1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tích hợp mô hình IO trong phân tích dòng chất thải rắn từ các ngành kinh tế việt nam

284 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 284
Dung lượng 2,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Viết tắt Tiếng Việt ADB Ngân hành phát triển Châu Á BVTV Bảo vệ thực vật CTNH Chất thải nguy hại CTR Chất thải rắn EPA Cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kì EEA Cơ quan

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KĨ THUẬT MÔI TRƯỜNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 PGS TS Nguyễn Thị Ánh Tuyết

Hà Nội - 2021

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tác giả và người hướng dẫnkhoa học Những kết quả và số liệu trong luận án chưa từng được ai công bố trướcđây dưới bất kì hình thức nào Các thông tin luận án tham khảo đã được trích dẫnđầy đủ, chính xác, và rõ nguồn gốc

Hà Nội, tháng 08 năm 2021

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN NGHIÊN CỨU SINH

PGS.TS Nguyễn Thị Ánh Tuyết Tạ Thị Yến

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giáo viên hướng dẫn PGS.TS NguyễnThị Ánh Tuyết đã luôn hỗ trợ, ủng hộ, động viên và hướng dẫn tận tình về chuyênmôn trong suốt quá trình tôi thực hiện luận án

Tôi xin chân thành cảm ơn trường Đại học Bách Khoa đã cho phép tôi thựchiện luận án này Đồng thời xin cảm ơn Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường

và phòng Đào tạo đã hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trìnhthực hiện luận án

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô giáo của Viện Khoa học

và Công nghệ Môi trường, đặc biệt là các thầy cô giáo bộ môn Quản lý môi trường

đã luôn động viên tinh thần, giúp đỡ tận tình về kiến thức chuyên môn để tôi có thểhoàn thành luận án

Xin chân thành cảm ơn trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội vàKhoa Môi trường đã tạo điều kiện cho tôi tham gia chương trình đào tạo này, đồngthời đã luôn hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập

Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Lê Thị Trinh, PGS.TS Nguyễn Thị HồngHạnh, PGS.TS Phạm Thị Mai Thảo, TS Phạm Hồng Tính và các anh chị em củaKhoa Môi trường, trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội nơi tôi côngtác đã luôn quan tâm, động viên, chia sẻ công việc tại cơ quan và luôn hỗ trợ tôitrong quá trình thực hiện luận án

Tôi xin chân thành cảm ơn Tổng cục thống kê, các Doanh nghiệp sản xuấtgiấy và nhựa đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thu thập thông tin và

dữ liệu phục vụ nghiên cứu của Luận án

Tôi xin chân thành cảm ơn sự góp ý quý báu của các thầy cô giáo trong hộiđồng chấm luận án để tôi có thể hoàn thiện luận án và định hướng nghiên cứu trongtương lai

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới chồng, các con và gia đìnhcủa tôi đã luôn động viên, quan tâm, ủng hộ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình họctập

Nghiên cứu sinh

Tạ Thị Yến

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC KÍ HIỆU VÀ ĐƠN VỊ viii

DANH MỤC BẢNG ix

DANH MỤC HÌNH x

MỞ ĐẦU 1

1 Sự cần thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3

5 Các đóng góp mới của luận án 4

6 Các nội dung chính của luận án 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 5

1.1 Quản lý chất thải rắn 5

1.1.1 Chất thải rắn từ các ngành kinh tế của Việt Nam 5

1.1.1.1.Tình hình phát sinh chất thải rắn từ một số ngành kinh tế của Việt Nam 5

1.1.1.2 Một số nghiên cứu về kiểm kê chất thải rắn của các ngành kinh tế Việt Nam 10

1.1.1.3 Cơ sở lựa chọn hệ số phát sinh chất thải rắn của các ngành kinh tế 12 1.1.2 Hiện trạng quản lý và xử lý chất thải rắn của Việt Nam 17

1.1.2.1 Hiện trạng thu gom, xử lý, tái chế chất thải rắn thông thường 17

1.1.2.2 Hiện trạng phát sinh, thu gom, xử lý, tái chế chất thải nguy hại 20

1.1.3 Các chiến lược, chính sách pháp luật về quản lý chất thải rắn 21

1.1.4 Kinh nghiệm quốc tế trong quản lý chất thải 26

1.2 Các công cụ trong kiểm kê chất thải 29

1.2.1 Mô hình LCA (Life Cycle Assessment) 29

1.2.1.1 Khái quát chung về mô hình LCA 29

1.2.1.2 Kinh nghiệm khai thác mô hình LCA 30

1.2.2 Mô hình IWM (Integrated Waste Management) 31

1.2.2.1 Khái quát chung về mô hình IWM 31

1.2.2.2 Kinh nghiệm khai thác mô hình IWM 32

1.2.3 Mô hình MFA (Material Flow Analysis) 32

Trang 6

1.2.3.1 Khái quát chung về mô hình MFA 32

1.2.3.2 Kinh nghiệm khai thác mô hình MFA 33

1.2.4 Mô hình IO (Input –Output table) 34

1.2.4.1 Khái quát chung về mô hình IO 34

1.2.4.2 Kinh nghiệm khai thác mô hình IO 36

Tiểu kết chương 1 39

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41

2.1 Phương pháp luận nghiên cứu 41

2.2 Thu thập dữ liệu 43

2.3 Mô hình IO 44

2.3.1 Cấu trúc mô hình IO 44

2.3.2 Phương pháp cập nhật IO 46

2.3.3 Kỹ thuật gộp ngành trong mô hình IO 49

2.3.4 Kỹ thuật khai thác IO trong phân tích mối quan hệ liên ngành 51

2.3.5 Kỹ thuật khai thác IO trong phân tích dòng chất thải rắn 52

2.3.5.1 Xác định nhu cầu trung gian 52

2.3.5.2 Xác định lượng chất thải rắn phát sinh của các ngành kinh tế 53

2.3.5.3 Xác định lượng thu gom chất thải rắn từ các ngành kinh tế 55

2.4 Phân tích kiểm kê vòng đời (LCI) 55

2.4.1 Xác định mục tiêu và phạm vi phân tích 55

2.4.2 Thu thập dữ liệu 57

2.4.2.1 Khảo sát tại các nhà máy, làng nghề 57

2.4.2.2 Khảo sát tại bãi chôn lấp 58

2.4.3 Kiểm kê phát thải 59

2.4.4 Diễn giải kết quả 61

2.5 Tích hợp IO và LCI trong phân tích dòng chất thải rắn điển hình 62

2.6 Phương pháp đề xuất giải pháp quản lý chất thải hiệu quả về tài nguyên 64 Tiểu kết chương 2 65

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 67

3.1 Mối quan hệ kinh tế liên ngành từ các ngành kinh tế của Việt Nam 67

3.1.1 Phân tích liên kết xuôi, liên kết ngược của các ngành kinh tế 67

3.1.2 Phát triển một số ngành kinh tế của Việt Nam giai đoạn 2007-2018 68

3.2 Dòng chất thải từ một số ngành sản xuất và tiêu dùng của Việt Nam 70

3.2.1 Lượng chất thải rắn phát sinh từ các ngành sản xuất và tiêu dùng của Việt Nam 70

3.2.1.1 Kết quả lựa chọn hệ số phát sinh chất thải rắn 70

Trang 7

3.2.1.2 Lượng chất thải rắn phát sinh từ các ngành sản xuất và tiêu dùng của

Việt Nam năm 2018 71

3.2.2 Lượng chất thải rắn được thu gom của các ngành sản xuất và tiêu dùng của Việt Nam 80

3.2.2.1 Suất thu gom chất thải rắn của các ngành sản xuất và tiêu dùng 80

3.2.2.2 Lượng thu gom chất thải rắn của các ngành kinh tế 82

3.3 Nghiên cứu điển hình dòng chất thải của ngành giấy và ngành nhựa 87

3.3.1 Ngành nhựa 88

3.3.1.1 Đặc điểm ngành nhựa 88

3.3.1.2 Hiện trạng sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm nhựa 92

3.3.1.3 Hệ số phát sinh chất thải rắn và khí nhà kính của sản phẩm nhựa .96 3.3.1.4 Phát thải trực tiếp và gián tiếp trong vòng đời sản phẩm nhựa 98

3.3.1.5 Dòng vật liệu trong chu trình của ngành nhựa 104

3.3.2 Ngành giấy 108

3.3.2.1 Đặc điểm ngành giấy 108

3.3.2.2 Hiện trạng sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm giấy 110

3.3.2.3 Hệ số phát sinh chất thải rắn và khí nhà kính của sản phẩm giấy 111

3.3.2.4 Phát thải trực tiếp và gián tiếp trong vòng đời sản phẩm giấy 116

3.3.2.5 Dòng vật liệu trong chu trình của ngành giấy 119

3.4 Đề xuất giải pháp quản lý chất thải hiệu quả về tài nguyên 121

3.4.1 Cơ sở đề xuất các giải pháp 121

3.4.2 Quản lý chất thải theo đối tượng tiêu dùng, dòng vật liệu, dòng sản phẩm

122 3.4.2.1 Quản lý chất thải theo đối tượng tiêu dùng 122

3.4.2.2 Quản lý chất thải theo dòng vật liệu 125

3.4.2.3 Quản lý chất thải theo dòng sản phẩm 125

3.4.3 Đẩy mạnh thu hồi vật liệu 127

3.4.4 Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu 133

Tiểu kết chương 3 136

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 137

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA LUẬN ÁN 140

TÀI LIỆU THAM KHẢO 141

PHỤ LỤC 1

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Viết tắt Tiếng Việt

ADB Ngân hành phát triển Châu Á

BVTV Bảo vệ thực vật

CTNH Chất thải nguy hại

CTR Chất thải rắn

EPA Cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kì

EEA Cơ quan môi trường Châu Âu

EET Kĩ thuật ước tính phát thải

EIO Bảng cân đối năng lượng

EPR Mở rộng trách nhiệm nhà sản xuất

PRO Tổ chức trách nhiệm của Nhà sản xuất

GSO Tổng cục thống kê

IO Bảng cân đối vào - ra

IWM Quản lý chất thải rắn tích hợp

HSPT Hệ số phát thải

KNK Khí nhà kính

KTTH Kinh tế tuần hoàn

MARD Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông

thôn

MFA Phân tích dòng vật liệu

MOC Bộ Xây dựng

MOIT Bộ Công thương

MONRE Bộ Tài nguyên và Môi trường

MSW

LCA Phân tích vòng đời

LCI Kiểm kê vòng đời

LKX Liên kết xuôi

LKN Liên kết ngược

NIP Tổ chức kiểm kê ô nhiễm quốc gia Úc

Tiếng Anh

The Asian Development Bank

United States EnvironmentalProtection Agency

European Environment Agency

Emission Estimation Technique

Environment Input OutputExtended Producer

Responsibility ProducerResponsibility

OrganizationGeneral Statistics OfficeInput-output table

Integrated Waste Management

Ministry of Agriculture and Rural Development Material Flow Analysis Ministry of Construction Ministry of Industry and Trade Ministry ofNatural Resource and

Environment Municipal Solid Wastes Life Cycle AssessmentLife Cycle Inventory

National Pollutant Inventory

Trang 10

Gk

I Ma trận đơn vị

iICONSIM

WFi

Trang 11

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Nội dung một số văn bản pháp quy về quản lý chất thải rắn của Việt Nam Bảng 2.1 Ký hiệu các thành phần và ma trận liên quan trong mô hình IO Bảng 2.2 Mô tả phương pháp xác định hệ số liên kết xuôi và liên kết ngược Bảng 3.1 Độ lan tỏa và độ liên kết của một số ngành kinh tế trong giai đoạn 2007-

