Khi biên soạn sách giáo khoa Ngữ văn, đưa VHVN sau 1975 vàochương trình, rất nhiều nhà văn, nhà giáo, nhà phê bình lý luận văn học và cảnhững người quan tâm đến việc dạy học văn trong nh
Trang 1Trờng đại học vinh
Khoa ngữ văn
- -
khoá luận tốt nghiệp
việc dạy học các tác phẩm văn học việt nam sau 1975 theo
chơng trình và sách giáo khoa ngữ văn
trung học phổ thông
Giáo viên hớng dẫn : PGS.TS Phan Huy Dũng
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Phơng
cơ sở (THCS) và Trung học phổ thụng (THPT) đă cú nhiều thay đổi Một trongnhững thay đổi đú là mở rộng mốc lịch sử văn học đến những năm cuối thế kỷ
XX, đưa cỏc tỏc phẩm văn học sau 1975 vào chương trỡnh và sỏch giỏo khoa Ngữvăn Và đến năm học 2008 – 2009, sỏch giỏo khoa Ngữ văn lớp 12 chớnh thứcđược sử dụng, triển khai đại trà, đồng nghúa với văn học Việt Nam (VHVN) sau
1975 chớnh thức được đưa vào dạy học trong chương trỡnh phổ thụng Đõy là lần
Trang 2đầu tiên học sinh THPT được tiếp xúc với văn học Việt Nam sau 1975 một cách
cĩ hệ thống trong khuơn khổ trường phổ thơng
Cho đến thời điểm hiện tại, đề tài dạy học VHVN sau 1975 theo chươngtrình và sách giáo khoa Ngữ văn đang còn được xem là một đề tài mới mẻ Việcđưa ra một cách nhìn hệ thống, khoa học và tương đối chuẩn xác về việc dạy họccác tác phẩm văn học đương đại còn là một vấn đề tiềm ẩn nhiều nghiệm số khácnhau Khi lựa chọn đề tài này, chúng tơi cũng đặt niềm hy vọng vào tính khả thicủa nĩ trong giáo học pháp cũng như lý luận phê bình văn học
Văn học Việt Nam sau 1975, nhất là từ thời kỳ đổi mới là một quá trình vănhọc phát triển phong phú, đa dạng, khơng ít phức tạp và đương nhiên lại đang còntiếp diễn Khi biên soạn sách giáo khoa Ngữ văn, đưa VHVN sau 1975 vàochương trình, rất nhiều nhà văn, nhà giáo, nhà phê bình lý luận văn học và cảnhững người quan tâm đến việc dạy học văn trong nhà trường cũng đưa ra rấtnhiều những trăn trở, những ý tưởng khác nhau về số lượng tác phẩm, về việc nênđưa ra, đưa vào chương trình những tác giả, tác phẩm nào, sự sắp xếp cĩ chăngcòn chưa hợp lý ?
Chung quy lại, tính phức tạp của bản thân VHVN sau 1975 cũng như việcbiên soạn sách giáo khoa theo hướng mới phần nào đĩ đã quyết định đến sự khĩkhăn trong dạy học các tác phẩm đương đại này Dạy học VHVN sau 1975 ngồiviệc áp dụng những nghiên cứu của tâm lý học, giáo dục học, của phương phápdạy học mơn văn nĩi chung, cần cĩ những nguyên tắc đặc trưng, khác biệt, thậmchí là hồn tồn so với việc dạy học các tác phẩm văn học của thời kỳ trước Sựkhác biệt vừa tạo nên hứng thú, đồng thời cũng ít nhiều gây khĩ khăn cho giáoviên và học sinh trong quá trình tiếp nhận và truyền thụ tác phẩm Chính sự phứctạp và khĩ khăn đĩ đã kích thích các nhà văn, nhà lý luận phê bình tập trung tầmnhìn, đào sâu, khai thác, giải quyết những vấn đề đặt ra trong nghiên cứu và giảngdạy Đây vừa là mơi trường thuận lợi để các đề tài khoa học được hình thành,đồng thời là nhiệm vụ đặt ra cho chính những người liên quan và quan tâm đếnquá trình dạy học văn trong nhà trường phổ thơng
Đề tài của chúng tơi thuộc khoa học phương pháp dạy học, hướng tới việcgiải quyết một số vấn đề đặt ra trong quá trình dạy học VHVN sau 1975 theochương trình và sách giáo khoa Ngữ văn Lựa chọn đề tài này, chúng tơi mongmuốn giúp đỡ phần nào cho quá trình dạy và học, truyền thụ và tiếp nhận các tácphẩm văn học đương đại của các giáo viên và học sinh phổ thơng, để hoạt độngdạy học văn thực sự khoa học và mang lại kết quả cao
Đặc biệt, các tác phẩm VHVN sau 1975 được tập hợp trong sách giáo khoaNgữ văn lớp 12, do đĩ là một trong những nội dung quan trọng của chương trình
Trang 3thi tốt nghiệp THPT và Đại học, Cao đẳng Chúng tơi mong mỏi rằng đề tài này sẽ
là một cơ sở lý luận để các em chuẩn bị cho quá trình tìm hiểu những vấn đề cụthể của từng tác phẩm trong chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn mà các emđã được học, phục vụ tốt hơn cho bài thi của mình
2 Lịch sử vấn đề
Tác phẩm văn học Việt Nam sau 1975 bắt đầu được đưa vào dạy họctrong trường phổ thông từ năm 2000, theo sự đổi mới nội dung của chương trìnhvà sách giáo khoa môn Ngữ văn Tính đến thời điểm này đã tròn 10 năm kể từkhi biên soạn lại sách giáo khoa Vấn đề dạy học văn học Việt Nam sau 1975không còn là một vấn đề mới mẻ, bởi từ khi các tác phẩm được đưa vào dạy họcđến nay, nhiều công trình nghiên cứu đã ra đời, nhiều bài viết đã được đăng tảinhằm mục đích đóng góp vào việc dạy học văn có hiệu quả
Trước hết phải kể đến những bài viết của những người tham gia trực tiếp
vào quá trình biên soạn sách giáo khoa như bài Để hiểu sâu thêm về sách giáo
khoa , Để hiểu thêm chương trình và SGK Ngữ văn 12 của Giáo sư Phan Trọng
Luận Những bài viết này có nói đến sự thay đổi của nội dung chương trình sáchgiáo khoa là mở rộng mốc lịch sử văn học đến năm 1975, đưa vào các tác phẩmvăn học đương đại Ông nói đến những hạn chế của các bộ sách giáo khoa vănhọc trước đây và gần nhất là sách Văn học hệ CCGD Đó là hạn chế ở tính thờisự, tính cập nhật kiến thức Và việc đưa các tác phẩm văn học Việt Nam sau
1975 vào dạy học trong chương trình và SGK Ngữ văn THPT là để khắc phụchạn chế đó
Tiến sĩ Đỗ Ngọc Thống cũng là một trong những người đảm nhiệm biên
soạn sách giáo khoa Ngữ văn mới Năm 2004, trên các trang báo Văn nghệ nổi
lên cuộc tranh luận hết sức sôi nổi và giàu kịch tính của một số những ngườiquan tâm đến việc thay đổi nội dung chương trình sách giáo khoa, trong đó có sự
tham gia của tiến sĩ Đỗ Ngọc Thống Mở đầu là bài viết Các nhà văn xuất hiện
sau 1975 và sự trống vắng trong sách giáo khoa Bài viết tập hợp những ý kiến
của các nhà văn nhà giáo về việc cần thiết phải đưa các tác phẩm văn học ViệtNam sau 1975 vào dạy học trong chương trình Nội dung chủ yếu của bài viếtnày là nói đến những hạn chế của sách giáo khoa Văn học trước kia và những
nguyên nhân dẫn đến hạn chế đó Nhà văn Nguyễn Quang Lập nói : "Khi chúng
ta bỏ đi thành tựu của các nhà văn này là chúng ta bỏ đi 1/3 nền văn học cách mạng" [1] Nhà thơ Nguyễn Linh Khiếu thì cho rằng "Việc thơ thời kỳ đổi mới không được đưa vào giảng dạy trong nhà trường chứng tỏ họ chưa tiếp nhận được, chưa cảm thụ được những vẻ đẹp về hình thức và tư tưởng của thơ Việt Nam
Trang 4đương đại" [1] Rất nhiều những luận giải khác nhau về cùng một vấn đề đã
được đưa ra, nhưng tất cả đều xoay quanh một trục là sự cần thiết và đúng đắncủa việc đưa các tác phẩm văn học Việt Nam sau 1975 vào dạy học trongchương trình phổ thông Có điều nguyên nhân dẫn đến hạn chế của chương trìnhdạy học trước kia, theo các nhà văn, nhà giáo được nhắc đến trong bài viết thì
lại tập trung ở các nhà biên soạn sách Ông Đỗ Ngọc Thống qua Thư ngỏ gửi
các nhà văn có tác phẩm sau 1975 đã lên tiếng "cải chính" sự thật về việc biên
soạn sách giáo khoa, phản bác lại các ý kiến mà ông cho là "khá võ đoán" và
"đơn giản", đồng thời nói thêm về một số nguyên tắc khi lựa chọn tác giả, tácphẩm đưa vào chương trình, những thuận lợi và khó khăn của việc dạy học cáctác phẩm văn học đương đại Cuối bài viết, Đỗ Ngọc Thống có cho rằng việckhông đưa tác giả Nguyễn Huy Thiệp vào danh mục các tác giả được tuyển lựatác phẩm đưa vào sách giáo khoa là một việc "đáng xấu hổ" Tiếp theo đó làcuộc tranh luận hết sức gay gắt của tiến sĩ và ông Chu Giang xung quanh "hiệntượng văn học" Nguyễn Huy Thiệp Thêm vào đó còn có sự góp mặt của nhiều
ý kiến khác như : Vương Phương, Nguyễn Chí Hoan làm cho cuộc đối thoạicàng thêm gay gắt
Có thể nói xung quanh việc đưa các tác giả tác phẩm văn học Việt Namsau 1975 vào chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn có rất nhiều cuộc "hộiđàm", cả to lẫn nhỏ Họ đặt ra rất nhiều vấn đề với muôn hình vạn trạng nhưngviệc không đồng ý với sự tuyển lựa của các nhà biên soạn sách là một trongnhững cuộc tranh luận đáng kể Và có thể nói đây là sự kêu ca phàn nàn củađộc giả đối với một đối tượng chung là sách giáo khoa và phạm vi rộng hơn nữa
là nền giáo dục nước nhà Sách giáo khoa Ngữ văn 12, trời ơi ! của Bùi Công
Thuấn là một trong những bài viết có tính phê phán rất cao và tương đối thẳngthắn Song cái nhìn của tác giả này đôi khi còn lấn vào phạm vi "xã hội học
dung tục" như việc cho rằng Chiếc thuyền ngoài xa và Mùa lá rụng trong vườn
để lại những ấn tượng không tốt cho học sinh về đời sống thực tại, bên cạnh đó
còn viện dẫn ra những câu trong văn bản : "Cách mạng gì toàn những chuyện lặt
vặt", “ xã hội nào cũng phải cĩ một giai tầng thượng lưu của nĩ để làm chuẩn mực cho mọi giá trị, theo anh, ở xã hội ta là tầng lớp nào" để xem xét, quy chụp nộidung của toàn bộ tác phẩm Quả thật những ý kiến thẳng thắn thì luôn luônđáng được ghi nhận nhưng đôi khi phải có cái nhìn khoa học và xây dựng tínhhệ thống nhãn giới của mình
Năm 2005, Khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội tổ chức cuộc
hội thảo khoa học có quy mô toàn quốc với tên gọi : Văn học Việt Nam sau 1975
- Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy Hội thảo đã nhận được sự hưởng ứng
Trang 5nhiệt tình của các nhà văn, nhà giáo, các cán bộ nghiên cứu văn học Họ đãđưa ra những cách tiếp cận, những góc nhìn đa dạng về giai đoạn văn học này.Cuối cùng, những bài viết đã được tập hợp khá đầy đủ và cơ bản trong cuốn
sách của Bộ Giáo dục và đào tạo: Văn học Việt Nam sau 1975 - Những vấn đề
nghiên cứu và giảng dạy Cuốn sách thực sự là một nguồn lý luận cần thiết trang
bị cho độc giả khi tìm hiểu và tiếp nhận các tác phẩm văn học Việt Nam sau
1975 Tuy nhiên, dối với việc day học các tác phẩm văn học Việt Nam đượctuyển hợp trong sách giáo khoa thì những kiến thức lý thuyết này lại mang tínhchất chung chung và hợp với việc nghiên cứu khoa học hơn là việc giảng dạy
Trên các trang báo của Bộ giáo dục như Văn học và tuổi trẻ, Tạp chí Giáo
dục không ngừng đưa ra những bài viết nghiên cứu về việc giảng dạy và học tập
văn học Việt Nam sau 1975 trong trường phổ thông Đồng thời việc dạy học cáctác phẩm cụ thể của giai đoạn văn học này cũng được đề cập nhiều trong cácsách dành cho giáo viên, các sách thiết kế bài giảng và các sách tham khảodành cho học sinh Song vẫn chưa có một công trình nào thực sự có hệ thống vềviệc dạy học các tác phẩm văn học Việt Nam sau 1975 trong trường THPT, chưađưa ra được một cách nhìn khoa học về phương pháp dạy học các tác phẩm vănhọc giai đoạn này
Đề tài của chúng tôi được triển khai với hy vọng có một cái nhìn kháchquan về việc đưa các tác phẩm văn học Việt Nam vào chương trình và sách giáokhoa Ngữ văn THPT, đồng thời dựa trên những thuận lợi và khó khăn của việcdạy học các tác phẩm này để đưa ra những nguyên tắc lớn, có ý nghĩa thiết thựctrong quá trình truyền thụ và tiếp nhận của giáo viên và học sinh để đảm bảoviệc dạy học đạt hiệu quả cao
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là việc dạy học các tác phẩm VHVNsau 1975 theo chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn THPT
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài của chúng tôi trước hết có nhiệm vụ trình bày các vấn đề đangđược đặt ra quanh việc đưa các tác phẩm VHVN sau 1975 vào chương trình vàsách giáo khoa THPT Tiếp theo, chúng tơi đề xuất những nguyên tắc dạy học cơbản đối với đối tượng này mà giáo viên và học sinh cần áp dụng để giờ dạy họcthực sự có hiệu quả Và để minh chứng, cụ thể hoá phương pháp đưa ra, chúngtôi sẽ tiến hành soạn giáo án thể nghiệm trên bốn thể loại cơ bản : thơ, truyệnngắn, kịch và kí
Trang 65 Phương pháp nghiên cứu
Khi thực hiện đề tài này, chúng tơi chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên
cứu sau: phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, thực nghiệm, thống kê
6 Cấu trúc của khoá luận
Ngồi các phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của
khố luận được triển khai trong 3 chương:
Chương 1 Việc đưa các tác phẩm của văn học Việt Nam sau 1975 vào chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn THPT
Chương 2 Những nguyên tắc lớn của việc dạy học tác phẩm văn học Việt
Nam sau 1975 theo chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn THPT
Chương 3 Một số giáo án thể nghiệm
Chương 1 VIỆC ĐƯA CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC VIỆT NAM SAU 1975 VÀO CHƯƠNG TRÌNH VÀ SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN THPT
Chúng tơi đã xác định rõ nhiệm vụ nghiên cứu quan trọng nhất của đề tàinày là đưa ra phương án tối ưu để dạy học tốt VHVN sau 1975 theo chương trình
và sách giáo khoa Ngữ văn Tuy nhiên, vấn đề tiên quyết đối với việc tìm raphương pháp phù hợp là phải nắm được một cách đầy đủ nội dung của đối tượng
Cụ thể hơn ở đề tài này, trước hết chúng tơi muốn khái lược, bao quát một số vấn
đề xung quanh việc đưa các tác phẩm VHVN sau 1975 vào chương trình và sáchgiáo khoa Ngữ văn THPT
Trang 71.1 Sự cần thiết của việc đưa tác phẩm VHVN sau 1975 vào chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn THPT
Giáo sư Phan Trọng Luận, một trong những người đĩng vai trong quantrọng trong quá trình biên soạn sách giáo khoa Ngữ văn mới đưa ra kết luận:
“Một hạn chế lớn nhất khá rõ của các chương trình Ngữ văn trước đây là khoảng cách giữa chương trình với đời sống xã hội và văn học quá lớn Chúng ta đã dừng lại quá lâu ở mốc 1975 trong khi đời sống xã hội đã có nhiều biến chuyển và biến đổi từ sau 1975, nhất là từ sau 1986” [33] Chúng tơi cũng khẳng định lại rằng
việc sách giáo khoa Văn học hệ cải cách giáo dục (CCGD) trước đây khơng đưacác tác phẩm VHVN sau 1975 vào giảng dạy và học tập là một điều thiếu sĩt Đương nhiên cũng cần phải thấy xung quanh việc biên soạn sách giáo khoacũng còn nhiều điều đáng để bàn luận Chúng ta thống nhất với nhau rằng
