu xem xét cả ở từ loại láy ba, láy t ta cũng thấy quá trình nhân đôi
t-ơng tự nh vậy Cho nên ngời ta nói láy là quy tắc nhân đôi những bao giờ cũng
đợc tạo ra chỉ từ một tiếng cơ sở Sự khác nhau giữa láy đôi với lay ba, láy tchỉ là số bậc mà thôi (bậc I, bậc II)
2 Các kiểu từ láy trong tiếng Việt
2.1 Dựa vào phơng thức láy, có thể chia từ láy ra làm hai bậc
Trang 13Từ láy bậc I và từ láy bậc II.
Láy bậc I: là những từ láy đôi
Ví dụ: xanh xanh, đẹp đẽ, tim tím, bâng khuâng, …kèm theo những ấn t
Láy bậc II: là những từ láy ba, láy t
Ví dụ: - Sạch sành sanh, khít khìn khịt,…kèm theo những ấn t
- Thập thà thập thò, đủng đà đủng đỉnh, …kèm theo những ấn t Căn cứ vào số bậc láy, chúng tôi cho rằng với những từ láy t chỉ cónhững từ có đơn vị cơ sở là từ láy đôi thì khi láy lần thứ hai mới xem là những
từ láy
Ví dụ: thập thò thập thà thập thò
lúng túng lúng ta lúng túng hốt hoảng hốt hốt hoảng hoảngCòn những từ có đơn vị cơ sở là những từ ghép thì không đợc xem là từláy Vì vậy có một số từ ở sách Tiếng Việt lớp 5 đợc các soạn giả xếp vào lớp
từ láy để dạy cho học sinh nhng chúng tôi không xếp đó là từ láy mà chỉ xem
Kiểu từ láy hoàn toàn gồm hai trờng hợp:
-Trờng hợp láy cả âm và thanh
Ví dụ: xanh xanh, xinh xinh, ầm âm, đùng đùng,…kèm theo những ấn t
Trong kiểu láy này có một số từ thuộc nhóm từ loại danh từ phù hợp vớiquy tắc láy cả về âm và về thanh những chúng tôi chỉ xem đó là dạng lặp từvới ý nghĩa số nhiều
Ví dụ: nhà nhà, đêm đêm, ngày ngày, chiều chiều…kèm theo những ấn t
-Trờng hợp láy toàn bộ âm, còn thanh điệu có biến đổi theo quy tắc biếnthanh
Ví dụ : tim tím, đo đỏ, thăm thẳm,…kèm theo những ấn t
Và láy toàn bộ, thanh điệu biến đổi theo hai nhóm, phụ âm cuối biến
đổi theo nguyên tắc: từ tắc - vô thanh sang tắc - mũi Gồm các trờng hợp
Trang 14-Tắc – Đại học Vinh) mũi m n
Tắc – Đại học Vinh) vô thanh - p t k
Trờng hợp láy phụ âm đầu
Ví dụ: long lanh, nhí nhảnh , hoàng hôn, đanh đá, đẹp đẽ…kèm theo những ấn t
Về phụ âm đầu, ngoài các âm quen thuộc phổ biến còn có phụ âm tắchọng mà trong tiếng Việt cha đợc nghi lại bằng một ký hiệu nào đó (phụ âm
đầu zêro)
Ví dụ: ôn ã, í ới, …kèm theo những ấn t
Trờng hợp láy vần :
Ví dụ: chon von, lòng thòng, lênh khênh, chênh vênh, liểng xiểng, …kèm theo những ấn t
2.3 Dựa theo số lợng tiếng có nghĩa, có thể chia làm hai kiểu
Từ láy không có tiếng gốc và từ láy có một tiếng gốc (tiếng có nghĩa)trong từ
Ví dụ: về các từ láy không có tiếng gốc: chập chờn, nhí nhảnh, lanh
chanh, mênh mông, lửng thửng, bâng khuâng,…kèm theo những ấn tCác từ láy kiểu này thờng lậpthành các nhóm gồm một số từ có sự tái hiện của một yếu tố ngữ âm nhất
định Ví dụ loạt từ láy có chung khuôn tY, mY nh : tỉ mỉ, tẩn mẩn, tủn mủn,tắt mắt, táy máy, tò mò, …kèm theo những ấn t ngoài nghĩa riêng của từng từ thì các từ kiều này
có nét nghĩa chung là “biểu thị hành động (thái độ) chú ý đến cái nhỏ nhặt”.Hoặc các từ láy có chung khuôn hình cấu tạo X “âp” + XY nh: thấp thỏm, xậpxùi, khập khiểng, chấp chới, sập sè, tấp tểnh…kèm theo những ấn t có nét nghĩa chung là “biểu thịnhững hoạt động (trạng thái) xẩy ra theo chu kỳ” Các từ láy kiểu không cótiếng gốc là kiểu tiêu biểu cho phơng thức cấu tạo từ láy bằng việc phối hợpngữ âm giữa các tiếng, nhờ đó tạo cho từ láy có nghĩa hình tợng rất rõ về ngữ
âm
