Bên cạnh đó, vốn từvựng tiếng Việt còn có các lớp từ khác nh: vốn từ địa phơng, vốn từ thuật ngữ,vốn từ tiếng lóng, vốn từ nghề nghiệp, vốn từ biệt ngữ, … Vốn từ toàn dân đợc sử dụng một
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trờng Đại Học vinh -
Trang 2Lời cảm ơn !
Sau một quá trình điều tra, nghiên cứu với những thuận lợi và khó
khăn nhất định, đề tài: “Vốn từ chỉ nghề bánh Vĩnh Hoà - Yên Thành “
Nghệ An“ đã hoàn thành Có đợc kết quả này ngoài sự nỗ lực của bản thân
còn nhờ công lao to lớn của mọi ngời Tôi vô cùng biết ơn !
Tôi xin cảm ơn sự hớng dẫn tận tình của GS.TS.Nguyễn Nhã Bản, cảm
ơn sự giúp đỡ chu đáo của TS.Nguyễn Hoài Nguyên Tôi cảm ơn sự chỉ bảo
ân cần của các thầy cô giáo trong tổ Ngôn ngữ, khoa Ngữ văn, trờng Đại học Vinh !
Tôi xin gửi tới Ban lãnh đạo làng Vĩnh Hoà, gia đình bác Nghiêm, gia
đình bác Hạ cùng toàn thể bà con nhân dân Vĩnh Hoà lời cảm ơn sâu sắc nhất Cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện tốt luận văn này !
Với riêng tôi, thời gian học tập tại khoa Sau Đại học, trờng Đại học Vinh là quãng đời đầy ý nghĩa và cảm động Xin cảm ơn và ghi nhớ nghĩa tình của các thầy cô, bạn bè, đồng đội đã giành cho tôi trong những“ ”
tháng ngày qua…
Xin chân thành cảm ơn !
Vinh, ngày 20 tháng 12 năm 2006
Trang 3Mục lục
Trang
1 Lý do chọn đề tài……… 1
2.Lịch sử vấn đề……… 4
3 Đối tợng, phạm vi và mục đích nghiên cứu ……… 6
4 Phơng pháp nghiên cứu……… 4
5 Đóng góp của luận văn……… 7
6 Cấu trúc của luận văn……… 7
Chơng I: Những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài……… 9
1 Từ và vốn từ tiếng Việt……… 9
1.1 Từ và từ vựng……… 9
1.1.1 Khái niệm về từ……… 9
1.1.2 Từ vựng……… 11
1.2 Vốn từ tiếng Việt……… 12
1.3 Mối quan hệ giữa các lớp từ trong vốn từ tiếng Việt……… 15
1.3.1 Lớp từ vựng văn hoá ……… 15
1.3.2 Lớp từ vựng hạn chế về phạm vi sử dụng……… 16
1.3.2.1 Từ địa phơng……… 16
1.3.2.2 Thuật ngữ khoa học……… 18
1.3.2.3 Tiếng lóng……… 19
1.3.2.4 Từ nghề nghiệp……… 20
1.3.3 Mối quan hệ giữa các lớp từ trong vốn từ tiếng Việt……… 22
2 Ngôn ngữ và văn hoá……… 25
2.1 Văn hoá……… 25
2.2 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá……… 27
Chơng II: Vốn từ chỉ nghề bánh ở Vĩnh Hoà - Yên Thành – Nghệ An 32 1 Sơ lợc về làng bánh Vĩnh Hoà - Yên Thành – Nghệ An……… 32
1.1 Đất và ngời Yên Thành qua chiều dài lịch sử……… 32
1.2 Làng bánh Vĩnh Hoà - Hợp Thành – Yên Thành – Nghệ An…… 35
1.2.1 Vài nét về xã Hợp Thành – Yên Thành – Nghệ An ……… 35
1.2.2 Làng bánh Vĩnh Hoà - Hợp Thành – Yên Thành – Nghệ An…… 37
2 Vốn từ chỉ nghề bánh ở Vĩnh Hoà - Yên Thành – Nghệ An……… 42
2.1 Những số liệu ban đầu……… 42
2.2 Vốn từ chỉ nghề bánh ở Vĩnh Hoà - Trên phơng diện nguồn gốc 45 2.2.1 Từ chỉ nghề bánh có nguồn gốc trong ngôn ngữ toàn dân ……… 45
2.2.2 Từ chỉ nghề bánh có nguồn gốc trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh 46 2.2.3 Từ chỉ riêng của nghề bánh……… 48
Trang 42.3.1 Từ đơn……… 54
2.4 Vốn từ chỉ nghề bánh Vĩnh Hoà trên phơng diện phản ánh …… 602.4.1 Từ chỉ sự vật hiện tợng……… 602.4.2 Từ chỉ hoạt động……… 612.4.3 Từ chỉ đặc điểm tính chất……… 62
3 Nét văn hoá địa phơng qua vốn từ chỉ nghề bánh ở Vĩnh Hoà - Yên
Tài liệu tham khảo 70
Trang 5Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Ngôn ngữ là một sản phẩm đợc con ngời tạo ra trong quá trình lao
động và sáng tạo Có rất nhiều yếu tố tạo nên một ngôn ngữ trong đó từ vựng
đóng vai trò rất quan trọng bởi vì nó “ là chất liệu cần thiết để cấu tạo ngôn ngữ” (Nguyễn Thiện Giáp – Từ vựng học tiếng Việt – Tr 15) Vốn từ vựng
trong đời sống ngôn ngữ là vô cùng phong phú và đa dạng ở Việt Nam songsong với quá trình dựng nớc và giữ nớc của dân tộc thì ngôn ngữ ngày càng có
địa vị to lớn Tiếng Việt trở thành ngôn ngữ chính thống của ngời Việt Nam ởtất cả các hoạt động xã hội trong và ngoài nớc Nhờ đó vốn từ vựng tiếng Việtcàng phát triển mạnh mẽ hơn, phục vụ một cách đắc lực cho ngời Việt tronggiao tiếp và t duy
Vốn từ vựng tiếng Việt phát triển phong phú và đa dạng Tuy nhiên nókhông phải là một tập hợp rời rạc, lộn xộn mà là một chỉnh thể thống nhất vớihàng vạn đơn vị có quan hệ mật thiết với nhau Theo đó ta có thể thấy vốn từvựng tiếng Việt đợc sắp xếp theo hệ thống và chi phối lẫn nhau Thông quanhững mối liên hệ này mà các nhà ngôn ngữ học đã chia ra trong vốn từ tiếngViệt các lớp từ khác nhau Vốn từ toàn dân hay còn gọi là vốn từ ngôn ngữ vănhoá chiếm số lợng nhiều nhất, đợc sử dụng rộng rãi nhất Bên cạnh đó, vốn từvựng tiếng Việt còn có các lớp từ khác nh: vốn từ địa phơng, vốn từ thuật ngữ,vốn từ tiếng lóng, vốn từ nghề nghiệp, vốn từ biệt ngữ, … Vốn từ toàn dân đợc
sử dụng một cách phổ biến nên mọi ngời có thể nắm đợc, hiểu đợc, các lớp từcòn lại do phạm vi sử dụng hạn chế hơn nên cha đợc biết đến nhiều Vốn từchỉ nghề nghiệp là một trong những trờng hợp nh vậy
Vốn từ chỉ nghề nghiệp là lớp từ đợc dùng hạn chế về mặt xã hội, nó chỉ
đợc sử dụng trong một phạm vi ngành nghề nhất định Mỗi lớp từ đều có một
đặc trng và phạm vi ảnh hởng riêng nhng với vốn từ chỉ nghề nghiệp có chỗ
Trang 6đứng khiêm tốn hơn cả ở các lớp từ nh vốn từ địa phơng, vốn từ thuật ngữ,vốn từ tiếng lóng, vốn từ biệt ngữ “đều đ ợc coi là một khái niệm và trở thành một đơn vị mục từ trong cuốn từ điển Tiếng Việt” (Nguyễn Văn Khang – từ
vựng nghề nghiệp gốm Bát Tràng) Còn đối với vốn từ chỉ nghề nghiệp thì cha
“có đợc cái vị thế về tính thuật ngữ của mình ” (Nguyễn Văn Khang – Từngữ nghề nghiệp gốm Bát Tràng) Nh vậy điều cần thiết là cần có sự quan tâmnhiều hơn để từ vựng chỉ nghề nghiệp có một vị thế tơng xứng với chức năng
và vai trò của nó trong xã hội
1.2 Con ngời ra đời đã tạo nên một sản phẩm quý báu đó là văn hoá.Với mỗi dân tộc văn hoá là một tài sản vô cùng quý giá trong đời sống tinhthần của họ Có thể nói, lịch sử văn hoá một dân tộc chính là lịch sử tâm hồndân tộc ấy Tâm hồn ấy đợc thể hiện qua nhiều mặt đặc biệt là những sảnphẩm lao động thủ công Đây là sản phẩm vừa có giá trị vật chất lại vừa có giátrị tâm linh Sản phẩm đợc tạo ra từ các làng nghề thủ công chính là hiện thâncho văn hoá dân tộc Vốn từ Tiếng Việt cũng đợc sinh ra một phần từ các làngnghề thủ công sự hình thành phát triển, hay mất đi của các làng nghề cũnggắn liền với sự tồn vong của một bộ phận Tiếng Việt gắn liền với làng nghề
ấy Vấn đề quan trọng bây giờ chính là phải biết giữ gìn các làng nghề, đóchính là bảo tồn sự phong phú của vốn từ Tiếng Việt, bảo tồn vốn sống vănhoá của ngời Việt Trong thời đại hiện nay khi kinh tế thị trờng phát triển cùngvới dòng xoáy của khoa học công nghệ nếu không khéo giữ gìn thì tài sản vănhoá dân tộc sẽ mai một dần Đây là vấn đề rất quan trọng cho nên Đảng vàNhà nớc ta đã chú tâm vào việc phát triển các làng nghề để thực hiện mục tiêubảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc
Trồng lúa nớc là một nghề chính thống trong đời sống lao động sảnxuất của ông cha ta từ xa đến nay Theo GS.TS Nguyễn Nhã Bản, văn hoá ViệtNam đợc cấu thành từ ba biểu tợng chính: lúa nớc – lục bát - áo dài Cây lúagắn liền với văn hoá dân tộc Việt Nam và cụm từ “văn hoá lúc nớc” đợc dùng
Trang 7để nói về ngời Việt cũng bắt nguồn từ đó Hạt gạo sinh ra từ cây lúa có thể chếbiến thành nhiều sản phẩm khác nhau, đi vào đời sống và trở thành cội rễ củatâm hồn dân gian Đi từ lễ vật mà Lang Liêu dâng lên vua Hùng để cúng Trời
Đất cùng Tiên Vơng, mâm bánh chng bánh giầy trở thành một trong nhữngbiểu tợng rõ nét nhất của văn hoá Việt Nam Từ đó đến nay bánh chng bánhgiầy luôn luôn có mặt trong các dịp lễ, tết, hiếu, hỷ … của đời sống dân tộc.Không chỉ là lễ vật thờ cúng, mà theo thời gian do nhu cầu phát triển nênbánh chng, bánh giầy đã trở thành một sản phẩm hàng hoá Từ đó nghề góibánh cũng ra đời, đồng hành cùng lịch sử với nhiều làng nghề trên mọi miền
đất nớc
Nghệ An đợc xem là vựa lúa của dải đất Miền Trung nắng gió Văn hoá
xứ Nghệ gắn liền với cây lúa, hạt gạo “Ló lổ (lúa trổ) thanh minh rung rinh cả xạ (xã) Ló lổ lập hạ buồn bạ (bã) cả làng” là những nỗi niềm của ông cha
ta về cuộc sống lao động trồng lúa Từ sản phẩm lúa gạo, ngời ta đã chế biếnthành nhiều loại bánh khác nhau và đây cũng là nơi hội tụ tâm hồn, tình cảmcủa con ngời xứ Nghệ Nghề làm bánh theo đó mà hình thành, phát triển và có
ý nghĩa đặc biệt đối với ngời dân đất này Đến với những nơi này, thông quanghề làm bánh chúng ta có thể tìm thấy một số lợng từ vựng khá phong phú,
độc đáo mang đặc trng của mỗi nghề Không những thế từ đây ta có thể thấy
đợc một số nét văn hoá của một vùng đất qua nghề thủ công nông nghiệptrồng lúa
Trang 8đặc điểm khu biệt mang đặc trng của làng nghề Đi sâu tìm hiểu ta sẽ bắt gặpnhiều vấn đề lý thú góp phần làm phong phú thêm cho vấn đề từ vựng củangôn ngữ toàn dân.