“chuyện bếp núc” đằng sau cơng việc làm sách giáo khoa đúng là vất vả, là “nỗinhọc nhằn” (Phan Trọng Luận) Nhất là việc phải chịu tác động rất lớn của “búarìu dư luận” Nhưng khơng thể vì thế mà VHVN sau 1975 khơng được đưa vàodạy học trong chương trình phổ thơng Hơn nữa, chúng tơi khơng tán đồng với ý
kiến của tiến sĩ Đỗ Ngọc Thống khi ơng nĩi: “Sự thật là chương trình và sách
giáo khoa văn hệ CCGD được biên soạn từ năm 1985, còn sách giáo khoa văn THPT bắt đầu cải cách năm 1989 Như vậy lấy mốc 1975 thì lúc biên soạn chương trình và sách giáo khoa văn hệ CCGD chỉ mới cĩ khoảng cách 10 năm và cấp THPT cũng chỉ là 14 năm” [41] Quả đúng thời gian là một điều thử thách đối với
bất cứ một cơng việc nào Nhưng khơng cĩ nghĩa vì thế mà nĩ trở thành tiêu chícho việc lựa chọn tác giả tác phẩm của một thời kỳ văn học để đưa vào chươngtrình Khơng thể nĩi tác phẩm mới ra đời thì khơng thể đưa vào dạy học, hiểnnhiên là phải cĩ thời gian nhất định thì giá trị của tác phẩm mới được khẳng định
một cách chắc chắn Xoay ngược vấn đề, Một người Hà Nội của Nguyễn Khải
viết năm 1991, mà sách giáo khoa Văn học hệ CCGD lại đưa vào dạy học trongchương trình Phải chăng đây là vấn đề cần xem xét lại khi đơi lúc chúng ta khơng
“nhìn thẳng vào sự thật” để nhận khuyết điểm về mình? Dẫu rằng sự so sánh nàocũng mang tính tương đối và hơn thế, chúng tơi khơng cĩ ý định lấy một tác phẩmnào đĩ làm dấu mốc để cân đo đong đếm, để thấy cái nào đúng, cái nào sai Nhưngkhơng thể phủ nhận rằng thời gian chỉ là một căn cứ mang tính “ơi hời”, một tiêuchí khơng xác đáng để khẳng định rằng chưa thể đặt ra vấn đề đưa tác phẩm gầnvới thời điểm biên soạn sách giáo khoa vào dạy học trong chương trình
Như vậy, việc sách giáo khoa văn học trước đây khơng đưa các tác phẩm vănhọc sau 1975 vào giảng dạy trong chương trình phổ thơng là một khiếm khuyết
Trang 8của giáo dục (dù đơi lúc phải tính đến khách quan) mà các nhà văn, nhà giáo đãcùng nhau nhìn nhận lại Sự thực này phần nào đã được làm rõ trong bài viết
Các nhà văn xuất hiện sau 1975 và sự trống vắng trong sách giáo khoa Có thể
thâu tóm vấn đề rằng việc đưa VHVN sau 1975 vào chương trình và sách giáokhoa phổ thông là một việc làm hết sức đúng đắn và cần thiết, vừa khoa học lạivừa thiết thực Đây cũng chính là sự gặp gỡ của rất nhiều những ý kiến khácnhau quy tụ xung quanh "bàn tròn" về việc biên soạn lại sách giáo khoa phục vụcho mục tiêu đổi mới giáo dục
Hoàn toàn không khó khăn để khẳng định một điều vốn đã diễn ra trongthực tế : VHVN từ sau 1975 đến nay phát tiển sôi nổi, mạnh mẽ, đa dạng Sỡ dĩcó sự phát triển vượt bậc như vậy là bởi lẽ trong điều kiện xã hội mới, văn họccó môi trường thuận lợi để làm mới mình, thậm chí là lột xác cả về thi pháp lẫn
tư tưỏng trên tất cả mọi phương diện và thể loại Và mặc dù đôi lúc văn họcphát triển theo logic quanh co nhưng không thể nào phủ định được không khímới mẻ, dân chủ, sắc diện phong phú và đa dạng của văn học dân tộc trong thờikỳ này Dĩ nhiên khi nói đến mặt tốt, những đóng góp tích cực mà VHVN sau
1975 mang lại thì không thể không kèm theo mặt chưa được của nó Nhưng việcchắt lọc những giá trị cao đẹp thuộc về văn học thời kỳ này quả thực sẽ đem lạicho học sinh những nhận thức và tình cảm đặc biệt Tại sao lại có thể khẳngđịnh được điều này? Bởi vì khi đưa tác phẩm đương đại vào học trong chươngtrình, các em học sinh sẽ có điều kiện hiểu rõ môi trường sống trong thời điểmhiện tại, đồng thời nhận thức và chuẩn bị một hành trang lý luận để bước vào
thực tiễn cuộc sống "Việc đưa các các tác phẩm của những nhà văn xuất hiện
sau 1975 vào sách giáo khoa là việc đương nhiên chẳng cần phải bàn cãi làm gì Bởi gần 30 năm là một khoảng thời gian không ngắn của lịch sử Hơn ai hết, các nhà văn thế hệ này chính là hình ảnh sống động trong đời sống tinh thần của thời đại học Tác phẩm của họ cho bạn đọc thấy được những dày vò, thách thức, những khát vọng của con người trong thời đại học đang sống" [1].
“Văn học là nhân học” Hơn tất thảy, qua văn học, học sinh sẽ soi chiếuđược những giá trị cuộc sống, thấy được những thước đo, những thang bậc tronggiá trị của một con nguời, thấy cả những ngõ ngách sâu kín nhất trong tâm hồn,thấy những con đường quanh co, gập ghềnh, thậm chí lắt léo của cuộc sống màđôi khi chúng ta không ngờ tới Những giá trị ấy, những tư tưởng ấy không đâuthể hiện đầy đủ và trọn vẹn bằng trong văn học Chính vì vậy, sách giáo khoabiên soạn theo hướng mới sẽ góp phần khắc phục tình hình thực tiễn của dạyhọc văn hiện nay, đặc biệt là tình trạng nhiều học sinh, thậm chí cả sinh viênkhoa văn không hề có một khái niệm cụ thể về giai đoạn văn học này, không có
Trang 9kiến thức cơ bản, chắc chắn về các tác giả, tác phẩm của giai đoạn văn học thờikỳ mới này Kiến thức trong sách giáo khoa vốn dĩ là những kiến thức phổthông, sơ đẳng nhất Sách giáo khoa là phương tiện dạy học chủ yếu trong nhàtrường Từ nhà trường, con nguời bước ra xã hội với nguồn kiến thức cơ bảnđược trang bị, bước chân sẽ vững chắc hơn, rắn rỏi và tự tin hơn Đó chính là cơsở, là điểm tựa để các em đi vào cuộc sống, nhận thức đầy đủ hơn về cuộc sốngxung quanh mình Gần gũi hơn, khi tiếp xúc với những tác phẩm VHVN sau
1975 trong chương trình sách giáo khoa, tiếp nhận và cảm thụ những giá trị màcác tác phẩm mang lại, học sinh sẽ có những kỹ năng cũng như niềm hứng khởiđể để dấn bước sâu hơn vào đời sống văn học đang sôi trào, các em sẽ nắmđược chìa khoá để mở được những cánh cửa sâu hơn, đi vào những chân trờirộng lớn của văn chương đương đại Học tập trong nhà trường chủ yếu là để rènluyện kỹ năng Chính vì vậy, việc đưa vào những kiến thức mới mẻ kết hợp vớiđặc điểm của giáo dục trong thời kỳ mới sẽ giúp cho kỹ năng của học sinh đượcmở rộng, trau dồi, rèn giũa Kiến thức và kỹ năng được kết hợp nhuần nhị sẽgiúp học sinh tiến xa hơn trên con đường chiếm lĩnh tri thức Đây không chỉ là ýnghĩa cần thiết của việc cập nhật kiến thức mới mẻ ở môn Ngữ văn nói riêngmà còn là ý nghĩa chung mà tất cả các môn học trong nhà trưòng mang lại.Đồng thời với sự kết hợp trên, tính thời sự cũng là một tiêu chí tối cần thiết đốivới kiến thức của con người, kể cả nguồn kiến thức do sách giáo khoa cung cấp,và càng cần thiết hơn khi con người hiện đại bị đặt trong guồng quay của xã hội.Điều này cũng phù hợp với nguyên tắc đổi mới chương trình giáo dục, sách giáokhoa phổ thông Việt Nam cũng như xu thế chung của thế giới Mục tiêu củaviệc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông gần đây nhất là "Xây dựngchương trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa phổ thông mới nhằm nângcao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cần phát triển nguồnnhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phù hợp với thực tiễnvà truyền thống Việt Nam, tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nước pháttriển trên khu vực và trên thế giới"
Cũng cần phải nói đến sự tác động trực tiếp của việc đưa VHVN sau 1975vào tình cảm, cảm xúc của học sinh, và kể cả giáo viên Giáo viên và học sinhkhi tiếp nhận và truyền thụ những tác phẩm văn học đưong đại sẽ có hứng thú.Từ đó, sách giáo khoa sẽ thu hút, hấp dẫn người dạy lẫn ngưòi học, tạo nên mộtkhông khí mới mẻ, dân chủ cho dạy học văn Nhìn vào thực trạng của việc dạyhọc văn ở nước ta, chúng ta thấy rõ việc học sinh chán học văn, ngay cả nữngbiểu hiện tiêu cực từ nguyên nhân chán nản, không tâm huyết với nghề củagiáo viên văn, dĩ nhiên là cũng phải nói tới nguyên nhân từ sự thay đổi nhu cầu,
Trang 10thị hiếu của xã hội Xung quanh những đổi thay, những bất cập của tình hìnhthực tiễn, quả thật còn nhiều điều cần bàn đến, nhưng không thể phủ nhận mộtphần quan trọng của căn nguyên là từ sự lạc hậu của nội dung và phương pháp
dạy học văn Tất nhiên không thể nói như nhà văn Y Ban: "Sự vắng bóng của
các tác giả sau 1975 là nguyên nhân cơ bản dấn đến học sinh chán học văn học"
[1] Nhưng sự thực là việc đưa các tác phẩm VHVN sau 1975 vào dạy học trongchương trình và sách giáo khoa Ngữ văn quả có đem lại cho học sinh và giáoviên, nhất là giáo viên giỏi niềm vui và một không khí dạy học văn chương sôinổi hơn Chính vì vậy mà sự tác động của văn học đến tình cảm và cảm xúc củahọc sinh sẽ sâu sắc và mạnh mẽ hơn
Chính ông Đỗ Ngọc Thống cũng nói: "Về một phương diện nào đó văn học
của 25 năm cuối thế kỷ này đã ghi được những mốc về tiến bộ nghệ thuật, bù lấp được những thiếu hụt mà văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 do những lý do lịch sử đã mắc phải hoặc chưa làm được".
Qua những điều đã nói ở trên, chúng ta thấy, xét về tất cả những mặt tácđộng của văn học, những giá trị mà văn học mang lại về nhận thức, kỹ năng vàtình cảm, thì việc đưa VHVN sau 1975 vào chương trình và sách giáo khoa Ngữ
văn THPT là việc làm hết sức đúng đắn và cần thiết "Trong thực tế thì không ai
cấm được học sinh đọc các tác phẩm văn học sau 1975, nhất là trong điều kiện phát hành và in ấn như hiện nay Nhưng chính vì thế mà càng cần giới thiệu giai đoạn văn học này trong nhà trường để các em học và tiếp nhận một cách có định hướng, có nghiên cứu, đảm bảo tính khách quan và khoa học trong đánh giá"
của tình hình trên như thế nào? Trước hết, tính theo thời gian sáng tác, Mảnh
trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu là tác phẩm được viết gần nhất so với
thời điểm sách giáo khoa được biên soạn lại, nhưng cũng là tác phẩm văn họcthời kỳ chống Mỹ, tức là văn học trước năm 1975 Mở rộng hơn một chút, chúngtôi thấy, chương trình và SGK Văn học THCS trước đây có đưa vào ba tác phẩm
văn học sau 1975 là Viếng lăng Bác của Viễn Phương, Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải và Bức tranh của Nguyễn Minh Châu Tuy nhiên, việc tuyển chọn đĩ
chưa phản ánh được ý thức đánh giá về thời kỳ văn học này
Trang 11SGK Ngữ văn THPT được biên soạn lại nhằm vào hướng khắc phụcnhững hạn chế của SGK văn học trước đây, đưa các tác phẩm VHVN sau 1975vào dạy học một cách có hệ thống Chưa kể đến các tác phẩm có ở sách TiếngViệt tiểu học thì ở cấp THCS các em đã được làm quen với một số tác phẩm
văn học đương đại Cụ thể như : Bức tranh của em gái tôi (Tạ Duy Anh), Sài
Gòn tôi yêu (Minh Hương), Ánh trăng (Nguyễn Duy), Viếng lăng Bác (Viễn
Phương), Mùa xuân nho nhỏ (Thanh Hải), Chiều sông Thương (Hữu Thỉnh), Nói
với con (Y Phương), Bến quê (Nguyễn Minh Châu), Tuổi thơ im lặng (Duy
Khán), Tôi và chúng ta (Lưu Quang Vũ).
Ở THPT SGK Ngữ văn 12 đảm nhiệm cung cấp kiến thức văn học thời kìmới cho học sinh và việc đưa tác phẩm vào chương trình cũng tuân theo sự sắpxếp theo đặc trưng thể loại Xin nêu dẫn chứng cụ thể về các tác giả tác phẩm
VHVN sau 1975 có mặt ở chương trình và SGK Ngữ văn mới THPT : Một người
Hà Nội (Nguyễn Khải), Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu), Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng) , Đò Lèn (Nguyễn Duy), Đàn ghi ta của Lorca
(Thanh Thảo), Ai đã đặt tên cho dòng sông (Hoàng Phủ Ngọc Tường), Hồn
Trương Ba, da hàng thịt (Lưu Quang Vũ)
Như trên đã kiệt kê, trong chương trình và SGK Ngữ văn THPT, số lượngtác giả và tác phẩm VHVN sau 1975 so với số văn bản văn học được đưa vàodạy học chiếm tỉ lệ 7.4 % (8/108 văn bản) đối với sách ban cơ bản và 5.5 %(8/144 văn bản) đối với sách ban xã hội Các tác phẩm sau 1975 đưa vào dạyhọc thuộc 5 thể loại : truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ, kịch, kí Có thể thấy, sốlượng tác phẩm được đưa vào trong chương trình như vậy là đã tương đối đảmbảo cho học sinh ban cơ bản nhưng còn hơi ít so với kiến thức của học sinh theoban xã hội, nhất là khi đặt trong điều kiện xã hội hiện nay học sinh phổ thôngcần được tích luỹ trong kho tàng kiến thức cơ bản của mình một "vốn giắt lưng"để hiểu sâu hơn về đời sống thời đại mình, để thích nghi với những thay đổithậm chí là biến chứng của xã hội Nó tương đương với tính cập nhật, tính thờisự, tính cấp thiết của tri thức khoa học
Vốn dĩ văn học và đời sống luôn gắn bó mật thiết, qua lại với nhau
Sêđrin cho rằng: "Văn học nằm ngoài định luật củc sự băng hoại, chỉ mình nó
không thừa nhận cái chết" Tuy nhiên văn học chỉ trường sinh khi gắn liền với
cuộc sống Và khi đặt trong thời đại mới với sự phát triển bùng nổ của khoa họcthì văn học càng phải bám sát vào cuộc sống để giữ lại những giá trị cao đẹp vàbản thể của con người, đương nhiên là phải phân biệt với việc chạy theo "mốt",để thích ứng với thị trường Bởi vì hiện nay, nhiều khi văn học tự nó hiểu lệchvai trò đích thực của mình, đi lệch khỏi "đường ray" tương hỗ, hữu cơ với hiện
Trang 12thực đời sống, thậm chí chạy theo một cách thái quá, chuyển xoay đột biến theodiễn tiến của thị trường Chúng tôi không nói đến một phần không ít những tácphẩm gây cản trở cho môi sinh của văn học mà chỉ nhắc đến những giá trị đíchthực và hiện tồn của văn học, những tác phẩm tự nó đã có thiên chức "thanhlọc" tâm hồn con người, chắt chiu những ý nghĩa tinh thần bền bỉ của cuộc sống.Chính những tác phẩm trong nền văn học mới, thời đại mới càng cần được coitrọng để góp phần làm giàu có tâm hồn của các em, bổ trợ nguồn kiến thức làmvốn quý cho các em trên đường đi tới tương lai, nhất là có thể giúp các em nắmbắt được những khía cạnh, những góc khuất của cuộc sống đa chiều Hiểu đượcđiều này, các nhà biên soạn sách cần phải tập trung "sàng lọc" và góp phần vàocông việc gìn giữ những tác phẩm hay làm cầu nối để những khía cạnh tinh thầncao quý của văn chương thời kỳ mới đến được với các em học sinh SGK làchiếc cầu giao thông huyết mạch dẫn tri thức vào cổng tiếp nhận của các em, làphương tiện chuyên chở tri thức phổ thông hữu hiệu nhất, đương nhiên phải kểđến vai trò "hoa tiêu" của từng giáo viên với phương pháp truyền thụ riêng củamình.