Các kiểu từ láy có tiếng gốc gồm có hai kiểu: tiếng gốc đặt trớc (ví dụ:
lẻ loi, nhỏ nhoi, lạnh lùng, nhớ nhung, vẽ vời, làm lụng…kèm theo những ấn t) và tiếng gốc đặt
sau: (Ví dụ : tng bừng, nhấp nhô, thập thò, bập bù, tù mù…kèm theo những ấn t) Tiếng gốc là cáigốc nghĩa của cả láy thuộc kiểu này, và bản thân tiếng gốc này dùng làm từ
đơn tiết Vị trí của các tiếng gốc trong kiểu từ láy này là cố định Mặc dùnghĩa của từ láy xuất phát từ nghĩa của tiếng gốc, những các từ láy có chung
Trang 15tiếng gốc lại khác nhau về nghĩa sắc thái Ví dụ: nhỏ nhắn (nhỏ và dễ nhìn, dễa), nhỏ nhoi (nhỏ và có vẻ yếu ớt, ít ỏi), nho nhỏ (nhỏ a nhìn), nhỏ nhẹ (gắnvới lời ăn tiếng nói), nhỏ nhen (ích kỷ, hẹp hòi)…kèm theo những ấn t hay từ xanh xanh (cónghĩa giảm, màu sắc nhạt hơn màu “xanh” ), xanh xao (gợi đến tình trạng sứckhoẻ kém)…kèm theo những ấn t
3 Các kiểu nghĩa của từ láy
Dựa vào mức độ biểu trng hoá, ta có thể chia từ láy ra làm nhiều loại:-Loạt từ láy biểu trng hoá ngữ âm giản đơn
Ví dụ: lách cách, lộp bộp, leng keng,…kèm theo những ấn t
Đó là những từ tợng thanh mô phỏng trực tiếp âm thanh của tự nhiên
Âm thanh của từ gợi ra và âm thanh của sự vật gần nh không có khoảng cách
-Loạt từ láy biểu trng hoá ngữ âm cách điệu
Ví dụ: lác đác, đăm đăm, bâng khuâng,…kèm theo những ấn t
Đặc điểm của lớp từ này: nghĩa của tiếng gốc là mờ nghĩa, các từláy đợc nhận thức là một chỉnh thể có giá trị gợi tả thờng biểu thị trạng tháitâm lý, nhân cách của con ngời
- Loạt từ láy vừa biểu trng hoá ngữ âm vừa chuyên biệt hoá về nghĩa
Đó là những từ mà nghĩa của nó có thể giải thích đợc không chỉ nhờ vào nghĩacủa yếu tố gốc mà còn dựa vào khuôn hình cấu tạo (mô hình ngữ âm)
Ví dụ: vuông vắn, đỏ đắn, tròn trặn, xinh xắn,…kèm theo những ấn t ờng diễn đạt tới giá thtrị lý tởng
4 Về nguồn gốc của từ láy trong tiếng Việt
Nh đã nói ở trên, từ láy là sản phẩm độc đáo của ngôn ngữ dân tộc Việt
từ bao đời nay Cho nên hầu hết từ láy đều là từ thuần Việt( nếu hiểu kháiniệm “thuần Việt” bao gồm những từ vốn tồn tại từ lâu trong tiếng Việt, khôngphải từ mợn của ngôn ngữ khác, đặc biệt là mợn từ Hán) Tuy nhiên cũng cómột số ít những từ láy gốc Hán nhng từ lâu đã hoà nhập vào vốn từ láy thuầnviệt do mức độ Việt hoá cao của chúng Ví dụ: bồi hồi, đinh ninh, nguy nga,
đàng hoàng, phảng phất,…kèm theo những ấn t
5 Về từ loại của từ láy tiếng Việt
Qua thực tế sử dụng từ láy tiếng Việt, và qua khảo sát phân loại sơ bộvốn từ láy tiếng Việt đợc thu thập và giải nghĩa trong cuốn “Từ điển Việt Namphổ thông” (Đào Văn Tập, 1951) có thể thấy mấy điểm sau đây về từ loại từláy:
Trớc hết, hơn một nửa số từ láy tiếng Việt ở vào tình trạng đợc dùng vừa
nh động từ, vừa nh tính từ
Trang 16Thứ hai, trong số các từ láy có thể xác định đợc từ loại rõ ràng, chiếm tỷ
lệ cao nhất là tính từ, tiếp đến là động từ và ít nhất là danh từ
Phần lớn các tính từ láy âm có tiếng gốc mang nghĩa đứng trớc (ví dụ:
bừa bãi, gọn gàng, rối ren, nhanh nhẹn, vội vàng, xấu xí,…kèm theo những ấn t) Các tính từ láy
âm có tiếng gốc mang nghĩa đứng sau chiếm tỷ lệ thấp hơn nhiều lần (ví dụ:
gồ ghề, kham khổ, khù khờ, mập mờ,…kèm theo những ấn t) Giữa hai kiểu trên là các tính từ láy
âm không có tiếng gốc mang nghĩa (Ví dụ: đủng đỉnh, chập chờn, lủng
củng…kèm theo những ấn t)
Trong các động từ láy âm, nhiều nhất cũng là những từ có tiếng mang