2018 Bảng 3.2 Lượng chất thải rắn phát sinh từ các ngành kinh tế sơ cấp năm 2018 Bảng 3.3 Lượng chất thải rắn phát sinh từ một số ngành kinh tế thứ cấp năm 2018

74

Bảng 3.4 Suất thu gom chất thải rắn thông thường và nguy hại của các ngành kinh

tế ở Việt Nam năm 2018 Bảng 3.5 Lượng thu gom chất thải rắn thông thường và nguy hại của các ngànhkinh tế Việt Nam, năm 2018 Bảng 3.6 Định mức sản xuất của các loại hình sản xuất nhựa ở làng nghề Bảng 3.7 Kết quả LCI khí nhà kính của sản phẩm bao bì nhựa PET (kg CO2eq/tấnbao bì PET) Bảng 3.8 Định mức nguyên liệu, nhiên liệu tham gia sản xuất của một số sản phẩm Bảng 3.9 Kết quả LCI khí nhà kính của các sản phẩm giấy Bảng 3.10 Nhu cầu sử dụng phế liệu nhựa của ngành nhựa và giấy (1 tấn sản phẩm)

127

Bảng 3.11 Tổng hợp kết quả LCI khí nhà kính cho túi giấy và túi nhựa (kg

CO2eq/tấn túi nilon)

Trang 12

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Lượng các thành phần CTNH được thu gom và xử lý năm 2015

Hình 1.2 Một số văn bản pháp lý về quản lý chất thải của Việt Nam

Hình 1.3 Khung phân tích LCA

Hình 1.4 Thủ tục cho MFA

Hình 2.1 Khung phân tích tổng thể của nghiên cứu

Hình 2.2 Cấu trúc bảng IO

Hình 2.3 Quy trình cập nhật bảng IO

Hình 2.4 Kĩ thuật gộp ngành trong mô hình IO

Hình 2.5 Phương pháp xác định lượng chất thải rắn phát sinh

Hình 2.6 Phương pháp và đường biên hệ thống LCI cho các sản phẩm giấy và nhựa 56

Hình 2.7 Mô tả phương pháp lấy mẫu xác định thành phần chất thải giấy và nhựa trong CTR sinh hoạt tại Bãi chôn lấp

Hình 2.8 Kỹ thuật khai thác IO trong phân tích dòng vật liệu điển hình

Hình 2.9 Phương pháp đề xuất giải pháp quản lý chất thải

Hình 3.1 Hệ số liên kết xuôi và liên kết ngược của 164 ngành kinh tế năm 2018

Hình 3.2 Thu gom trực tiếp và gián tiếp chất thải rắn thông thường của các ngành kinh tế

Hình 3.3 Thu gom trực tiếp và gián tiếp chất thải rắn nguy hại của các ngành kinh tế

Hình 3.4 Phương pháp tích hợp IO và LCI

Hình 3.5 Nhu cầu tiêu dùng nhựa tính trên đầu người giai đoạn 2007-2018

Hình 3.6 Cơ cấu ngành nhựa qua các năm

Hình 3.7 Đặc điểm các loại hình thu gom và tái chế nhựa ở các làng nghề

Hình 3.8 Hiện trạng sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm nhựa

Hình 3.9 Nhu cầu tiêu dùng nhựa của các ngành kinh tế của Việt Nam năm 2018 94 Hình 3.10 Nhu cầu tiêu dùng các loại nhựa của các ngành kinh tế năm 2018

Hình 3.11 Hệ số phát sinh chất thải nhựa của các loại nhựa

Hình 3.12 Phát thải trực tiếp khí nhà kính của ba phương án sản xuất bao bì PET 99 Hình 3.13 Đóng góp phát thải gián tiếp khí nhà kính của bao bì PET tới các ngành kinh tế

Hình 3.14 Phát thải trực tiếp chất thải nhựa từ sản xuất các sản phẩm nhựa năm 2018

Hình 3.15 Phát thải gián tiếp của ngành nhựa tới các ngành kinh tế khác

Trang 13

Hình 3.16 Phát thải gián tiếp chất thải nhựa từ tiêu dùng hộ gia đình năm 2018 103

Hình 3.17 Dòng vật liệu nhựa của Việt Nam năm 2018 105

Hình 3.18 Tỷ lệ bảy loại nhựa trong chất thải nhựa ở Bãi chôn lấp 106

Hình 3.19 Dòng vật liệu nhựa PET năm 2018 107

Hình 3.20 Cơ cấu tiêu dùng các sản phẩm giấy năm 2018 109

Hình 3.21 Hiện trạng sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm giấy năm 2018 110

Hình 3.22 Nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm giấy của các ngành kinh tế 111

Hình 3.23 Các loại và vị trí của các nhà máy giấy và bột giấy ở Việt Nam 112

Hình 3.24 Phát thải khí nhà kính từ các nguyên vật liệu trong vòng đời các sản phẩm giấy 115

Hình 3.25 Phát thải trực tiếp chất thải rắn, khí nhà kính của ba sản phẩm giấy 116

Hình 3.26 Đóng góp phát thải gián tiếp khí nhà kính từ các sản phẩm giấy tới các ngành kinh tế 118

Hình 3.27 Đóng góp phát thải gián tiếp chất thải rắn từ các sản phẩm giấy tới các ngành kinh tế 119

Hình 3.28 Dòng vật liệu ngành giấy 120

Hình 3.29 Cơ sở thiết lập các giải pháp quản lý chất thải hiệu quả về tài nguyên 122 Hình 3.30 Quản lý chất thải theo đối tượng tiêu dùng sản phẩm nhựa 123

Hình 3.31 Dòng sản phẩm của nhựa PET và PP 126

Hình 3.32 Mô hình thu hồi chất thải bao bì của các nhà sản xuất 129

Hình 3.33 Mô hình hệ thống thu hồi chất thải do nhà nước điều hành 130

Trang 14

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

Sự chuyển dịch mô hình phát triển từ kinh tế tuyến tính truyền thống sang kinh

tế tuần hoàn trở thành xu hướng của các quốc gia trên thế giới [1], và Việt Namkhông nằm ngoài xu hướng đó Kinh tế tuần hoàn đang được khuyến khích trongtiến trình tăng cường khả năng cạnh tranh và tạo tăng trưởng bền vững ở Việt Nam.Đây là cách tiếp cận toàn diện nhằm tăng cường chu trình sản xuất và phá vỡ ràngbuộc lâu nay giữa tăng trưởng kinh tế và các ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường [2,3] Do đó, trên tiến trình chuyển đổi này Việt Nam đang phải đối mặt với nhữngthách thức quan trọng trong quản lý chất thải, tài nguyên, và lựa chọn các ngànhkinh tế phù hợp cho việc thực hiện chuyển đổi Để đưa ra được chiến lược và chínhsách hiệu quả về tài nguyên, Việt Nam cần phải làm tốt hơn nữa việc định lượngdòng chất thải rắn trong toàn bộ chuỗi cung ứng và lựa chọn các phương án quản lýhợp lý

Bên cạnh đó, trong lĩnh vực khoa học quản lý môi trường, kiểm kê vòng đời(LCI) luôn có vai trò quan trọng trong xây dựng chính sách và chiến lược phát triểnbền vững Và trong lĩnh vực quản lý chất thải, việc xác định thành phần và tải lượngchất thải rắn luôn cần thiết trong việc xác định “điểm nóng môi trường” cần cảithiện Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam việc kiểm kê phát thải chất thải rắn thườngđược thực hiện theo phương pháp kiểm kê hiện trường theo cách tiếp cận từ dướilên (bottom - up), điều này gây ra sự tốn kém về nhân lực, vật lực và thời gian cũngnhư hiệu quả của việc kiểm kê lại phụ thuộc nhiều vào sự hợp tác từ đối tượng kiểm

kê trong việc cung cấp số liệu Thêm vào đó, quá trình kiểm kê vòng đời thường bịhạn chế về nguồn số liệu, do đó rất cần công cụ mô hình hóa để khắc phục nhữngkhó khăn này

Trong bộ công cụ sinh thái công nghiệp, có nhiều phương pháp mô hình hóacho phép xác định phát sinh chất thải rắn và dòng tài nguyên trong nền kinh tế.Trong đó, hai phương pháp mô hình IO (Input – Output Table) và phân tích dòngvật liệu (Material Flow Analysis) đã được sử dụng [4] Chuỗi cung ứng sản phẩmđược kết nối với nhau và phân bố trong các lĩnh vực công nghiệp khác nhau Cùngvới đó, chất thải rắn xuất hiện một cách có hệ thống trong toàn bộ chuỗi cung ứng

do kết quả của hoạt động kinh tế và thương mại [5-7] nên rất cần công cụ có thể môphỏng sự phát thải theo chuỗi cung ứng trong mối quan hệ liên ngành Do đó, công

Trang 15

cụ IO sẽ là mô hình phù hợp để phân tích định lượng các tác động kinh tế và chấtthải rắn của các ngành kinh tế của Việt Nam.

Mô hình IO là phương pháp kiểm kê được xây dựng bởi Leontief từ nhữngnăm 1930 [8] để phân tích tài chính, và hiểu được mối liên hệ giữa các ngành côngnghiệp, nhà sản xuất, và người tiêu dùng trong nền kinh tế Mô hình IO đã được sửdụng có hiệu quả để nghiên cứu về mối liên kết giữa phát sinh chất thải rắn với cáchoạt động kinh tế ở một số quốc gia [9, 10]

Do tính ưu việt trong phân tích mối quan hệ kinh tế và chất thải, mô hình IOcho phép xác định được sự phát thải hoặc thu gom chất thải rắn trực tiếp và giántiếp từ toàn bộ chuỗi cung ứng, đây sẽ là cơ sở để đề xuất và phân tích các chính

sách quản lý chất thải rắn Xuất phát từ những vấn đề trên, đề tài “Tích hợp mô hình IO trong phân tích dòng chất thải rắn từ các ngành kinh tế Việt Nam”

được thực hiện góp phần vào việc cung cấp phương pháp luận mới cho lĩnh vựckhoa học quản lý môi trường, tạo cơ sở khoa học cho công tác xây dựng chính sách

và chiến lược quản lý chất thải rắn ở Việt Nam

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung: Xây dựng dòng chất thải rắn dựa vào mô hình IO, trên cơ

sở đó đề xuất giải pháp quản lý chất thải rắn hiệu quả về tài nguyên

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận án là chất thải rắn của các ngànhkinh tế của Việt Nam Nghiên cứu điển hình chất thải rắn và khí nhà kínhcủa các sản phẩm giấy và sản phẩm nhựa PET, túi nilon

- Mối quan hệ kinh tế liên ngành, dòng chất thải rắn từ các ngành kinh

tế, và mối tương quan liên ngành trong đóng góp phát thải giữa ngànhnhựa

Trang 16

và giấy với các ngành kinh tế khác là các đối tượng được thực hiện

nghiên cứu thông qua bảng IO 2018 cập nhật từ bảng IO 2012

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Trong phân tích mối quan hệ kinh tế liên ngành, phân tích dòng chấtthải rắn của các ngành kinh tế, bảng IO 2018 với 164 ngành kinh tế vàbảng IO 2018 tích hợp thành 40 nhóm ngành được sử dụng để phân tích

+ Trong phân tích dòng chất thải rắn điển hình cho ngành giấy và nhựanghiên cứu thực hiện trên một số sản phẩm chủ đạo của ngành giấy (hộpcarton, giấy viết, giấy tissue) và ngành nhựa (HDPE, PE, PS, PET, PVC,