Tất nhiên, trong một giới hạn bó hẹp của SGK, các nhà biên soạn sáchcũng không thể nào tập trung tất cả những tác phẩm được xem là thành tựu cơbản của VHVN thời kỳ mới Theo Tiến sỹ Đỗ Ngọc Thống, ngoài những tác giả,tác phẩm đã đưa vào SGK, một số tác giả, tác phẩm khác viết sau 1975 sẽ được
giới thiệu thêm trong bộ sách Văn bản chọn lọc kèm theo để học sinh tự học,
giáo viên có tư liệu tham khảo và ra đề kiển tra đánh giá theo tinh thần mới Tuy nhiên, bản thân VHVN sau 1975 vốn dĩ tồn tại và phát triển trongmột hoàn cảnh khác biệt so với những giai đoạn văn học khác trong quá khứ, vìvậy mà tự trong mình nó hàm chứa những quy luật vận động đặc thù Điều nàytạo nên một nền văn học phong phú, đa hương vị, đa sắc màu một bài khái quátkhông thể nào thâu tóm được tất cả những góc cạnh cấu thành nên nền văn họchơn 30 tuổi Chính vì vậy, SGK phải biên soạn một số lượng tác phẩm lớn hơnnữa Chỉ có điều, với thời lượng học trên lớp quá ít, sự quá tải là hệ quả đươngnhiên đối với học sinh và thậm chí là "mệt nhọc" đối với cả những giáo viên cótâm huyết với nghề Có nên đưa ra một giải pháp thoả đáng? Theo chúng tôi,nên giảm tải bớt những tác phẩm của thời kỳ trước hoặc của văn học nước ngoàiđể lấy "đất" cho các tác phẩm VHVN đương đại Song khi đưa vào dạy học cáctác phẩm của thời kỳ mới này, cần để học sinh khám phá những nét cốt yếunhất của một thời kỳ văn học Có thể chỉ học một số đoạn trích dẫn ngắn đểthấy phong cách của nhà văn Theo điều tra của chúng tôi ở trường THPT SầmSơn, tỉnh Thanh Hoá, khi hỏi các em những tác phẩm nào thuộc VHVN sau
Trang 131975, thì rất nhiều em đã "hùng hổ" cho rằng Mùa lạc (Nguyễn Khải), Rừng xà
nu (Nguyễn Trung Thành) là tác phẩm thuộc thời kỳ đổi mới Điều này cho
thấy một thực trạng là sự thờ ơ, bỏ bê của các em học sinh đối với tác phẩm vănhọc, và thực trạng dạy học trong nhà trường phổ thông cũng không đưa đến chocác em một nguồn kiến thức cơ bản nhất về từng giai đoạn văn học SGK Ngữvăn hiện nay được biên soạn theo hướng tích hợp và sắp xếp theo đặc trưng thểloại Vì vậy mà sự hình dung của các em theo dòng lịch sử của văn học có phầnkhó khăn hơn rất nhiều Một giải pháp cần được bàn đến và thực thi là ngoàiviệc chú ý đến dạy học theo đặc trưng thể loại để nắm được những đặc điểm thipháp, loại hình cốt yếu, thì giáo viên phải luôn luôn chú ý đến đặc trưng thẩmmỹ của từng giai đoan, từng thời kỳ văn học Giải pháp này kết hợp với việcdạy học những kiến thức trung tâm của từng tác phẩm mà chúng tôi vừa nêutrên sẽ giúp cho học sinh học tập có hiệu quả hơn
Một thực tế đáng lo ngại là học sinh học ban Tự nhiên rất chán học vănvà kiến thức đưa vào cũng quá tải, khiến các em có cảm giác bị buộc phải "nhồinhét" Việc đưa thêm tác phẩm VHVN sau 1975, ngoài việc áp dụng đối vớiSGK Ban Xã hội, sẽ có thể áp dụng đối với các em học SGK Ban Cơ bản nếunhư chúng ta áp dụng một số giải pháp nói trên Tất nhiên cần phải kể đến yêucầu đặc biệt quan trọng là người giáo viên luôn phải có ý thức tự làm mới mình,trau dồi và tích luỹ kinh nghiệm để đổi mới phương pháp truyền thụ kiến thứccho học sinh, nhất là việc tạo cho các em niềm yêu thích đối với môn Ngữ văn Về việc SGK sắp xếp tác phẩm VHVN sau 1975 theo thể loại và dạy họccác tác phẩm theo đặc trưng thể loại, chúng tôi đã nhắc qua trên đây và khôngcó ý kiến gì thêm Bởi đây là đặc điểm chung của việc biên soạn toàn bộchương trình và sách giáo khoa cũng như đặc điểm của phương pháp dạy họcvăn mới Nhưng cần phải nói thêm rằng những tác phẩm được liệt kê trong danhsách trên đây chỉ là những "mẫu đại diện" để dạy học văn theo cụm thể loại chứkhông phải giai đoạn văn học này chỉ có những tác phẩm ấy Bởi vì VHVNđương đại, do những điều kiện riêng, phát triển rất phong phú về số lượng lẫnhướng triển khai Chính vì sự đa dạng, giàu có của văn học thời kỳ này mà việclựa chọn các tác phẩm tiêu biểu để đưa vào dạy học trong chương trình phổthông thực sự là một vấn đề khó khăn
Kéo theo đó là sự xuất hiện rất nhiều những ý kiến khác nhau của cácnhà văn, nhà phê bình lý luận văn học, nhà giáo và tất cả những người quan tâmđến đổi mới SGK cũng như đổi mới giáo dục hiện nay Chúng tôi đồng ý với ýkiến các tác phẩm VHVN sau 1975 còn mang tính thể nghiệm, nhưng lại không
tán thành với việc cho rằng vì tính chất thể nghiệm mà "Văn học nhà trường cần
Trang 14phải cập nhật được với những thành tựu tiêu biểu của VHVN sau 1975 Một trong những giải pháp là lựa chọn các tác phẩm có những khám phá mới viết sau 1975 của những tác giả vốn thành danh ở giai đoạn trước” [41] Tính chất thể nghiệm
là một đặc điểm vốn có của VHVN sau 1975 nhưng nó phủ lên, nhuộm trùm cảmột thời kỳ văn học chứ không phải riêng bất cứ tác phẩm nào Thậm chí hơnhết thảy, sách giáo khoa cần cho học sinh thấy tính chất thể nghiệm, chưa ổnđịnhh của nền văn học nước ta trong giai đoạn này và chính điều đó nói lên mộtphần không nhỏ thực trạng của đất nước Hơn nữa, không thể nói các nhà văntrẻ (hẹp hơn là trẻ tuổi) viết ra những tác phẩm không ổn định còn với nhữngtác giả đã thành danh ở giai đoạn trước thì tác phẩm của họ viết ra sẽ đạt đếnđộ ổn định Đành rằng trải nghiệm thực tế của các nhà văn trẻ không thể sosánh với các nhà văn đã đi qua những năm tháng của thời kỳ chiến tranh Vàquả thực cần phải có một "khoảng lùi lịch sử" cần thiết để tác phẩm khẳng địnhgiá trị của mình Nhà văn Nguyên Ngọc cũng nhận xét thực xác đáng về tìnhhình vừa qua của văn học dân tộc, đó là có chỗ không hoàn toàn có thể coi làbình thường: Những tác phẩm có tìm tòi mới, đạt được sự ổn định tương đối hơncả đều là của những tác giả thuộc "đội cận vệ già" của văn học Và bản thân
VHVN đương đại cũng phải chấp nhận sự thật: "Một nhược điểm có thể là khá cơ
bản, lâu dài của văn học ta đang bộc lộ ra: tiềm lực văn hoá - hiểu theo nghĩa rộng và sâu nhất của khái niệm này- của nhà văn rất cạn Điểm xuất phát của nhà văn trẻ hiện nay rất thấp, và đáng lo hơn cả là ngày càng thấp đi qua từng thế hệ" [31, 181] Nhưng không có nghĩa vì thế mà kết luận rằng các nhà văn
thành danh ở giai đoạn trước có những tác phẩm hay, độc đáo, đáng được ghinhận và hơn hết là được ghi nhận một cách chính thức trong tầm tri thức của họcsinh THPT còn các "nhà văn trẻ" thì không Vì văn học là một hiêïn tượng mangtính lịch sử, không mang tính bất biến Đối với VHVN, hoàn cảnh xã hội cónhững nét đặc thù, nhất là hoàn cảnh chiến tranh mang đến cho văn học dân tộcsự phát triển không bình thường Tình hình đất nước không ổn định nên tính chất
đa biến của văn học lại càng rõ nét Lấy ví dụ tiêu biểu về quan niệm nghệthuật, quan niệm về con người của các nhà văn, cũng thay đổi theo từng thời kỳ,từng giai đoạn văn học Cụ thể là 30 năm chiến tranh, con người bị ngọn lửacách mạng thiêu đốt đi những yếu tố cá nhân, làm thui chột những hạt mầm cáthể, chỉ để lại hình ảnh con người lung linh nét đẹp của cộng đồng đất nước, làcon người của sử thi, trái hẳn với những cá nhân lộ phát nhu cầu bản năng rấtrõ
Chúng tôi cho rằng không nên có sự thiên kiến với những tác giả trẻ màcho rằng họ còn non nớt tay nghề, trong cách nhìn nhận đối với nghệ thuật và
Trang 15cuộc sống, hay ngang nhiên "nổi loạn" Vì tất cả những sự cách tân, vượt thoát,sáng tạo của họ chính là để đưa nền thi văn Việt Nam trở lại nhịp độ phát triểnbình thường như nền văn học của một đất nước không có hoàn cảnh đặc biệt nhưnước ta, để đuổi theo sự sáng tạo của văn học thế giới Đương nhiên trong quátrình chạy theo xu thế chung để khiến mình không lạc hậu, VHVN có lúc "cắmđầu chạy", có lúc "rong ruổi" tận xa xa Song điều đó chứng tỏ ý thức làm phongphú, giàu có nền văn hoá, văn học dân tộc, mà đáng lý chúng ta cần ghi nhậnvà ủng hộ Cái bắt tay đầy thiện chí phải được chủ động bởi cái tâm chân chínhmà họ mang theo khi hành trình đến với độc giả, dù trên bề mặt sáng tác củahọc có vẻ ngoài "xù xì", "góc cạnh".
Xung quanh việc đưa các tác giả trẻ vào SGK Ngữ văn, nổi lên cuộc tranhluận của Đỗ Ngọc Thống và Chu Giang về nhà văn Nguyễn Huy Thiệp Lầnthay đổi chương trình và SGK vừa rồi, Nguyễn Huy Thiệp không được liệt kêvào danh mục tác giả, tác phẩm có mặt Điều này đối với Đỗ Ngọc Thống đượcxem là một sự đáng xấu hổ Nhưng Chu Giang lại phản ứng ngược lại, thậm chígay gắt với ý kiến đưa tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp vào dạy học trong chươngtrình phổ thông Đây là hai ý kiến tiêu biểu cho rất nhiều những luận giải xungquanh việc biên soạn sách giáo khoa Ngữ văn Chúng tôi không có ý định dấnsâu vào không khí của cuộc tranh luận trên, chỉ xin đưa ra một chút trăn trởxung quanh vấn đề phức tạp này Chúng ta thống nhất với nhau rằng NguyễnHuy Thiệp là cây bút tiêu biểu nhất của văn học thời kỳ đổi mới Không thểphủ nhận những giá trị to lớn, những đóng góp thực sự thiết thực của nhà vănđối với thể tài truyện ngắn nói riêng và văn học thời kỳ đổi mới nói chung Dùrất nhiều ý kiến cho rằng truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp mang lại cho ngườiđọc cảm giác ghê rợn, sợ hãi trước tồn tại, thậm chí thất vọng tột cùng về cuộcđời, vì sự phanh phui quá trần lộ cái đốn mạt của con người Song, ngẫm nghĩlại, việc phơi bày hiện thực giống như việc người ta tạo ra văc-xin phòng chốngbệnh tật từ chính những vi rút, vi khuẩn gây nên bệnh ấy Hiện thực cuộc sốngđược truy nguyên trên trang viết nhằm tạo thế "phòng ngự" cho con người trướcnhững phức tạp, bon chen quá đỗi bí ẩn, diệu nghệ theo cách của con người Đócũng là quy luật chung trong sự phản ánh hiện thực của VHVN sau 1975, mà
Phong Lê đã khái quát: "Không phải cứ nỗi đau là bôi đen cuộc sống, là xuyên
tạc chế độ Trái lại, đó là cách giúp con người cảnh tỉnh cho mình Chỉ nghiêng về một phía, văn học cũng như một cơ thể không thể gọi là bình thường Chủ quan, quan liêu trong cách nhìn về mình sẽ mất khả năng miễn dịch và tự vệ"[31,
89]
Đối với Nguyễn Huy Thiệp, vấn đề nổi trội hơn cả là mối quan hệ giữa cái
Trang 16tài và cái tâm Nhiều người cho rằng Nguyễn Huy Thiệp hao hụt cái tâm trongtương quan so với cái tài Nhưng sự so sánh nào cũng mang tính khập khiễng.Và đúng ra, đây không phải là vấn đề riêng của Nguyễn Huy Thiệp mà là vấnđề chung mang tính cơ bản của nền văn học nước ta trước thử thách của yêu cầuđổi mới Chúng ta hãy cùng nghe quan điểm của giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh:
"Tôi cho rằng chữ tài chữ tâm ở đâu đâu ngoài tác phẩm, chứ khi đã nhập vào một áng văn chương thì làm sao có chuyện tách rời, thậm chí độc lập được (…)
“Chữ tâm cũng có ba bảy đường" Phải tìm hiểu chữ tâm trong những trường hợp cụ thể: Nó hướng vào đâu, hướng vào ai? Có chữ tâm chỉ muốn như một thứ nước ngọt, một thứ gối êm, một lời hát ru đối với những tâm hồn nào đấy Nhưng có chữ tâm lại muốn là thuốc đắng, thậm chí là ngọn roi quất để thức tỉnh mạnh mẽ những con người đã trưởng thành, bắt nhìn thẳng vào lỗi lầm của mình và có trách nhiệm thật sự đối với tương lai" [31, 36].