Từ những suy nghĩ trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Vốn từ chỉ nghề bánh Vĩnh Hoà - Yên Thành “ Nghệ An“ Đây là đề tài đợc
nghiên cứu trong một phạm vi hẹp về từ nghề nghiệp ở một địa phơng cụ thể.Chúng tôi mong muốn tập hợp đợc một lợng từ ngữ nhất định về nghề làmbánh Chúng tôi sẽ làm rõ một vài đặc điểm về nguồn gốc, cấu tạo, phơng diệnphản ánh của vốn từ đợc sử dụng Đồng thời qua đó chúng tôi tìm hiểu thêm
về đời sống tinh thần của ngời dân đất này.Dựa vào những công trình củanhững ngời đi trớc cùng với sự nỗ lực của cá nhân chúng tôi rất hy vọng quátrình khảo sát nghiên cứu sẽ có đợc những thuận lợi nhất định để thực hiện tốt
đề tài
2 Lịch sử vấn đề
Có thể nói từ chỉ nghề nghiệp là một lĩnh vực nghiên cứu còn mới mẻ ởViệt Nam, chính vì thế nó đang đợc các nhà ngôn ngữ học rất quan tâm.Những năm trớc đây đã có một số tác giả đi vào tìm hiểu và đa ra những quanniệm, định nghĩa về từ nghề nghiệp Chúng tôi xin đa ra một số công trình cụthể nh:
- Nguyễn Văn Tu – Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại – NXB Đại học
và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1987
- Đỗ Hữu Châu – Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt – NXB Khoa học xãhội, Hà Nội, 1989
- Nguyễn Thiện Giáp – Từ vựng học Tiếng Việt – NXB Đại học vàTrung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 2002
Bên cạnh dó còn có các bài viết tập trung vào nghiên cứu vốn từ chỉ một
số ngành nghề nhất định:
Trang 9- Trần Thị Ngọc Lang – Nhóm từ có liên quan sông nớc trong phơngngữ Nam Bộ – Phụ trơng ngôn ngữ, số 2, Hà Nội, 1982.
- Phạm Việt Hùng – Về từ ngữ nghề gốm – Viện ngôn ngữ học, HàNội, 1989
- Nguyễn Văn Khang - Từ ngữ nghề nghiệp gốm Bát Tràng –ViệnNgôn ngữ học,
- Nguyễn Nhã Bản, Hoàng Trọng Canh – Văn hoá ngời Nghệ qua vốn
từ chỉ nghề cá - Tạp chí nghiên cứu Đông Nam á, số 1, 1996
- Võ Chí Quế- Tên gọi các bộ phận của cái cày qua một số thổ ngữThanh Hoá - Ngữ học trẻ, NXB Nghệ An, 2000
- Hoàng Trọng Canh – Phơng thức định danh một số nhóm từ chỉ nghềcá và trồng lúa trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh – Hội thảo khoa học ngữ học trẻ,2004
Đặc biệt những năm gần đây đã có một số khoá luận tốt nghiệp Đại học
và Luận văn thạc sĩ đề cập đến một ngành nghề nh:
- Lơng Vĩnh An – Vốn từ chỉ nghề cá ở Quảng Nam và thành phố ĐàNẵng – Luận văn thạc sỹ, Đại học Vinh, 1998
- Phạm Thị Mai Hoa –Thế giới thực tại trong con mắt ngời Nghệ Tĩnhqua tên gọi một số nhóm từ cụ thể – Khoá luận tốt nghiệp, Đại học Vinh,2002
- Nguyễn Thị Quỳnh Trang – Khảo sát vốn từ chỉ nghề cá trong phơngngữ Nghệ Tĩnh – Luận văn thạc sĩ Đại học Vinh, 2003
- Nguyễn Viết Nhị – Vốn từ chỉ nghề trồng lúa trong phơng ngữ NghệTĩnh – Luận văn thạc sĩ, Đại học Vinh, 2004
- Trần Thị Phơng Thảo- Vốn từ chỉ nghề nớc mắm Vạn Phần – DiễnChâu – Nghệ An- Luận văn thạc sĩ, Đại học Vinh, 2005
Qua các đề tài nêu ở trên có thể thấy việc nghiên cứu về từ vựng chỉnghề nghiệp ngày càng đợc các tác giả quan tâm và tìm hiểu sâu hơn Điều
Trang 10này giúp chúng tôi có thêm những cơ sở nhất định để thực hiện đề tài “Vốn từ chỉ nghề làm bánh Vĩnh Hoà - Yên Thành Nghệ An– ” Dù nghiên cứu trongmột phạm vi hẹp nhng chúng tôi sẽ cố gắng tìm hiểu đề đạt đợc những định h-ớng đề ra.
3 Đối tợng,phạm vi và mục đích nghiên cứu
3.1.Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
Đây là đề tài về từ ngữ chỉ nghề làm bánh ở làng Vĩnh Hoà, xã HợpThành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An cho nên chúng tôi dựa vào vốn t liệu
đã điều tra ở địa phơng này để nghiên cứu
Bên cạnh đó chúng tôi cũng tìm hiểu thêm nguồn t liệu từ cuốn “Từ
điển Tiếng Việt” của tập thể tác giả do Hoàng Phê chủ biên, cuốn “Từ điển Tiếng địa phơng Nghệ Tĩnh” của nhóm tác giả do Nguyễn Nhã Bản chủ biên.
3.2 Mục đích nghiên cứu
Qua đề tài nghiên cứu này chúng tôi muốn tập hợp vốn từ chỉ nghềbánh ở Vĩnh Hoà - Yên Thành – Nghệ An, nêu lên đợc những đặc trng vềnguồn gốc, về cấu tạo, về phơng diện phản ánh của lớp từ này Đồng thời qua
đó chúng tôi muốn tìm hiểu mối quan hệ giữa lớp từ chỉ nghề bánh với nét vănhoá đợc thể hiện qua ngôn ngữ của một vùng quê
Bằng việc nghiên cứu đề tài này chúng tôi còn mong muốn có thể cungcấp thêm một số t liệu ít ỏi để có thể làm phong phú thêm cho vốn từ địa ph-
ơng nói riêng và vốn từ tiếng Việt nói chung
4 Phơng pháp nghiên cứu
4.1 Phơng pháp điền dã, điều tra, phỏng vấn
Để thực hiện đề tài chúng tôi trực tiếp về làng Vĩnh Hoà, xã HợpThành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An tìm đến những gia đình làm bánh lâu
Trang 11năm, có uy tín để hỏi về tên gọi, nguyên liệu, công thức, công cụ, sản phẩm
… của nghề làm bánh
4.2 Phơng pháp thống kê, tập hợp, phân loại
Sau khi có kết quả điều tra, chúng tôi tập hợp vốn từ của nghề bánh ở
địa phơng này và tiến hành phân loại theo các tiêu chí khác nhau
5 Đóng góp của luận văn
Chúng tôi đã thống kê một số lợng nhất định về vốn từ chỉ nghề bánh ởVĩnh Hoà - Yên Thành – Nghệ An và tìm ra một số đặc điểm của lớp từ này
Đồng thời chúng tôi cũng chỉ ra đợc một vài biểu hiện của văn hoá địaphơng qua tên gọi và cách thức gọi tên của vốn từ chỉ nghề bánh mà ngời dân
sử dụng
6 Cấu trúc của Luận văn
Ngoài phần mở đầu,phần kết luận,tài liệu tham khảo,phần phụ lục nộidung của luận văn gồm hai chơng:
Trang 12Chơng I Những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài
1- Từ và vốn từ tiếng Việt
2- Ngôn ngữ và văn hoá
Chơng II Vốn từ chỉ nghề bánh Vĩnh Hoà - Yên Thành - Nghệ An
1- Vài nét về làng nghề làm bánh ở Vĩnh Hoà- Yên Thành – Nghệ An2- Vốn từ chỉ nghề bánh Vĩnh Hoà - Yên Thành – Nghệ An
3- Nét văn hoá địa phơng qua vốn từ chỉ nghề bánh Vĩnh Hoà - Yên Thành– Nghệ an
Trang 13Chơng I Những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài
điển tiếng Việt” do ông chủ biên thì từ là “đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa hoàn chỉnh và cấu tạo ổn định, dùng để đặt câu” Bên cạnh đó ta còn có
nhiều định nghĩa nữa về từ Điều này khiến ngời ta đặt ra vấn đề cần đợc làmrõ: Từ là gì? Tại sao lại có nhiều định nghĩa về từ nh vậy? Khó có thể đa ramột đáp án thuyết phục nhng chúng ta cũng cần cố gắng cố gắng tìm đến mộtlời giải thích đợc nhiều ngời đồng tình
Từ là một đơn vị tồn tại hiển nhiên, có sẵn của ngôn ngữ Do tính chất
đó mà ngôn ngữ của loài ngời bao giờ cũng đợc gọi là ngôn ngữ của các từ.Chính tổng thể của các từ là vật liệu mà thiếu nó thì không thể hình dung ra đ-
ợc một ngôn ngữ Chính các từ đã biến đổi và kết hợp thành ở trong câu theoquy luật ngữ pháp của ngôn ngữ Mặc dù từ luôn luôn ám ảnh suy nghĩ củachúng ta nh một đơn vị trung tâm trong toàn bộ cơ cấu của ngôn ngữ nhngkhái niệm này rất khó định nghĩa Nh F.de.Saussure đã viết: ……từ là một đơn
vị luôn luôn ám ảnh t tởng chúng ta nh một cái gì đó trung tâm trong toàn
bộ cơ cấu ngôn ngữ, mặc dù khái niệm này khó định nghĩa ” (F.d.Saussure,Giáo trình ngôn ngữ học đại cơng, HN, 1973, tr 111) ở đây cái khó khăntrong khi định nghĩa từ là sự khác nhau về cách định hình, về chức năng vànhững đặc điểm ý nghĩa của từ trong các ngôn ngữ khác nhau cũng nh trongmột ngôn ngữ Có từ mang chức năng định danh (danh từ, động từ, tính từ, đại
Trang 14từ); có từ không mang chức năng định danh (số từ, các thán từ, các phụ từ); có
từ biểu thị khái niệm, có từ chỉ dấu hiệu của những cảm xúc nào đó (thán từ);