nghĩa đứng trớc (Ví dụ: giữ gìn mắng mỏ, doạ dẫm…kèm theo những ấn t) các động từ láy có
tiếng gốc mang nghĩa động từ đứng sau cũng chiếm tỷ lệ rất thấp (ví dụ: trăn
trở, sơ hở, phe phẩy, phơ phất,…kèm theo những ấn t) Các động từ láy âm không có tiếng gốc
chiếm tỷ lệ trung bình (ví dụ: rạo rực, phôi pha, tủm tỉm, …kèm theo những ấn t)
Các danh từ láy âm gồm hai kiểu: kiểu thứ nhất gồm các từ có tiếng
mang nghĩa đứng trớc, kiểu này chiếm tỷ lệ cao hơn (ví dụ: họ hàng, của cải,
hội hè, khách khứa, tiệc tùng, đất đai, thịt thà, dáng dấp, nghề ngỗng…kèm theo những ấn t) Kiểuthứ hai gồm các từ không có tiếng nào mang nghĩa, cả từ có nghĩa thờng đểgọi tên một số loài sự vật: cào cào, bìm bịp, đa đa, cồng cộc, bơm bớm…kèm theo những ấn t
Nói tóm lại, đặc điểm về từ loại của từ láy cùng với các đặc điểm về cấutạo, đặc điểm nguồn gốc đã góp phần tạo nên diện mạo riêng của từ tiếngViệt Chính những đặc điểm này là cơ sở cho chúng tôi đi vào đề tài “Khảo sátvốn từ láy trong sách Tiếng Việt lớp 5”
6 Giá trị sử dụng từ láy trong tiếng Việt
Do đặc điểm ngữ nghĩa nh chúng ta vừa phân tích ở trên cộng với tínhcân đối hài hoà trong cấu tạo âm thanh của từ láy cho nên nó đợc sử dụng phổbiến trong hoạt động lời nói hàng ngày của ngời Việt cũng nh trong các loạihình văn học
Từ láy là sản phẩm của văn hoá Việt Nam, cho nên ngay trong bộ phậnvăn học truyền miệng từ xa tới nay từ láy đã xuất hiện rất nhiều, tiêu biểu hơncả là trong loại hình ca dao Bởi nh chúng ta đã biết ca dao là thể loại văn họcdân gian giàu tính nhạc điệu, giàu cảm xúc mà từ láy thì thờng đợc ví nhnhững “nốt nhạc” về âm thanh Vì vậy có thể xem từ láy là một công cụ quantrọng để tạo nên tính hoạ, tính nhạc của những bài ca dao nói riêng và của thơ
ca nói chung Nó làm cho những bài ca dao càng thêm mợt mà, cân đối vàtình tứ
Trang 17Kho tàng ca dao Việt Nam vốn rất lớn, viết về nhiều đề tài khác nhaunhng có thể nói mảng ca dao viết về tình yêu đôi lứa là mảng chiếm số lợngnhiều nhất và có nhiều bài xuất sắc Những bài ca dao đó đã thể hiện đợc tâmtrạng của những con ngời trong tình yêu đôi lứa Và để góp phần khắc hoạ tâmtrạng đó có vai trò rất quan trọng của các từ láy.
Nói đến tâm trạng của ngời con gái đang yêu khi nhớ nhung, có lẽchúng ta không thể không nhớ đến bài ca dao:
Nhớ ai, em những khóc thầmHai hàng nớc mắt đầm đầm nh maNhớ ai ngơ ngẩn, ngẩn ngơ
Nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai Nhớ ai bổi hổi bồi hồi
Nh đứng đống lửa, nh ngồi đống than”
Nỗi nhớ của cô gái ở đây thật gia diết Và để khắc họa nỗi nhớ ấy, ngoàicách lặp đi lặp lại từ “nhớ”, những từ láy xuất hiện liên tiếp trong bài ca dao
đã có tác dụng rất lớn trong việc thể hiện tâm trạng của nhân vật trữ tình.Trong bài ca dao này, tác giả dân gian đã thấy rõ u điểm, tính cân đối, hài hoàcủa từ láy để sử dụng liên tiếp hai từ “ngơ ngẩn”, “ ngẩn ngơ” bằng cách đảotrật tự từ, nó có tác dụng rõ rệt trong việc khắc hoạ tình cảm của cô gái Nỗinhớ ấy lại đợc tăng lên với một cờng độ mạnh hơn ở từ láy bậc II “bổi hổi bồihồi” Đó là một tâm trạng đứng ngồi không yên – Đại học Vinh) tâm trạng của một ngời đangyêu
Hay ở một bài ca dao khác kể về lời của một cô gái với ngời yêu củamình trong đêm hò hẹn:
Gió vàng hiu hắt đêm thanh Đờng xa dặm vắng xin anh đừng về
Mảnh trăng đã trót lời thềLàm chi để gánh nặng nề cho ai?