PP, loại khác, túi nilon) Trong đó, nghiên cứu tập trung vào các nhómchất thải có khả năng tái chế trong chất thải rắn Bên cạnh đó, trong phântích gánh nặng môi trường từ phát thải khí nhà kính của ngành nhựa vàgiấy tới các ngành kinh tế, nghiên cứu đã thực hiện trên các sản phẩmgiấy (hộp carton, giấy viết, giấy tissue), nhựa PET, túi nilon

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Ý nghĩa khoa học: Luận án khai thác mô hình IO để xác định dòngchất thải (trực tiếp và gián tiếp) cho một số ngành sản xuất và tiêu dùngcủa Việt Nam Đồng thời phương pháp tích hợp LCI với mô hình IO cậpnhật được tập trung nghiên cứu sâu để phân tích đóng góp phát thải trựctiếp và gián tiếp trong vòng đời sản phẩm ngành giấy và ngành nhựa vớicác ngành kinh tế khác

- Ý nghĩa thực tiễn:

 Kết quả của Luận án cung cấp một phương pháp mới tích hợp cả tiếp cận top - down và bottom - up trong xác định dòng chất thải điển hình (chất thải rắn và khí nhà kính) cho một số ngành Các nhà khoa học và hoạch định chính sách trong lĩnh vực liên quan có thể nghiên cứu để ứng dụng phương pháp này trong việc xác định các điểm “nóng” cần cải thiện

và tạo cơ sở cho việc lựa chọn ngành kinh tế phù hợp để thực hiện kinh

tế tuần hoàn ở Việt Nam

 Kết quả của luận án cung cấp bộ số liệu đầy đủ, phong phú là nguồn tham khảo có giá trị cho các nhà khoa học, nhà quản lý trong lĩnh vực kinh tế, quản lý CTR ở Việt Nam

Trang 17

 Luận án đã đề xuất được ba giải pháp quản lý chất thải:1)Quản lý chất thải theo đối tượng tiêu dùng, dòng vật liệu, dòng sảnphẩm; 2) Đẩy mạnh thu hồi vật liệu; 3) Xây dựng hệ thống cơ sở dữliệu.

5 Các đóng góp mới của luận án

- Lần đầu tiên ở Việt Nam, tích hợp mô hình IO và LCI được ứng dụng đểxây dựng mối tương quan liên ngành trong đóng góp về phát thải (trực tiếp

và gián tiếp) giữa ngành giấy và ngành nhựa với các ngành kinh tế khác

- Luận án xác định được ngành nhựa và ngành giấy là hai ngành có chỉ sốliên kết xuôi và liên kết ngược cao, có vai trò quan trọng và là động lực cho

sự phát triển của các ngành kinh tế khác

- Luận án cung cấp số liệu về lượng chất thải rắn của các ngành kinh tế ViệtNam năm 2018, hệ số phát sinh khí nhà kính và chất thải rắn của một số sảnphẩm chủ đạo của ngành giấy và ngành nhựa

6 Các nội dung chính của luận án

Các nội dung chính của luận án bao gồm:

- Phân tích mối quan hệ kinh tế liên ngành từ các ngành kinh tế của Việt Nam

- Xác định lượng chất thải rắn phát sinh và được thu gom từ các ngành sản xuất và tiêu dùng của Việt Nam

- Xây dựng dòng chất thải rắn điển hình cho ngành giấy và ngànhnhựa Trong đó xác định hệ số phát sinh chất thải rắn và khí nhà kính củacác sản phẩm nhựa và giấy, đồng thời phân tích gánh nặng môi trườngcủa ngành giấy và ngành nhựa tới các ngành kinh tế khác

- Đề xuất các giải pháp quản lý chất thải hiệu quả về tài nguyên

Bố cục của luận án như sau:

Mở đầu

Chương 1: Tổng quan

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Kết luận và kiến nghị

Trang 18

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

Chương này trình bày tổng quan về đối tượng và công cụ nghiên cứu trong

luận án, bao gồm các vấn đề liên quan đến quản lý chất thải rắn như: 1) chất thải rắn

từ các ngành kinh tế của Việt Nam, 2) hiện trạng quản lý và xử lý chất thải rắn, 3)các chiến lược và chính sách pháp luật liên quan đến quản lý chất thải rắn, và 4) cáckinh nghiệm quốc tế trong vấn đề quản lý chất thải rắn Các công cụ được sử dụnghiện nay ở trên thế giới và Việt Nam về kiểm kê, đánh giá vòng đời như LCA (LifeCycle Assessment), IWM (Integrated Waste Management), MFA (Material FlowAnalysis), IO (Input-Output table)

1.1 Quản lý chất thải rắn

1.1.1 Chất thải rắn từ các ngành kinh tế của Việt Nam

1.1.1.1 Tình hình phát sinh chất thải rắn từ một số ngành kinh tế của Việt

Nam a Sơ lược về các ngành kinh tế liên quan tới phát sinh CTR

Hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam được phân thành 21 nhóm ngành và chiathành 5 cấp (từ cấp 1 đến cấp 5) theo quyết định số 27/2018/QĐ-TTg ngày 06 tháng

7 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành hệ thống ngành kinh tế Việt Nam

- Ngành cấp 1 gồm 21 ngành được mã hóa theo bảng chữ cái từ A đến U

- Ngành cấp 2 gồm 88 ngành, mỗi ngành được mã hóa bằng hai số theo từng ngành cấp 1 tương ứng

- Ngành cấp 3 gồm 242 ngành; mỗi ngành được mã hóa bằng ba số theo từngngành cấp 2 tương ứng

- Ngành cấp 4 gồm 486 ngành; mỗi ngành được mã hóa bằng bốn số theo từng ngành cấp 3 tương ứng

- Ngành cấp 5 gồm 734 ngành; mỗi ngành được mã hóa bằng năm số theo từng ngành cấp 4 tương ứng

Tương ứng với danh mục các ngành kinh tế, danh mục các ngành sản phẩmcũng đã được ban hành theo quyết định số 39/2010/ QĐ-TTg ngày 11 tháng 05 năm

2010, gồm cấp 7 cấp như sau:

- Cấp 1 gồm 21 ngành sản phẩm được mã hóa theo bảng chữ cái từ A đến U

- Cấp 2 gồm 88 ngành sản phẩm, mỗi ngành được mã hóa bằng hai số theo từng ngành cấp 1 tương ứng

Trang 19

- Cấp 3 gồm 234 ngành sản phẩm, mỗi ngành được mã hóa bằng ba số theo từng ngành cấp 2 tương ứng

- Cấp 4 gồm 411 ngành sản phẩm, mỗi ngành được mã hóa bằng bốn số theo từng ngành cấp 3 tương ứng

- Cấp 5 gồm 587 ngành sản phẩm, mỗi ngành được mã hóa bằng năm số theotừng ngành cấp 4 tương ứng

- Cấp 6 gồm 1406 ngành sản phẩm, mỗi ngành được mã hóa bằng sáu số theo từng ngành cấp 5 tương ứng

- Cấp 7 gồm 2898 ngành sản phẩm, mỗi ngành được mã hóa bằng bảy số theo từng ngành cấp 6 tương ứng

Do đặc điểm đặc trưng của các ngành kinh tế sẽ tạo ra các sản phẩm khácnhau, kéo theo đó là sự phát sinh chất thải rắn (lượng phát sinh, nguồn gốc và thànhphần chất thải rắn) cũng sẽ khác nhau và mang tính đặc thù theo ngành

Ngành nông nghiệp

Chất thải rắn nông nghiệp phát sinh chủ yếu từ hoạt động trồng trọt và chănnuôi Thành phần chất thải rắn của hoạt động trồng trọt chủ yếu là các phụ phẩmnông nghiệp như rơm, rạ, thân cây, vỏ củ quả sau sơ chế, vỏ bao bì hóa chất …, hoạtđộng chăn nuôi có thành phần chất thải rắn bao gồm phân và các chất độn chuồng,thức ăn thừa, xác gia súc, gia cầm, chất thải lò mổ Mặc dù các chất thải nôngnghiệp đa phần có khả năng tự phân hủy tốt hơn so với những loại chất thải rắnkhác Tuy nhiên, lượng chất thải rắn của ngành này lại tương đối lớn, ước tính mỗinăm khu vực nông thôn phát sinh 76 triệu tấn rơm rạ, 136,4 triệu tấn chất thải chănnuôi [11], và bên cạnh đó là hơn 14.000 tấn bao bì hóa chất BVTV [12] Trong sảnxuất lúa, bên cạnh rơm rạ và phế phụ phẩm nông nghiệp thì bình quân một ha canhtác lúa sẽ phát thải 12,8 kg chất thải rắn, trong đó bao gồm nhựa (75,8%), thủy tinh

và kim loại (21,9%), nylon (1,7%), giấy (0,6%)[13] Do đó cần có biện pháp quản

lý tốt hơn để tận thu lại phụ phẩm nông nghiệp cũng như hạn chế phát thải bao bìnông nghiệp ra môi trường

Khai thác khoáng sản

Chất thải rắn phát sinh từ hoạt động khai thác khoáng sản thường có khốilượng rất lớn và hầu hết chưa được thống kê trong tổng lượng CTR công nghiệpphát sinh

Trang 20

Khai thác than: CTR từ hoạt động khai thác than chủ yếu là từ hoạt động khaithác bóc đất mở vỉa, hoạt động giao thông vận tải và hoạt động chế biến tuyển than.Với hai loại hình khai thác than là lộ thiên và hầm lò, toàn bộ phần đất bóc tại khuvực khai thác trở thành CTR và lượng phát sinh phụ thuộc vào cấu tạo địa chất từngvùng cũng như công nghệ khai thác Theo báo cáo Hiện trạng Môi trường quốc gianăm 2018 về CTR, trích nguồn kế hoạch phát triển ngành công nghiệp than năm

2025 xác định hệ số bóc đất trong khai thác than là 5,9 – 10,2 m3/tấn than [11],[14].Khai thác khoáng sản khác: Tỷ lệ bóc đất cao là vấn đề lớn trong hoạt độngkhai thác khoáng sản nói chung Trong lĩnh vực khai thác bô xít, lượng quặng chấtthải và bùn đỏ thải ra từ dự án nhà máy Alumin Nhân Cơ ước tính trên 11 triệu

m3/năm Khối lượng bùn đỏ thải ra từ nhà máy Alumin Tân Rai dự kiến khoảng 80– 90 triệu m3 trong thời gian vận hành dự án [11],[14] Trong khai thác tại mỏ ApatitLào Cai có hệ số bóc đất là 2,5, lượng đất đá thải mỗi năm khoảng 3 triệu tấn [11].Chế biến khoáng sản: Bên cạnh đất đá thải thì quặng đuôi cũng là CTR sinh ra

từ quá trình chế biến khoáng sản bao gồm các loại quặng đuôi kim loại, quặng đuôicát (chất thải của quá trình khai khoáng cát nặng chủ yếu gồm silicat và khoáng séthữu cơ) và chất thải thô (phần thô của chất thải sinh ra trong quá trình sản xuấtquặng kim loại màu và kim loại đen như quặng Fe, Pb, Zn, Cu, Ni, Sn )

Ngành nhiệt điện

Hoạt động phát triển năng lượng của Việt Nam tập trung vào các ngành dầukhí, than đá và điện lực. Theo thống kê của Bộ Công Thương, chỉ riêng lượng tro xỉtích lũy của các nhà máy nhiệt điện của Việt Nam năm 2016 là 23 triệu tấn, dự kiến

2018 là 61 triệu tấn, đến 2020 là 109 triệu tấn, đến 2025 là 248 triệu tấn và đến

2030 là 422 triệu tấn [11] Chất thải rắn phát thải từ nhà máy nhiệt điện chủ yếu làtro, xỉ than (đốt than), và cặn dầu (đốt dầu) Lượng xỉ than thường có khối lượng lớn

và trong thành phần xỉ than có nhiều tạp chất ô nhiễm Tỷ lệ CTR (tro xỉ) do sửdụng than trong lĩnh vực nhiệt điện dao động trong khoảng 30 – 40% trên lượngthan sử dụng, tương đương với độ tro của than cám là 26 – 45% [14] Việc chuẩn bịquỹ đất để làm bãi chứa chất thải là một thách thức lớn, do đó cần phải có giải pháptái chế tro xỉ hiệu quả trong thời gian tới.