có từ liên hệ với những sự vật, hiện tợng ngoài thực tế (các thực từ); có từ lạichỉ biểu thị nhng quan hệ trong ngôn ngữ mà thôi (các h từ); có từ có kết cấunội bộ; có từ tồn tại trong nhiều dạng thức ngữ pháp khác nhau nhng có từ chỉtồn tại trong một dạng thức mà thôi…
Sự phức tạp trên dẫn đến vấn đề khó có thể thống nhất khi định nghĩa về
từ Theo số liệu thống kê hiện nay có khoảng hơn 300 định nghĩa về từ Lí dodẫn đến điều đó là ngời ta đã nhìn nhận về từ ở nhiều khía cạnh, nhiều góc độ
có khi phiến diện, có khi chung chung Có thể nêu ra ở đây một số định nghĩa
nh K.Bukher thiên về mặt ngữ âm: “Các từ là những kí hiệu âm thanh của một ngôn ngữ đợc cấu tạo từ các âm vị và có thể tạo thành trờng” E.Sapia
thiên về khía cạnh ngữ nghĩa: ‘’ Từ là một đoạn nhỏ nhất có ý nghĩa hoàn toàn độc lập và bản thân nó có thể làm thành một đơn vị tối giản” Còn
V.Brondal hớng về phía chức năng giao tiếp của từ: “Từ bao giờ và ở đâu cũng phải là một yếu tố của thông báo”…Bên cạnh đó còn có một số định
nghĩa cha cụ thể nh của F.F.Fortunatov: “Từ là bất kì âm nào của lời nói, trong ngôn ngữ từ có một ý nghĩa khác với ý nghĩa của những âm cũng là từ khác” Hoặc là cách định nghĩa của Lục Chí Vĩ: “Từ là đơn vị nhỏ nhất có thể vận dụng tự do trong câu……
ở Việt Nam cũng đã có khá nhiều định nghĩa khác nhau về từ TheoNguyễn Văn Tu thì “Từ là đơn vị cơ bản chủ yếu có khả năng vận dụng độc lập mang ý nghĩa từ vựng ngữ pháp’’ Đỗ Hữu Châu thì cho rằng: Từ của“
Tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định bất biến mang những đặc
điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu”…Với giáo s Nguyễn Thiện Giáp: “Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn
Trang 15ngữ, độc lập về ý nghĩa và hình thức” (Nguyễn Thiện Giáp, 1995, Dẫn luận
ngôn ngữ học, NXBGD, HN, tr 61)…
Các định nghĩa về từ nói trên và những định nghĩa khác nhìn chung chathực sự thuyết phục mọi ngời Điều đó khiến chúng ta gặp khó khăn khi muốntìm ra một định nghĩa tiêu biểu nhất Tuy nhiên để đợc thuận lợi trong quátrình làm luận văn chúng tôi thống nhất lấy định nghĩa về từ của giáo sNguyễn Thiện Giáp làm cơ sở để thực hiện đề tài Sở dĩ chúng tôi lấy địnhnghĩa này vì nó đợc khá nhiều ngời chấp nhận bởi đã nêu lên đợc hai vấn đềcơ bản:
- Vấn đề khả năng tách biệt của từ (tính độc lập của từ)
- Vấn đề tính hoàn chỉnh của từ (từ có vỏ âm thanh hoàn chỉnh và cónội dung)
Tính hoàn chỉnh và tính tách biệt của từ là bắt buộc đối với mỗi từ Đâycũng là cơ sở của tính hoàn chỉnh và tính tách biệt về mặt hình thức của từ nh-
ng tự thân chúng cha đầy đủ Vì thế chúng tôi bổ sung thêm một số đặc trng
về hình thức nh: những đặc trng ngữ âm, trọng âm, những hiện tợng mở đầu vàkết thúc từ một cách đặc biệt, những đặc trng về ngữ pháp: khả năng biến đổihình thái và khả năng kết hợp của các từ Đối với tiếng Việt từ là đơn vị cơ bảnnhỏ nhất của ngôn ngữ, độc lập hoàn chỉnh về ngữ âm và ý nghĩa đợc vậndụng linh hoạt trong lời nói…Những đơn vị ngôn ngữ nào mang các đặc điểmtrên chính là từ Tập hợp hàng chục vạn đơn vị nh vậy tạo thành vốn từ vựngtiếng Việt
1.1.2 Từ vựng
“Vựng” là một yếu tố có nguồn gốc từ tiếng Hán, có thể giải thích nghĩa
của nó là “ s u tập, tập hợp, hợp lại ” Vì vậy “Từ vựng” là một tập hợp từ, là
tất cả vốn từ của một ngôn ngữ Lấy ví dụ về các từ nh: nhà, cửa, xe đạp, ăn mặc, xôn xao … Tuy nhiên bên cạnh các từ thì từ vựng Tiếng Việt còn có đơn
Trang 16vị lớn hơn đó là các ngữ cố định Đây là những tổ hợp từ có sẵn, mang nghĩa
t-ơng đt-ơng với từ và có cấu tạo chặt chẽ Trong ngữ cố định ngời ta chia ra quánngữ và thành ngữ Quán ngữ là những tổ hợp từ cố định đã dùng lâu thànhquen, nghĩa có thể suy ra từ nghĩa của các yếu tố hợp thành Ví dụ: “ dĩ nhiên là”, “nói cách khác”, nói tóm lại“ ” … Còn thành ngữ là những tổ hợp cố định
đã quen dùng đợc diễn đạt bằng hình ảnh và giải thích nghĩa một cách đơngiản, dễ hiểu Ví dụ: “ ăn gió nằm sơng”, “chạy long tóc gáy”, đứng mũi“
chịu sào” … Trong các đơn vị từ vựng thì từ là đơn vị cơ bản, còn ngữ không
phải là đơn vị cơ bản vì nó do các từ tạo nên, muốn có các ngữ trớc hết phải cócác từ Cho nên trong cuốn “Từ điển Tiếng Việt”, Giáo s Hoàng Phê đã địnhnghĩa “Từ vựng là toàn bộ các từ vị hoặc các từ của một ngôn ngữ” (Từ vị là
đơn vị cơ bản có nghĩa và là yếu tố cấu trúc của ngôn ngữ thờng tơng đơng vớitừ) (Hoàng Phê, 1998, trang 1037)
1.2 Vốn từ tiếng Việt
Vốn từ là một bình diện vô cùng quan trọng của một ngôn ngữ dân tộchay một phơng ngữ nào đó Vốn từ của một ngôn ngữ là một khối thống nhấtbao gồm các từ, các ngữ cố định đợc tổ chức theo những quy luật nhất định,nằm trong những mỗi quan hệ hữu cơ với nhau
Nh đã trình bày ở trên, vốn từ tiếng Việt là bao gồm hàng chục vạn đơn
vị từ tập hợp mà thành Dù có số lợng rất lớn – hàng chục vạn đơn vị – nhngvốn từ tiếng Việt đợc sắp xếp theo một trật tự nhất định, chúng tạo thành mộtchỉnh thể, một hệ thống nhiều yếu tố phụ thuộc lẫn nhau, có quan hệ với nhau,gắn bó và bổ sung cho nhau Trong cuốn “Từ và vốn từ tiếng Việt” (NXB Đạihọc và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1978) tác giả Nguyễn Văn Tu chorằng: Vốn từ làm thành một hệ thống tập hợp những yếu tố khác nhau, phânbiệt lẫn nhau tạo thành một tổ chức Hệ thống vốn từ đợc xác định bằng nhữngyếu tố đợc liệt kê theo một trật tự nào đó hoặc bởi đặc điểm nào đó của những
Trang 17yếu tố Chẳng hạn, trong Tiếng Việt hệ thống những từ chỉ loại có số lợng hạnchế nhất định còn hệ thống từ ghép lại vô hạn về chúng đợc cấu tạo theonhững kiểu đã có sẵn song song với những kiểu cụm từ tự do.
Hàng chục vạn đơn vị từ vựng làm thành vốn từ của Tiếng Việt, chúng
có những tiêu chí riêng biệt làm cho từ này khác với từ kia Từ này tồn tại đợc
là nhờ sự đối lập, tồn tại với từ kia và ngợc lại Ngời ta có thể dựa vào nhữngnét khác biệt của từ về mặt hình thức (vỏ ngữ âm) hay về mặt nội dung (ýnghĩa) một từ cùng loại khác nhau là biến thể của bản thân nó … Những nétbiệt lập và đối lập thể hiện khác nhau ở các bậc của ngôn ngữ nh: âm vị học,
từ pháp học, từ vựng học …
Vốn từ tiếng Việt đợc các nhà ngôn ngữ học chia ra các lớp khác nhaudựa vào sự đối lập đó Tiếng Việt của chúng ta có một vốn từ ngôn ngữ vănhoá (ngôn ngữ toàn dân) phong phú, thống nhất đồng thời chúng ta lại có cáclớp từ khác nhau nh từ địa phơng, từ nghề nghiệp, thuật ngữ khoa học, biệt ngữxã hội, tiếng lóng Đó là các lớp từ đợc phân chia theo phạm vi sử dụng Lớp
từ của ngôn ngữ văn hoá là lớp từ đợc sử dụng rộng rãi, phổ biến còn các lớp
từ khác có phạm vi sử dụng hẹp hơn (các lớp từ hạn chế về phạm vi sử dụng).Tuy nhiên các lớp từ này lại có khả năng tạo nên những nét đặc thù của một
địa phơng, một nghề nghiệp, hay một nhóm xã hội … Điều này sẽ đợc thể hiệntrong nội dung của đề tài Có một vấn đề chúng ta phải nhận định đó là tất cảcác lớp từ của tiếng Việt xét ở phạm vi sử dụng ( có thể là lãnh thổ, có thể làtrong một cộng đồng ngời cùng chung một nghề nghiệp hoặc một nhóm ngờitrong xã hội …) tạo nên sự phong phú, đa dạng cho vốn từ tiếng Việt
Tính thống nhất trớc hết đợc biểu hiện trong thực tế giao tiếp của ngờiViệt Tức là khi vận dụng tiếng Việt, ngời Việt Nam dù ở miền Bắc, miềnTrung hay miền Nam hễ nói tiếng Việt là có thể hiểu nhau dễ dàng mặc dù khinói, ngời nói có thể phát âm theo giọng của mỗi miền khác nhau Từ ngữ địaphơng, thậm chí cả thổ ngữ, dù có phong phú đa dạng và mang đậm chất địaphơng đến đâu, nhất là khi phát âm, thì khi nói, khi viết đều đều tự giác tuân
Trang 18thủ các quy tắc kết hợp từ trong tiếng Việt, tuân thủ quy tắc ngữ pháp, quy tắcchính tả thống nhất.