Vốn dĩ cái mới, cái riêng tây bao giờ cũng chịu chung số phận bị ruồngbỏ, bị cho là lập dị Khi nó nảy sinh cũng là lúc nó trở thành tâm điểm, là nguồncội của mọi sự luận giải khác nhau Cúng tôi đưa ra ý kiến của giáo sư NguyễnĐăng Mạnh chính là để thay lời cho quan niệm của bản thân mình
Những năm đầu thập kỷ 80, khi VHVN đang trong giai đoạn chao đảo,chưa tìm đúng hướng đi, Nguyễn Huy Thiệp đã khẳng định được tên tuổi của
mình, mở đầu thời kỳ đổi mới văn học bằng truyện ngắn Tướng về hưu Tác
phẩm gây chấn động dư luận với lối viết góc cạnh, lạnh lùng, sắc sảo với nộidung phơi bày hiện thực: sự hoang mang bất lực của một người anh hùng trongchiến tranh trước thực trang hỗn loạn của xã hội sau chiến tranh Đã tồn tại rất
nhiều những ý kiến khác nhau về Nguyễn Huy Thiệp, về truyện ngắn Tướng về
hưu cũng như hàng loạt những tác phẩm nhà văn cho ra đời sau đó Nhưng
không thể lược thuật hay bác bỏ những giá trị lớn lao của tác phẩm, sự dẻo dai,bền chắc của một ngòi bút, một tư tưởng, một tấm lòng theo kiểu "yêu cho roicho vọt, ghét cho ngọt cho bùi" để mở ra một thời kỳ văn học mới: bỏ lại vănhọc sử thi đầy chất trữ tình cách mạng để hướng về hiện thực đầy rẫy của cuộcsống, đặc biệt là đóng góp của nhà văn trong việc khơi mở dòng văn học "tựvấn" Nhiều khi Nguyễn Huy Thiệp giễu nhại nhân vật một cách thái quá, "hạbệ thần tượng" một cách thẳng tay nhưng theo chúng tôi đó là những khuyếtđiểm ngoài rìa khi so sánh với các tác giả khác và với chính những đóng góp
của anh Ngòi bút của Nguyễn Huy Thiệp "khi trực tiếp, khi qua nhiều khúc xạ
phong phú, khi quyết liệt, dữ dằn, thậm chí trắng trợn, khi đằm thắm đầy chất thơ, anh cố tình lần ngược lên ngọn nguồn của những hiện tượng xã hội ấy, gợi
ra những căn nguyên tiềm ẩn lâu dài" [31, 175] Tướng về hưu, Những ngọn gió
Trang 17Hua Tát của Nguyễn Huy Thiệp, theo chúng tôi có thể đối thoại với truyện
ngắn của những cây bút tầm cỡ trên thế giới như Sêkhôp, Mô pát xăng Vậythì có lẽ nào chúng ta lại bỏ qua những tác phẩm ấy khi xét đến những thànhtựu tiêu biểu của VHVN sau 1975? Bên Nguyễn Huy Thiệp còn có Bảo Ninh,Phan Thị Vàng Anh, Phạm Thị Hoài là những tác giả xuất sắc của VHVNđương đại mà theo chúng tôi các nhà biên soạn sách nên lưu tâm, ít ra cũng nêncó một chút băn khoăn khi đứng trước tác phẩm của họ
Tuy nhiên, điều quan tâm hơn hết khi lựa chọn tác phẩm để đưa vào dạyhọc trong chương trình phổ thông là chất lượng tác phẩm Quả đúng không cómột tiêu chí cụ thể, chuẩn mực nào về chất lượng tác phẩm đưa vào sách giáokhoa được ấn định Chính vì vậy, tuỳ theo cảm thụ của mỗi người mà nhiều vấnđề lại được đặt ra xung quanh chất lượng các tác phẩm Xin dẫn ra ý kiến khádài dòng của Bùi Công Thuấn:
"Về chương trình học tác phẩm văn chương, cĩ những thay đổi cũng cần xem
lại Thí dụ bỏ Mảnh Trăng Cuối Rừng ( MTCR ) và Thay bằng Chiếc Thuyền Ngồi Xa ( CTNX ) Tuy cùng là tác phẩm của Nguyễn Minh Châu, nhưng ở gĩc độ giáo dục, thì MTCR hay hơn và phù hợp hơn với tâm lý lưá tuổi Hơn nưã CTNX
để lại những ấn tượng nặng nề về nạn bạo hành trong gia đình và tư tưởng cam chịu của người phụ nữ Thà chịu bạo hành để cĩ chồng, cĩ nơi nương tưạ hơn là tự giải phĩng mình Tư tưởng ấy khơng phải là khơng cĩ mặt tiêu cực Thay Mùa Lạc của Nguyễn Khải bằng Một Người Hà Nội, cĩ vẻ như Một Người Hà Nội thống hơn Mùa Lạc, nhưng nếu đọc kỹ, chưa hẳn Một Người Hà Nội đã để lại cho HS những ấn tượng tốt vế Cách mạng Cĩ những câu Nguyễn Khải viết lấp lửng, cĩ những chỗ Nguyễn Khải giả vờ , dễ gây ngộ nhận cho học sinh, vì các em chưa cĩ nhận thức đầy đủ như người lớn, chẳng hạn: “Cách mạng gì tồn để ý đến những chuyện lặt vặt” (SGK tr 93) , “ xã hội nào cũng phải cĩ một giai tầng thượng lưu của nĩ để làm chuẩn mực cho mọi giá trị, theo anh, ở xã hội ta là tầng lớp nào ? ( tr 95 )…
Mùa Lá Rụng Trong Vườn tuy là tác phẩm được giải của Hội Nhà Văn 1986 nhưng nay đọc lại, người đọc vẫn nhận ra cách miêu tả của Ma Văn Kháng là gượng gạo, áp đặt Nhân vật chỉ như những người máy diễn theo những ý đồ nghệ thuật chủ quan của tác giả Nhân vật Đơng, một trung tá về hưu lại hết sức ngờ nghệch trước cuộc đời Lý là nhân vật nưả vời, khơng được lý giải thấu đáo Luận
và Phượng lại như những vị thánh, bao dung nhân ái Cùng một lúc Chiếc Thuyền Ngồi Xa và Mùa Lá Rụng Trong vườn để lại những ấn tượng nặng nề trong tâm hồn học sinh về đới sống thực tại, điều ấy cĩ ích gì trong việc giáo dục thế hệ trẻ”
[43]
Có thể thấy rằng việc thay đổi tác phẩm đưa vào chương trình tạo nên mộtsự so sánh tất yếu đối với độc giả Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Khải, theo
Trang 18như Đỗ Ngọc Thống nói thì là hai tác giả nằm trong chiến lược lựa chọn tácphẩm của các tác giả đã thành danh ở giai đoạn trước Nhưng phải thừa nhậnnhững tác phẩm thành công của những cây bút này lại nằm ở giai đoạn sauchiến tranh, khi cái nhìn về cuộc sống bao quanh họ đã "chín muồi" Chúng tahiểu rằng phải sàng lọc ra những thành tựu tiêu biểu nhất trong cuộc đời sáng
tác của họ Chiếc thuyền ngoài xa và Một người Hà Nội, cũng có thể được xem
là những thành tựu nổi bật nhất Những nhận xét về cách xây dựng nhân vật vàcách thể hiện nội dung tương tự như ý kiến của Bùi Công Thuấn lại thuộc vềđặc điểm thi pháp, về đặc trưng thẩm mỹ của văn học thời kỳ mới mà giáo viêncần phải nắm vững để không hiểu sai lệch, thậm chí có cái nhìn kiểu "xã hộihọc dung tục" về tác phẩm
Thêm vào đó, còn khá nhiều độc giả băn khoăn về việc đưa vào trongchương trình và SGK những tác phẩm khó, không phù hợp với trình độ của họcsinh Chúng tôi xin đính chính lại rằng cái khó mà rất nhiều người lên tiếng làđiểm chung của VHVN đương đại Nó tựa như văn Nguyễn Tuân, đọc lần đầukhó ai mà "cảm tình", nhưng càng đọc lại càng thấm nhuần những tinh tuý củanó Có thể nói các tác phẩm VHVN thuộc kiểu văn hơi "kén" độc giả Chính vìvâỵ, không thể không kể đến vai trò rất lớn của các nhà giáo, nhà lý luận phêbình văn học trong việc làm cầu nối cho các em đi qua cổng tri thức một cáchnhanh nhất và thuận lợi nhất Nhừng khó khăn của dạy học VHVN sau 1975 cònnhiều và đương nhiên là một điều không thể phủ nhận, chúng tôi sẽ nói cụ thểhơn ở phần tiếp sau đây
Như vậy, xung quanh việc đưa các tác phẩm VHVN sau 1975 vào chươngtrình và sách giáo khoa Ngữ văn quả thật còn nhiều điều đáng bàn tới Về điểmnày, chúng tôi chỉ cố gắng đứng ở vị trí độc giả, hình dung tâm thế của độc giảnhằm hy vọng có thể góp thêm một tiếng nói, giúp hoàn thiện chương trình cũngnhư sự đúng đắn và khoa học của phương pháp dạy học văn
1.3 Nhìn chung về những thuận lợi và khó khăn của việc dạy học tác phẩm văn học Việt Nam sau 1975 theo chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn THPT
1.3.1 Thuận lợi
VHVN được đưa vào chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn là một điềuhoàn toàn mới mẻ so với sách giáo khoa Văn học hệ CCGD trước đây Bao giờcũng vậy, sự mới mẻ khiến cho người ta tò mò Và vì tò mò nên người ta thấyhứng thú được nhìn ngắm nó xem thể dạng nó thế nào, và nếu trông "ngon
Trang 19ngon" thì người ta sẽ mong muốn được nếm, được thưởng thức nó Đây chính làthực tế khi tác phẩm văn học Việt Nam sau 1975 mới được tuyển lựa vào sáchgiáo khoa.
Hứng thú đối với những giờ dạy học văn học Việt Nam sau 1975 còn đượctạo nên bởi chính những điều khác lạ mà văn học Việt Nam sau 1975 mang lại.Giai đoạn văn học này thực sự đã có những biến đổi hết sức mạnh mẽ so vớinhững thời kỳ văn học trước Sự thay đổi của văn học Việt Nam sau 1975 là sựthay đổi một cách toàn diện trên tất cả các mặt như tư duy nghệ thuật, bút pháp,ngôn ngữ Điều này tạo nên một diện mạo hoàn toàn mới cho các tác phẩmvăn học sau 1975 Những nội dung mới mẻ, cách nhìn mới, cách phản ánh hiệnthực phong phú thực sự tạo nên một nguồn cảm hứng dồi dào cho các emtrước khi bước vào tác phẩm, đồng thời cũng tạo động lực cho các giáo viên,nhất là những giáo viên giỏi luôn mong muốn có "đất dụng võ" Đây là mộtđiều khác biệt mà sách giáo khoa Văn học hệ CCGD trước kia chưa mang lạiđược cho cả giáo viên và học sinh
Gần đây, trên các trang báo điện tử có đăng tin về bài văn "lạ" của mộthọc sinh lớp 11 viết trong kỳ thi học sinh giỏi các lớp không chuyên của Hà Nội,
phạm vi của đề bài là viết về tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn
Đình Chiểu Em học sinh này đã không làm bài thi (vì chính em cũng không thểlàm được đề bài này) mà thay vào đó, em viết những suy nghĩ của mình về cáctác phẩm trong sách giáo khoa và về cách dạy văn của giáo viên Em nói rằnghọc sinh thời đại mới không thể cảm thụ được cái hay của một tác phẩm trungđại, không có niềm hứng thú Bài văn thực sự làm xôn xao "làng giáo" Quảthực xung quanh sự kiện này có rất nhiều ý kiến đưa ra, người tán đồng, ủng hộ,người phản bác, chê trách Nhưng một thực tế không thể phủ nhận là sách giáokhoa Văn học trước kia đã không đem lại niềm vui học tập cho các em, và quảthật các tác phẩm đưa vào trong chương trình đã lùi xa về mặt thời gian so vớihiện tại, môi trường tác phẩm ra đời hoàn toàn khác biệt so với thời đại các emhọc sinh đang sống Thêm vào đó, cách dạy của giáo viên cũng không được đổimới, không gây được thiện cảm với các em học sinh Chúng tôi đưa ra sự việcnày để thấy rằng văn học Việt Nam sau 1975 thực sự tạo được một tâm thế đónnhận hào hứng với cả người dạy và người học
Hơn nữa, đây là những tác phẩm mới ra đời, không cách xa thời đại các
em học sinh đang sống và đều đề cập đến những vấn đề ó tính thời sự tạo nênthuận lợi về khoảng cách tiếp nhận, hay đúng hơn là tạo nên một tiền đề rấtvững chắc để cả giáo viên và học sinh cùng thâm nhập vào tác phẩm
Theo điều tra thực tế tại trường THPT Sầm Sơn, Thanh Hoá, các em học
Trang 20sinh lớp 12 cho rằng đây là những tác phẩm mang tính thời sự cao, ngôn ngữgiản dị, gần gũi với đời sống nên dễ đọc Chúng tôi cũng tán đồng với ý kiếnchủ quan của các em Bên cạnh đó, tính chất đối thoại của văn học giai đoạnnày sẽ tạo nên không khí tranh luận sôi nổi cho giờ học, và đồng thời kích thíchsự chủ động, sáng tạo trong suy nghĩ, trong học tập của các em, tạo niềm vuicho các giáo viên khi đứng lớp.
Chúng tôi cũng muốn nói thêm về sự phát triển của cơ sở vật chất trongthời đại mới Giáo dục luôn là ngành được sự quan tâm đầu tư của đất nước.Thêm vào đó, sự phát triển bùng nổ của các phương tiện thông tin sẽ phục vụtốt hơn cho các em trong quá trình lĩnh hội tri thức cũng như giúp giáo viên cóthêm nguồn tài liệu bổ ích, có thể trao đổi với nhiều bạn đồng nghiệp qua cácdiễn đàn trên Internet
Đây chính là những thuận lợi cơ bản trong việc dạy học các tác phẩm vănhọc Việt Nam sau 1975
1.3.2 Khó khăn
Dạy học các tác phẩm văn học Việt Nam sau 1975 sẽ có nhiều thuận lợinhưng khó khăn cũng không phải ít Rất nhiều các ý kiến của cả giáo viên vàhọc sinh đều cho rằng các tác phẩm văn học giai đoạn này đều khó tiếp nhận vàtruyền thụ Nhất là những đổi mới rất rõ rệt về mặt hình thức của các tác phẩêm,
trong đó có sự sáng tạo về mặt ngôn từ trong thơ rất đặc trưng (tiêu biểu là Đàn
ghi ta của Lorca) Những điều ông Bùi Công Thuấn "phàn nàn" mà chúng tôi đã
trích dẫn trên đây không hoàn toàn là những điều vô lý Bởi văn học Việt Namsau 1975 đều là những tác phẩm giàu ý nghĩa, nhiều tầng bậc, nhiều góc cạnh Những học sinh của trường THPT Sầm Sơn, Thanh Hoá mà chúng tôi đãphát phiếu điều tra đều đã ghi nhận rằng các tác phẩm văn học Việt Nam sau
1975 đưa vào trong chương trình thực sự đều rất khó hiểu Đây chính là khókhăn cơ bản của việc dạy học các tác phẩm này
Trong phạm vi một giờ học không phải là dài, quả thực để giảng cho họcsinh hiểu và nắm bắt được những giá trị cơ bản của tác phẩm không phải là mộtđiều dễ dàng gì, chưa nói đến việc mở rộng hiểu biết về giai đoạn văn học nàycho các em Và trong một thời gian ngắn ngủi trên lớp, cũng rất khó đảm bảo đểcác em cảm thụ được tinh thần chung của thời đại thể hiện qua trang viết
Tính chất thể nghiệm của văn học giai đoạn này tạo nên nhiều cách hiểukhác nhau cho tác phẩm Điều này có thể sẽ khiến nhiều giáo viên lúng túngkhi xử lý "tình huống có vấn đề", đồng thời cũng là một thách thức đối với trítuệ của học sinh
Trang 21Nhìn chung, khi dạy học các tác phẩm văn học Việt Nam, cả giáo viên vàhọc sinh đều gặp những thuận lợi và khó khăn nhất định Đây là một thực tế tấtyếu đối với một nội dung dạy học mới mẻ "Nội dung nào, phương pháp ấy" Vìthế mà cả giáo viên và học sinh đều phải tìm ra những phương pháp tích cực đểviệc đọc hiểu văn bản đạt hiệu quả nhất.
Chương 2 NHỮNG NGUYÊN TẮC LỚN CỦA VIỆC DẠY HỌC TÁC PHẨM VHVN SAU
1975 THEO CHƯƠNG TRÌNH VÀ SGK NGỮ VĂN THPT
2.1 Nắm vững đặc trưng thẩm mỹ của VHVN sau 1975
2.1.1 Giới thuyết về đặc trưng thẩm mỹ của văn học
Theo Từ điển Tiếng Việt, khái niệm "đặc trưng" được hiểu là: "nét riêng
và tiêu biểu, nhờ đó để phân biệt các sự vật hiện tượng", "thẩm mỹ" là "khả
Trang 22năng cảm thụ và hiểu biết về cái đẹp."