Để mong ngời yêu không về, nhân vật trữ tình tức là cô gái đã đa ranhiều lý do, trong đó lý do đầu tiên là bởi “gió vàng hiu hắt đêm thanh” Buổi
hò hẹn rất đẹp, rất lý tởng trong một “đêm thanh” Nhng oái oăm thay, trong
đêm thanh đó lại xuất hiện cơn gió “hiu hắt” Từ láy “hiu hắt” dùng để miêu tảtính chất của của cơn gió nhng nó cũng để nói lên tâm trạng buồn của nhân vậttrữ tình Lúc này, sau những cuộc hò hẹn tình tứ, thề nguyền, cô gái khôngmuốn rời xa ngời mà mình yêu Và ở cuối bài ca dao, từ láy “nặng nề” xuất
Trang 18hiện làm cho câu thơ nh trĩu nặng xuống, mang đầy tâm trạng của nhân vật trữtình.
Không chỉ trong văn học dân gian mà thực tế trong văn học viết, đặcbiệt là trong thơ ca từ láy xuất hiện rất nhiều, nó đã góp phần vô cùng quantrong việc miêu tả, phản ánh cuộc sống bằng hình tợng nghệ thuật
“Truyện Kiều” - một kiệt tác của văn học trung đại Việt Nam là truyệnthơ đợc viết bằng thể lục bát Trong tác phẩm này Nguyễn Du đã sử dụngnhững từ ngữ mộc mạc mang đậm bản sắc của ngời Việt Nam Và để tạo nêntính mộc mạc giản dị đó Nguyễn Du đã sử dụng nhiều từ láy
Trong một đoạn thơ tả cảnh Thuý Kiều chiều hôm nhớ nhà, Nguyễn Du
đã sử dụng tới 6 từ láy:
Buồn trông cửa bể chiều hômThuyền ai thấp thoáng cánh buồn xa xaBuồn trông ngọn nớc mới saHoa trôi man mác biết là về đâuBuồn trông nội cỏ dầu dầuChân mây mặt đất một màu xanh xanhBuồn trông gió cuốn mặt duyềnh
ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồiCác từ láy xuất hiện liên tiếp trong đoạn thơ đã thể hiện đợc tâm trạng
lo lắng, thao thức, nỗi nhớ cha mẹ, nhớ ngời yêu Trong đoạn thơ này tác giảvừa sử dụng từ láy tợng thanh, vừa sử dụng từ láy tợng hình, vừa sử dụng từláy biểu trng Góp phần quan trọng vào việc khắc họa cảm giác u uất, tù túng,nặng nề, bế tắc của Kiều
Nhiều khi chỉ với vài từ láy mà Nguyễn Du có thể phác họa đợc chândung các nhân vật trong tác phẩm Mụ Tú Bà dợc Nguyễn Du miêu tả:
“Thoắt trông nhờn nhợt màu da Ăn chi to lớn đẫy đà làm sao?”
Hay Mã Giám Sinh thì đợc Nguyễn Du miêu tả:
“Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao”
Hồ Xuân Hơng đợc mệnh danh “Bà chúa thơ Nôm” – Đại học Vinh) cũng là một
ng-ời sử dụng từ láy rất tài tình vào trong thơ của mình
“Cầu trắng phau phau đôi ván ghép Nớc trong leo lẻo một dòng thông
Cỏ gà lún phún leo quanh mép Cá diếc le te lách giữa dòng”
Trang 19Cả bốn câu thơ tác giả đều sử dụng từ láy vừa mang tính gợi hình cao,vừa giàu hình ảnh, và cũng rất sinh động
Đặc biệt, đến thơ văn hiện đại, do không bị ràng buộc về nhiều mặt chonên việc sử dụng từ ngữ trong câu thơ cũng không mang tính trói buộc nh trớc.Các tác giả có thể tự do lựa chọn và sáng tạo từ ngữ Nhờ vậy, ngôn ngữ dântộc đợc phát triển đến đỉnh cao Rất nhiều nhà văn, nhà thơ xem từ láy là vốn
từ vựng rất quan trọng trong việc thể hiện nội dung tác phẩm của mình
Xuân Diệu đã mở ra một không gian lý tởng cho tình yêu:
“Con đờng nhỏ nhỏ gió xiêu xiêu
Lả lả cành hoang nắng trở chiều”
(Thơ Duyên – Đại học Vinh) Xuân Diệu)Khung cảnh ở đây có con đờng, ngọn gió, cành hoang, sắc nắng…kèm theo những ấn t cáigì cũng lý tởng cho hai ngời Con đờng chỉ “nhỏ nhỏ” vừa vặn để mời gọi bớcchân đôi lứa Ngọn gió thì “xiêu xiêu” nh trở nên ve vuốt Còn cành hoang thì
“lả lả” trở mình trong t thế duyên dáng nh mời gọi, nh đón chào
Hay cảnh đêm trăng trong thơ Hàn Mạc Tử:
“Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu Đợi gió đông về để lả lơi
Hoa lá ngây tình không muốn độngLòng em hồi hộp chị Hằng ơi…kèm theo những ấn t”
(Bẽn lẽn – Đại học Vinh) Hàn Mặc Tử)Tác giả miêu tả đêm trăng nhng ta vẫn có cảm giác nh đang miêu tả vềmột ngời con gái đẹp bởi các từ láy “sóng soãi”, “lả lơi” rất sống động, gợihình và gợi cảm
Những câu thơ có chứa từ láy nhiều lúc nó tạo nên tính nhạc, tính tiếttấu, vần, nhịp điệu, tính cân đối trong câu thơ
“ Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bớc đi”
(Việt Bắc – Đại học Vinh) Tố Hữu) “Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”
(Tràng Giang – Đại học Vinh) Huy Cận)Tóm lại, qua các ví dụ trên chúng ta thấy từ láy có vai trò rất quan trọngtrong ngôn ngữ dân tộc cũng nh trong thơ ca Nó là kết tinh của tinh hoa vănhoá dân tộc Việt Chính vì vậy, từ láy là lớp từ quan trọng cần đợc dạy và học
Trang 20cho học sinh ngay từ những ngày đầu tiên đến trờng và tiếp tục ở các lớp kháctrong trờng phổ thông.