Tính thống nhất của tiếng Việt còn đợc biểu hiện ngay trong cơ cấu nộitại của nó Về mặt này chúng ta thấy rằng vốn từ ngữ cơ bản giữa ba vùng ph-
ơng ngữ: Bắc, Trung, Nam đã đợc các nhà ngôn ngữ học Việt Nam so sánh và
đa ra kết luận: 92% từ ngữ là đồng nhất và ngay cả những từ (tiếng) khônggiống của cả ba vùng phơng ngữ thì khi dùng ngời của cả ba vùng này đều cóthể hiểu đợc Chẳng hạn: bát/đọi/chén, ngã/bổ/té, thuyền/nôốc/ghe… Sở dĩ mọi
ngời có thể hiểu đợc là vì những từ của tiếng địa phơng vốn nằm trong lớp từcủa ngôn ngữ văn hoá (ngôn ngữ toàn dân)
Sự phong phú đa dạng trong tính thống nhất của từ Tiếng Việt là yếu tốlàm cho vốn từ tiếng Việt phát triển ngày càng hoàn thiện, đầy đủ Nếu tiếngViệt không có tính thống nhất cao, không có tính toàn dân thì mọi ngời sốngtrên các miền đất nớc sẽ không sử dụng đợc công cụ này để thể hiện việc giaotiếp một cách có hiệu quả nhất Lớp từ của ngôn ngữ văn hoá là lớp từ cơ bản,lớp từ chủ yếu tạo nên kho từ vựng tiếng Việt Lớp từ này có phạm vi sử dụngrộng rãi trên toàn quốc, cho mọi tầng lớp nhân dân từ những ngời làm khoahọc cho đến những ngời công nhân, nông dân … Cho nên lớp từ này đợc gọi làlớp từ toàn dân hay lớp từ phổ thông Lớp từ vựng của ngôn ngữ văn hoákhông chối bỏ sự có mặt, sự tồn tại đồng thời của các lớp từ khác mà phạm vi
sử dụng của nó hạn chế hơn lớp từ của ngôn ngữ văn hoá Ngợc lại, các lớp từhạn chế về mặt phạm vi, mức độ sử dụng lại là nguồn bồi bổ, bổ sung cho lớp
từ toàn dân ngày một phong phú, hoàn thiện góp phần quan trọng vào việcphát triển tiếng nói của ngời Việt Nam
1.3.Mối quan hệ giữa các lớp từ trong vốn từ tiếng Việt
Vốn từ vựng tiếng Việt bao gồm nhiều lớp từ khác nhau Căn cứ vào
Trang 19của ngôn ngữ văn hoá) và lớp từ vựng hạn chế về phạm vi sử dụng (hạn chế vềmặt xã hội, lãnh thổ).
1.3.1 Lớp từ vựng văn hoá (từ toàn dân)
Lớp từ vựng văn hoá (từ toàn dân) là những từ mọi ngời dân hiểu và sửdụng Nó là vốn từ chung cho tất cả những ngời nói ngôn ngữ nào đó, thuộccác địa phơng khác nhau, các tầng lớp xã hội khác nhau Đây chính là lớp từvựng cơ bản, lớp từ vựng quan trọng nhất của mỗi ngôn ngữ Có thể nói từvựng toàn dân là hạt nhân của từ vựng, làm cơ sở cho thống nhất ngôn ngữ,không có nó ngôn ngữ không thể có đợc và do đó cũng không thể có sự trao
đổi giao tiếp giữa ngời với ngời Về mặt nội dung, từ vựng toàn dân biểu hiệnnhững sự vật hiện tợng, những khái niệm quan trọng và cần thiết nhất trong
đời sống Chẳng hạn: những từ chỉ hiện tợng thiên nhiên nh:lũ, lụt, dông, bão, sơng, tuyết …, những từ chỉ sự vật, hiện tợng gắn liền với đời sống: tàu, xe, bàn, ghế, nhà, cửa…, những từ chỉ tính chất sự vật: cao, thấp, nhanh, chậm, lớn, nhỏ …, những từ chỉ các hoạt động thông thờng: ăn, uống, ca, hát, chơi,
đùa…
Về nguồn gốc, vốn từ toàn dân của tiếng Việt có thể bao gồm các từ cóquan hệ với tiếng Môn – Khmer nh: chim, sông, cá, chân, tay …, có thể bao
gồm các từ có quan hệ với tiếng Mờng nh: ngày, ma, nắng, trắng, nớc …, có
thể bao gồm các tù có quan hệ với tiếng Tày – Thái nh: đồng, rẫy, gạo … hay
các từ bắt nguồn từ tiếng Hán: ghế, cỡi, gấm, ông, bà … Về sau này vốn từ
tiếng Việt còn mợn thêm những từ khác nh: cà vạt, bít tất, cổ phần, chứng khoán … và nhanh chóng đợc dùng rộng rãi, trở thành vốn từ toàn dân.
Từ vựng toàn dân là bộ phận nòng cốt đợc sử dụng trong văn học nghệthuật Từ vựng toàn dân là vốn từ cần thiết để diễn đạt t tởng trong tiếng Việt
Đồng thời từ vựng toàn dân còn là cơ sở để cấu tạo các từ mới, làm giàu chovốn từ vựng tiếng Việt nói chung Đa số các từ thuộc lớp từ vựng toàn dân là
Trang 20những từ trung hoà về phong cách cho nên chúng có thể đợc dùng trong cácphong cách chức năng khác nhau nh hành chính, khoa học, chính luận, văn ch-
ơng …
1.3.2 Lớp từ vựng hạn chế về phạm vi sử dụng
1.3.2.1 Từ địa phơng
Từ địa phơng là những từ đợc dùng hạn chế ở một hoặc một số địa
ph-ơng nhất định Từ địa phph-ơng là bộ phận từ vựng của ngôn ngữ nói hàng ngàytrong một bộ phận dân c nào đó, ở một địa phơng nào đó chứ không phải là từvựng của ngôn ngữ văn học Khi dùng vào sách báo nghệ thuật các từ địa ph-
ơng thờng mang sắc thái tu từ theo ý định của ngời viết nhằm diễn tả đặc điểmcủa địa phơng hoặc đặc điểm của nhân vật
Lấy ví dụ về câu thơ của Nguyễn Bính:
Hoa chanh nở giữa vờn chanhThầy u mình với chúng mình chân quê
nếu nh ở câu thơ trên tác giả viết: “Bố mẹ mình với chúng mình chân
quê” thì mất đi đặc trng ngôn ngữ địa phơng, vùng đồng bằng Bắc Bộ, mất đi
âm điệu ngọt ngào và cái “chân quê” trong thơ trữ tình Nguyễn Bính.
Trong lớp từ địa phơng của tiếng Việt các nhà nghiên cứu chia thànhmột số kiểu sau đây:
- Kiểu từ địa phơng không có sự đối lập với từ toàn dân Hay nói cáchkhác loại này, trong từ vựng chung của ngôn ngữ dân tộc không có từ vựng t-
ơng ứng với chúng Đây là những từ biểu thị những sự vật, hiện tợng, nhữnghoạt động, lối sống … đặc biệt chỉ có ở địa phơng nào đó chứ không phổ biếncho toàn dân ví dụ: nhút, lớ, (quả) tắt, chẻo … (phơng ngữ Bắc Trung bộ), sầu riêng, măng cụt, chao, trâm bầu… (phơng ngữ Nam Trung Bộ và Nam
Bộ) …
Trang 21- Kiểu từ địa phơng có sự đối lập với từ vựng văn hoá toàn dân Kiểu từnày có thể chia ra hai loại nhỏ căn cứ vào hai mặt ngữ âm và ngữ nghĩa củachúng:
+ Từ địa phơng có sự đối lập về mặt ý nghĩa Những từ này về ngữ âmgiống với từ tơng đơng trong ngôn ngữ văn học toàn dân nhng ý nghĩa lại có
sự khác nhau Ví dụ: “nón” nghĩa chung là cái dùng để che đầu làm bằng lá có
đỉnh nhọn hình chóp, còn ở Nam Bộ “nón” nghĩa là cái mũ “Hòm”theo nghĩa
chung là vật có hình hộp để đựng đồ đạc, ở Trung Bộ “hòm”có nghĩa là cái
quan tài “ốm”theo nghĩa chung là đang có bệnh,thì ở Nam Bộ ốm“ ” có nghĩa
là gầy
+ Từ địa phơng có sự đối lập về ngữ âm Những từ này cũng gọi tên một
sự vật hiện tợng với từ trong từ vựng toàn dân nhng lại là hai từ khác nhau vềmặt ngữ âm (loại này đồng nghĩa với loại từ toàn dân)
Ví dụ: ngái/xa, nỏ/không, rú/núi, mô/đâu … (phơng ngữ Trung Bộ), má/mẹ, điệp/phợng, mè/vừng, muỗng/thìa … (phơng ngữ Nam Trung Bộ và
Nam Bộ)
Ngoài ra còn có một loại từ địa phơng khác với từ toàn dân về ngữ âmnào đó mà thôi (do biến âm của địa phơng) Ví dụ: gấy/gái, nác/nớc,, gúi/gối,gấu/gạo …
Sự tồn tại song song của từ địa phơng với từ của ngôn ngữ toàn dân đã
đợc các nhà ngôn ngữ học giải thích bằng nhiều nguyên nhân khác nhau Cácbiến dạng địa phơng của từ vựng tiếng Việt về mặt này hay mặt khác, hiện nóvẫn tồn tại một cách khách quan tất yếu Và nh vậy giữa từ toàn dân với từ địaphơng có quan hệ qua lại lẫn nhau Ranh giới giữa hai lớp từ này luôn luônnằm trong trạng thái động, thay đổi phụ thuộc vào vấn đề sử dụng chúng Từ
địa phơng là nguồn bổ sung cho ngôn ngữ văn học ngày càng phong phú, đadạng
Trang 221.3.2.2 Thuật ngữ khoa học
Thuật ngữ khoa học là bộ phận từ vựng đặc biệt của ngôn ngữ Nó baogồm những từ và cụm từ cố định là tên gọi chính xác của những khái niệm vànhững đối tợng thuộc các lĩnh vực chuyên môn của con ngời Cũng nh lớp từnghề nghiệp, thuật ngữ khoa học là lớp từ vựng đợc sử dụng hạn chế về xã hội
Nó chủ yếu chỉ đợc dùng cho những ngời trong một ngành chuyên môn nhất
định Thuật ngữ khoa học cũng tham gia vào từ vựng của ngôn ngữ văn hoá
nh các lớp từ vựng hạn chế khác Tuy nhiên thuật ngữ khoa học có những đặc
điểm riêng khác với từ nghề nghiệp và các lớp từ hạn chế khác Đó là:
- Thuật ngữ khoa học có tính chính xác về định nghĩa
- Thuật ngữ khoa học có tính hệ thống chặt chẽ
- Thuật ngữ khoa học có tính đơn nghĩa
- Thuật ngữ khoa học có tính quốc tế
- Thuật ngữ khoa học không mang sắc thái biểu cảm (thuật ngữ khoahọc trung hoà về mặt biểu cảm)
Thuật ngữ khoa học không cách biệt hoàn toàn với từ toàn dân và cáclớp từ khác Nó vẫn là một bộ phận của hệ thống từ vựng, có quan hệ chặt chẽvới các từ khác trong hệ thống ngôn ngữ Thuật ngữ cũng nh các lớp từ khác
đều chịu sự chi phối của các quy luật ngữ âm, cấu tạo từ, quy tắc ngữ pháp củamột ngôn ngữ nhất định Thuật ngữ sẽ không còn xa lạ, đối với ngôn ngữ khitrình độ dân trí, trình độ khoa học của nhân dân đợc nâng cao, tất nhiên trừcác thuật ngữ của các ngành chuyên môn hẹp Giữa từ toàn dân và thuật ngữ