Bất cứ một sự vật hiện tượng nào khi tồn tại trong thế giới khách quancũng cần có những nét riêng, cá thể để phân biệt nó với những sự vật, hiệntượng tương tự Trong cảm nhận của con người, những sự vật hiện tượng này lạicó mặt trước, mặt sau, có những điểm tốt điểm xấu, tích cực và hạn chế Tuynhiên, mỗi người là một thế giới riêng biệt, dẫn đến cách nhìn nhận khác nhau.Nhưng không thể nào phủ định những yếu tố khách quan, là thuộc tính của sựvật hiện tượng chính là nhân tố tác động tạo nên cảm xúc chủ quan khác nhau ởcon người Đó chính là những đặc trưng thẩm mĩ của sự vật hiện tượng
Vậy khái niệm đặc trưng thẩm mỹ được dùng trong lĩnh vực văn học đượchiểu như thế nào? Đó chính là những đặc điểm vốn có, thuộc bản thể của mộttác phẩm, một giai đoạn, một dòng văn học để phân biệt với những tác phẩm,những giai đoạn, những dòng văn học khác
Tương tự, đặc trưng thẩm mĩ của VHVN sau 1975 là những đặc điểmthẩm mĩ riêng thuộc về quan niệm và khi đọc những tác phẩm được sáng táctrong thời điểm đó, ta nhận ra một cách dễ dàng nó thuộc giai đoạn văn học ấy.Đó là những thuộc tính của VHVN sau 1975, phân biệt với các giai đoạn vănhọc khác của nền văn học hiện đại Việt Nam như văn học trước cách mạngtháng Tám, văn học 30 năm chiến tranh Điều này được tạo nên bởi những đặcđiểm khác nhau của từng giai đoạn lịch sử tương ứng với sự phát triển của vănhọc
2.1.2 Hoàn cảnh tạo nên đặc trưng thẩm mĩ của VHVN sau 1975
Văn học kiến tạo, vận động theo những quy luật đặc thù Qua mỗi thời kỳ,diện mạo của mỗi nền văn học được "đắp bồi" một khác Nguyên do của điềunày được thể hiện trong mối tác động qua lại của lịch sử và văn học Đó khôngphải là quan hệ "bên lở - bên bồi" mà là sự phản chiếu trong nhau và lên nhau.Văn học hiện đại bồi chứa trong mình những đặc trưng nhận dạng, nhưng bắtđầu từ năm 1975, văn học nước ta lại rong ruổi, quanh co, nhiều khe ngầm,ngách kín, đôi lúc theo kiểu tâm trạng một thiếu nữ tuổi dậy thì tươi mới, phóngkhoáng dẫu vẫn nằm trong dòng chảy chung, quy ước bởi thước đo giá trị củanhững nét thần, thuộc bản thể của dân tộc Đây có thể được xem là cơ sở hìnhthành nên những đặc trưng thẩm mỹ của VHVN đương đại Những tác động nàotừ tình hình đất nước dẫn đến những điểm riêng của giai đoạn văn học này? Đó là nền văn học được tính từ thời điểm 1975, cũng là dấu mốc pháttriển mới của đất nước VHVN vốn gắn bó chặt chẽ với đời sống và vận mệnhdân tộc, trước hoàn cảnh mới, trước những điều kiện vật chất lẫn tâm lý khác
Trang 23biệt của đời sống mới, lại thêm đòi hỏi hiển nhiên - nhu cầu tự làm mới mìnhtrước biến động lịch sử, sau 1975 nhất là từ sau Đại hội Đảng lần thứ IV năm
1986 lại vận động theo những quy luật đặc thù, mang những đặc điểm riêng khólẫn
Sau ngày 30 - 4 - 1975, đất nước khép lại trang sử chiến tranh, bước sangmột trang mới, bảo vệ non sông, đất nước trong bối cảnh hoà bình tạo điều kiệncho việc sáng tác Bước ra khỏi chiến tranh, các nhà văn có nhiều thuận lợi, tạođiều kiện cho việc sáng tác: không khí yên bình, không còn ác liệt căng thẳngbởi bom rơi đạn nổ; nhiều thời gian tập trung viết; vốn tích luỹ trong cuộc chiếntranh dài rất phong phú; sự giao lưu văn hoá, văn nghệ được mở rộng cả trongvà ngoài nước
Nhưng một vấn đề đặt ra, đó là sự đổi thay của thị hiếu thẩm mĩ, tươngứng với sự đổi thay các thang chuẩn giá trị của cuộc sống Trong chiến tranh,con người dường như chỉ quan tâm đến một quan hệ duy nhất: sống - chết, nêntất cả những vấn đề nhỏ nhặt, bình thường của cuộc sống thường ngày dần trụilấp đi dưới đất phủ cát vùi của chiến tranh Nhưng khi hoà bình trùm trải lên đấtnước, con người lại đối mặt với những cái bình thường hằng ngày mang tínhmuôn thuở, thậm chí cả những cái tầm thường cũng đang trồi lên hết sức dữ dội.Biết bao những điều phức tạp, có lúc nhiêu khê đặt ra trước mắt con người Trong khi đó, sau những năm tháng chiến tranh, các nhà văn vẫn chưanhận thức rõ điều cốt yếu của hiện tại, vẫn ồn ào giai điệu anh hùng ca thuởtrước Nhưng do không còn phù hợp với thị hiếu độc giả và những chuẩn mựcgiá trị mới của cuộc sống, giống như Nguyên Ngọc đã nhận xét "nó mất dần độcgiả"
Tuy nhiên, từ sau năm 1986, xã hội Việt Nam có những chuyển biến sâusắc trên mọi phương diện Sự đẩy nhanh công cuộc công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nước dẫn đến những thay đổi của tình hình kinh tế xã hội của đất nước.Đặc biệt là sự chuyển biến từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường vàsự mở rộng giao lưu hợp tác đa phương hoá, đa dạng hoá với các quốc gia trênthế giới kéo theo sự đổi thay trong quan niệm, lối sống của ngưòi Việt Nam Sựtự do phóng túng dần dần thế chỗ cho những tàn dư cổ hủ trước kia Những biếnđộng của đời sống thế giới, của đời sống trong nước ảnh hưởng đến tâm lý conngười Việt Nam Đặc biệt là sự hình thành không khí dân chủ trong văn hóa,văn học Sự chuyển biến trong đời sống xã hội, văn hoá, tư tưỏng, tất yếu dẫnđến những đổi thay trong quan niệm thẩm mỹ, đòi hỏi văn học phải đổi mới Đổi mới văn học nằm trong quỹ đạo của công cuộc đổi mới toàn diện,phủ tràn trên mọi nẻo đường đất nước Tinh thần dân chủ của một xã hội mới
Trang 24tạo điều kiện thuận lợi cho sự đổi mới, sáng tạo văn học, cắt bỏ mọi giới hạn gòbó, thu hẹp ngọn bút của nhà văn VHVN sau 1975 chính vì vậy mang nhữngđặc điểm và quy luật vận động khác trước Hay nói cách khác, nền văn họcđương đại có những đặc trưng thẩm mỹ, những nhân tố cấu thành riêng biệt.Muốn tiếp cận, hoà nhập vào không khí của văn học thời kỳ này, tất yếu phảinắm được mọi nẻo cấu thành "miền trong" của nền văn học này Cũng như vậy,giáo viên và học sinh khi muốn truyền thụ và tiếp nhận những cái hay, cái đẹpcủa giai đoạn này một cách sâu sắc, có hiệu quả nhất thì phải nắm bắt đượcnhững đặc trưng thẩm mỹ của nó, để thực sự chạm sợi dây thần kinh trung ươngcủa tác phẩm, bắt đúng mạch vận động của một thờ kỳ văn học.
2.1.3 Tại sao cần phải nắm vững những đặc trưng thẩm mĩ của VHVN sau
1975 khi dạy học các tác phẩm VHVN trong chương trình và sách giáo khoa THPT?
VHVN sau 1975 vận đông trong những hoàn cảnh đặc biệt như trên nên tựtrong lòng nó hình thành những đặc trưng thẩm mĩ khác với những đặc trưng củacác giai đoạn văn học trước đó của văn học hiện đại ở nước ta Tại sao phảinắm vững những đặc trưng thẩm mỹ? Bởi vì sự tác động của lịch sử của cuộcsống in hằn lên sáng tác của mỗi giai đoạn Không thể quy tất cả vào cùng mộttiêu chuẩn để xem xét Những sai lầm theo kiểu "râu ông nọ cắm cằm bà kia"sẽ dẫn đến những sai lầm nghiêm trọng khi nhận định tác phẩm, khiến cho giátrị của tác phẩm bị hiểu sai, hiểu lệch, thậm chí phải chịu những "nỗi oan khiên"rất nặng nề Trước đó, người ta đã "kết án oan" cho khơng ít nhà văn tài hoa củađất nước, khiến họ một thời phải chịu số phận long đong của kẻ đa tài Nhắc quamột vài nét của lịch sử để thấy rằng cần có một "hệ quy chiếu" đúng đắn vàsáng suốt để nhận chân giá trị của từng tác phẩm
Tương tự, khi dạy học các tác phẩm VHVN sau 1975, giáo viên và họcsinh, mà trước hết là giáo viên phải nắm vững những đặc trưng thẩm mỹ củagiai đoạn văn học này để soi chiếu tác phẩm, hiểu được giá tri của tác phẩmđằng sau lớp ngôn từ khó "thấu" Từ đó, giáo viên sẽ có vai trò định hướng cáchnhìn, cách cảm thụ của học sinh, và đồng thời cũng có cách uốn nắn lại cảmquan sai lệch ở các em
Và một lý do chính yếu của việc nắm vững những đặc trưng thẩm mỹ củacủa VHVN sau 1975 là để cho giáo viên và nhất là học sinh có một kỹ năng cơbản để đọc, hiểu những tác phẩm khác của cùng giai đoạn văn học này Xu thếchung của dạy học hiện đại là phải kích thích sự sáng tạo, tích cực và chủ độngcủa học sinh Bởi vậy, đây sẽ là nguồn trang bị kiến thức lý thuyết cần thiết
Trang 25nhất để các em học tập tốt các tác phẩm văn học cùng thời điểm ra đời.
Có thể nói, việc nắm vững đặc trưng thẩm mỹ của VHVN sau 1975 chínhlà "điều kiện cần" để giáo viên và học sinh có thể cảm thụ tác phẩm văn họcthời kỳ này một cách đúng đắn và khoa học nhất
2.1.4 Những đặc trưng thẩm mỹ của VHVN sau 1975 (thể hiện qua các tác phẩm thuộc thời kỳ văn học này trong chương trình và SGK Ngữ văn THPT)
Chính vì vai trò quan trọng của việc nắm vững những đặc trưng thẩm mỹcủa VHVN sau 1975 mà khi day học các tác phẩm trong chương trình và SGKTHPT, cả giáo viên và học sinh cần phải có cái nhìn khoa học, triệt để để thấyđược những nét cơ bản nhất Vậy những đặc trưng thẩm mỹ của VHVN sau 1975là gì? Biểu hiện cụ thể của những đặc trưng ấy qua những tác phẩm cụ thể đượchọc trong chương trình?
Được hình thành và vận động trong một hoàn cảnh đặc biêt, VHVN sau
1975 có những nét đặc thù So với văn học "ra lò" từ những năm chiến tranh,VHVN nảy nở nhiều hướng đi mới, nhiều cuộc phiêu lưu mới, thậm chí là mạohiểm Sở dĩ có sự đa dạng trong hướng đi của các nhà văn là bởi tinh thần dânchủ của thời đại mới đã thấm nhuần, khiến cái tôi sáng tạo của các nhà vănphát triển, để tìm tòi và khẳng định bản thân Hơn nữa, hiện thực sau chiếntranh phong phú kéo theo sự khai thác hiện thực một cách đa chiều
Chúng tôi chia làm hai lĩnh vực riêng : văn xuôi, kịch và thơ để khái quátnên đặc trưng thẩm mỹ của giai đoan văn học
2.1.4.1 Về văn xuôi và kịch
Trong chương trình và SGK Ngữ văn THPT (cả phân ban và không phân
ban), VHVN sau 1975 có các tác phẩm văn xuôi sau: Một người Hà Nội (Nguyễn Khải), Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu), Mùa lá rụng trong
vườn (Ma Văn Kháng), Ai đã đặt tên cho dòng sông (Hoàng Phủ Ngọc Tường),
Hồn Trương Ba, da hàng thịt (Lưu Quang Vũ).
Đặc trưng thẩm mỹ của VHVN sau 1975 biểu hiện qua các tác phẩm nàynhư thế nào?
Trái với nền văn học trong những năm tháng chiến tranh ngồn ngộn chấtsử thi, khói lửa chiến trưòng, lại được khoác thêm một màu huyền thoại, chemắt nỗi sợ hãi và lo âu của con người, để chỉ nhất nhất, trinh bạch một tấm
lòng, một khí thế Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước Mà lòng phơi phới dậy tương
lai (Tố Hữu), các tác phẩm VHVN đương đại không còn mang khí thế hào hùng
như vậy Văn học thời kỳ này không còn giành thiên chức phát ngôn viên cho cả
Trang 26cộng đồng dân tộc, không "đao to búa lớn" nói tiếng quyết tâm sinh tử, khôngcòn lấp lánh, mượt mà một giọng trong trẻo, "ngọt ngào như nước dừa xiêm".Còn lại sau những năm tháng chiến tranh là cái nhìn thẳng thắn soi rọi vào cuộcsống vốn dĩ phức tạp và không hề "nhẹ như lông hồng" như văn học sử thi vẫnthường ngợi ca Giảm bớt tính sử thi, đó là đặc điểm của văn xuôi thời kỳ đổimới, đồng thời cũng là đặc điểm chung của văn học một thời.
Văn xuôi sau 1975, theo quy trình và luật định phát triển tất yếu của đờisống, của lịch sử, giảm dần tính sử thi và gia tăng chất thế sự Không phải đếnthời điểm này, văn xuôi Việt Nam mới có tính chất thế sự nhưng để trở thànhmột nét đặc trưng thì chỉ có ở văn học giai đoạn này
Mác nói: "Vận động của tư duy chỉ là sự vật của hiện thực được dichuyển vào và được cải tạo trong đầu óc của con người" Ý niệm của Mác đượccụ thể hoá rằng tư duy được kiến tạo từ sự phản ánh thế giới khách quan trongcách nhìn, cách cảm nhận chủ quan của con người Thế giớt con người đangsống là đối tượng phản ánh, đồng thời quay trở lại là đối tượng phục vụ của vănhọc Văn học không đâu xa lạ chính là sự phản chiếu đời thực, phản chiếu conngười, là góc nhìn chủ quan của con người Văn học là khoa học về con người,khoa học của con người, khoa học để học làm người Như vậy cũng có thểkhẳng định tư duy văn học xuất phát từ cuộc sống
Khi hiện thực thay đổi tất yếu dẫn đến sự thay đổi hệ hình của văn học.Không còn khói lửa, chiến trường đẫm máu, xác người và xác bom rơi, đồngnghĩa với sự thế chỗ của văn học thế sự Yếu tố thế sự được soi chiếu trongtương quan với tính chất sử thi của văn học cách mạng Nếu như văn học sử thiphản ánh những vấn đề của cộng đồng, tập thể, của quốc gia, dân tộc xây dựnghình tượng con người với tầm vóc "đỉnh cao muôn trượng"và mang thi pháp mộtloại hình văn học gắn liền với chính trị, thì tính chất thế sự lại được biểu hiện ởsự phản ánh những số phận cá nhân, những vấn đềø riêng tư, ở nhân vật tự trồi
nhú lên những góc cạnh xấu xí, sự tính toán đến tỉ mẩn, thậm chí đê hèn "Đặc
điểm của tác phẩm mang cảm hứng thế sự là hướng về sinh hoạt hằng ngày của con người, khẳng định giá trị thẩm mỹ của cái đời thường, đi sâu khám phá hành trình của con người giữa một thực tại ngổn ngang nhằm tìm kiếm hạnh phúc và khẳng định nhân cách Loại tác phẩm này biểu thị sự đổi mới trong quan niệm của nhà văn về tính chân thực của văn học, nhằm đưa văn học thoát khỏi tình trạng "minh hoạ" hay "tô vẽ", đề cập những chuyện xa lạ với mối bận tâm chính của bao con người phải lao vào cuộc mưu sinh nhọc nhằn, trong hoàn cảnh đất nước đang đối diện với vô vàn khó khăn của thời hậu chiến"[21].