II Giới thiệu về sách giáo khoa môn tiếng Việt lớp 5 (2004 - 2005)
Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5 là bộ sách gồm hai tập dành cho họcsinh cuối cấp tiểu học Đây là sách của Nhà xuất bản Giáo dục (do Lê Cận chủbiên) Bên cạnh dó còn có các tác giả khác, gồm: Trịnh Mạnh, Đinh Tấn Ký,
Đỗ Lê Chẩn, Lê Biên, Đỗ Quang Lu, Nguyễn Có, Lu Đức Trung Sách giáokhoa Tiếng Việt lớp 5 đã đợc tái bản lần thứ mời tám và hiện nay vẫn đang là
bộ sách dùng để giảng dạy cho học sinh bậc tiểu học trong cả nớc
Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5 đợc soạn theo hình thức ghép các phânmôn lại với nhau để thành một môn học chung là môn Tiếng Việt Bộ sáchgồm có 5 phần chính: Tập đọc, Từ ngữ, Ngữ pháp, chính tả, Tập làm văn Cả
5 phần trên đợc các soạn giả soạn tơng đối độc lập với nhau Tuy nhiên, trongquá trình giảng dạy cho học sinh, các phần đó sẽ đợc dạy xen kẽ với nhau vớithời lợng do Bộ giáo dục quy định nhằm mục đích cung cấp cho các em những trithức toàn diện về môn Tiếng Việt cũng nh hình thành và phát triển đồng thời chohọc sinh bốn kỹ năng ngôn ngữ: nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt
Phần Tập đọc gồm có 65 bài đọc đợc chia làm hai chủ đề chính “Măngnon” và “Đất nớc” ở tập 1 gồm có 34 bài, tập 2 gồm có gồm có 31 bài 65 bài
đọc này là sự tập hợp những sáng tác của những tác giả khác nhau ở trong vàngoài nớc Có những bài đợc in trọn vẹn cả bài, cũng có những bài đợc tríchmột đoạn tiêu biểu trong các tác phẩm lớn Nhng dù đợc in trọn vẹn hay trích
đoạn thì đó đều là những bài đọc hay, phù hợp với lứa tuổi các em, có tínhgiáo dục cao và đặc biệt đã thể hiện tập trung hai chủ đề: “Măng non” và “Đấtnớc”
Chúng ta có thể chia phần tập đọc theo bảng sau:
Tập 1 Tập 2 Tập 1 Tập 2
21 bài 17 bài 13 bài 14 bài
Trong số 65 bài đọc đó, phần văn thơ Việt Nam gồm có 53 bài, chiếm81,5% số lợng bài đọc, phần văn thơ nớc ngoài gồm có 12 bài chiếm 18,5% sốlợng bài đọc Đây là một tỷ lệ rất phù hợp bởi bộ sách này đang tập trung thểhiện hai chủ đề là “Măng non” và “Đất nớc”, nhất là chủ đề “Đất nớc” lạichiếm một số lợng rất lớn
Phần Từ ngữ gồm có 33 tiết ở tập 1 nội dung chủ yếu của phần Từ ngữ
là dạy cho các em các tri thức cơ bản về từ đơn, từ láy, từ ghép ở tập 2 nội
Trang 21dung chủ yếu là dạy cho học sinh về các loại nghĩa của từ, từ cùng nghĩa, từgần nghĩa, từ trái nghĩa Xen kẽ với các nôi dung này là các bài mở rộng vốn
từ cho học sinh theo chủ đề Gồm 12 chủ đề sau:
- Anh em – Đại học Vinh) Chị em
- Thành phố – Đại học Vinh) thị xã - thị trấn
+ Láy cả âm và vần: Bộ phận phụ âm đầu và bộ phận vần đợc láy(lặp) lại
Trong khoá luận của chúng tôi, chúng tôi chia từ láy ra làm hai kiểu(dựa vào mức độ láy), đó là: từ láy hoàn toàn và từ láy bộ phận Nh vậy, khoáluận của chúng tôi đã gộp nhóm láy tiếng và láy cả âm và vần nh trong sáchTiếng Việt lớp 5 để xếp thành nhóm từ láy hoàn toàn Tơng tự nh vậy, chúngtôi gộp nhóm láy âm và láy vần vào một kiểu từ láy là từ láy bộ phận
Trong bài đọc “Các dạng từ láy” (tiết 7) mở đầu là phần bài đọc để họctrò nhận diện các từ láy Từ đó các soạn giả đã chia từ láy ra làm ba dạng khácnhau:
+ Láy đôi (từ láy có hai tiếng)+ Láy ba (từ láy có ba tiếng)
Trang 22+ Láy t (từ láy có bốn tiếng)Còn trong khoá luận của chúng tôi, khi bàn về dạng của từ láy chúng tôi
đã chia từ láy làm hai bậc: từ láy bậc I và từ láy bậc II Nh vậy, chúng tôi đãxếp dạng từ láy ba và láy t vào làm một nhóm là từ láy bậc II bởi xét đến cùng,
từ láy ba và láy t đều giống nhau ở số lần tác động vào hình vị cơ sở
Mặt khác, khi bàn về từ láy t (tức là từ láy bậc II) các soạn giả đã đa vàomột số từ : quần quần áo áo, cời cời nói nói, trùng trùng điệp điệp, hốt hốthoảng hoảng Nh đã nói ở phần trớc, chúng tôi không xếp những từ này vàonhóm từ láy mà chỉ xem đó là dạng lặp từ mà thôi
Trong những tiết dạy về kiến thức của từ láy các soạn giả cũng đề cập
đến nghĩa của từ láy qua bài “Nghĩa của từ láy” (tiết 10) Họ đã chia nghĩa từláy ra làm hai dạng:
+ Từ láy có nghĩa giảm nhẹ so với nghĩa của từ gốc
+ Từ láy có nghĩa mạnh hơn so với nghĩa của từ gốc
Còn trong khoá luận của chúng tôi khi bàn về các kiều nghĩa của từ láychúng tôi đã dựa vào mức độ biểu trng hoá để chia nghĩa từ láy ra làm ba loạichính: Từ láy biểu trng hoá ngữ âm giản đơn, từ láy biểu trng hoá ngữ cách
điệu và từ láy vừa biểu trng hoá ngữ âm vừa chuyên biệt hoá về nghĩa
Tiếp đó là những tiết đề cập đến “Từ tợng thanh” và “Từ tợng hình” Đó
là những tiết dạy giúp các em phân biệt hai loại từ láy Những kiến thức về từtợng thanh và từ tợng hình cũng đã đợc khoá luận đề cập đến trong phần nghĩacủa từ láy
Nh vậy, trong chơng trình Tiếng Việt lớp 5 các soạn giả sách giáo khoa
đã cung cấp cho các em những hiểu biết cơ bản về từ láy là kiểu, dạng vànghĩa của từ láy giúp cho các em có cái nhìn tơng đối toàn diện về lớp từ này.Tuy nhiên những kiến thức đó còn có một số điểm cha phù hợp với quan niệmcủa khoá luận
Chơng II:
Trang 23Vốn từ láy trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5
I Kết quả thống kê và phân loại.
Công việc thống kê có tính chất chìa khoá mở cửa cho các thao tác, cáchoạt động tiếp theo nh phân loại, nhận xét, so sánh, đánh giá Mục đích yêucầu của thống kê ở đây nhằm xác định số lợng, các hoạt động đặc thù của từláy dẫn liệu, tạo cơ sở vững vàng cho các nhận xét đánh giá về sau
Nh chúng tôi đã nói ở phần trớc, bộ sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5 đợctạo ra trên cơ sở ghép 5 phân môn lại với nhau Nhng qua tìm hiểu, khảo sát,thống kê chúng tôi thấy số lợng từ láy xuất hiện nhiều nhất ở hai phần “Tập
đọc” và “Từ ngữ” Do đó, trong phạm vi đề tài này chúng tôi đã tiến hànhkhảo sát thống kê số lợng từ láy ở hai phần “Tập đọc” và “Từ ngữ” Sau đóchúng tôi tiến hành so sánh, đối chiếu số lợng giữa hai phần này và rút ranhững nhận xét cần thiết Qua khảo sát thống kê, chúng tôi đã thu đợc một sốkết quả nh sau:
1 Từ láy trong phần Tập đọc“ ”
Phần Tập đọc gồm có 65 bài đọc (trong đó tập 1 có 34 bài; tập 2 có 31bài) Nếu chia theo thể loại, văn xuôi có 28 bài, thơ có 27 bài Qua khảo sát
và thống kê, chúng tôi đã thu đợc tổng số từ láy là 251 từ với 353 lần xuất hiện
Nh vậy, nếu chia bình quân số từ láy này trên tổng số 65 bài chúng ta sẽ có:
bài 1