có sự xâm nhập lẫn nhau, từ toàn dân có thể trở thành thuật ngữ và thuật ngữ
có thể đi vào lớp từ vựng văn hoá một cách tự nhiên
Trang 23dùng hết sức hạn chế về mặt xã hội, đó là những từ ngữ không phải toàn dândùng mà chỉ một tầng lớp xã hội nào đó dùng mà thôi Có một thời ngời ta chorằng tiếng lóng là những từ ngữ riêng của bọn ăn cắp, cớp giật Cách hiểu nhvậy là cha đúng và quá hẹp hòi Mỗi tầng lớp xã hội có chúng một hoàn cảnh,một cách sống, có thể tạo ra một số từ ngữ riêng chỉ dùng trong nội bộ tầnglớp mình Những từ ngữ nh vậy đều có thể gọi là tiếng lóng Chẳng hạn tiếnglóng của học sinh, sinh viên có tính chất vui đùa: gậy: 1 điểm; ngỗng: 2 điểm; ghi đông: 3 điểm; … hay tiếng lóng của các giáo viên có tính chất hài hớc : cháy: dạy không hết bài, lụt: dạy không hết thời gian; cày: dạy; sào: tiết … Ví
dụ: “Hôm nay cày mấy sào ? (Hôm nay dạy mấy tiết” ?) … Tiếng lóng củamọi tầng lớp không bao giờ là những từ cơ bản mà chỉ là những tên gọi songsong của những hiện tợng thực tế nào đó Từ ngữ tiếng lóng của một bộ phậnnào đó trong xã hội chỉ có số lợng rất hạn chế và chúng đợc cấu tạo trên ngônngữ toàn dân (hoàn toàn cha đi vào vỏ ngữ âm có sẵn của ngôn ngữ toàn dân
mà chỉ thêm vào một nội dung bên trong theo quy ớc của nhóm ngời sử dụng
nó thôi) Mặc dù tiếng lóng chỉ lớp từ có tính chất thông tục, chủ yếu dùngtrong ngôn ngữ nói của các tầng lớp xã hội nhất định nhng tiếng lóng khôngthô tục mà chỉ là những tên gọi có hình ảnh của sự vật hiện tợng nào đó có thể
đợc dùng phổ biến, dần dần xâm nhập vào ngôn ngữ toàn dân Trong các tácphẩm văn học nghệ thuật, tiếng lóng đợc dùng làm một phơng tiện tu từ học
để khắc hoạ tính cách, miêu tả hoàn cảnh sống của nhân vật, hoặc để thể hiệnnhững ngầm ý nào đó
1.3.2.4.Từ nghề nghiệp
Từ nghề nghiệp là một lớp từ bao gồm những đơn vị từ ngữ đợc sử dụngphổ biến nhằm biểu thị các tên gọi, sự vật, hiện tợng, công cụ, sản phẩm, quátrình hoạt động của sản xuất trong phạm vi của những ngời cùng làm mộtnghề nào đó trong xã hội
Trang 24Lớp từ này thờng đợc những ngời trong một ngành nghề nhất định nào
đó biết và sử dụng chứ không phải lớp từ mang tính toàn dân nh vốn từ vựngcủa ngôn ngữ văn hoá Nh vậy từ nghề nghiệp chỉ sinh ra và tồn tại trong quátrình sản xuất của nghề Trong quá trình hoạt động, từ nghề nghiệp phụ thuộcvào các yếu tố do hoạt động sản xuất của nghề quy định Nói cách khác, từnghề nghiệp chỉ có ý nghĩa ở môi trờng của nó
Trong phạm vi toàn xã hội, những ngời làm nghề khác nhau vẫn có thểhiểu đợc lớp từ ngữ nghề nghiệp của nhau tuy nhiên mức độ hiểu ít hay nhiềutuỳ thuộc vào mức độ quen biết, am hiểu xã hội đối với nghề đó Chẳng hạnnghề chăn nuôi là một nghề rất quen thuộc đối với ngời Việt Nam nớc ta có
đến 80% là lao động sản xuất sản phẩm nông nghiệp và nó gắn liền với chănnuôi gia súc, gia cầm Có những từ nh: chóng lớn, chọn giống, sinh sản, tăng trọng … thì mọi ngời dân Việt Nam đều có thể hiểu và sử dụng một cách thành
thạo Nhng chắc chắn không phải ai cũng có thể hiểu những từ trong chănnuôi nh: chất tanh, ghẹ răng, vỗ béo … Hay trong nghề gốm sứ những từ nh:
định cữ, ra hơng, lợi đuối, cọc l … thì chỉ những ngời trong nghề mới có thể
hiểu đợc Và ngay trong một nghề nghiệp, do phạm vi địa lý rộng lớn, sự vật,hiện tợng, đối tợng lao động sản xuất, phơng pháp, thói quen, kinh nghiệm sảnxuất… có sự khác nhau cho nên dù trong cùng một nghề nghiệp nhng khôngphải mọi địa phơng, mọi vùng đều thống nhất sử dụng một lớp từ nghề nghiệpnhất định Nh vậy, cũng là từ nghề nghiệp nhng do phạm vi hoạt động củachúng không giống nhau Hay nói cách khác, những ngời trong cùng một nghềnhng ở các địa phơng, ở các khu vực khác nhau, có thể có vốn từ nghề nghiệpkhác nhau với cách hiểu, cách sử dụng chúng cũng khác nhau
So với các lớp từ hạn chế về phạm vi sử dụng, lớp từ chỉ nghề nghiệp cónhững đặc trng cơ bản sau đây:
- Cũng nh các thuật ngữ khoa học, các từ nghề nghiệp có đặc tính cơbản là: ý nghĩa biểu vật trùng với sự vật, hiện tợng có thực trong một ngành
Trang 25nghề cụ thể và ý nghĩa biểu niệm đồng nhất với các khái niệm về sự vật hiện ợng đó.
t Do gắn với những hoạt động sản xuất, hoặc ngành nghề cụ thể, trựctiếp cho nên từ vựng nghề nghiệp có tính cụ thể, gợi hình ảnh cao Mức độkhái quát của các ý nghĩa biểu niệm của chúng cũng thấp hơn thuật ngữ khoahọc
- Từ vựng nghề ngiệp có khả năng diễn đạt một cách chính xác, sinh
động, ngắn gọn về những sự vật hiện tợng, sản phẩm động tác của nhữngngành nghề có liên quan tới các bộ phận sinh hoạt của xã hội
- Từ vựng nghề nghiệp cũng nh thuật ngữ khoa học có chung một đặctính cơ bản, đó là tính toàn dân bị hạn chế cho nên hầu hết từ nghề nghiệpkhông thể hiểu hoặc không đúng với ngời ngoài nghề
- Lớp từ chỉ nghề nghiệp chủ yếu đợc tồn tại trong khẩu ngữ Những
ng-ời cùng nghề nghiệp dùng chúng để trao đổi miệng với nhau Một số từ nghềnghiệp đợc các nhóm ngời sử dụng với tính chất vui đùa, nhẹ nhàng, vui vẻtrong quá trình tiếp xúc, trong quá trình lao động sản xuất
- Từ vựng nghề nghiệp và thuật ngữ khoa học luôn xâm nhập lẫn nhau
Có một số từ nghề nghiệp đợc thuật ngữ khoa học hoá trở thành thuật ngữchuyên môn Ngợc lại có nhiều thuật ngữ khoa học lại đi vào lớp từ nghềnghiệp, hiện đại hoá lớp từ nghề nghiệp
Nói chung, từ vựng chỉ nghề nghiệp là một sự sáng tạo về ngôn ngữ của
đại đa số nhân dân lao động làm ở các ngành nghề khác nhau Lớp từ vựngnghề nghiệp này tồn tại nh những thuật ngữ khoa học cấp thấp Nó là nguồn
từ vựng vô cùng phong phú để bổ sung vào hệ thống thuật ngữ khoa học Nónằm trong sự thống nhất của vốn từ vựng văn hoá và là nguồn dữ trữ bổ sunglàm giàu thêm cho kho từ vựng toàn dân Chúng tôi thực hiện đề tài “Vốn từ chỉ nghề bánh Vĩnh Hoà - Yên Thành Nghệ An– ” cũng chính là để khaithác sự phong phú và đa dạng của vốn từ chỉ nghề nghiệp này
Trang 261.3.3 Mối quan hệ giữa các lớp từ trong vốn từ tiếng Việt
Thông qua một số khái niệm và những đặc điểm trên đây, chúng tôi đãsơ lợc đợc những vấn đề cơ bản của hai lớp từ: lớp từ vựng toàn dân và lớp từvựng hạn chế về phạm vi sử dụng Vấn đề còn lại là trên cơ sở đó chúng ta tìmhiểu mối quan hệ giữa các lớp từ, đặc biệt là mối quan hệ giữa từ chỉ nghềnghiệp với từ địa phơng và với từ toàn dân
Trớc hết, chúng tôi đi vào tìm hiểu những đặc điểm chung và những nétkhác biệt giữa các lớp từ Điểm chung giữa chúng là: tất cả các lớp từ nói trên
đều thuộc về vốn từ tiếng Việt Chúng chịu sự chi phối của các quyluật về ngữ
âm, quy tắc về từ ngữ và cả quy tắc ngữ pháp của tiếng Việt Các lớp từ đókhông chống đối nhau, không loại trừ nhau một cách chủ quan, tuỳ tiện mà nó
có thể thay thế, bổ sung cho nhau theo những quy luật phát triển nhất định củatiếng nói dân tộc Các lớp từ đó tạo nên cho tiếng Việt sự phong phú và đadạng, làm cho vốn từ của tiếng Việt ngày một giàu có, đầy đủ thêm
Bên cạnh các đặc điểm chung, giữa lớp từ của ngôn ngữ văn hoá và cáclớp từ hạn chế về phạm vi sử dụng có những đặc điểm khác nhau Mức độkhác nhau này đợc phân biệt bởi phạm vi sử dụng, chức năng sử dụng … củatừng lớp từ Từ vựng ngôn ngữ văn hoá là lớp từ toàn dân cho nên nó đợc sửdụng một cách rộng rãi cho mọi ngời, mọi thành viên trong cộng đồng ngờiViệt sống trên lãnh thổ Việt Nam Các lớp từ hạn chế chỉ đợc sử dụng ở một
địa phơng, một nhóm ngời hay một bộ phận ngời cùng làm một nghề nhất
Trang 27Quan hệ giữa từ nghề nghiệp với từ toàn dân là quan hệ giao thoa, đanxen trong quy luật vận động phát triển của ngôn ngữ Từ nghề nghiệp không
có từ đồng nghĩa tơng ứng trong ngôn ngữ toàn dân; nó là tên gọi duy nhất củahiện tợng thực tế Từ nghề nghề nghiệp đợc dùng trong khẩu ngữ của nhữngngời cùng nghề nghiệp Khác với tiếng lóng, từ nghề nghiệp nằm trong từvựng của ngôn ngữ văn học Nó có thể đợc dùng trong sách báo chính luận vànghề thuật
Lấy ví dụ:
Hôm qua dệt cửi thoi vàng
Sực nhớ đến chàng, cửi lại ngừng thoi
(Ca dao)hay: Chắc hẳn đêm nay giờng cửi lạnh
Thoi ngà nằm nhớ ngón tay em.