Ngành sản xuất thép

Ngành thép là ngành công nghiệp cơ bản của nước ta trong quá trình công nghiệp hóa Năm 2018, tổng các loại sản phẩm thép mà các doanh nghiệp là thành

Trang 21

viên của hiệp hội thép Việt Nam sản xuất đạt 12,7 triệu tấn Lượng than, dầu, điện

mà ngành thép tiêu thụ chiếm khoảng 6% tổng tiêu thụ năng lượng của các ngànhcông nghiệp Quá trình sản xuất thép sẽ thải ra môi trường một lượng lớn CTR, theo

số liệu của Tổ chức y tế thế giới (WHO) thì tính trung bình để sản xuất ra một tấnthép sẽ phát sinh khoảng 142 kg CTR bao gồm xỉ than và bụi có lẫn kim loại nặng[15]

Ngành công nghiệp rượu, bia, giải khát

Ngành công nghiệp này hiện nay đã và đang tạo ra một lượng chất thải rắntương đối lớn Tổng lượng CTR ước tính phát sinh trong hoạt động sản xuất bia làkhoảng 26.981 tấn/năm (2000-2005) và tăng lên là 41.326 tấn/năm (2010-2020)

(bao bì, chất trợ lọc, thủy tinh, vỏ lon hỏng) chiếm tỷ lệ nhỏ khoảng 16,5%, chấtthải rắn hữu cơ (bã bia, bã hublong…) chiếm tỷ lệ cao hơn khoảng 83,5% [14]

 Ngành xây dựng

Ngành xây dựng với mức tăng trưởng năm 2017 là 8,7% và giữ vững đượcnhịp tăng trưởng trong những năm gần đây Diện tích bình quân nhà ở toàn quốc đạtkhoảng 22,8m2sàn/người Các hoạt động đào, lấp đất, phá dỡ công trình, vật liệuxây dựng bị rơi vãi trong quá trình vận chuyển thường gây phát tán bụi ra môitrường xung quanh Khối lượng CTR xây dựng của một số đô thị lớn trong giaiđoạn 2011-2015 dao động từ 87 – 500 tấn/ngày [11]

 Ngành giấy

Ngành giấy là ngành cần sử dụng nhiều nguyên liệu và nhiên liệu cho quá trìnhsản xuất Chất thải rắn của ngành giấy cũng rất đa dạng bao gồm đinh, ghim, băngdính, giấy phế liệu, xỉ than của lò hơi…Tùy vào đặc điểm sản xuất của mỗi loại sảnphẩm giấy mà có sự phát thải chất thải rắn khác nhau, thông thường các sản phẩmgiấy sử dụng nhiều giấy phế liệu hoặc có nhiều công đoạn gia công trong quá trìnhtạo sản phẩm (hộp carton) thường phát sinh chất thải rắn cao hơn so với các sảnphẩm giấy mà quá trình sản xuất có ít công đoạn gia công (giấy viết) Theo kết quảnghiên cứu của tác giả Đặng Kim Chi và cộng sự năm 2004 về sản xuất giấy tại cáclàng nghề, quá trình sản xuất giấy phát thải trung bình 212,06 kg CTR/tấn sản phẩmgiấy, trong đó bột giấy và giấy vụn chiếm 81,80 kg; xỉ than là 76,5kg; đinh ghim, nilông là 53,76 kg [16] Đến nay, với công nghệ và kĩ thuật sản xuất giấy tại các nhàmáy giấy đã được hiện đại hóa hơn, và nhiều doanh nghiệp đã áp dụng biện

Trang 22

pháp sản xuất sạch hơn nên sự phát sinh CTR trong sản xuất giấy cũng giảm đi sovới thời gian trước và so với sản xuất giấy tại các hộ ở làng nghề Kết quả chất thảirắn của tác giả Phùng Chí Sỹ thực hiện tại các nhà máy giấy ở Bình Dương năm

2015 cho thấy CTR phát thải từ sản xuất giấy trung bình là 122,41 kg/tấn giấy [17].Ngành giấy cần một lượng lớn giấy phế liệu để làm nguyên liệu cho quá trình sảnxuất, tuy nhiên hiện nay hoạt động thu gom và tái chế diễn ra khá tự phát và tồn tạisong song hai hình thức chính thống và không chính thống và chưa có hành langpháp lý rõ ràng do đó hiệu quả chưa cao Hiện nay, tỉ lệ thu hồi giấy đã qua sử dụng

ở Việt Nam khoảng 25% vào năm 2008 và xấp xỉ 40% vào năm 2016, tỉ lệ này làthấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới ví dụ như của Malaysia là 87%,Philippines là 79%, Hàn Quốc là 76%, Thái Lan là 72% [18]

Ngành nhựa

Năm 2017, ngành nhựa đạt 15 tỷ USD chiếm 6,7% GDP Việt nam, có tốc độtăng trưởng sản lượng mạnh đạt 11,62% trong giai đoạn 2012-2017 [19] Hoạt độngsản xuất nhựa ở Việt Nam diễn ra theo hai loại hình một là tại các nhà máy sản xuất,hai là tại các làng nghề tái chế nhựa Thành phần chất thải rắn tại hai loại hình sảnxuất nhựa có sự khác nhau Trong hoạt động sản xuất nhựa tại các nhà máy, chấtthải rắn thường là các hạt hoặc mảnh nhựa rơi vãi/hỏng trong quá trình sản xuất, bao

bì đựng hóa chất, ba via, trong đó lượng ba via chiếm thành phần chủ yếu Hoạtđộng sản xuất nhựa tại các nhà máy thường phát sinh lượng chất thải rắn khoảng129,3 kg/tấn [20], nếu trong quá trình sản xuất mà lượng ba via được thu hồi để táichế thì lượng phát thải này sẽ giảm xuống đáng kể Đối với hoạt động tạo hạt nhựaphế tại các làng nghề lượng chất thải rắn phát sinh trên một tấn nhựa phế liệu làkhoảng 8-11,2 kg/tấn nhựa phế [21], trong đó thành phần chất thải chủ yếu là tạpchất đất cát, bùn đất đi vào nước thải, mảnh nhựa lẫn theo nước rửa nhựa Bên cạnhloại chất thải rắn phát sinh từ sản xuất và tái chế nhựa thì một lượng lớn các sảnphẩm nhựa được thải bỏ ra môi trường từ hoạt động tiêu dùng các sản phẩm nhựa.Theo thống kê của Bộ TNMT, chỉ riêng hai thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh,trung bình mỗi ngày thải ra môi trường khoảng 80 tấn nhựa và túi nilon [11]

Dựa trên đặc thù của từng ngành mà có sự phát sinh chất thải rắn là khác nhau rõ rệt giữa các ngành Trong đó lượng chất thải rắn của các nhóm ngành công nghiệp thường lớn và thành phần chất thải rắn đa dạng, đòi hỏi phải xử lý bằng nhiều biện pháp khác nhau Trong khi nhóm ngành nông nghiệp thì có lượng

Trang 23

phát sinh chất thải rắn tương đối lớn, nhưng thành phần chất thải chủ yếu là phế phụ phẩm nông nghiệp có tính chất dễ phân hủy.

Báo cáo ngành giấy [18] và ngành nhựa [19] cho thấy hai ngành này có nhu cầu sử dụng phế liệu rất lớn, một số sản phẩm giấy và nhựa có thể sản xuất từ 100% phế liệu (giấy và nhựa đã qua sử dụng) Các sản phẩm sau sử dụng có khả năng dễ thu hồi hơn các vật liệu khác Do đó, ngành giấy và ngành nhựa có sự phù hợp tự nhiên với kinh tế tuần hoàn Tuy nhiên, hoạt động thu gom và tái chế hai loại vật liệu này ở Việt Nam còn diễn ra tự phát và quy mô nhỏ nên hiệu quả chưa được cao, hơn nữa quá trình thu gom và tái chế tại các hộ gia đình ở các làng nghề có tác động xấu tới môi trường Thêm vào đó hai ngành này đều có những loại sản phẩm có tính năng sử dụng một lần, đang tạo ra áp lực tới môi trường nếu không

có biện pháp thu gom, tái sử dụng và tái chế hiệu quả Do đó, rất cần nghiên cứu về tác động tổng thể trong với đời sản phẩm giấy và nhựa, cũng như gánh nặng môi trường của hai ngành này tới các ngành kinh tế khác, để góp phần hoàn thiện cơ sở khoa học cho việc đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn cho hai ngành này hiệu quả hơn trong thời gian tới, đặc biệt là trên tiến trình thực hiện chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn.

1.1.1.2 Một số nghiên cứu về kiểm kê chất thải rắn của các ngành kinh tế Việt Nam

Vấn đề chất thải rắn đã và đang được quan tâm, đặc biệt trong bối cảnh Việt Namthực hiện chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn Các nghiên cứu về chất thải rắntrước đây thường tập trung nghiên cứu về phát sinh chất thải rắn đô thị, chất thải rắnsinh hoạt cho một khu vực cụ thể Trong đó, phải kể đến chương trình trọng điểmcấp nhà nước “Khoa học và Công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội vùng TâyNguyên” mã số KHCN-TN3/11-15 của Tiến sĩ Trần Trung Dũng đã tiến hành điềutra đánh giá toàn diện hiện trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt, công nghiệp, nôngnghiệp và nguy hại ở Tây Nguyên Đề tài đã tiến hành điều tra và thu thập các dữliệu tại khu vực để xác định hệ số phát thải chất thải rắn và chất thải nguy hại chocác đối tượng nghiên cứu ở trên Đề tài này về cơ bản phương pháp làm là thu thập

số liệu bằng việc khảo sát thực tế để thu thập thông tin về chất thải, số liệu từ cácđơn vị thu gom xử lý, các cơ quan quản lý về môi trường [22] Cho đến nay vẫnchưa có một thống kê cập nhật đầy đủ về hệ số phát thải chất thải rắn ở Việt Nam.Tại Việt Nam, việc kiểm kê phát thải chất thải rắn từ các nguồn công nghiệp đã