từ 86 , 3 bài 65
từ 251
Còn nếu chia theo số lần bình quân xuất hiện chúng ta sẽ thấy một kếtquả cao hơn:
bài 1
lần 43 , 5 bài 65
lần 353
Có một đặc điểm rất nổi bật của việc sử dụng từ láy trong phần Tập đọc
đó là các tác giả đều sử dụng từ láy bậc I (láy đôi) trong bài đọc của mình.Còn từ láy bậc II (láy ba và láy t) không xuất hiện lần nào trong suốt 65 bài đọc
1.1.Nếu chia tổng số 251 từ láy này theo mức độ láy thì chúng ta sẽ có:
- Từ láy hoàn toàn:
%) 31 , 22 chiếm (
từ 251
từ 56
Trong đó có một số từ xuất hiện hơn một lần nh:
- “xa xa”: 5 lần
- “luôn luôn” : 3 lần
- “lồng lộng”: 2 lần
Trang 24từ 251
từ 164
Trong đó có rất nhiều từ xuất hiện hơn một lần nh:
từ 31
Tức là chỉ chiếm khoảng 1/8 tổng số từ láy xuất hiện trong phần Tập đọc.Trong từ láy vần cũng có một số từ xuất hiện hơn 1 lần nh:
- “từng bng” : 3 lần
Trang 25Mức độ láyTổng
Láy hoàntoàn
Láy bộ phậnP.AĐầu Vần
- Sau từ láy phụ âm đầu là từ láy hoàn toàn Từ láy hoàn toàn chỉ chiếmcha đầy 1/4 tổng số từ láy của cả phần Tập đọc (22,31%)
- Phần chiếm tỷ lệ ít nhất trong các kiểu từ láy chia theo mức độ láy là
từ láy vần Nó chỉ chiếm tỷ lệ khoảng 1/8 tổng số từ láy Đây cũng là điều hợp lýbởi trên thực tế từ láy vần chiếm tỷ lệ rất thấp trong vốn từ láy của ngời Việt
1.2 Nếu chia số từ láy trên theo số tợng tiếng có nghĩa chúng ta sẽ có kết quả:
- Số lợng từ láy có tiếng gốc: 165 từ (chiếm 65,74%)
- Số lợng từ láy không có tiếng gốc : 86 từ (chiếm 34,26%)
Nh vậy, trong tổng số 251 từ láy thì tỷ lệ từ láy có tiếng gốc chiếm gầngấp đôi từ láy không có tiếng gốc Trong từ láy có tiếng gốc cũng có cả haikiểu: từ láy có tiếng gốc đặt trớc và từ láy có tiếng gốc đặt sau
Ví dụ: Từ láy có tiếng gốc đặt trớc: Cây cối, họ hàng, sinh sôi, mạnh
mẽ, mỏng manh, chen chúc, rực rỡ, nhanh nhẹn, xinh xắn, ngợng nghịu, …kèm theo những ấn t
Từ láy có tiếng gốc đặt sau: Thoai thoải, san sát, đăm đắm, sungsớng, lồng lộng, văng vẳng, quyến luyến, …kèm theo những ấn t
1.3 Nếu chia từ láy theo nguồn gốc:
Trang 26Có thể nói, tuyệt đại bộ phận từ láy đợc sử dụng trong phần Tập đọc đều
là từ láy thuần Việt Chỉ có một vài trờng hợp dùng từ láy Hán Việt: nguy nga,phơng phi Đó là một điều hợp lý Bởi nh ta đã biết, từ láy là sản phẩm của nềnvăn hoá Việt Nam cho nên hầu hết các từ láy đều là thuần Việt Hơn nữa, đốivới đối tợng học sinh lớp 5 thì nếu đa vào những từ láy Hán Việt sẽ gây khóhiểu cho các em
* *
Trên đây, chúng tôi đã đa ra tổng số từ láy trong phần Tập đọc và đãphân chia các từ đó theo từng tiêu chí khác nhau Chúng tôi cũng đã tính tỷ lệtrung bình từ láy xuất hiện trong mỗi bài Tuy nhiên, không phải bài đọc nàocũng có từ láy xuất hiện, rồi giữa tập 1 và tập 2, giữa văn xuôi và thơ tỷ lệ từláy xuất hiện cũng có sự khác nhau
ở sách giáo khoa tập 1 có 34 bài đọc Số từ láy xuất hiện trong tập 1 là
154 từ với 193 lần sử dụng Còn ở tập 2 có 31 bài đọc, trong đó 129 từ láyxuất hiện với 160 lần sử dụng Nh vậy, nếu nh theo số liệu trên thì tổng số từláy xuất hiện trong cả tập 1 và tập 2 là : 154 + 129 = 283 từ Nhng, nh số liệu
ở trên chúng ta đã khảo sát đợc tổng số từ láy trong cả hai tập là 251 từ Điều