(“Ma xuân” – Nguyễn Bính)
“Cửi , thoi” “ ” là những bộ phận của dụng cụ dùng trong nghề dệt vảitruyền thống của nhân dân ta Phải là ngời ở trong nghề mới có thể hiểu đợc rõràng về ý nghĩa của những từ đó Những từ này vốn là của riêng nghề dệt vảinhng sau đó đợc phổ biến rộng rãi và trở nên quen thuộc với mọi ngời
Khung cửi , con thoi
“ ” “ ” đã trở thành vốn từ toàn dân
Sở dĩ có hiện tợng trên là do từ nghề nghiệp không có từ đồng nghĩatrong ngôn ngữ toàn dân Từ nghề nghiệp có ý nghĩa biểu vật cụ thể trongngành nghề, nó là tên gọi duy nhất của nghề nghiệp trong thực tế Từ nghềnghiệp không đồng nhất với từ toàn dân nhng có một bộ phận từ nghề nghiệp
có thể trở thành ngôn ngữ toàn dân, đó là khi công cụ sản xuất, những kháiniệm riêng của nghề đã đợc phổ biến rộng rãi
Qua đó ta cũng thấy đợc từ nghề nghiệp vừa là lớp từ chỉ riêng của mộtnghề vừa là từ của ngôn ngữ toàn dân Trong xã hội Việt Nam, có nhiều nghề
đặc biệt có tính chất hạn chế về phạm vi, khu vực hoạt động thì từ nghề nghiệp
Trang 28thuộc các bộ phận này chỉ có những ngời trong nghề mới hiểu đợc Ví dụ:
nghề mộc, nghề điêu khắc, nghề làm chiếu … Nhng cũng có những nghề nh
nghề trồng lúa, nghề chăn nuôi do có tính chất lâu đời, mức độ phổ biến rộngrãi (80% lao động nghề nông và xuất thân từ nông nghiệp) cho nên một số l-ợng từ đáng kể của những nghề này rất quen thuộc với mọi ngời và đã trởthành lớp từ từ toàn dân Chẳng hạn những từ của nghề trồng lúa nh: giống, n-
ớc, mạ, lúa, gạo … không hề xa lạ với những ngời làm ngành nghề khác trong
xã hội, chúng đợc dùng một cách tự nhiên vì thế chúng đã trở thành từ toàndân Đây cũng là biểu hiện mỗi quan hệ khăng khít giữa vốn từ toàn dân vớivốn từ nghề nghiệp
Tuy nhiên nghề nào cũng có lớp từ chỉ nghề nghiệp riêng, nhng mức độphổ biến của các từ lại không nh nhau nên có từ chỉ riêng trong nghề mới hiểu
và sử dụng Ví dụ ở nghề làm nớc mắm có những từ quen thuộc với mọi ngờinh: cá, muối, ruốc, mắm … nhng có những từ xã lạ với những ngời ngoài nghề
nh: chợp, láng, mên, trúp … Nh vậy trong lớp từ nghề nghiệp có những từ đợc
dùng trong ngôn ngữ toàn dân nhng cũng có những từ chỉ riêng ngời trongnghề mới hiểu đợc Hay nói cách khác, từ nghề nghiệp là một trong những nơicung cấp thêm vốn từ cho lớp từ toàn dân
Quan hệ giữa từ nghề nghiệp với từ địa phơng là mối quan hệ tác độngqua lại, đan xen phức tạp Có những từ nghề nghiệp trùng với từ trong phơngngữ, cũng có những từ nghề nghiệp chỉ chịu ảnh hởng của cách cấu tạo từ ph-
ơng ngữ C dân của từng địa phơng có thể có những từ riêng để chỉ đặc điểmriêng của nghề mình Nh nghề trồng lúa trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh có những
từ nh: gấu, rọng, rác … là những từ nghề nghiệp nhng lại mang đặc điểm
ph-ơng ngữ về cả âm và nghĩa Lại có những từ nghề nghiệp mà phạm vi sử dụngcủa chúng rất hẹp chỉ có những ngời trong nghề đó mới hiểu, thậm chí mộtvùng, một làng nghề đó mới hiểu: vè, dắm, bờ con chạch…
Trang 29Tóm lại, giữa từ nghề nghiệp với các lớp từ khác mà đặc biệt là với từtoàn dân và từ địa phơng có mỗi quan hệ mật thiết gắn bó với nhau Đi sâu vàonghiên cứu từ của một nghề nào đó thì chúng ta phải nhìn nhận nó, đặt nótrong quan hệ với từ toàn dân và phơng ngữ để từ đó rút ra đợc những điểmchung và những điểm riêng của từ Đây chính là cơ sở để chúng tôi đi sâu vàotìm hiểu vốn từ chỉ nghề làm bánh ở làng Vĩnh Hoà - Yên Thành – Nghệ An.
2 Ngôn ngữ và văn hoá
2.1 Văn hoá
Thế nào là văn hoá ? Hay văn hoá là gì ? Những câu hỏi này đợc rấtnhiều ngời đề cấp đến những để trả lời nó không phải là điều đơn giản mặc dùthuật ngữ “Văn hoá” đã đợc sử dụng liên tục và phổ biến Nh ý kiến nhận địnhcủa Giáo s Phan Ngọc: “ Cho đến nay đã có ngót 400 định nghĩa khác nhau
về văn hoá, tất cả đều bị ảnh hởng bởi tinh thần luận Các định nghĩa ấy rất sâu sắc, độc đáo và hấp dẫn … Vì dân tộc nào cũng có văn hoá, vì bất cứ cái gì ta hình dung cũng có mặt văn hoá, dù đó là cây cối, khí trời đến phong tục, cách tổ chức xã hội, các hoạt động sản xuất vật chất và tinh thần, các sản phẩm của các hoạt động ấy cho nên không thể tìm đợc định nghĩa thao tác luận cho văn hoá nếu dựa vào văn hoá học, kinh tế, chính trị … Cũng không thể liệt kê hết và các mặt ấy rất khác nhau Chỉ có cách tìm ngay ở bản thân con ngời, căn cứ vào sự khu biệt giữa con ngời với các động vật khác” (Phan Ngọc, 1994, tr.144) Đây quả là một lời nhận xét rất xác đáng đối
với hiện tợng rất nhiều định nghĩa về thuật ngữ “Văn hoá” Giải thích điều nàyGiáo s Phạm Đức Dơng đã có câu trả lời nh sau: “Muốn tìm hiểu vì sao lại xảy ra tình trạng trên thì chúng ta phải trở về với cách hiểu khái niệm Chúng ta đều biết, khái niệm có hai thành phần: nội hàm và ngoại diên đợc biểu đạt bởi định nghĩa Nội hàm là những hiểu biết về toàn thể thuộc tính bản chất đợc phản ánh trong khái niệm Do đó có thể hiểu nội hàm là khái
Trang 30niệm Ngoại diên là toàn thể những cá thể có chứa cái thuộc tính bản chất
đ-ợc phản ánh của khái niệm Mỗi quan hệ giữa nội hàm và ngoại diên theo
tỷ lệ nghịch: mở rộng ngoại diên thì dấu hiệu đặc trng trong nội hàm của khái niệm bị thu hẹp và ngợc lại khi thu hẹp ngoại diên thì nội hàm đợc mở rộng.
Vì văn hoá liên quan đến mọi mặt của đời sống của con ngời cho nên
nó mang một ngoại diên rất mở rộng, nghĩa là bất cứ một cái gì (một cá thể nào) do con ngời làm ra đều có chứa thuộc tính của văn hoá, đều đợc xã hội hoá và khi ngời ta căn cứ vào ngoại diên để định nghĩa thì xẩy ra hiện tợng quá nhiều định nghĩa … và nếu căn cứ mở rộng ngoại diên vô hạn thì định nghĩa ngày càng trở nên khó hiểu đến vô nghĩa Vì vậy cần chấp nhận nội hàm của khái niệm văn hoá là dấu hiệu đặc trng thu hẹp đén mức chung nhất: Văn hoá là tất cả những gì con ng“ ời sáng tạo ra (khu biệt với cái tự nhiên) trong quá trình ứng xử với môi trờng tự nhiên và xã hội” (Phạm Đức
Dơng, Văn hoá Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam á, 2000, tr.15)
Lời giải thích và cách định nghĩa của Giáo s Phạm Đức Dơng chúng tôithấy vừa ngắn gọn vừa khá đầy đủ và chặt chẽ Đặc biệt định nghĩa này cũngkhông hề mâu thuẫn với định nghĩa Văn hoá của Giáo s Trần Ngọc Thêmtrong tác phẩm “Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam”: “Văn hoá là một hệ thống hữ cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con ngời sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn trong tơng tác giữa con ngời với môi trờng
tự nhiên và xã hội của mình” (Trần Ngọc Thêm, 1996, tr.24)
Bàn về khái niệm “Văn hoá” có lẽ các nhà nghiên cứu đã đi sâu, đi sát
và cụ thể hoá bằng những lời giải chuẩn xác Trong khuôn khổ của một luậnvăn cao học, chúng tôi chỉ muốn đa ra một số khái niệm về Văn hoá để từ đólấy nó làm cơ sở để tiếp cận giải quyết các vấn đề sau này Đó chính là địnhnghĩa Văn hoá của Giáo s Trần Ngọc Thêm cũng rất gần với định nghĩa Văn
Trang 31hoá của Giáo s Hoàng Phê (Từ điển Tiếng Việt, Đà Nẵng, 1998): “Văn hoá là tổng thể những giá trị vật chất và giá trị tinh thần do nhân dân sáng tạo ra”.
2.2 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá
Ngôn ngữ vốn dĩ sinh ra là để thoả mãn nhu cầu giao tiếp, nhu cầuchuyển đạt và tàng trữ các thông tin từ thế hệ này sang thế hệ khác giữa conngời với con ngời Những thông tin của ngôn ngữ truyền đạt không chỉ làthông tin mang tính chất chung của xã hội mà cả những thông tin phản ánhtâm t, nỗi niềm của từng cá nhân riêng lẻ, không có ngôn ngữ thì không có ph-
ơng tiện nào khác thay thế để biểu đạt t duy, t tởng của con ngời “không có t duy trần trụi thoát khỏi vỏ ngữ liệu” (Mác) Thế nhng cái công cụ ngôn ngữ
này quan hệ nh thế nào với văn hoá ? Vai trò giữa chúng ra sao?
Ngôn ngữ là một bộ phận không thể tách rời khỏi kết cấu văn hoá chonên về nguyên tắc, hoạt động ngôn ngữ cũng nh hoạt động văn hoá là hoạt độngtinh thần, cả hai đều giúp cho xã hội phát triển Ngôn ngữ là phơng tiện, cầu nối
mở rộng giao lu trao đổi, hiểu biết về văn hoá giữa các cộng đồng ngời Ngônngữ là thành tố, phơng tiện và cũng là tiền đề cho văn hoá phát triển “Sự hình thành cho ngôn ngữ là tiền đề nhiều mặt của sự hình thành văn hoá mặc dù theo cách sắp xếp hình thức thì ngôn ngữ nằm trong phạm trù văn hoá”
(Nguyễn Lai, 1993, tr.5) Sự liên quan hữu cơ giữa ngôn ngữ và các khía cạnhcủa văn hoá gần gũi tới mức: không còn một bộ phận nào thuộc văn hoá củamột cộng đồng cụ thể lại đợc nghiên cứu tách rời, các biểu tợng ngôn ngữ trongcác hoạt động của chúng “Ngôn ngữ là một bộ phận không thể thiếu đợc trong văn hoá loài ngời” (Dell Hymes, Ngôn ngữ trong văn hoá xã hội, 1960).