Tiêu biểu có Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Khải Nguyễn Minh Châu
Trang 27từng tạo được thế đứng vững vàng trong mảng đề tài chiến tranh, ghi được "dấuchân người lính" trên mảnh đất nhiều bước chân qua Song sau 1975, sau khi
"đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ", ông xông xáo đào xớimạch cảm hứng thế sự Ông lột bỏ "lớp xác" sử thi lãng mạn một thời để dấnsâu hơn vào hiện thực phong phú của đời sống Nguyễn Minh Châu không cònngợi ca "sợi chỉ xanh óng ánh" của một cô gái mang tình yêu mộng mơ lý tưởngvới một chàng trai chưa bao giờ gặp mặt và sức mạnh bền bỉ phi thường của conngười trước bao nhiêu thách thức của chiến tranh và cả những tác động kháchquan, dẫu vẫn gắng giữ thiên chức "đi tìm hạt ngọc ẩn sâu trong tâm hồn conngười" Ông tự cảm thấy những điều gượng ép trước kia không còn phù hợp với
thời đại mới Chiếc thuyền ngoài xa hay chăng là một lời phân bua của người
nghệ sĩ với chính nghề nghiệp của mình, hay chăng là lời giải mã mối quan hệgiữa hiện thực và cuộc sống trước những bí ẩn không ngờ trong sự biến thiêncủa xã hội ? Qua truyện ngắn, nhà văn phát biểu luận đề về mối quan hệ giữacuộc sống và văn học Luận đề ấy được gửi gắm qua bức ảnh "chiếc thuyềnngoài xa" mang vẻ đẹp toàn bích, toàn mĩ, trong trẻo và thơ mộng nhưng đằngsau là một câu chuyện không thơ mộng chút nào khi chiếc thuyền vào gần Tráingược với vẻ đẹp mê hồn thấp thoáng xa xa là hiện thực trần trụi gai góc củamột gia đình hàng chài: người chồng vũ phu, nguời vợ cam chịu, đứa con đánhbố Chúng ta thấy nổi lên tương quan gần - xa trong cái nhìn bằng mắt thật,nhưng cần phải thấy rằng đó không chỉ là vấn đề khoảng cách địa lý, vật lýmang tính thực tế mà là ở cách nhìn trong tương quan giữa bên ngoài và bêntrong của sự vật hiện tượng Vấn đề nhà văn đặt ra là ở việc nhận chân sự vậthiện tượng, để thấu thị bản chất của nó, đồng nghĩa với việc nghệ thuật khôngphải là thứ mang lại cho người ta cảm giác ấm êm, ngọt dịu "lâm thời", khôngphải là sự tri giác hời hợt về cuộc sống mà là một nghệ thuật truy nguyên bảnchất hiện tượng, tác động vào những cấp độ cao hơn, sâu hơn của tư duy như:tưởng tượng, phán đoán, suy luận Nghệ thuật không phải là sự lý tưởng hoácuộc sống, lừa mị ngọt ngào, ru ngủ con người, mà phải khiến con người cầmnắm được sợi dây thắt chặt những mối quan hệ đa chiều, để họ nhìn thấy một
hướng đi cho mình Chính Nguyễn Minh Châu cũng nói: "Nhà văn rất cần thiết
phải có mặt ở trên đời để làm công việc cảnh tỉnh nhân loại và báo trước những
tai hoạ" (Báo Văn nghệ số 49 - 50, 1987) Chiếc thuyền ngoài xa đương nhiên
không phải là cái loa phát ngôn cho tư tưởng của nhà văn nhưng lại chính là lờiphát biểu sâu sắc của Nguyễn Minh Châu về quan hệ giữa cuộc sống và nghệthuật, về vai trò của nhà văn, về cách nhìn đối với hiện thực Khi con người tanhìn nhận đúng chân tướng sự vật hiện tượng thì cũng có nghĩa là đã kiến tạo
Trang 28được một động cơ đúng đắn để thúc đẩy hành động thực tiễn Nguyễn MinhChâu đề cao tính chân thực của nghệ thuật trong thời đại mới, điều đó vừa thểhiện nhận thức đúng đắn về hướng khai phá của văn chương mà vốn dĩ xưa nayđó vẫn là điều tất yếu, lại vừa thể hiện chiều sâu nhân văn, nhân bản của chínhnhững tác phẩm do ông tạo ra Chất sống của hiện thực ăm ắp ngồn ngộn tạonên chất văn xuôi giàu có và bền bỉ cho tác phẩm nói riêng và đồng nghĩa với
nó là sự đóng góp vào dòng chảy chung của mạch cảm hứng thế sự Bởi Chiếc
thuyền ngoài xa cũng chính là những trăn trở, day dứt rất người, rất đời của một
nhà văn trước cuộc sống, sao cho hạnh phúc vẫn ngọt ngào, mặn mà
Nguyễn Minh Châu vốn được xem là người “mở đường tinh anh và tàihoa” của công cuộc đổi mới văn học ở nước ta Và Nguyễn Khải cũng là ngườikiên trì thực hiện nhiệm vụ đổi mới ấy Tính chất thế sự của VHVN sau 1975 thểhiện ở sáng tác của Nguyễn Khải một cách đậm nét, qua hai giai đoạn sáng táccủa nhà văn Trước 1975, ngòi bút Nguyễn Khải dồi dào cảm hứng chính luận,chuyên đề cập các vấn đề thời sự, chính trị của đất nước, và thường lấy tiêu chíchính trị, đạo đức cách mạng để bàn luận dấnh giá sự kiện, con người Từ cuốinhững năm 70 của thế kỷ XX trở đi, sáng tác của Nguyễn Khải chuyển sanghứng thú với những vấn đề thế sự, khai thác đời sống cá nhân của con người,
đặc biệt đối với Một người Hà Nội, đó là sự khẳng định vẻ đẹp trong chiều sâu
tâm hồn tính cách con người Việt Nam qua bao biến động thăng trầm của đấtnước, cũng chính là cuộc hành trình khẳng định mình của một cá nhân, của cái
"tôi" trước môi trường tồn tại không thuận lợi Cụ thể hơn, đối với bà Hiền, "hạt
bụi vàng của Hà Nội", là biểu hiện cho một nhân cách sống, một bản lĩnh sống
vững vàng, lòng tự trọng cao quý trước những biến di của cuộc sống, luôn giữđược cốt cách và ý thức được chính mình
Tính chất thế sự được thể hiện trong vẻ đẹp từ cuộc sống đời thường củamột người vợ, một người mẹ, tiêu biểu cho cốt cách của người kinh kỳ, qua baothăng trầm, biến động của đất nước
Mùa lá rụng trong vườn - tiểu thuyết được tặng giải thưởng Hội Nhà văn
Việt Nam năm 1986 - của Ma Văn Kháng tiêu biểu cho tính chất thế sự đời tưcủa VHVN giai đoạn này Góc nhìn đời tư vốn là một đặc điểm của loại hìnhtiểu thuyết, nhưng do đòi hỏi của cuộc sống, có nhiều khi cách nhìn của conngười đổi khác, ở chỗ có khi tiểu thuyết đậm tính thế sự nhưng có khi cái tôi lại
bị chìm lấp, đứng sau cái ta cộng đồng, dân tộc, đúng hơn là tính chất sử thi chiphối dòng chảy văn học Sau 1975, tiểu thuyết Việt Nam phát triển rầm rộ, bởiđòi hỏi của ngưòi đọc ở tích chất hiện thực, bởi sức dung chứa, chuyển tải hiện
thực đời sống sung sức ào ạt của loại hình tự sự sỡ lớn này Mùa lá rụng trong
Trang 29vườn thể hiện sự quan sát và cảm nhận tinh nhạy của nhà văn về những biến
động, những đổi thay trong tư tưởng và tâm lý của con người Việt Nam giaiđoạn chuyển mình, xoá bỏ dần mô hình kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sangnền kinh tế thị trường với những rạn vỡ tất yếu theo cả hai hướng tích cực vàtiêu cực trong quan niệm sống, cách sống và cách lựa chọn các giá trị Đây làmột tiểu thuyết phản ánh đúng thực tế lịch sử, thực tiễn đời sống kinh tế xã hộicủa đất nước ta nhưng nó không bao quát trong tầm vĩ mô với "khoảng cách sửthi tuyệt đối", nó soi chiếu, xem xét, lật đi lật lại hiện thực từ một khoảng cáchtrần thuật được thu hẹp tối đa, thậm chí nhà văn hoá thân, nhập vai vào từng cácnhân để thể hiện những băn khoăn day dứt tự thế giới bên trong dầy bí ẩn củahọ, hiểu được họ trong mối quan hệ pha tạp, lẫn lộn hằng ngày, qua việc thểhiện sự chao đảo trước những đổi thay, biến động của đời sống đất nước trongmột gia đình vốn cĩ nền nếp gia pháp gia phong vững chãi Những năm 80, khibắt đầu công cuộc đổi mới, con người phải đối diện hằng ngày với bao nhiêuvấn đề của thực tiễn, của đời thường Đó là thực trạng bị mất gốc, bị đảo lộncủa các giá trị, của tinh thần nhân văn vốn được gìn giữ lâu đời trước sự bùng nổcủa kinh tế thị trường với tốc độ cao của đô thị hoá Sự chuyển mình của thời đạidẫn đến những bỡ ngỡ, những bối rối lấn tạp trong tâm lý đang háo hức của mộtbộ phận đại diện, nảy sinh những mâu thuẫn tất yếu, không thể cưỡng lại giữaxưa và nay, cũ và mới, giữa giá trị bền vững và cái lâm thời Sự tính toán và vụlợi của Lý, sự lạc thời cố hữu của Đông, những dằn vặt trong trái tim của ôngBằng trên cương vị người cha, một trụ cột gia đình và trong tâm lý một cá nhânnhỏ bé trước biến động lớn lao của thời cuộc tất cả tạo nên những góc cạnhmuôn mặt, đa chiều của cuộc sống Hiện thực đời sống hằng ngày cĩ muôn màumuôn vẻ Nắm bắt được cái cốt, cái thần của nó chính là vai trò của những nhàvăn mẫn cảm với thời đại Họ nhìn ra từ trong bề ngoài thơ mộng, trong vỏ bọclừa mị một hiện thực chân nguyên thật trần trụi, thậm chí tàn khốc và trắng trợn.Nhưng như Phong Lê đã nói nhìn thấy mặt xấu của cuộc sống để con người cóthể tăng sự miễn dịch, khám phá đời sống ở bình diện thế sự, đời tư chính là mộtđặc trưng, không chỉ của riêng Ma Văn Kháng mà còn có trong thế hướng khaitriển của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải và của chung các tác phẩmVHVNsau 1975
Ngay trong những vở kịch, tính chất thế sự cũng được bộc lộ rõ Hồn
Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ là một vở bi hài kịch, phản ánh
những vấn đề nóng bỏng của đất nước thời kỳ tiền đổi mới và đổi mới, đòngthời thể hiện một cái nhìn thấu đáo về khát vọng được sống đúng là mình củacon người Xung đột gay gắt của vở kịch là ở cuộc đấu tranh giữa phẩm giá,
Trang 30khát vọng của con người với hoàn cảnh trớ trêu "bên trong một đằng, bên ngoài
một nẻo" Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ thâu tóm hầu hết
diện mạo của đời sống đất nước và số phận từng cá nhân trong thời điểm hiệntại Vở kịch nằm trong mạch cảm hứng nhận chân sự thật, truy nguyên bản chất
của vấn đề là đặc trưng thẩm mĩ của VHVN sau 1975 "Hiện thực không chỉ là
hiện thực cách mạng, các biến cố lịch sử và đời sống cộng đồngmà đó còn là hiện thực của đời sống hằng ngày với các quan hệ thế sự vốn dĩ đa đoan đa sự, phức tạp chằng chịt, đan dệt nên những mạch nổi, mạch ngầm của đời sống Hiện thực đó còn là đời sống cá nhân của mỗi người với những vấn đề riêng tư, số phận, nhân cách, với khát vọng mọi mặt, cả hạnh phúc và bi kịch Hiện thực đời sống trong tính toàn vẹn của nó đã mở ra những không gian vô tận cho văn học thoả sức chiếm lĩnh, khám phá, khai vỡ".[31, 15]
Thể hiện tính đa diện của hiện thực cũng chính là sự đáp ứng yêu cầu
"nhìn thẳng vào sự thật" của công cuộc đổi mới văn học Con người đã dám nhìnthẳng, nghĩa là dám nhận thức lại Đây là một khuynh hướng sôi nổi trong văn
xuôi từ những năm đầu của thời kỳ đổi mới “Với Nguyễn Minh Châu thì nhận
thức lại là phải làm những cuộc đối chứng trong tư tưởng, để vượt lên những nhận thức sai lầm, máy móc hoặcgiản đơn về con người và xã hội Sự nhận thức lại cũng dẫn đến tinh thần tự phê phán nghiêm khắc và các nhân vật tự thú dưới ánh sáng của lương tâm (Bức tranh, Hạng, Sắm vai)" [31, 18].