được các cơ quan nghiên cứu thực hiện từ lâu nhưng chỉ thực hiện được

Trang 24

cho một số nhóm ngành hoặc một số khu vực Năm 2009, đã có nghiên cứu kiểm kê

hệ số phát thải của một số ngành công nghiệp bằng việc kết hợp phương pháp xácđịnh hệ số sơ cấp và thứ cấp cho 24 ngành công nghiệp [23] Một số nghiên cứu đãtiến hành điều tra khảo sát trực tiếp để thu thập và tính toán hệ số phát thải chất thảirắn cho ngành điển hình [24] Liên quan tới kiểm kê phát thải chất thải rắn chongành kinh tế, nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thế Hùng đã sử dụng phương phápđiều tra sơ cấp để xác định lượng phát thải chất thải rắn cho ngành cơ khí của HàNội Nghiên cứu này xác định hệ số phát thải chất thải rắn bằng phương pháp điềutra (phương pháp sơ cấp) tại các nhà máy cơ khí của khu công nghiệp Nam ThăngLong, và các số liệu này được xử lý thống kê để loại bỏ sai số của giá trị hệ số thuđược Phương pháp này phù hợp với đối tượng có phạm vi điều tra ở diện nhỏ, nếuphạm vi điều tra được mở rộng hoặc nhiều ngành thì quá trình điều tra sẽ khó khăn

và tốn kém [24] Hướng nghiên cứu khác liên quan tới phân loại chất thải rắn củatác giả Lương Thị Mai Hương và cộng sự đã nghiên cứu các thông số chính về hành

viliên quan đến việc phân loại rác hữu cơ tại hộ gia đình tại nguồn để thúc đẩy việcphân loại rác tại nguồn ở Hà Nội, trên cơ sở đó đề xuất các kịch bản quản lý giảđịnh trong tương lai [25] Liên quan tới vấn đề chất thải nhựa, một nghiên cứu củaWWF về hiện trạng chất thải nhựa của Việt Nam được thực hiện cho 4 thành phố(Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Quảng Ninh, Rạch Giá) cho kết quả chất thải nhựa phátsinh trung bình trên ngày tại các địa điểm này lần lượt là 1798,2 tấn/ngày; 189,25tấn/ngày; 147,6 tấn/ngày; 35,7 tấn/ngày Nghiên cứu này thực hiện dựa trên phươngpháp kiểm kê tại hiện trường thông qua điều tra khảo sát các hộ ở bốn thành phốnày [26], với phương pháp tương tự viện Nước Quốc tế Stockholm (SIWI) đã đánhgiá định lượng và định tính về các dòng chảy chất thải rắn tại lưu vực Vu Gia – ThuBồn từ nguồn tới biển [27] Một nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (WB) về đánhgiá công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt và chất thải công nghiệp nguy hại trên

cơ sở đó đề xuất các phương án hành động nhằm thực hiện chiến lược quốc gia [28].Ngoài ra, vấn đề chất thải rắn tại các làng nghề cũng được quan tâm trong thời gianqua, đặc biệt tại các làng nghề tái chế, các tác động và các giải pháp cần đề xuất đểquản lý có hiệu quả cho khu vực này đã được đưa ra bởi một số nghiên cứu nhưnghiên cứu tác động của làng nghề tái chế nhựa Triều Khúc của tác giả Nguyễn ThịKim Thái và cộng sự [21], hay đề tài cấp Quốc gia của tác giả Đỗ Tiến Anh và cộng

sự về xây dựng mô hình quản lý tổng hợp, tuần hoàn và tái sử dụng chất thải

Trang 25

của một số làng nghề tái chế lưu vực sông Nhuệ - Đáy [29] Liên quan tới CTRnông nghiệp tác giả Huỳnh Trung Hải, Nguyễn Thị Ánh Tuyết cùng cộng sự đãnghiên cứu và xác định lượng phát thải chất thải rắn của một số cây trồng, vật nuôicũng như các giải pháp quản lý chất thải rắn nhằm phát triển nông nghiệp bền vững[30].

Hầu hết các nghiên cứu về chất thải rắn ở Việt Nam trong thời gian qua thường nghiên cứu cho một số ngành hoặc chất thải rắn của một số ngành tại các khu vực khác nhau và các làng nghề Các nghiên cứu này chưa xem xét tới tính liên ngành trong việc tiêu dùng và phát thải giữa các ngành kinh tế và cũng chưa xem xét chuỗi giá trị tái chế của các ngành kinh tế có tiềm năng tái chế như ngành nhựa

và giấy Bên cạnh đó, các nghiên cứu này hầu hết đều tiếp cận theo hướng từ dưới lên (bottom-up), thực hiện kiểm kê tại hiện trường, với phương pháp làm này sẽ tốn kinh phí, nhân lực và khó thực hiện điều tra được trên diện rộng, khi này các kết quả mang tính khu vực, chưa thể hiện được sự xuyên suốt dòng chất thải của một ngành, và chưa thấy được tính liên ngành, do đó nghiên cứu thực hiện việc kiểm kê chất thải rắn trong chuỗi cung ứng liên ngành bằng việc kết hợp cách tiếp cận từ trên xuống (top-down) và từ dưới lên (bottom-up) để khắc phục những nhược điểm trên, với cách tiếp từ trên xuống để xác định được lượng chất thải rắn của các ngành kinh tế, đòi hỏi phải có dữ liệu về hệ số phát sinh chất thải của các ngành kinh tế.

1.1.1.3 Cơ sở lựa chọn hệ số phát sinh chất thải rắn của các ngành kinh tế

Hệ số phát sinh chất thải của các ngành kinh tế có thể thực hiện thông quakiểm kê tại hiện trường như các nghiên cứu trên đã thực hiện Tuy nhiên, như trên

đã phân tích những hạn chế trong phương pháp này, cũng như trong trường hợpkhông có đủ điều kiện thực hiện được kiểm kê tại hiện trường để xác định hệ sốphát thải cho các ngành thì có thể áp dụng những hệ số phát thải đã được công bốbởi các tổ chức uy tín trên thế giới, cũng như các báo cáo hiện trạng môi trườngquốc gia, các công trình nghiên cứu từ các đề tài, dự án

Các nguồn dữ liệu về hệ số phát thải chất thải rắn

Hiện nay, có một số tổ chức uy tín trên thế giới đã công bố về hệ số phát thải

và hướng dẫn tính toán cụ thể như EPA [31], EEA [32], UNDP [33] Tuy nhiên, hầuhết các tài liệu này đều công bố hệ số phát thải khí thải nhiều hơn là chất thải rắn.Chỉ có tài liệu của tổ chức y tế thế giới (WHO)[15] đã công bố là có hệ số phát sinh

Trang 26

chất thải rắn và chất thải rắn nguy hại của nhiều ngành theo một số công nghệ sảnxuất cơ bản đã được phân loại Nguồn dữ liệu trong nước thì hiện nay có Ủy bantỉnh Bình Dương đã công bố dựa trên thu thập dữ liệu và kiểm kê chất thải rắn củamột số ngành công nghiệp, công bố trong quyết định số 88/QĐ-UBND về việc banhành hướng dẫn thu thập chỉ thị môi trường trên địa bàn tỉnh Bình Dương, giai đoạn2013-2020 Bên cạnh đó là dữ liệu về hệ số phát thải được công bố trên các côngtrình nghiên cứu, các báo cáo của dự án/đề tài, các báo cáo Hiện trạng môi trườngquốc gia

Nguồn trong nước

Hiện nay, Việt Nam chưa có bộ hệ số phát thải chất thải rắn của các ngànhđược ban hành Các dữ liệu hệ số phát thải hiện có thường chỉ của một ngành hoặcmột số ngành được công bố từ kết quả các đề tài, dự án, báo cáo hiện trạng môitrường quốc gia, báo cáo các ngành

Đối với chất thải rắn công nghiệp, năm 2015 Ủy ban nhân dân tỉnh BìnhDương đã ban hành Quyết định số 88/QĐ-UBND về việc ban hành hướng dẫn thuthập, tính toán chỉ thị môi trường trên địa bàn tỉnh Bình Dương giai đoạn 2013-2020[20] Trong văn bản này có công bố hệ số phát thải chất thải rắn cho một số ngànhcông nghiệp của tỉnh Bình Dương Hệ số phát thải chất thải rắn công nghiệp đượcxác định thông qua lượng phát thải của các nhà máy và xí nghiệp sản xuất tại cáckhu, cụm công nghiệp của tỉnh Bình Dương Trong quyết định này, một số ngành cơbản được điều tra như ngành hóa chất, giấy, kính thủy tinh, gốm sứ, cơ khí, gỗ, chếbiến thực phẩm, may mặc, hóa chất, bao bì nhựa, thiết bị điện- điện tử, thuộc da vàgia công giày da…

Tài liệu này xác định được hệ số phát thải của nhiều ngành công nghiệp điểnhình của Bình Dương Trong bối cảnh hiện nay, khi tài liệu về hệ số chất thải rắncòn ít, đặc biệt là hệ số phát thải chất thải rắn của các ngành kinh tế Việt Nam Tàiliệu này là một nguồn cung cấp hệ số phát thải có ý nghĩa Bên cạnh đó dữ liệu đểthực hiện tính toán hệ số phát thải trong tài liệu này được thu thập ở các khu côngnghiệp Bình Dương, phản ánh thực tế trình độ khoa học công nghệ sản xuất của ViệtNam cũng như quy mô sản xuất Do đó, dữ liệu này có thể áp dụng cho các khu vựckinh tế khác trong nước Ngoài chất thải rắn công nghiệp thông thường tài liệu cũngxây dựng được hệ số phát thải của chất thải nguy hại và hệ số phát thải cho các khucụm công nghiệp khác nhau của tỉnh Một hạn chế của nguồn tài liệu

Trang 27

này là các nhà máy được kiểm kê trong phạm vi của tỉnh Bình Dương nên chưamang tính đại diện cao Tuy nhiên, trình độ công nghệ sản xuất của Việt Nam chưa

có sự chênh lệch nhiều giữa các khu công nghiệp trong cả nước nên nhược điểm nàycũng không lớn

Bên cạnh dữ liệu hệ số phát thải của các ngành công nghiệp trong UBND tỉnh Bình Dương, năm 2013 viện Chiến lược, Chính sách Tài nguyên và Môitrường đã có công bố kết quả nghiên cứu kiểm toán chất thải cho mười ngành côngnghiệp của Việt Nam [34] Đối với hệ số phát thải trong nông nghiệp (trồng trọt vàchăn nuôi) có thể tham khảo từ một số nguồn tài liệu như: tài liệu sách chuyên khảoquản lý chất thải nhằm phát triển nông nghiệp bền vững của tác giả Huỳnh TrungHải và cộng sự [30] trong công trình này các hệ số phát thải chất thải rắn của câytrồng và vật nuôi đã được tổng hợp từ rất nhiều công trình nghiên cứu đáng tin cậy,hoặc nghiên cứu của tác giả Trần Sỹ Nam và cộng sự năm 2014 về ước tính lượng

QĐ88-và biện pháp xử lý rơm rạ ở một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long [35], báo cáo vềchất thải nông nghiệp của Việt Nam từ ngân hàng thế giới (WB) [13], báo cáo Hiệntrạng Môi trường Quốc gia giai đoạn 2011-2015 [36]

Đối với ngành công nghiệp nặng, khai khoáng, hệ số phát thải đã được cácbáo cáo Hiện trạng Môi trường Quốc gia công bố [11], [14]

Nguồn dữ liệu của tổ chức quốc tế có uy tín

dựng và công bố bộ hệ số phát thải này trong tài liệu “Rapid inventory techniques

in Environmental pollution” (part 1,2) Tài liệu này đã đề cập đến hệ số phát thải

chất thải rắn, nước thải, khí thải của rất nhiều ngành sản xuất nông nghiệp, côngnghiệp, dịch vụ…

Phương pháp tiếp cận để xây dựng hệ số phát thải của WHO là tiến hành khảosát và kiểm kê phát thải của các ngành sản xuất dựa trên kết quả điều tra và kiểm kê

sự phát thải tại mỗi công đoạn có phát sinh trong quy trình sản xuất, hoặc các côngnghệ sản xuất khác nhau trong một quy trình sản xuất Đây là cách tiếp cận xây