Hay Bakhlin đã phát biểu “Văn học là một bộ phận không thể tách rời của văn hoá Không thể hiểu nó ngoài cái mạch nguyên vẹn của toàn bộ nền văn hoá trong nó tồn tại Văn hoá là một dòng thác chảy mạnh ở bề sâu (đặc biệt là bộ phận văn hoá dân gian có tính chất nền tảng), nó thực sự tác
Trang 32động đến nhà văn, thậm chí đôi khi nhà nghiên cứu không hay biết” (dẫn
theo Nguyễn Lai, 1996, tr.19)
Theo F.ănghen: “Ngôn ngữ không chỉ là tiền đề tạo ra đối tợng văn hoá mà hơn thế từ trong chiều sâu- trớc hết nó là tiền đề tạo ra con ng“ ời”
từ đó con ng
– ời tạo tiếp cho minh hình thành đối tợng văn hoá ” Nh vậytrên nhiều cấp độ, ngôn ngữ là tiền đề cho đối tợng văn hoá phát triển Và sựphát triển của văn hoá tạo tiền đề trở lại cho ngôn ngữ Ngôn ngữ và văn hoá
đều là những thiết chế xã hội, nét đặc thù của nó là giá trị nhận thức có đợc vềchúng bao giờ cũng bị quy định bởi tính ớc lệ vốn đợc tạo ra bởi một cộng
đồng xã hội xác định gắn với một trạng thái không gian và thời gian.Ngôn ngữ
là kết quả của một loạt hoạt động tinh thần, đợc gắn với nhận thức, thông quanhững dấu hiệu và vật thể, mặc dù cách thể hiện nhận thức giữa các cộng đồngngời không nhất thiết trùng nhau Văn hoá cũng là một hoạt động tinh thầnnói chung và loại hoạt động tinh thần trên cũng lộ ra hoặc trực tiếp hoặc giántiếp bằng những dấu hiệu vật thể với tính ớc lệ Ngôn ngữ dân tộc và văn hoádân tộc muốn phát triển phải có sự nơng tựa lẫn nhau, cái này làm tiền đề chocái kia và ngợc lại Chính E.Sapir đã nói “Ngôn ngữ là ph ơng tiện đặc biệt để
t duy ” bởi hoạt động của ngôn ngữ luôn gắn chặt với hoạt động của t duy Mỗimột ngôn ngữ phù hợp với một loại nhận thức hình thái của nó, tơng ứng vớimột loại t duy ngôn ngữ T duy ngôn ngữ phải xác định loại hoạt động ngôn
từ, cử chỉ, văn hoá của con ngời Ngôn ngữ đợc coi là phơng tiện duy nhất cókhả năng giải mã cho tất cả các loại hình nghệ thuật gắn với phạm trù văn hoá
Từ cơ sở tiềm tàng đó, ngôn ngữ có khả năng tạo thành các tác phẩm nghệthuật ngôn từ tổng hợp, phản ánh một cách tơng đối tập trung tiến trình pháttriển bộ mặt văn hoá của cộng đồng
Nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá phải kể đến côngtrình đầu tiên của nhà ngôn ngữ học ngời Đức, Wilhelmvon Humboldt (cuốithế kỷ XIX) với quan điểm nổi tiếng về sự thống nhất giữa ngôn ngữ và linh
Trang 33hồn dân tộc và ông có thể coi là ngời mở đầu cho việc nghiên cứu mỗi quan hệnày Giai đoạn hai là xuất hiện quan điểm của E.Sapir, B.L Whorl về áp lựccách chia cắt thực tại của mỗi ngôn ngữ đối với ngời nói thứ ngôn ngữ đó Đếnnhững năm năm mơi của thế kỷ XX ngời ta xác định vai trò của ngôn ngữ vàphơng pháp nghiên cứu ngôn ngữ đối với văn hoá Nhận thức ngôn ngữ học vềngôn ngữ tạo nên vấn đề nghiên cứu t duy ngôn ngữ
ở Việt Nam cho đến nay các nhà nghiên cứu về ngôn ngữ và văn hoá đã
có hàng loạt công trình nghiên cứu lớn, nhỏ Các công trình theo hớng lịch sử– văn hoá gồm có: Lê Quý Đôn (1773), Phan Kế Bính (1915), Đào Duy Anh(1938), Nguyễn Văn Huyên (1944), Lê Văn Siêu (1973), công trình của Kim
Đỉnh mang tính chất lý luận (1973), của Giáo s Phan Ngọc chuyên khảo vềVăn hoá Việt Nam, Lý Toàn Thắng bảo vệ thành công luận án tiến sỹ về mốiquan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá, Giáo s Trần Ngọc Thêm với giáo trình Vănhoá Việt Nam, Giáo s Phạm Đức Dơng, Giáo s Trần Quốc Vợng, Giáo sNguyễn Lai, Giáo s Nguyễn Nhã Bản, … đã tập trung nghiên cứu lĩnh vực này
Ngôn ngữ với t cách là một hệ thống tín hiệu trong đó đặc trng nổi bật
là tính võ đoán Đây là một nguyên lý vô cùng quan trọng đã đợc Saussure, nhà ngôn ngữ học nổi tiếng nêu ra Ngời bản ngữ khi sử dụng (nói,viết) chỉ biết tuân thủ theo một thói quen chấp hành luật lệ, quy tắc ngôn ngữchứ có mấy ai tự đặt câu hỏi rằng: Tại sao dân tộc lại dùng từ này với nghĩanày mà dân tộc khác không dùng nh thế ? Đặc trng văn hoá dân tộc đợc thểhiện lu giữ ở chỗ khi phát ngôn chuyển tải đến ngời tiếp nhận thì đợc phân cắt,tách riêng ra hình ảnh dân tộc đặc thù Muốn giải mã ngữ nghĩa hình tợng nằmsâu trong cấu trúc của các đơn vị phát ngôn cần thiết phải am hiểu tri thức nềnliên quan đến các phong tục, tập quán, lối sống, cách ứng xử của từng dân tộc,tức là phải đụng đến tri thức văn hoá chung của cộng đồng bản ngữ đợc tàngtrữ trong trí nhớ về từ hay ngôn ngữ đó – hay nói đúng hơn là trong tâm thứcngời sử dụng
Trang 34F.de-Trong ngôn ngữ từ là đơn vị cơ bản, đồng thời cũng là thành tố của vănhoá Vì vậy, từ mang trong mình những nét đặc trng cơ bản của văn hoá Nóicách khác ở phơng diện này từ và các cụm từ cố định đợc coi là một thực thểvăn hoá trong đó yếu tố làm bộc lộ các biểu hiện về văn hoá là đặc trng ngữnghĩa Nó phản ánh mối liên tởng với hiện thực đời sống của mỗi cộng đồng.Tìm hiểu từ vựng ngữ nghĩa dới góc độ văn hoá là tìm hiểu lớp văn hoá ẩn chìmsau con chữ Từ ngữ liên quan đến phong tục tập quán, lối sống, nếp nghĩ, phépứng xử của mỗi dân tộc, mỗi địa phơng Nghiên cứu vốn từ chỉ nghề làm bánhchúng ta sẽ tìm thấy đợc những nét văn hoá riêng của một vùng làng nghề ẩnchứa đằng sau lớp vỏ ngôn ngữ và cách sử dụng ngôn ngữ của ngời dân.
Với những thành tựu của các khoa học liên ngành: ngôn ngữ học, lich
sử học, dân tộc học, khảo cổ học, văn hoá học… Các nhà khoa học đã xác định
đợc khu vực lịch sử – văn hoá Đông Nam á đứng bên cạnh các nền văn minhlớn khác ở Châu á nh Trung Hoa, ấn Độ “Đó là nền văn minh nông nghiệp lúa nớc với một phức thể gồm ba yếu tố: Văn hoá đồng bằng, văn hoá miền núi và văn hoá biển, trong đó yếu tố thứ nhất tuy có sau nhng chiếm vai trò chủ đạo, lịch sử ở đây đã diễn ra quá trình phát tán, hội tụ dẫn đến những phức thể văn hoá mới chung cho toàn vùng, bớc hội tụ sau cao hơn bớc hội
tụ trớc Đồng thời cũng để lại nhiều sắc thái khác nhau có tính dân tộc hoặc mang dấu ấn địa phơng ” (Giáo s Phạm Đức Dơng, 1994, tr.1)Điều này giúpchúng ta có thể nhận định đợc ở ngời dân Vĩnh Hoà nói riêng và những ngờidân làm nghề bánh ở mọi miền nói chung cũng nằm trong cái phức thể sẽ cónhững nét văn hoá mang dấu ấn địa phơng mình
Nói tóm lại, ngôn ngữ và văn hoá có mối quan hệ khăng khít với nhau
nh chân với tay trên một cơ thể con ngời Khái niệm về hai thuật ngữ này vẫncòn đang đợc các nhà nghiên cứu tiếp tục làm rõ cho nên để lý giải rõ ràng về
nó cần có thêm thời gian ở đây chúng ta còn cha nói đến việc sắp sẵn, nêu ranhững tiêu chí khu biệt trong mối liên hệ bộ ba: ngôn ngữ - văn hoá - t duy
Trang 35Ngôn ngữ luôn là thành tố của văn hoá với chức năng cơ bản nhất định củamình: chức năng giao tiếp Ngôn ngữ giúp cho văn hoá phát triển và hơn thếnữa,ngôn ngữ đồng hành cùng văn hoá sẽ giúp cho xã hội phát triển.
Chơng II Vốn từ chỉ nghề bánh Vĩnh Hoà - Yên Thành – Nghệ An
1 Sơ lợc về làng bánh Vĩnh Hoà - Yên Thành – Nghệ An.
1.1.Đất và ngời Yên Thành qua chiều dài lịch sử
Huyện Yên Thành đợc thành lập, tách từ huyện Đông Thành, phủ DiễnChâu, từ năm Minh Mệnh thứ 18 (1837) Phủ Diễn Châu là một bộ phận của
Bộ Hoài Hoan, một trong 15 bộ của nớc Văn Lang thời vua Hùng Dới thờiBắc thuộc, Diễn Châu thuộc huyện Hàm Hoan đời Hán, quận Cửu Đức đờiNgô, quận Cửu Châu đời Lơng, quận Nhật Nam đời Tuỳ, châu Nam Đức, ĐứcChâu rồi Hoan Châu đời Đờng Năm Trinh Quán I (tức 627) đời Đờng, phíaBắc Hoan châu gọi là Diễn Châu Diễn Châu có lúc gọi là quận Long Trì với 7huyện có trị sở đóng tại Quỳ Lăng (xã Lăng Thành)
Từ khi nớc nhà dành đợc độc lập thì các triều đại nhà Ngô (939- 967),nhà Đinh (968 – 980) vẫn chọn Quỳ Lăng làm trị sở của Châu Diễn đến thờitriều Lê (980 – 1009) thì trị sở chuyển về Kẻ Dền, Công Trung Thợng (xãVăn Thành) Theo “Đại Nam nhất thống chí” thì đây là cơ sở của Hoàng Tửcon vua Lê Đại Hành là Lê Long Ngân đợc phong làm Đông Thành đại vơng,
đã chọn Kẻ Dền đắp thành xng đế, xây dựng Châu Diễn làm vùng cát tứ lâudài ở Kẻ Dền vẫn còn dấu tích của một triều đô cũ “Núi Mã Yên (Yên Ngựa), xã Hơng Khê, huyện Yên Thành, một ngọn núi rất cao, trong đám núi trông nh hình yên ngựa Sờn núi có một hố sâu, rộng đến vài trợng, gọi
là huyệt Vơng Mẫu Tục truyền con vua Đại Hành giữ phủ Diễn Châu có
Trang 36táng mộ bà mẹ ở đây, khi nhà Lý cớp ngôi nhà Lê, hoàng tử bèn giữ châu tự xng làm đế Nhà Lý đánh không nổi phải ngầm mợn ngời đào mộ ấy lên, rồi sau mới dẹp tan đợc” (Đại Nam Nhất Thống Chí, quyển 14 –15, trang 53).