Có thể thấy trong Chiếc thuyền ngoài xa tuyên ngôn của Nguyễn Minh
Châu về nghệ thuật, là minh chứng sâu sắc cho lời "ai điếu" mà nhà văn đã đọccho giai đoạn trước Đương nhiên không thể phủ nhận những thành quả mà vănhọc 30 năm chiến tranh mang lại cho sự nghiệp cách mạng của đất nước Song,trước những đổi thay của hiện thực, Nguyễn Minh Châu cũng như các nhà vănkhác cần phải nhìn nhận hiện thực trong một tâm thế khác Không thể nhìn nhậnsự vật hiện tượng theo quán tính đã hình thành thời trước Đúng ra, nhà văn đãđược giải phóng khỏi "chủ nghĩa đề tài", nghĩa là họ có quyền khai thác đượcnhững điều trước kia cần phải kiêng kỵ, nhặt ra những điều mới mẻ, bổ ích từquá khứ để áp dụng cho hiện tại Thành quả của khuynh hướng này phải kể đến
Thời xa vắng của Lê Lựu, Thân phận tình yêu của Bảo Ninh, Bến không chồng
của Dương Hướng nhưng hầu hết các tác phẩm trong VHVN sau 1975 ta đềuthấy một sự nhìn nhậân lại Bởi lẽ hướng khai thác của các nhà văn văn thời kỳ
mới đã hoàn toàn thay đổi Họ “nhìn lại hiện thực của thời kỳ vừa qua, phơi bày
những mặt trái còn bị che khuất, lên án những lực lượng, những tư tưởng và thói quen đã lỗi thời trở thành vật cản trên bước đường phát triển của xã hội".[31,
18] Dù trực tiếp hay gián tiếp phản ánh hiện thực thì người đọc qua tác phẩm
Trang 31cũng nhận ra một điều: nhà văn bây giờ đã khác, giống như họ đã từng nghiệm
ra "không thể viết như thế được nữa"
Một đặc trưng khá nổi bật của VHVN thời kỳ đổi mới là sự gia tăng yếutố triết lý trong tác phẩm Trong văn xuôi, chất triết lý trở thành một nhu cầukhông thể thiếu đối với các nhà văn, ngay cả những cây bút thế hệ sau nhưPhạm Thị Hoài, Nguyễn Huy Thiệp Văn xuôi giàu triết lý thể hiện nhữnghiểu biết, những trải nghiệm và cách nhìn sâu sắc của nhà văn về cuộc đời, vềlẽ tồn tại Chất triết lý đồng nghĩa với việc tác phẩm có chiều sâu và gia tăngtính trí tuệ Nhất là những nhà văn từng trải như Nguyễn Minh Châu, NguyễnKhải thì ngọn bút lại càng tích tụ nhiều suy tư
Ngòi bút của Nguyễn Minh Châu trước 1975 vốn đã mang nhiều triết lýsuy nghiệm, sau 1975 càng nổi bật rõ điều này Nguyễn Minh Châu luôn luônđối chứng với chính mình để thông hiểu mọi lẽ đời và khát vọng thấu thị chínhmình, trong cả tư cách một người nghệ sĩ và một con người
Nguyễn Khải ngay từ cuối những năm 70 đã nghiệm ra những điều kỳ lạ
ở con người, xây dựng một tiêu chí đánh giá mới theo những trải nghiệm củachính bản thân, khác với cách đáng giá con người ở những ranh giới phân minh:tốt và xấu, chính diện và phản diện Con người trong văn Nguyễn Khải đượcsoi chiếu ở sự kết hợp của các góc độ: văn hoá, lịch sử, triết học, được nhìnnhận một cách đa chiều Nhà văn đặt ra vấn đề bản lĩnh sống theo kiểu "dĩ bấtbiến, ứng vạn biến" của người kinh kỳ nói riêng và của con người Việt Nam nóichung, đặc biệt là sự khẳng định cái tôi trong một môi trường mà nó chưa đượcchấp thuận một cách công bằng Tuy nhiên cần thấy một điều cơ bản ở ngòi bútNguyễn Khải là yếu tố "triết" gắn liền với yếu tố "luận", nghĩa là tác giả luônlồng vào những tư tưởng táo bạo, và bao giờ những triết lý cũng có gốc gác từnhững chiêm nghiệm từ chính bản thân tác giả
Kịch của Lưu Quang Vũ nói chung và Hồn Trương Ba, da hàng thịt nói
riêng là những tác phẩm mang đậm tính triết lý Điều này được tạo nên do việcxây dựng hình tượng, do ngôn ngữ đa thanh mà tác giả sử dụng Qua lớp ngôn từvà lớp hình tượng trong tác phẩm, người đọc suy ra được những vấn đề thời sựmang tính triết lý và có ý nghĩa sâu sắc qua nhiều thế hệ như vấn đề mốt quanhệ giữa tinh thần và thể xác trong một con người, vấn đề được sống đúng làchính mình, và những sai lầm do sự "làm lại" một cách gượng ép, chắp vá Tấtcả nói lên những suy tư thâm trầm của tác giả và chiếu sâu nhân văn, nhân bảntrong ngòi bút của tác giả kịch nổi tiếng này
Cũng cần phải nói thêm rằng ở một thể loại văn xuôi thiên về khuynh
hướng trữ tình và tự do phóng khoáng như thể ký nói chung và bút ký Ai đã đặt
Trang 32tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường nói riêng thì tự trong lòng nó
cũng tựu trung những cảm xúc sâu lắng và những trải nghiệm thực tế của mộtđời văn để đằng sau những dòng chữ ta thấy một người nghệ sĩ với tâm hồnrộng mở, một tâm thế sống cao đẹp và một người nghệ sĩ làm tròn thiên chức
"sống và viết"
Tuy nhiên, khi cảm thụ thể loại này, chúng ta cần phải hiểu đây là thểloại mang dấu ấn chủ quan đậm nét Chất trữ tình vừa dàn trải vừa sâu lắng,vừa mênh mang vừa lắng đọng trên từng trang viết Nhà văn đã phong toả mọiranh giới, mở rộng nhãn giới của mình, mặc sức trổ hết những tinh hoa, phát tiếttrí lực để thực sự có một thiên tuyệt bút Ngòi bút hướng nội, tinh tế, tài hoa vàlịch lãm ấy đã phóng hoạ những nét rất tự nhiên mà khơi gợi bao nhiêu xaoxuyến Ở thiên bút ký này, thực sự có một sự hợp lưu đầy đủ của một tư thế vănhoá, một hiểu biết sâu sắc về lịch sử, địa lý nhưng không rập khuôn, sách vở,không khô khan, sạn sỏi để tạo nên linh hồn của một vùng, một miền và của cảmột đất nước tồn tại qua bao đau thương mà vẫn ăm ắp tình yêu
2.4.1.2 Về thơ
Chương trình và SGK Ngữ văn tuyển lựa hai tác phẩm thơ của VHVN sau
1975 là Đàn ghi ta của Lorca của Thanh Thảo và Đò Lèn của Nguyễn Duy "Có
thể nói - tất nhiên với ý nghĩa tương đối - rằng nếu sự đổi mới trong văn xuôi hướng nhiều vào khát vọng đổi mới xã hội và từ đó dẫn đến những hệ quả đổi mới văn chương thì thơ lại hướng nhiều vào nhu cầu đổi mới chính nó, cố nhiên không thoát li yêu cầu đổi mới xã hội" [31, 22].Nghĩa là thơ Việt Nam đương
đại có một nét đặc trưng không nhầm lẫn được về diện mạo, đúng hơn là về đặcđiểm thi pháp
Chúng tôi đã nói ở trên về khuynh hướng khai thác vấn đề thế sự, tínhchất triết lý và khuynh hướng nhận thức lại trong văn xuôi Đến thơ ca, nhữngđặc trưng trên cũng trở thành những thuộc tính nhưng nó tồn tại ở dạng biểuhiện khác Thơ ca sau 1975 vẫn tiếp tục cảm hứng sử thi với những trường cacủa Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Nguyễn Khoa Điềm nhưng không còn khí chấthào hùng nhất quán mà giọng điệu thiên về bi tráng đồng thời gắn với nhữngtrải nghiệm, chiêm nghiệm của cá nhân nhà thơ Tính chất phi sử thi hoá, hướngvào đời sống thế sự, trở về với cá nhân làm xuất hiện nhiều dạng thức của cáitôi trữ tình Cái tôi được khai thác ở mọi bình diện, tầng bậc, trong mọi mốiquan hệ, nhằm truy tìm tận cùng bản thể "đi tìm gương mặt bên trong của chínhmình với những khát khao nhận biết thế giới tâm linh, vô thức đầy bí ẩn của conngười"
Trang 33Nguyễn Duy, Thanh Thảo là hai cây bút nỗ lực cách tân cho nền thi cađương đại Ở Nguyễn Duy, chúng ta thấy một tiếng nói nhận thức lại, một cáinhìn "phản tỉnh" Đó là việc con người nhìn nhận lại quá khứ, nhìn lại chínhmình để thấy những sai lầm, thiếu sót với niềm tiếc hận khôn nguôi Tiếng nóitự vấn phản tỉnh với những chiêm nghiệm rất sâu sắc của Nguyễn Duy được ông
thể hiên rất thành thực qua bài Đò Lèn và cũng là cảm hứng chủ đạo của tập thơ
Ánh trăng Cái giật mình trong bài thơ Ánh trăng, những nhớ nhung về những
ngày còn thơ bé trong bài Tuổi thơ và nỗi niềm ân hận, tiếc nhớ của người cháu đối với người bà trong bài Đò Lèn là những góc cạnh của khuynh hướng nhận
thức lại trong thơ sau 1975 Ngưòi bà hiện lên chân thực với những vất vả nhọcnhằn và cuối cùng chỉ còn là một "nấm cỏ" có giá trị lay chuyển nhận thức củađộc giả Đó đồng thời còn là cái nhìn của tác giả xoáy sâu vào chính mình đểsoi thấy gương mặt thật Tác giả tái hiện chân thực cái tôi của mình, không hềche giấu thời thơ ấu mình là một chú bé hiếu động, ham chơi và quên mất nguờibà đã chịu đựng tất cả để nuôi dạy đứa cháu mồ côi Nguyễn Duy đã tôn trọng
dĩ vãng, khước từ cái nhìn thi vị hoá về những năm tháng tuổi thơ để thẳng thắnnhìn lại mình Nhận thức được những sai lầm của bản thân chính là một sự cổ vũcho hành động hướng thiện Đôi khi con người lại đổ lỗi cho sự không biết củamột thời "trong suốt giữa hai bờ hư thực" nhưng đó chính là sự làm ngơ trướcnhững điều đã biết, để biến nó thành "vỡ lẽ" Đây là tiếng nói tự vấn "rút ruột"của nhà thơ về tuổi thơ bé dại và thiếu hiểu biết của mình, là những trảinghiệm, những ưu tư trong tâm thế đối diện mình của nhà thơ
Nguyễn Văn Long nói: "Bước vào những năm 80, cái tôi sử thi mờ dần,
thay vào đó là cái tôi thế sự với những cảm xúc khác, những nỗi buồn, sự lo âu, tâm trạng xót xa day dứt trước hiện trạng xã hội, nhân thế"[31, 23] Dường như
trong thơ ngày càng xuất hiện nhiều hơn giọng điệu trầm buồn và cái nhìn biquan về lẽ tồn tại Sự trần trụi, khắc nghiệt của hiện thực khiến con người sợ hãiquay lại đối diện với chính mình, nhân thức mình và không còn có đủ niềm tin
"ồn ã" như thuở trước Đàn ghi ta của Lorca là những suy nghiệm của tác giả về
niềm hạnh phúc và nỗi đau đan xen trong cuộc đời của những con người đãdâng hiến trọn vẹn cho cái đẹp Thanh Thảo viết bài thơ một phần cũng để thểhiện những suy tư trên hành trình sáng tạo, khơi một hướng đi mới cho thơ caViệt Bên cạnh sự bất tử và niềm vinh quang vẫn phải có sự trả giá, dường nhưđó là quy luật mà người nghệ sĩ lãng du Tây Ban Nha đã nói bằng chính cuộcđời sống và chiến đấu cho cái đẹp của mình Bằng tâm hồn đồng điệu, ThanhThảo đã thể hiện sự thấu hiểu sâu sắc của mình về những phạm trù bí ẩn củađời sống Đó là những lẽ tất định Tiếng thơ Nguyễn Duy và Thanh Thảo là
Trang 34tiếng nói có ý nghĩa phổ quát cho mọi người và mọi thời.
Trong cả văn xuôi và thơ, lật đi lật lại vấn đề, người ta vẫn thấy một điềurằng hình tượng con người chính là điểm đi và điểm đến của văn học Con ngườiđược nhìn nhận ở mọi bình diện, mọi khía cạnh của đời sống, cả tình cảm vàbản năng, ý thức và vô thức, khát vọng cao cả và dục vọng tầm thường, conngười nhân loại phổ quát và con người cá biệt đó chính là đặc trưng củaVHVN sau 1975 Qua thời gian, trước đòi hỏi của lịch sử, con người có khi bị
"thiêu rụi" đi mặt này mặt khác, những điều không nên có, không phù hợp với
thời đại, nhưng đến một lúc nào đó tất cả lại hiện diện đầy đủ "Con người vừa
là điểm xuất phát, là đối tượng khám phá chủ yếu, vừa là cái đích cuối cùng của văn học, đồng thời cũng là điểm quy chiếu, là thước đo giá trị của mọi vấn đề xã hội, mọi sự kiện và biến cố lịch sử" [31, 16].
Chính vì cách nhìn đa chiều về con ngưòi và hiện thực nên nhà văn và vănhọc hôm nay thấy "lung lay niềm lạc quan tư sản", nhận thấy sự cô đơn trước lẽtồn tại, trước bản chất phức tạp, phồn phong của cuộc sống Đây chính là dấuhiệu hiện đại chủ nghĩa, hay còn được gọi với một thuật ngữ khác là cảm quanhậu hiện đại trong những sáng tác văn học đương đại của dân tộc
Khi dạy học những tác phẩm VHVN sau 1975 trong nhà trường, cả giáoviên và học sinh đều phải nắm vững những đặc trưng thẩm mĩ trên Không thểtiếp nhận và truyền thụ có hiệu quả những tác phẩm này nếu như không nắmđược những điều cốt yếu trên Sáng tác của Nguyễn Minh Châu, của NguyễnKhải trước và sau 1975 hoàn toàn không phải là một cuộc "tái ngộ" Vì vậykhông thể lấy những tiêu chí của văn học 30 năm chiến tranh làm hệ quy chiếu,làm thước đo cho các sáng tác văn chương đương đại, mà phải có một "khungsườn" riêng để làm phép so sánh "thời đại cùng thời đại"
2.1.5 Giải pháp thực hiện nguyên tắc nắm vững đặc trưng thẩm mỹ của
VHVN sau 1975 (trong giờ dạy học các tác phẩm thuộc thời kỳ văn học này)
Chúng tôi đã khai triển rất cụ thể những vấn đề thuộc phạm trù “lýthuyết” của nguyên tắc nắm vững đặc trưng thẩm mỹ của VHVN sau 1975 khidạy học các tác phẩm của giai đoạn văn học này Song, nhiệm vụ quan trọngnhất của đề tài này vẫn là phương pháp Có nghĩa là nguyên tắc ấy cần được ápdụng cụ thể như thế nào trong giờ dạy học của giáo viên và học sinh Hơn nữa,việc giải quyết yếu tố “thực hành” của vấn đề này cũng phù hợp với nguyên tắcđổi mới giáo dục, tập trung nhiều vào kỹ năng của học sinh Muốn cung cấpkiến thức, hình thành và rèn luện kỹ năng cho học sinh thật sự hiệu quả thìngười giáo viên phải ý thức được vai trò của mình, đồng thời có những thao tácthiết yếu trong bài dạy của mình
Trang 35Đối với việc dạy học các tác phẩm VHVN sau 1975 trong chương trình vàSGK Ngữ văn THPT thì giáo viên có thể thực thi những giải pháp nào ? Trướchết, giáo viên cần phải định hướng kiến thức khái quát cho học sinh trước khi đivào những tác phẩm cụ thể Điều này hoàn toàn “khớp” với quỹ đạo của việcxây dựng chương trình dạy học văn, theo nguyên tắc tích hợp và nguyên tắc kếthợp hài hoà giữa kiến thức cụ thể, kiến thức khái quát và kiến thức phương
pháp Giáo viên cần chú trọng vào bài Khái quát văn học Việt nam từ sau Cách
mạng tháng Tám 1945 đến hết thế kỷ XX ở SGK Ngữ văn 12 tập 1 Đây là bài
khát quát văn học sử của cả hai giai đoạn văn học Việt Nam Dấu mốc năm
1975 đánh dấu sự chuyển mình, biến đổi củavăn học Việt Nam Bởi vậy, khôngphải ngẫu nhiên mà các nhà biên soạn sách lại tập trung cả hai giai đoạn trongmột bài học Giáo viên có thể nắm rõ điều này để làm cơ sở so sánh sự khácnhau giữa hai giai đoạn văn học cho các em, để các em thấy được sự hình thànhnhững đặc trưng thẩm mỹ của văn học giai đoạn sau 1975
Thêm vào đó, giáo viên cần nhận thấy sự khác nhau trong dung lượng kiếnthức phân bố ở hai giai đoạn Giai đoạn văn học 30 năm cách mạng đựoc cácnhà biên soạn sách khai thác trên ba phương diện : Hoàn cảnh lịch sử, xã hội,văn hoá; quá trình phát triển và những thành tựu chủ yếu; những đặc điểm cơbản của văn học giai đoạn này Trong khi đó, văn học Việt Nam sau 1975 chỉđược triển khai trên hai phương diện : Hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hoá; nhữngchuyển biến và một số thành tựu ban đầu, thiếu đi phần nói về những đặc điểm
cơ bản Sự khác nhau này có phải là sơ suất của các nhà biên soạn sách Hoàntoàn không phỉa vậy Giai đoạn này, văn học phát triển không ổn định, lại đadạng hướng triển khai, hơn nưa còn đang tiếp diễn Bởi vậy, để có một cái nhìnthực sự chuẩn xác và có hệ thống, để khái quát nên những đặc điểm cơ bản củamột giai đoạn văn học mang tính thể nghiệm rõ rệt như giai đoạn văn học nàythì quả không phải là điều dễ dàng gì Sự bỏ ngỏ và “mở cửa” của kiến thứctưởng như phi lý mà lại thành hợp lý Theo chúng tôi, giáo viên nên lưu ý vànhấn mạnh đến sự khác biệt này cho học sinh để các em hình dung đời sống vănhọc đương đại, đồng thời sau trong quá trình dạy, giáo viên cần khái quát nhữngđặc trưng thẩm mỹ của văn học giai đoạn này trên cơ sở giới thiệu cho các emnhững thành tựu ban đầu Đây sẽ là sợi dây thông suốt quá trình học tập các tácphẩm văn học giai đeọan này của các em học sinh Ngoài ra, giáo viên cũng cóthể nhắc qua về nội dung của các tác phẩm cụ thể mà các em sẽ được học tiếptheo đó đề các em có một định hướng tương đối sơ lược Tất nhiên, có nhiềungười sẽ nghĩ là hơi “lo xa” nhưng chúng tôi cho rằng đây sẽ là một cái “móng”để các em xây dựng tiếp công trình kiến thức của mình
Trang 36Việc nắm vững đặc trưng thẩm mỹ của VHVN sau 1975 còn phỉa liên tụcđược thực thi khi dạy học các tác phẩm cụ thể Nhiệm vụ của giáo viên là luônluôn phải gợi lại cho các em những kiến thưc đã đựoc nhắc đến trong bài kháiquát, đồng thời phải có ý thức tổng hợp lại kiến thức cho các em Về điểm này,có thể hình dung những tri thức của học sinh về VHVN sau 1975 giống như một
“cái kho” luôn “mở cửa”, và giáo viên là người “lùa” kiến thức vào cho các emđón nhận, đương nhiên là phải tính đến khả năng “hấp thụ” của từng em
Lấy ví dụ khi dạy Đàn ghi ta của Lorca của Thanh Thảo, giáo viên không
thể không nói đến những đổi mới, cách tân của thơ Thanh Thảo cũng là mộthướng tìm tòi của thơ Việt, không thể không nhắc đến khái niệm “liên văn bản”trong văn học đương đại cũng như cảm quan hậu hiện đại ở tiếng nói trầm buồnkhi suy tư về lẽ tồn tại, về sự hy sinh và bất tử của người nghệ sĩ Lorca cũng nhưnghệ thuật chân chính Khi dạy Mùa lá rụng trong vườn, Chiếc thuyền ngoài xa,Một người Hà Nội, giáo viên phải nhắc đến đặc trưng gia tăng chất thế sự củacả giai đoạn văn học này Có thể thực hiện điều này trong khi dạy Tiểu dẫn, cụthể là khi nhắc đến những thay đổi trong sự nghiệp sáng tác của tác giả ở cácgiai đoạn khác nhau Có thể thâu tóm lại phương pháp dạy học các tác phẩmthuộc thời kỳ văn học này là kiểu “tổng – phân – hợp”, nghĩa là vừa diễn dịch,vừa quy nạp, kết hợp sự “đa dạng trong thống nhất” ở các tác phẩm cụ thể Đây chỉ là những ví dụ tiêu biểu ít nhiều làm rõ việc áp dụng nguyên tắcnắm vững đặc trưng thẩm mỹ của VHVN sau 1975 khi dạy các tác phẩm vănhọc của gia đoạn này Chúng tôi cho rằng đã là nguyên tắc thì giáo viên phảiluôn luôn có ý thức thực hiện, nghĩa là phải để kiến thức khái quát ở “tư thế sẵnsàng”, tìm ra những bước đi cụ thể, thích hợp trong bài giảng để việc lĩnh hộikiến thức của học sinh được diễn ra thông suốt và hiệu quả
2.2 Xây dựng tinh thần đối thoại trong giờ học dựa trên đặc trưng đối thoại của VHVN sau 1975
2.2.1 Đặc trưng đối thoại của VHVN sau 1975
2.2.1.1 Khái niệm đặc trưng đối thoại của văn học
Theo Từ điển Tiếng Việt, từ "đối thoại" được giải thích là "1 Nói chuyện
qua lại với nhau 2 Bàn bạc, thương lượng giữa hai hoặc các bên có vấn đềtranh chấp"
Từ "đối thoại" trong tính đối thoại của văn chương được dùng với nghĩa thứnhất, nghĩa là trong một tác phẩm có nhiều tiếng nói khác nhau của các nhânvật, và nhà văn chỉ nêu quan niệm riêng của bản thân để người đọc có thể cùnglên tiếng để thể hiện những suy tư của họ Tính đối thoại trong văn chương còn
Trang 37được hiểu là sự liên kết giữa các văn bản trước và sau nó, thậm chí là sự đốithoại giữa văn chương và các ngành nghệ thuật cùng cấp bậc.