Trang 28

dựng hệ số phát thải theo cách thức kiểm kê phát thải cho từng ngành sản xuất, từngloại chất thải, từng loại công nghệ sản xuất đặc trưng đi từ đầu vào tới đầu ra sảnphẩm và xử lý cuối đường ống Phương pháp này của WHO tập trung vào các quátrình sản xuất cơ bản, chưa đề cập tới quy mô, công suất và trình độ công nghệ củatừng đối tượng kiểm kê và chưa tính phát thải cho toàn bộ vòng đời Với phươngpháp này thì có một số ưu điểm như các ngành được kiểm kê trong tài liệu này rất

đa dạng, từ ngành công nghiệp đến nông nghiệp, dịch vụ, khai thác khoáng sản

Do đó bộ hệ số phát thải này là tương đối lớn, có thể dễ dàng được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau Tài liệu này xác định hệ số phát thải cho nhiều loại chất thải khác nhau, như chất thải rắn dễ phân hủy, chất thải rắn nguy hại, chất thải lây nhiễm…theo các quá trình sản xuất cơ bản nên tài liệu dễ dàng được sử dụng cho các quy mô sản xuất khác nhau Với những ưu điểm trên thì hiện nay tài liệu này vẫn đang được áp dụng và có hiệu quả cho đánh giá môi trường ở nhiều quốc gia Bên cạnh đó, cách xây dựng hệ số phát thải này cũng có một số nhược điểm

- Tài liệu này đã được công bố từ năm 1993, kết quả điều tra dựa trên trình

độ công nghệ sản xuất tại thời điểm đó, do vậy có thể đã lạc hậu so với một sốloại công nghệ cao và giảm phát thải hiện nay, nên với các nước phát triển thì

hệ số này có thể được xem là hơi lạc hậu Tuy nhiên nhược điểm này chưa quácấp bách ở Việt Nam, hệ số của WHO vẫn phù hợp với trình độ công nghệ sảnxuất của Việt Nam, cụ thể là trình độ công nghệ của chúng ta còn chưa cao,nhiều doanh nghiệp sản xuất ở quy mô nhỏ Thêm vào đó, xét ở góc độ bảo vệmôi trường nếu sử dụng vào dự báo tác động thì hệ số phát thải này lại ý nghĩa

vì nó tạo nên “khoảng dự báo dư”, điều này tức là nếu sử dụng hệ số phát thảicủa WHO thì dự báo phát thải tại thời điểm hiện tại sẽ thường cao hơn so vớithực tế nên việc đề xuất giải pháp kiểm soát sẽ tốt hơn

- Các hệ số phát thải của WHO đều được kiểm kê từ các hoạt động của cácdoanh nghiệp sản xuất cụ thể và đơn lẻ phù hợp với mục tiêu dự báo tác động,nhưng nếu cần sử dụng dữ liệu này cho tính toán và dự báo phát thải cho khucông nghiệp thì hệ số phát thải này bị giới hạn do đặc thù của những khu côngnghiệp và khu chế xuất là một tổ hợp các ngành và liên ngành sản xuất khi nàycác ngành sản xuất trong khu vực này có thể liên kết với nhau, hoặc chất thảicủa nhà máy này sẽ là nguyên liệu sản xuất cho nhà máy khác Do đó, trong

Trang 29

trường hợp này thì vẫn cần sự kiểm kê để xác định hệ số phát thải cho từng hoạtđộng sản xuất trong khu công nghiệp hoặc khu chế xuất.

Hiện tại, do điều kiện kinh tế và xã hội có nhiều thay đổi, các công nghệ sảnxuất sản phẩm thường được thiết kế hiện đại, tiêu tốn ít nhiên liệu và giảm xả thảitốt Do đó, có nhiều tổ chức đã tiến hành kiểm kê để xây dựng hệ số phát thải chophù hợp với điều kiện thực tiễn, các tổ chức lớn hiện nay thực hiện xây dựng hệ sốphát thải như EPA, NPI, WB, UNEP…các tổ chức này xây dựng cho ngành giaothông, ngành xây dựng, ngành y tế, nông nghiệp, công nghiệp…

Nguồn dữ liệu của tổ chức NPI (National Pollutant Inventory)

Biện pháp bảo vệ môi trường quốc gia NPI (NPI NEPM - NPI NationalEnvironment Protection Measure) cung cấp khuôn khổ cho việc phát triển và thànhlập NPI, là cơ sở dữ liệu internet được thiết kế để cung cấp thông tin có sẵn và côngkhai về các loại và một số chất ô nhiễm, được phát thải ra môi trường không khí,đất, và nước [37, 38] Hệ số phát thải cho mỗi loại hình công nghiệp của tài liệu nàyđược thực hiện dựa trên phương pháp chủ đạo là kiểm kê phát thải tại mỗi nhà máysản xuất, sau đó tiến hành tính toán để xác định hệ số phát thải nước thải, khí thải vàchất thải rắn Trong các tài liệu này, với mỗi loại hình sản xuất đều có hướng dẫnkiểm kê các nguồn thải một cách chi tiết cụ thể Do đó, việc ứng dụng tài liệu này làrất khả thi, có thể sử dụng ngay hệ số phát thải của ngành quan tâm hoặc nếu có thể

có số liệu đầu vào thì hoàn toàn có thể áp dụng theo các phương pháp được hướngdẫn trong tài liệu này Bộ dữ liệu này kiểm kê phát thải cho tất cả các ngành côngnghiệp và cả nhóm ngành phi công nghiệp và sinh hoạt của hộ gia đình, do đó cóphạm vi ứng dụng lớn, nhiều đối tượng khác nhau có thể tham khảo Các số liệuphát thải từ các ngành công nghiệp được cập nhật thường xuyên, do đó đảm bảođược độ tin cậy cao do dữ liệu được tính toán phù hợp với trình độ khoa học côngnghệ tại thời điểm kiểm kê

Tuy nhiên, bộ dữ liệu này tập trung chủ yếu vào khí thải nhiều hơn là chất thảirắn Do đó, chỉ có thể tham khảo các phương pháp kiểm kê phát thải chất thải rắntrong tài liệu này để tính toán cho loại hình công nghiệp tương tự Một số dữ liệuđược tính theo hoạt động sản xuất thực tế thường là lượng phát thải trên một mộtđơn vị thời gian, như tấn/năm, kg/giờ …chứ không quy đổi ra lượng phát thải trungbình trên một đơn vị sản phẩm và vì thế rất khó để áp dụng hệ số phát thải làmnguồn tham khảo trong nghiên cứu này

Trang 30

Từ những phân tích về các nguồn tài liệu tham khảo về hệ số phát sinh chất thải rắn ở trên, nghiên cứu sử dụng các nguồn tài liệu tham khảo trong nước như QĐ88 của UBND tỉnh Bình Dương về việc ban hành hướng dẫn thu thập, tính toán chỉ thị môi trường trên địa bàn tỉnh Bình Dương giai đoạn 2013-2020, các báo cáo Hiện trạng Môi trường Quốc gia, sách chuyên khảo về quản lý chất thải rắn nhằm phát triển nông nghiệp bền vững làm những nguồn tài liệu tham khảo chính vì bộ

dữ liệu từ các nguồn này phản ánh trình độ sản xuất hiện tại của các ngành và đa dạng Trong trường hợp các ngành không có nguồn tham khảo trong nước thì sẽ tham khảo tài liệu từ Tổ chức y tế thế giới (WHO).

Từ bộ hệ số phát thải được lựa chọn từ các nguồn trên và tích hợp với kết quả

về sản lượng của các ngành được ước tính thông qua bảng IO, nghiên cứu sẽ ước tính được lượng phát sinh chất thải rắn của các ngành kinh tế.

Các hệ số phát thải từ các nguồn này là hệ số phát thải từ quá trình khai thác/ sản xuất tại các nhà máy, chưa tính phát thải cho tổng thể vòng đời của sản phẩm của ngành đó Trong nội dung phân tích tác động vòng đời của sản phẩm ngành giấy và nhựa, HSPT của ngành giấy và ngành nhựa được tính toán từ quá trình điều tra thực tế có xem xét cho tổng thể vòng đời của sản phẩm.

1.1.2 Hiện trạng quản lý và xử lý chất thải rắn của Việt Nam

1.1.2.1 Hiện trạng thu gom, xử lý, tái chế chất thải rắn thông

thường a Thu gom chất thải rắn

Hoạt động thu gom chất thải rắn sinh hoạt có hiệu quả hơn trong những nămgần đây, tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt ở đô thị cao gấp hai lần so với ở nôngthôn, và ở vùng sâu, vùng xa tỷ lệ này chỉ đạt khoảng 10% [11] Từ nhiều nămtrước, công tác phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn đã được thực hiện thíđiểm ở một số thành phố lớn như Hà Nội, TP Đà Nẵng Tuy nhiên, một số chươngtrình mới dừng lại ở mức thí điểm, phạm vi hẹp, chưa được triển khai hiệu quả vànhân rộng

Đối với chất thải công nghiệp thì công tác quản lý chất thải rắn được thuận lợi

và hiệu quả hơn Kết quả này là do một số nguyên nhân sau: 1) Các chất thải rắncông nghiệp chủ yếu là các nguyên vật liệu và phế phụ phẩm từ quá trình sản xuấtnên dễ dàng được phân loại ngay tại nguồn để tái chế, theo đó những chất thải cókhả năng tái sử dụng được dùng ngay làm nguyên liệu đầu vào cho quá trình sảnxuất của chính doanh nghiệp, những chất thải nào không có khả năng tái sử dụng

Trang 31

ngay tại doanh nghiệp (vì tính chất không phù hợp hoặc doanh nghiệp không có nhucầu) nhưng có khả năng tận dụng làm nguyên liệu cho quá trình sản xuất thứ cấpkhác thì được phân loại và bán cho các cơ sở tái chế có nhu cầu Còn lại chất thải bỏđược chuyển đến các thùng/kho chứa chất thải của doanh nghiệp hoặc được các đơn

vị đến thu gom xử lý 2) Các doanh nghiệp sản xuất bị rằng buộc bởi các quy địnhpháp lý liên quan tới quản lý chất thải nên hiệu quả thu gom tốt hơn 3) Với mô hìnhtập trung sản xuất tại các khu, cụm công nghiệp sẽ thuận lợi cho việc thu gom, traođổi chất thải giữa các doanh nghiệp Theo khảo sát của Viện nghiên cứu Chính sách

và Chiến lược Công nghiệp, tỷ lệ thu gom chất thải rắn tại các khu công nghiệp làcao đạt trên 90% [11] Tuy hiệu quả thu gom chất thải rắn công nghiệp là cao, tuynhiên công tác phòng ngừa, giảm thiểu chất thải rắn một cách có hệ thống còn hạnchế, đặc biệt là áp dụng sản xuất sạch hơn Thêm vào đó, một số chất thải côngnghiệp được thu gom cao vì lợi ích liên quan tới các cơ sở tái chế, do đó một số chấtthải nguy hại được thu gom không chính thống, điều này làm gia tăng nguy cơCTNH đi vào môi trường