đó có nghĩa là trong tập 1 và tập 2 có một số từ đợc dùng hơn một lần (nghĩa
là từ đó xuất hiện ở tập 1 nhng đồng thời cũng xuất hiện ở tập 2) Còn tổng sốlợt xuất hiện của từ láy vẫn không thay đổi: 193 + 160 = 353 lần
Chúng ta sẽ đa ra bảng so sánh về số từ và số lần xuất hiện của từ láygiữa tập 1 và tập 2 để tiện theo dõi:
Tập
bài 1
từ 53 , 4 ( 34
bài 1
từ 16 , 4 ( 31 129
bài 1
từ 86 , 5 ( 34
193
) bài 1
từ 16 , 5 ( 31 160
Nh vậy, qua bảng so sánh trên chúng ta thấy số lần từ láy xuất hiệntrong một bài giữa tập 1 và tập 2 tơng đơng với nhau Tỷ lệ xuất hiện ở tập 1
Trang 27- Tiết 53: Buổi sáng mùa hè trong thung lũng: 18 từ
- Tiết 42: Đêm trăng hành quân về đồng bằng: 17 từ
- Tiết 54 : Ông già trên núi Chè Tuyết: 16 từ
- Tiết 55, 56: Bức tranh cụ già ngồi câu cá: 14 từ
- Tiết 21:Núi rừngTrờng sơn sau cơn ma: 14 từ
- Tiết 19: Phong cảnh Hòn Đất: 11 từ
- Tiết 10: Bà tôi : 10 từ
Những bài không có từ láy xuất hiện nh
- Tiết 30: Mùa hoa bởi
- Tiết 36: Yết Kiêu
- Tiết 38: Hoa hồng Bun – Đại học Vinh) ga - ri
- Tiết 52: Hạt gạo làng ta
Đặc biệt, khi so sánh giữa phần văn xuôi và thơ chúng ta sẽ thấy đợckhác biệt rất rõ trong việc sử dụng từ láy ở hai thể loại này
Phần văn xuôi gồm có 38 bài trong đó số từ láy xuất hiện là 206 từ với
số lần sử dụng là 274 lần Còn phần thơ gồm có 27 bài trong đó số từ láy xuấthiện là 69 từ với 78 lần sử dụng
Chúng ta sẽ có bảng so sánh từ láy xuất hiện giữa phần văn xuôi và thơ:
Thể loại
bài 1
từ 42 , 5 ( 38
206
) bài 1
từ 56 , 2 ( 27 69
bài 1
từ 21 , 7 ( 38
274
) bài 1
từ 89 , 2 ( 27 78
Nh vậy, nhìn vào bảng so sánh trên chúng ta thấy tỷ lệ sử dụng từ láygiữa phần văn xuôi và thơ trong phần Tập đọc có sự khác nhau rõ rệt Số từxuất hiện trong một bài của văn xuôi gấp hơn hai lần so với thơ Tỷ lệ đó lạicàng chênh lệch cao hơn khi so sánh số lần sử dụng từ láy trong một bài (gấphơn 2,5 lần)
Chúng ta có thể thấy trong phần văn xuôi, có rất nhiều bài đọc có trên
10 từ láy , tiêu biểu nh: “Buổi sáng mùa hè trong thung lũng” (18 từ) “Đêm
Trang 28trăng hành quân về đồng bằng” (17 từ), “Ông già trên núi Chè Tuyết” (17 từ)còn ở trong phần thơ, bài sử dụng từ láy nhiều nhất cũng chỉ 8 từ (bài: Đẹp
tiết 1
từ 91 , 3 tiết 33
từ 129
Còn nếu chia số lợt bình quân xuất hiện ta sẽ có kết quả:
tiết 1
Lần 09 , 5 tiết
33
lần 168
2.1 Trong phần Từ ngữ, bên cạnh từ láy bậc I (láy đôi) thì đã có một số
từ láy bậc II (láy ba, láy t) xuất hiện Cụ thể, trong tổng số 129 từ láy có 8 từláy bậc II với số lần sử dụng là 16 lần
Chúng ta có bảng phân chia từ láy theo bậc nh sau:
Số lần ( 90 , 48 %)
168
152
%) 52 , 9 ( 168 16
Nhìn vào bảng trên ta thấy, trong phần Từ ngữ có cả từ láy bậc I và bậc
II Nhng từ láy bậc II chiếm tỷ lệ rất ít, cha đầy 1/10 tổng số từ láy trongphần Từ ngữ
2.2 Từ láy chia theo mức độ láy: Từ láy trong phần Từ ngữ gồm cả từláy bậc I và từ láy bậc II Nhng trong qúa trình phân chia từ láy theo mức độláy chúng tôi chỉ khảo sát những từ láy bậc I tức là những từ láy đôi
- Từ láy hoàn toàn:
%) 8 , 43 chiếm (
từ 121
từ 53
Trong đó có một số từ xuất hiện hơn 1 lần nh:
- “xanh xanh” : 4 lần-“ngoan ngoãn”: 2 lần