Tính đối thoại vốn dĩ là một đặc trưng của tiểu thuyết, chứa đựng nhữngtiếng nói khác nhau tranh luận với nhau, một phát hiện của Bakhtin trong tác
phẩm Những vấn đề của thi pháp Đơxtôiepxki, 1929 Sau này một số nhà nghiên
cứu như Giơnet, Tôđôrôp, Krixteva mở rộng đến thơ, kịch
Văn chương nói chung ít nhiều đều có tính đối thoại Bởi vì vốn dĩ văn họclà nghệ thuật ngôn từ Ngôn từ (hay ký hiệu văn chương) là vật thể sinh động, tựbản thân nó đã "lấp lánh" nhiều ý nghĩa Hơn nữa, trong hoạt động ngôn từ, cácphát ngôn luôn luôn hiện diện sự chờ đợi (kích thích) một lời đáp lại nào đó,cũng tức là phản xạ lại kinh nghiệm ngôn ngữ trước đó Đối thoại được xem làmột đặc tính quan trọng hết sức phổ quát của hoạt động ngôn từ
Tính đối thoại như vậy được xem là một thuộc tính, là một đặc điểm "tựnó" của văn học
2.2.1.2 Đặc trưng đối thoại của VHVN sau 1975
VHVN vốn gắn bó chặt chẽ với đời sống dân tộc, là sự thể hiện minh triếtnhất mối quan hệ hữu cơ giữa nghệ thuật và đời sống Từ thời trung đại, do sựkiềm thúc của ý thức hệ phong kiến với những quan niệm hết sức hà khắc, làmcái "tôi" không có điều kiện để "ngóc đầu dậy" Tính ước lệ và quy phạm làm
"át" đi tính đối thoại, khiến nó thậm chí bị "thui chột" Khi mở cánh cửa hiệnđại, văn học dân tộc gặp ngay hoàn cảnh chiến tranh kéo dài Đây là một hoàncảnh đặc biệt khiến văn chương phần nào mang tính "minh hoạ" phát biểu chonhững tư tưởng "nhất nhất" và được xem là "chân lý" Hay nói cách khác, vănhọc thời kỳ này không cho phép tính đối thoại được nảy nở một cách chính thức.Chúng tôi nói đến chữ "chính thức" là bởi lẽ không phải văn chương dân tộctrong những năm tháng chiến tranh hoàn toàn không có tính đối thoại mà nó chỉ
ở dạng tiềm ẩn, nhất là trong môi trường có sự làm chủ của cái tôi cá nhân VHVN sau 1975 đã tồn tại và phát triển trong những điều kiện lịch sử vàxã hội khác biệt rõ rệt với thời kỳ chiến tranh, trong một môi trường mà ý thứctinh thần có nhiều biến đổi Sự biến đổi ấy chúng tôi đã nói cụ thể ở trên Và ởphần này, chúng tôi chỉ nhấn mạnh đến tính chất đân chủ của xã hội mới và sựdâng cao sôi sục của tính chất hiện thực mà đời sống hiện thời đang chiếm lĩnh.Nhiều vấn đề của đời sống đặt ra nói lên tính chất phức tạp của nó Sự kết hợpgiữa chất sống của hiện thực với môi trường dân chủ khiến cho thực sự vănchương giàu tính đối thoại Trong hoàn cảnh đất nước đã có nhiều thay đổi, tinhthần dân chủ được đề cao trên mọi lĩnh vực của đời sống, văn học cũng vận
Trang 38động theo xu hướng dân chủ hoá, đổi mới quan niệm về vai trò, vị trí và chứcnăng của văn học, về nhà văn và cả quan niệm về hiện thực Văn học trong thờikỳ đổi mới được xem là một phương thức tự biểu hiện, tức là người nghệ sĩ cóquyền phát biểu tư tưởng quan niệm chính kiến của mình về xã hội, về conngười Nhà văn phát biểu bằng chính quan niệm từng trải của mình, nhưng đó
chỉ là ý kiến riêng của cá nhân Điều đặc biệt "Trong một nền văn học hướng tới
tinh thần dân chủ, đòi hỏi có thể thừa nhận tư tưởng riêng, cái nhìn riêng của mỗi người thì người viết dù rất tin và muốn bênh vực cho tín niệm của mình cũng không thể không biết đến những tư tưởng và quan niệm khác Mối quan hệ giữa nhà văn và bạn đọc cũng thay đổi theo hướng dân chủ hoá, bình đẳng hơn để người đọc thực sự được tôn trọng, được quyền làm chủ"[31, 14-15].
Hơn nữa, theo quan điểm tiếp nhận hiện đại, giá trị của tác phẩm mang tínhchất "mở", do sự đóng góp của người đọc trong việc kiến tạo nên những lớp ýnghĩa của văn bản Như vậy, trong VHVN đương đại, vai trò của độc giả đượcxem là trung tâm, là người đồng sáng tạo với nhà văn
Tất cả những yếu tố trên trở thành điều kiện cần và đủ cho việc tính đốithoại trở thành một đặc trưng của các tác phẩm VHVN sau 1975
Vậy đặc trưng đối thoại của VHVN sau 1975 được biểu hiện cụ thể ở
những khía cạnh nào? Theo Từ điển văn học, đối thoại tương ứng với tính đối
thoại của "ý thức các nhân vật, của bản thân các nhà văn, do các đặc điểm củaquan niệm tư tưởng nghệ thuật của họ"[449] Biểu hiện rõ rệt nhất của đặctrưng đối thoại của VHVN sau 1975, theo chúng tôi là ở nghệ thuật trần thuậttrong văn xuôi với những khía cạnh như : điểm nhìn trần thuật, giọng điệu, ngônngữ đa thanh
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: "Điểm nhìn nghệ thuật là vị trí từ đó
người trần thuật nhìn ra và miêu tả sự vật trong tác phẩm" [27] Giáo trình Dẫn luận thi pháp học viết: "Điểm nhìn trần thuật là phương thức phát ngôn, trình bày, miêu tả phù hợp với cách nhìn, cách cảm thụ thế giới của tác giả Khái niệm
"điêûm nhìn" mang tính ẩn dụ, bao gồm mọi nhận thức, đánh giá, cảm thụ của chủ thể đối với thế giới Nó là vị trí dùng để quan sát, cảm nhận, đánh giá, bao gồm cả khoảng cách giữa chủ thể và khách thể, cả phương diện vật lý, tâm lý văn hoá"[2, 41]
Trong các tác phẩm văn xuôi VHVN sau 1975, có khi các tác giả sử dụng
hình thức trần thuật từ ngôi thứ ba (như Mùa lá rụng trong vườn), có khi là ở ngôi thứ nhất (như Một người Hà Nội, Chiếc thuyền ngoài xa), cách tổ chức điểm
nhìn cũng khác nhau, có thể chi một điểm nhìn (Bức tranh của Nguyễn Minh
Châu), nhưng cũng có thể có sự phối hợp nhiều điểm nhìn khác nhau : người
Trang 39dẫn chuyện, tác giả, nhân vật, điểm nhìn bên trong, bên ngoài, điểm nhìn khônggian, thời gian, điềm nhìn ngôn từ, điểm nhìn đánh giá tư tưởng, cảm xúc Dùtheo hình thức nào thì các tác phẩm VHVN sau 1975 cũng tạo nên rất nhiềunhững cách nhìn nhận, nhiều tư tưởng quan niệm khác nhau về cùng một vấnđề Nghĩa là nhà văn không đóng vai trò phát ngôn cho chân lý của một thờiđại, mà họ chỉ đứng trên vai trò của một nhà văn để tái hiện hiện thực, nhậpthân, hoá thân vào từng nhân vật để thấu hiểu, thể hiện đời sống nội tâm phứctạp, bí ẩn của họ Nhà văn chỉ nói lên những suy nghĩ riêng của bản thân mình,còn người phán xét là bạn đọc.
Một người Hà Nội của Nguyễn Khải là một trong những tác phẩm thể hiện
rất rõ tính đối thoại của văn chương thời kỳ đổi mới Nguyễn Khải dựng nênnhân vật bà Hiền với một quan niệm mới, một góc nhìn mới về con người Bằngkinh nghiệm của bản thân, ông đã thể hiện bản lĩnh sống của nhân vật qua rấtnhiều những thăng trầm, biến độïng của đất nước Nguyễn Khải đưa ra tiêu chíđánh giá mới về con người nhưng chỉ theo những trải nghiệm của cá nhân, hoàntoàn không mang kiểu áp đặt chân lý một chiều như trước đây Minh chứng là ởchỗ nhà văn đóng vai trò là người kể chuyện, nhưng cũng chính là một nhân vậttrong tác phẩm, là một người cháu từng có cách nhìn nhận, quan niệm sai lầmcho bà Hiền là "tư sản", từng có những hành động không mấy tốt đẹp với người
cô của mình như không ghi tên bà vào trong lí lịch cán bộ, từng thóc mách: "Tại
sao cô không phải học tập cải tạo, cô giấu cũng tài nhỉ ?" Như vậy, con người
được nhìn nhận đa chiều hơn, và cách nhìn của tác giả đối với nhân vật, cả hiệnthời và cả sau tiếp, cũng chỉ là một tài liệu tham khảo, không phải là lời phánquyết sau cùng, có giá trị là một chân lý Phần cuối cùng để nhìn nhận và khẳngđịnh sự đúng đắn của tiêu chí đánh giá mới về con người mà Nguyễn Khải đưa
ra là ở bạn đọc
Cũng như vậy, Chiếc thuyền ngoài xa cũng là một truyện ngắn giàu tính
đối thoại Ở truyện ngắn này, sự phối kết các điểm nhìn trần thuật được thể hiệnrất chặt chẽ Cái nhìn của Đẩu - vị quan toà, của Phùng - người nghệ sĩ nhiếpảnh và của chính tác giả, xoay quanh nhân vật chính là người đàn bà hàng chài,khắc hoạ đầy đủ rõ nét nhất chân dung lẫn tâm hồn nhân vật và các nhân vậtkhác có quan hệ thiết thân đến đời sống và số phận của nhân vật Kết thúc câuchuyên, bi kịch của gia đình người hàng chài vẫn chưa được giải quyết Nhữngsuy tư của Đẩu, của Phùng về nhân vật tựa như một câu trả lời còn để ngỏ chongười đọc Đồng thời, qua câu chuyện về một gia đình hàng chài đằng sau bứcảnh "chiếc thuyền ngoài xa" thơ mộng, Nguyễn Minh Châu muốn để lại nhữngsuy tư cho người nghệ sĩ nhiều thế hệ về mối quan hệ giữa hiện thực cuộc sống
Trang 40và nghệ thuật.
Tính chất đối thoại của VHVN sau 1975 còn được tạo ra tư giọng điệu trầnthuật trong tác phẩm văn xuôi Nét đổi mới rõ rệt nhất của văn xuôi thời đại nàylà giọng điệu trần thuật mang tính hướng nội Các tác giả đều tập trung khaithác đời sống tâm lý bên trong của nhât vật để nói lên những suy tư trăn trở củatác giả Tính hướng nội này tạo nên tính chất chủ quan, riêng tư trong cách nhìncủa tác giả, khơi gợi sự tham gia của người đọc Ở một thể loại có sự kết hợpchặt chẽ, độc đáo giữa tự sự và trữ tình như thể ký, ngòi bút của Hoàng Phủ
Ngọc Tường cũng phát huy tính hướng nội ở mức độ cao nhất Ai đã đặt tên cho
dòng sông là tác phẩm thể hiện những trải nghiệm, những cảm nhận chủ quan
về một dòng sông văn hoá mang cái hồn tinh tuý của đất nước Tính chất hướngnội tạo nên từ giọng điệu mượt mà, đằm thắm, tinh tế, được tích luỹ từ nhiềugóc nhìn, nhiều hiểu biết từ văn hoá, lịch sử, địa lý
"Nổi bật trong tổ chức giọng điệu của văn xuôi sau 1975 là đan xen của nhiều giọng điệu Nhà văn thường đứng ở nhiều góc độ, nhiều bình diện để tả và kể Không chỉ kể bằng giọng của mình, bằng lời của người dẫn chuyện mà các tác giả còn hoá thân thành nhiều giọng điệu phong phú khác nhau : có đối thoại, có độc thoại, có ngôn ngữ trực tiếp, có ngôn ngữ nửa trực tiếp " [2, 42-43] Sự
phức hợp của nhiều giọng điệu kể trên tạo nên những lớp ý nghĩa khác nhau từ
tác phẩm Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng là sự kết hợp nhiều giọng
điệu, xoáy sâu vào tâm lý của từng số phận, từng nhân vật để thể hiện đời sốngtâm linh tinh tế của con người Ở tiểu thuyết này, Ma Văn Kháng bằng giọngkể khách quan từ ngôi thứ ba đã thể hiện rất chân thực khung cảnh của một giađình nền nếp, gia phong đang chao đảo trước những đổi thay của xã hội, đồngthời cái nhìn tỉnh táo của nhà văn về bi kịch của từng con người và của cả giađình cũng chính là tinh tuý trong ngòi bút giàu tính nhân văn, nhân bản của ông
Ma Văn Kháng thể hiện những suy lý của mình về hạnh phúc cá nhân, về sựcần thiết phải níu giữ những giá trị truyền thống của gia đình, của dân tộc Trong văn xuôi cũng như trong thơ ca, ngôn ngữ đóng vai trò chính yếutrong việc kiến tạo tác phẩm, làm hữu hình hoá những ý niệm của nhà văn.Nhưng đằng sau ngôn ngữ lại tồn tại những điều bí ẩn, gọi là những "khoảngtrống ngôn từ" Ngôn ngữ trong VHVN sau 1975 là ngôn ngữ đa thanh, giàu triếtlý, thể hiện chiều sâu trong sự suy nghiệm của nhà văn, làm cho tác phẩm giàu
ý nghĩa Ngôn ngữ kịch của Lưu Quang Vũ là đặc trưng cho ngôn ngữ củaVHVN sau 1975 Những cuộc đối thoại của hồn Trương Ba với xác hàng thịt,của Trương Ba và Đế Thích là những đoạn giàu tính sáng tạo và thể hiện rõ nétnhững đặc trưng của kịch Lưu Quang Vũ Từ ngôn ngữ của các nhân vật, vở kịch