Đối với chất thải rắn y tế, công tác thu gom và lưu trữ CTR y tế nói chung đãđược thu gom và phân loại theo quy định khá tốt Theo số liệu báo cáo của Cụcquản lý môi trường của Bộ Y tế thì có hơn 90% các bệnh viện do Bộ Y tế quản lýthực hiện thu gom hàng ngày, trong đó 100% bệnh viện thực hiện xử lý bằng cácphương pháp khác nhau (thuê xử lý, xử lý tại chỗ, phương pháp khác) [11] So vớichất thải rắn sinh hoạt thì chất thải rắn y tế phát sinh một cách tập trung hơn, sốlượng không quá lớn, đồng thời có quy định pháp luật tương đối chặt chẽ trong quản

lý chất thải rắn y tế

b Xử lý chất thải rắn

Công nghệ xử lý CTR dựa trên thành phần chất thải, tính chất, và khối lượngphát sinh chất thải rắn, điều kiện cụ thể của địa phương Dựa trên nguồn gốc phátsinh CTR, các công nghệ xử lý sẽ được áp dụng phù hợp Hiện nay, chất thải rắnvẫn được xử lý chủ yếu bằng phương pháp chôn lấp Trong 660 bãi chôn lấp trên cảnước, chỉ có 30% là bãi chôn lấp hợp vệ sinh [28] Khoảng 63% chất thải thu gomđược đưa đến các bãi chôn lấp và 22% được đưa đi đến các cơ sở xử lý khác nhau,trong đó tái chế chiếm 10%, ủ phân compost 4%, đốt rác 14% Hiện có khoảng 105đơn vị xử lý chất thải, bao gồm lò đốt công suất nhỏ (42%), nhà máy ủ phân

Trang 32

compost (24%), cơ sở kết hợp ủ phân compost và lò đốt (24%) và các công nghệkhác (10%) [28]

c Tái sử dụng và tái chế

Chất thải rắn sinh hoạt: Các loại chất thải như nhựa, ni lông, thủy tinh, bìa

cứng, kim loại và cao su là các vật liệu có trong chất thải rắn sinh hoạt có thể tái sửdụng và tái chế Chúng được tách ra tại chính các hộ gia đình do thói quen tái sửdụng hoặc bán lại cho người thu gom đồng nát, hoặc chúng được tách ra tại cácđiểm trung chuyển rác thải sinh hoạt Đa phần chất thải được tái chế tại làng nghề,

và mới chỉ tập trung vào một số vật liệu phổ biến như kim loại, giấy, nhựa Tuynhiên công nghệ tái chế còn lạc hậu, và quá trình tái chế chưa xem xét tới vấn đềmôi trường và sức khỏe của cộng đồng dân cư tại các làng nghề Bên cạnh đó, đầu

ra cho sản phẩm tái chế lại bị hạn chế bởi chất lượng sản phẩm, thói quen và tậpquán sử dụng của người tiêu dùng

Chất thải rắn công nghiệp: Tái chế và tái sử dụng chất thải rắn công nghiệp

khá là phổ biến, nhưng mang tính tự phát Một số chất thải công nghiệp được quayvòng tái sử dụng lại như chai lọ thủy tinh, nhựa, chất thải điện tử, một số khác đượcchế biến thành sản phẩm mới như phân vi sinh, dầu đốt, các sản phẩm từ nhựa Tùyvào đặc điểm của các vật liệu mà một số ngành hiện nay có các hình thức tái chếkhác nhau Ngành công nghiệp nhiệt điện đang sử dụng tro, xỉ để tái chế làm gạchkhông nung, phụ gia bê tông, phụ gia xi măng…, trong ngành công nghiệp bia,rượu, nước giải khát thì bã rượu tươi được thu gom làm thức ăn chăn nuôi gia súc,ngành bao bì thì vỏ chai hỏng và bao gói nhựa bán cho cơ sở tái chế và công ty thugom Ngành công nghiệp giấy sử dụng công nghệ tuần hoàn nước để thu hồi bộtgiấy, giảm lượng nước thải và tái sử dụng tuần hoàn Ngành công nghiệp luyện kim,chất thải rắn được tận thu, tái chế để thu hồi kim loại, làm vật liệu xây dựng…Hoạt động tái chế chất thải được thực hiện khá hiệu quả đối với các đơn vị thugom tư nhân, điều này mang lại giá trị kinh tế cao, đồng thời tiết kiệm được chi phídành cho việc xử lý loại chất thải này Tuy nhiên, hoạt động tái chế này còn chưađược quản lý chặt chẽ, nguy cơ gây ô nhiễm môi trường là cao Điều này là do các

cơ sở tái chế đều có quy mô nhỏ, công nghệ tái chế còn lạc hậu, hiệu suất thấp, sảnphẩm tái chế có chất lượng và độ an toàn thấp Trong khi đó, một số doanh nghiệptái chế có quy mô vừa là lớn thì sử dụng công nghệ tiên tiến để sản xuất các sảnphẩm phế liệu như thép, giấy, nhựa Do đó, rất cần cơ chế quản lý nhóm cơ sở tái

Trang 33

chế theo quy mô hộ gia đình, và đây là cơ hội để tạo lập nên thị trường tái chế ở quy

mô công nghiệp

1.1.2.2 Hiện trạng phát sinh, thu gom, xử lý, tái chế chất thải nguy

hại a Phát sinh chất thải nguy hại

Theo báo cáo của Vụ Quản lý chất thải, năm 2017 ước tính lượng CTNH phátsinh trên toàn quốc hiện nay khoảng 600.000 – 800.000 tấn/năm (không bao gồmlượng CTNH phát sinh từ cá nhân, hộ gia đình) CTNH chiếm khoảng 15-20%lượng chất thải rắn công nghiệp, và phát sinh từ các khu công nghiệp, tuy nhiên các

cơ sở sản xuất nhỏ lẻ nằm ngoài khu công nghiệp cũng là nguồn phát sinh CTNHkhông nhỏ Đối với công tác quản lý chất thải tại các cơ sở này gặp nhiều khó khănhơn so với các khu công nghiệp Theo thống kê của Bộ Y tế, trung bình mỗi ngàycác bệnh viện thải ra khoảng 47 – 50 tấn CTNH và chất thải y tế nguy hại chiếmkhoảng 20-25% CTR y tế trong bệnh viện, chủ yếu là chất thải bệnh lý và chất thảilây nhiễm Đối với chất thải rắn nguy hại phát sinh hiện chưa có thống kê đầy đủ,phần lớn chất thải sinh hoạt nguy hại bị thải lẫn với CTR sinh hoạt thông thường.Ngoài CTR nông nghiệp thông thường thì mỗi năm hoạt động nông nghiệp phátsinh khoảng 9000 tấn CTNH như bao bì và thùng chứa phân bón, thuốc BVTV vàmột lượng không nhỏ thuốc bảo vệ thực vật tồn lưu tại các kho bãi [11]

b Tình hình thu gom, xử lý chất thải nguy hại

Hiện nay, tỷ lệ thu gom chất thải nguy hại ngày càng được cải thiện Tính đếnnăm 2017, toàn quốc có 108 đơn vị xử lý CTNH được Bộ TNMT cấp phép xử lý,tổng khối lượng CTNH mà các đơn vị này thu gom và xử lý trong năm 2012 là165.624 tấn; năm 2013 là 186.657 tấn (tăng 12,7%); năm 2014 là 320.275 tấn (tăng93,4% so với năm 2012) và năm 2015 là gần 400.000 tấn [12] và theo Vụ Quản lýchất thải, tỷ lệ CTNH được thu gom và xử lý đúng quy định đạt ít nhất 75% Gầnnhư CTNH được tạo ra trong các cơ sở lớn đã được thu gom và xử lý theo đúng quyđịnh hiện hành Tuy nhiên, việc thu gom, vận chuyển, xử lý CTNH phát sinh từnguồn thải nhỏ còn rất hạn chế, đặc biệt là liên quan đến hoạt động tái chế tại cáclàng nghề

Dựa trên số liệu báo cáo cuối năm 2015 của 98 công ty thu gom và xử lý chấtthải nguy hại được Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp phép, nghiên cứu đã ước tínhlượng phát sinh của 13 thành phần chất thải nguy hại được thể hiện trong Hình 1.1

Trang 34

Hình 1.1 Lượng các thành phần CTNH được thu gom và xử lý năm 2015 [39]

Công nghệ xử lý CTNH ở Việt Nam đã được cải thiện đáng kể trong 5 nămqua Theo khảo sát của Bộ Tài nguyên và Môi trường, hiện có 03 nhóm công nghệ

xử lý CTNH: (1) Nhóm công nghệ nhiệt để tiêu huỷ chất thải; (2) Nhóm công nghệchôn lấp để xử lý chất thải; (3) Nhóm công nghệ tái chế chất thải Chất thải nguy hạiđược xử lý bằng công nghệ đốt, chôn lấp (có xử lý trước bằng các phương pháp hoá

lý, sinh học), ổn định hoá rắn Riêng chất thải y tế nguy hại, do chứa nhiều thànhphần nguy hại, cần xử lý bằng khử khuẩn (bằng các phản ứng hoá học trong nhữngthiết bị đặc biệt, bằng nhiệt khô hoặc nhiệt ẩm, bằng vi sóng), đốt hoặc chôn lấptrong các thiết bị và khu vực đặc biệt [11]

1.1.3 Các chiến lược, chính sách pháp luật về quản lý chất thải rắn

Vấn đề quản lý chất thải được chính phủ ngày càng quan tâm Điều này đượcthể hiện thông qua hệ thống văn bản pháp lý về quản lý chất thải

 Hệ thống cơ sở pháp lý

Hình 1.2 tổng hợp hệ thống cơ sở pháp lý về quản lý chất thải của Việt Nam từtrước tới nay Hệ thống văn bản quy định về chất thải của Việt Nam tính đến thờiđiểm hiện nay chủ yếu là các văn bản mang tính định hướng nhiều hơn là các vănbản hướng dẫn thực hiện, thi hành Vấn đề quản lý chất thải đã được nhắc đến từChỉ thị 36 năm 1988, và vấn đề chất thải rắn ngày càng được cụ thể hóa trong cácvăn bản pháp luật, đặc biệt tập trung nhiều vào giai đoạn năm 2015 đến nay Vấn đềchất thải nhựa đang rất được quan tâm, điều này được thể hiện trong các LuậtBVMT 2020 và các văn bản mới về quản lý chất thải, đặc biệt là trong giai đoạn nàykhi Việt Nam đang thực hiện chuyển đổi từ mô hình kinh tế tuyến tính sang mô hìnhkinh tế tuần hoàn

Trang 35

Chỉ thị 36 CT-TW

Khuyến khích tái chế và tái sử dụng

các sản phẩm tái chế và từng bước

áp dụng các biện pháp buộc các cơ

sở sản xuất, nhập khẩu phải thu hồi

và xử lý sản phẩm đã qua sử dụng

Ban hành các chính sách về thuế, tín

dụng nhằm hỗ trợ áo dụng công

nghệ sạch, ít phế thải, tiêu hao ít

nguyên liệu và năng lượng

Chiến lược QG về QLTHCTR đến 2025, tầm nhìn 2050

2025: sử dụng 100% túi nilon thân thiện với môi trường tại TTTM và siêu thị

Dự thảo Chiến lược BVMT quốc gia đến 2030 tầm nhìn đến 2050

2010

2018

Luật thuế BVMT

* NĐ 19/NĐ-CP quy định

chi tiết thi hành một số điều LBVMT

* NĐ38/NĐ-CP về quản lý chất thải và phế liệu

* QĐ 16/QĐ-TTg về thu hồi, xử

lý sản phẩm thải bỏ

Trang 36

TT07/TT - BTNMT

Trang 38

 Hiện trạng quản lý

Hiện nay, với nỗ lực của chính phủ, địa phương, các tổ chức trong và ngoàinước vấn đề chất thải rắn đã có sự quản lý tốt hơn so với trước đây, cụ thể là lượngthu gom chất thải rắn sinh hoạt ở đô thị là 85 - 85,5%, ở nông thôn là 40 - 45% [11,28], tỷ lệ tái chế chất thải đạt 8 -12% tổng lượng chất thải rắn phát sinh [14], tuynhiên tỷ lệ này hiện tại có thể cao hơn do một lượng lớn chất thải được thu gomtheo hình thức phi chính thống (hộ thu mua đồng nát), lượng này chưa được thống

kê Vấn đề về xử lý chất thải thì hiện nay khoảng 70% chất thải vẫn đang được xử

lý bằng phương pháp chôn lấp [11], tại các địa phương rác thải thường được đốt tựphát, và rất ít nhà máy xử lý rác có lò đốt thu hồi nhiệt, hoặc hiệu suất thu hồi chưacao Vấn đề chất thải nhựa, chất thải điện tử và chất thải xây dựng đang rất đượcquan tâm Trong đó, chất thải nhựa là vấn đề mà Việt Nam và các nước đang phảiđối diện để tìm ra giải pháp quản lý hiệu quả hơn trong thời gian tới Theo thống kê

có tới 30 tỷ túi nilon phát sinh trên một năm, trong đó Hà Nội và HCM phát thảikhoảng 80 tấn chất thải nhựa và túi/ngày [11]