Trên dãy núi Mã Yên vẫn còn dấu vết của động huyệt và những huyền thoại
về Kẻ Dền
Tháng 11 năm 1041, vua Lý Thái Tông cử Lý Nhật Quang vào làm trichâu Nghệ An đã dừng chân tại Công Trung Đông ( xã Hợp Thành ) và TràngThành Nam ( xã Hoa Thành ) nghiên cứu định lập trị sở Tại hai xã này hiệnvẫn còn đền thờ Lý Nhật Quang Năm 1063 vua Lý Thái Tông nhập HoanDiễn thành châu Nghệ An rồi đến thời Trần gọi là huyện Thổ Thành, rồi lộDiễn Châu, rồi trấn Vọng Giang Năm 1927, Tĩnh quốc Đại Vơng Trần QuốcKhang đợc phong làm Vọng Giang phiêu kị đô thợng tớng quân tiếp tục xâydựng Kẻ Dền làm lị sở của Châu Diễn “ Xây dựng phủ đệ, lang vũ vòng quanh lộng lẫy quá mức thờng, vua nghe tin sai ngời đến xem, Tĩnh quốc sợ mới tô tợng phật để thờ, nay là chùa Thông” ( Đại Việt sử lí toàn th, tập II,
Ngô Sĩ Liên, Hà Nội, 1971, trang 41 )
Đời nhà Hồ đổi làm phủ Linh Nguyên ( 1403 ), thời thuộc Minh làhuyện Đông Ngân Sau khi đánh đuổi giặc Minh, Lê Lợi lên ngôi, Diễn Châuthuộc đạo Hải Tây, rồi đời Lê Thánh Tông phủ Diễn Châu thuộc thừa tuyênNghệ An Phủ Diễn Châu lúc này gồm hai huyện Đông Thành và Quỳnh Lutrong đó Đông Thành gồm Yên Thành và Diễn Châu, lị sở chuyển về ThànhTrài ( Đông Luỹ ), Diễn Hồng Đến thời Quang Trung đổi Nghệ An thành trấnNghĩa An trong đó có phủ Diễn Châu Năm 1802, Gia Long đổi Nghĩa Anthành Nghệ An, huyện Đông Thành gồm 7 tổng và 242 xã Năm 1837 đờiMinh Mệnh tách Đông Thành gồm huyện Yên Thành và Đông Thành theochiều đông tây, cả hai đều có núi, có đồng bằng, có biển
Khi thực dân Pháp đô hộ, chia phủ Diễn Châu theo chiều nam bắc,huyện Đông Thành ở phía đông, Yên Thành ở phía tây Lúc này huyện Yên
Trang 37Thành gồm 5 tổng, lị sở chuyển về làng Phụng Luật ( xã Hợp Thành ) Từnăm 1898 đến 1945, Yên Thành gồm 5 tổng, 136 làng xã Sau 1945 đến nayYên Thành gồm có một thị trấn và 35 xã
Huyện Yên thành ở phía đông bắc tỉnh Nghệ An, cách thành phố Vinh55km về phía bắc, chiều bắc nam từ Hòn Sơng giáp Quỳnh Lu ở phía bắc đếnTràng Sơn giáp Nghi Lộc, phía nam chiều dài gần 40km, thuộc 18 độ 55 phút
đến 19 độ 12 phút độ vĩ Bắc Phía đông từ thôn Ngọc Sơn đến làng TràngThịnh, phía tây thuộc 105 độ 11 phút đến 105 độ 34 phút độ kinh đông Nơigần bờ biển nhất ở xã Đô Thành 6km, xa nhất là Quang Thành 40km Phía
đông giáp Diễn Châu, bắc giáp Quỳnh Lu, tây giáp Nghĩa Đàn và Tân Kỳ,nam giáp Đô Lơng, Nghi Lộc Diện tích đất tự nhiên 56.204 ha, địa hình lòngchảo không cân, với ba phía Bắc, tây, nam là đồi núi và phía đông là đồngbằng trũng
Nghệ Yên Thành, thanh Nông Cống.
Câu nói của ông cha nói lên đặc điểm đây là huyện sản xuất nôngnghiệp chủ yếu, là vùng đồng bằng rộng nhất Nghệ An Ngời dân nơi đây đãbao đời dựa vào vốn đất ấy để tạo lập làng xóm, vờn ruộng là một phần máuthịt của giang sơn gấm vóc Việt Nam
Trong suốt chiều dài lịch sử, thiên nhiên và con ngời Yên Thành luôngắn bó với nhau, nh nhà yêu nớc Nguyễn Xuân Ôn đã viết:
Non nớc Hoan Châu đẹp tuyệt vời.
Sinh ra trung nghĩa biết bao ngời.
Cái đáng quý nhất ở con ngời Yên Thành là đức tính cần cù làm lụng,chăm chỉ học hành “Đất xấu dân nghèo, tập tục cần kiệm Nhà nông chăm chỉ ruộng nơng, học trò a chuộng học hành” (Đại Nam nhất thống chí) Trên
cơ sở chủ yếu là nền sản xuất nông nghiệp trồng lúa nớc, con ngời ở đây sốngtrong cộng đồng làng xã với những quan hệ họ hàng, làng xóm với những sinhhoạt văn hoá mang màu sắc của c dân nông nghiệp trồng lúa nớc Từ đó cái
Trang 38đặc sắc của c dân Yên Thành là cây lúa trở thành biểu tợng của bao ớc mơ,khát vọng về sự đợc mùa và no đủ Mọi sinh hoạt vật chất và tinh thần của ng-
ời dân đều gắn liền với cây lúa, với những sản phẩm từ cây lúa
Tiên Hồ, Tiên Xá bứt lá nung vôi, Phú Ninh nấu rợu, Quỳnh Khôi đan bồ Hay: Gỗ Kẻ Mõ, ló Kẻ Cuồi.
Vật lộn với thiên nhiên khắc nghiệt và những áp bức bất công trong xãhội, dẫu cuộc sống nhiều lúc đắng cay, lay lắt với những bát cháo rau má, bữacơm độn khoai những ngời dân Yên Thành luôn xây dựng cho mình cuộc sốnglạc quan yêu đời với những hội hè vui vẻ theo nhịp điệu mùa màng Ngày hộinhân dân thờng tổ chức các trò vui chơi, thành lập các phờng tuồng, phờngchèo nổi tiếng Ngời dân nơi đây còn là tác giả của một vùng văn hoá dân gianvới những tục ngữ, ca dao, câu đố,chuyện cổ, chuyện trạng… Ngời dân thờnghay kể vè, hát ví, hát dặm vào những dịp ngày mùa, những đêm trục lúa
Xin lấy câu ca dao của ngời Yên Thành truyền tụng cho nhau nh mộtniềm tự hào, hãnh diện vì truyền thống của quê hơng vùng lúa để thay lời kếtluận của phần mục này:
Trang 39Thành, phía tây giáp với Hoa Thành và Văn Thành, phía đông giáp với xãDiễn Thái (Diễn Châu ).
Cùng với sự phát triển của lịch sử huyện Yên Thành, xã Hợp Thành cũng
có một quá trình hình thành, biến đổi, phát triển cho đến bây giờ Tính từ năm
1910, Yên Thành có 5 tổng, địa phận xã Hợp Thành nằm trong tổng Quan Hoávới 35 thôn trong đó có 3 thôn Phụng Luật ( Kẻ Sọt ), Công Trung Đông, XuânTiêu là tiền thân của xã sau này Sau ngày bầu cử Quốc hội lần đầu 16/ 1/ 1946bắt đầu thành lập các cấp xã, Yên Thành có 24 xã, Hợp Thành lúc bấy giờ lấytên xã Công Trung với các thôn Phụng Luật, Công Trung Đông, Công TrungThợng, Công Trung Trung Đến năm 1949, Yên Thành gồm 12 xã, Hợp Thànhnằm trong xã Yên Trung cùng với Tràng Thành, An Vịnh Đến năm 1953,chính thức lấy tên là xã Hợp Thành gồm Công Trung Đông, Phụng Luật, XuânTiêu và ổn định cho đến bây giờ Hiện xã đợc chia làm 8 đơn vị gồm: làngPhụng, làng Đông, làng Đông An, làng Vĩnh Hoà,làng Xuân Tiêu, làng Phan,xóm Chùa,xóm Mới
Sau những sự biến đổi thăng trầm vùng với lịch sử huyện nhà, đến nayHợp Thành đã có những phát triển vợt bậc Nằm trên đâu mối giao thông củahuyện, nơi đây trở thành một trung tâm văn hoá, chính trị, kinh tế ổn định,phát triển Hợp Thành là một trong những xã đi đầu trong các phong trào củahuyện Nền kinh tế ở đây chủ yếu đi lên từ cây lúa, sản xuất nông nghiệp, sau
đi khi sự giao lu, kinh tế giữa các vùng diễn ra, xã thành lập chợ Hôm nằmngang gần ngã t trung tâm Từ đó bên cạnh nghề nông, một số ngời dân nơi
đây chuyển sang thơng mại, dịch vụ kinh tế phát triển nhanh chóng.Con ngời
ở đây bên cạnh những phẩm chất cần cù, hiền hậu của một vùng quê lúa, lại cóthêm sự năng động, tháo vát bởi sống trong một điểm tập trung đông dân c Sựmạnh mẽ, táo bạo là một đặc điểm nổi bật của ngời dân Hợp Thành
Gan Kẻ Sọt, rọt Kẻ Sừng
Kẻ Sọt
“ ” chỉ thôn Phụng Luật, vùng ngã t và làng Vĩnh Hoà bây giờ
Trang 40Kẻ Sọt”, dám làm, dám chịu Cho nên không phải ngẫu nhiên mà ngày xa
Phụng Luật đợc chọn làm lị sở của huyện Yên Thành một thời mà chắc chắnxuất phát từ khí chất “ địa linh nhân kiệt” của vùng.
Ngày nay Hợp Thành đang ngày một đi lên, văn hoá, thể thao, đặc biệt
là kinh tế phát triển mạnh Bên cạnh nghề nông, buôn bán chợ búa xã còn nổilên những điển hình về kinh tế của từng cá thể, hoặc làng làm kinh tế nh VĩnhHoà với những sản phẩm bánh nổi tiếng Đây chính là cơ sở, động lực đểchúng tôi tiến hành khảo sát vốn từ chỉ nghề bánh của làng
1.2.2 Làng bánh Vĩnh Hoà - Hợp Thành Yên Thành Nghệ An– –
Làng Vĩnh Hoà thuộc xã Hợp Thành, huyện Yên Thành nằm trên trục
đờng 38, con đờng nối từ ngã ba quốc lộ 7 tại xã Công Thành đến ngã ba quốc
lộ 1A tại xã Diễn Kỷ ( Diễn Châu ) Làng nằm ở phía đông của xã và huyện,
là một phần ranh giới giữa Yên Thành và Diễn Châu, từ ngã t Hợp Thành đixuống khoảng 400m Phía đông làng giáp xã Diễn Thái (Diễn Châu), phía tâygiáp làng Phụng Luật, phía nam giáp làng Đông An và phía bắc giáp làng
Đông thuộc xã Hợp Thành Dân c ở đây sống tập trung với 245 hộ trên mộtdiện tích khoảng 70.000m2, đây là một điểm thuận lợi cho việc phát triển kinh
tế làng nghề
Theo các cụ trong làng kể lại, khoảng cuối thế kỷ XIX, một số ngời từThanh Hoá đi sinh cơ lập nghiệp đã theo đờng biển đến Diễn Châu thì theo đ-ờng sông đi ngợc lên và dừng chân tại Vĩnh Hoà Thủa ban đầu địa điểm củalàng dịch về phía nam với bốn mặt là sông nớc, nhiều thuyền bè qua lại Lúc
ấy làng có tên là Vạn Chài với khoảng 15 hộ sống chủ yếu bằng nghề làmruộng và đánh bắt cá Ông tổ của làng ngời họ Lê, từ Thanh Hoá di c đến, sinhcon đẻ cái, bây giờ họ Lê là dòng họ có số ngời đông nhất trong làng Đếnkhoảng đầu thế kỷ XX, làng Vạn Chài chuyển đến địa điểm đang định c bâygiờ, lấy tên là làng Chùa Bi Sở dĩ gọi tên nh vậy vì mới đầu làng là một vùng