Một số chiến lược, chính sách và quy định pháp luật về quản lý chất thải rắnđược tổng hợp trong Bảng 1.1

Bảng 1.1 Nội dung một số văn bản pháp quy về quản lý chất thải rắn

của Việt Nam

ngày 15/11/2004 của BộChính trị về đẩy mạnhcông nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước

trường quốc gia đếnnăm 2020 và tầm nhìnđến năm 2030 được phêduyệt bởi quyết định1216/2012/QĐ-TTgngày 05/09/2012

Trang 39

3 Quyết định TTg của Thủ tướngChính phủ ban hànhngày 17 tháng 12 năm

2149/QĐ-2009 phê duyệt Chiếnlược quốc gia về quản lýtổng hợp chất thải rắnđến năm 2025, tầm nhìnđến năm 2050

4 Quyết định 491 của Thủtướng ban hành ngày07/05/2018

5 Luật BVMT 2014

6 Nghị định của chính phủ

số 38/2015/NĐ-CP ngày24/04/2015 về quản lýchất thải rắn và phế liệu

7 Quyết định số TTg

1440/QĐ-của Thủ tướng chínhphủ

Trang 40

dựng khu xử lý chất thảirắn 3 vùng kinh tế trọngđiểm Bắc Bộ, miềntrung, và phía Nam đếnnăm 2020

8 Luật Bảo vệ Môi trường2020

Nhìn chung các chiến lược, chính sách liên quan tới quản lý CTR đều hướngtới chất thải cần được thu gom và xử lý, ưu tiên tái sử dụng và tái chế là biện pháphàng đầu, sau đó là đốt thu hồi nhiệt, ủ phân và cuối cùng là chôn lấp Các địnhhướng trong hệ thống văn bản này sẽ là cơ sở quan trọng để đề xuất giải pháp chonghiên cứu này

Liên quan tới thúc đẩy thu hồi chất thải rắn để tái chế, so với Luật BVMT

2014, Luật BVMT 2020 đã có sự thay đổi trong cách tiếp cận Nếu trong Luật cũ,trách nhiệm nhà sản xuất mới dừng ở một số ít các chương trình mang tính tựnguyện, chưa thực sự hiệu quả thì trong luật mới, đã có thay đổi lớn trong cách tiếpcận chính sách môi trường và một trong những thay đổi đó là quy định EPR (mởrộng trách nhiệm người sản xuất) (Điều 54, 55) và trong thời gian tới sẽ cần có vănbản dưới luật hướng dẫn thi hành điều khoản này Theo Luật BVMT 2020, nhà sảnxuất có hai trách nhiệm: Trách nhiệm tái chế và trách nhiệm xử lý theo hai hình thứcmột là tự tổ chức tái chế sản phẩm bao bì, hai là đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệmôi trường Việt Nam để hỗ trợ tái chế sản phẩm, bao bì Đối với hình thức một thì

tổ chức và cá nhân phải đăng kí kế hoạch tái chế và báo cáo kết quả tái chế hàngnăm đến Bộ Tài nguyên và Môi trường; đối với hình thức thứ hai thì cần đảm bảocác nguyên tắc mức đóng góp tài chính và mức kinh phí hỗ trợ tái chế được xácđịnh theo khối lượng hoặc đơn vị sản phẩm, bao bì; việc đóng góp tài chính được sửdụng để hỗ trợ cho hoạt động tái chế sản phẩm, bao bì; việc tiếp nhận và sử dụngđóng góp tài chính phải công khai, minh bạch và đúng mục đích theo quy định củapháp luật Với sự thay đổi này, chính phủ hy vọng EPR sẽ thúc đẩy cải cách hệ

Ngày đăng: 18/09/2021, 16:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. N.H. Nam, H.T. Hue, and N.T.B. Phuong (2019), “The Circular Economy and the Inevitable Transition”. VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, 35(3), pp. 21-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Circular Economyand the Inevitable Transition”
Tác giả: N.H. Nam, H.T. Hue, and N.T.B. Phuong
Năm: 2019
3. OECD, "Resource Productivity in the G8 and the OECD. A Report in the Framework of the Kobe 3R Action Plan".https://www.oecd.org/env/waste/47944428.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Resource Productivity in the G8 and the OECD. A Report in theFramework of the Kobe 3R Action Plan
4. Nakamura S, Nakajima K, Kondo Y, Nagasaka T. (2007), “The waste input-output approach to materials flow analysis”. Journal of Industrial Ecology 11(4), pp. 50–63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “The wasteinput-output approach to materials flow analysis”
Tác giả: Nakamura S, Nakajima K, Kondo Y, Nagasaka T
Năm: 2007
5. Beamon B.M. (1999), “Designing the green supply chain”. Logistics information management Sách, tạp chí
Tiêu đề: Designing the green supply chain”
Tác giả: Beamon B.M
Năm: 1999
6. Kurz H.D. (2006), “Goods and bads: Sundry observations on joint production, waste disposal, and renewable and exhaustible resources”.Progress in Industrial Ecology, an International Journal, 3(4), pp. 280-301 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Goods and bads: Sundry observations on jointproduction, waste disposal, and renewable and exhaustible resources”
Tác giả: Kurz H.D
Năm: 2006
7. Parfitt J, M. Barthel, and S. Macnaughton (2010), “Food waste within food supply chains: quantification and potential for change to 2050”.Philosophical transactions of the royal society B: biological sciences, 365(1554), pp. 3065-3081 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Food waste within foodsupply chains: quantification and potential for change to 2050”
Tác giả: Parfitt J, M. Barthel, and S. Macnaughton
Năm: 2010
8. Leontief W. (1936), “Quantitative input and output relations in the economic systems of the United States”. The Review of Economics and Statistics 18: 105–125 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quantitative input and output relations in theeconomic systems of the United States”
Tác giả: Leontief W
Năm: 1936
9. Salemdeeb R., A. Al-Tabbaa, and C. Reynolds (2016), “The UK waste input– output table: linking waste generation to the UK economy”. Waste Management & Research, 34(10): p. 1089-1094 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The UK wasteinput– output table: linking waste generation to the UK economy”
Tác giả: Salemdeeb R., A. Al-Tabbaa, and C. Reynolds
Năm: 2016
10. Ruiz-Peủalver S.M, M. Rodrớguez, and J.A. Camacho (2019), “A waste generation input output analysis: The case of Spain”. Journal of cleaner production, 210, pp. 1475-1482 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A wastegeneration input output analysis: The case of Spain”
Tác giả: Ruiz-Peủalver S.M, M. Rodrớguez, and J.A. Camacho
Năm: 2019
11. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2018), “Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2017, chuyên đề: Quản lý chất thải” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2017, chuyên đề: Quản lý chất thải
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2018
12. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2015), "Báo cáo Tổng kết công tác BVMT giaiđoạn 2011 - 2015 và định hướng giai đoạn 2016 - 2020". Hội nghị Môi trường toàn quốc lần thứ IV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Tổng kết công tác BVMT giaiđoạn 2011 - 2015 và định hướng giai đoạn 2016 - 2020
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2015
13. World Bank (WB) (2017), “Tổng quan về ô nhiễm nông nghiệp ở Việt Nam: Ngành trồng trọt 2017” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về ô nhiễm nông nghiệp ở Việt Nam: Ngành trồng trọt 2017
Tác giả: World Bank (WB)
Năm: 2017
14. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2011), “Báo cáo môi trường quốc gia 2011: Chất thải rắn” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo môi trường quốc gia 2011: Chất thải rắn
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2011
15. World Health Organization WHO (1993), “Assessment of Sources of Air, Water, and Land Pollution, Part I: Rapid Inventory Techniques in Environmental Pollution”. Geneve. Chapter 5, session 5.8-5.22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Assessment of Sources of Air,Water, and Land Pollution, Part I: Rapid Inventory Techniques inEnvironmental Pollution”. Geneve
Tác giả: World Health Organization WHO
Năm: 1993
16. Đặng Kim Chi (2004), “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng các chính sách và biện pháp giải quyết vấn đề môi trường ở các làng nghề Việt Nam. Tài liệu hướng dẫn áp dụng các giải pháp cải thiện môi trường cho làng nghề tái chế giấy”. Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn cho việcxây dựng các chính sách và biện pháp giải quyết vấn đề môi trường ở cáclàng nghề Việt Nam. Tài liệu hướng dẫn áp dụng các giải pháp cải thiện môitrường cho làng nghề tái chế giấy”
Tác giả: Đặng Kim Chi
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2004
17. Phùng Chí Sỹ (2015), “Nghiên cứu đồng đốt chất thải rắn công nghiệp không nguy hại trong lò hơi tại hai nhà máy giấy tỉnh Bình Dương” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đồng đốt chất thải rắn công nghiệp không nguy hại trong lò hơi tại hai nhà máy giấy tỉnh Bình Dương
Tác giả: Phùng Chí Sỹ
Năm: 2015
20. Quyết định số 88 (2014), “Ban hành hướng dẫn thu thập, tính toán chỉ thị môi trường trên địa bàn tỉnh Bình Dương giai đoạn 2013-2020”, UBND tỉnh BìnhDương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban hành hướng dẫn thu thập, tính toán chỉ thịmôi trường trên địa bàn tỉnh Bình Dương giai đoạn 2013-2020”
Tác giả: Quyết định số 88
Năm: 2014
21. Nguyen Thi Kim Thai, Luong Thi Mai Huong (2011), “Đánh giá thực trạng quản lý chất thải rắn tại các làng nghề tái chế phế liệu và đề xuất các giải pháp quản lý. Tạp chí Khoa học công nghệ xây dựng. 9(5), pp. 114-120 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đánh giá thựctrạng quản lý chất thải rắn tại các làng nghề tái chế phế liệu và đề xuất cácgiải pháp quản lý
Tác giả: Nguyen Thi Kim Thai, Luong Thi Mai Huong
Năm: 2011
22. Dũng T.T.(2015), “Điều tra, đánh giá hiện trạng thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn các tỉnh Tây Nguyên và đề xuất phương án quy hoạch, xử lý và quản lý chất thải rắn phù hợp đến năm 2020”, Mã KHCN-TN3/11-15 (Chương trình Tây Nguyên 3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra, đánh giá hiện trạng thu gom, vận chuyển vàxử lý chất thải rắn các tỉnh Tây Nguyên và đề xuất phương án quy hoạch, xửlý và quản lý chất thải rắn phù hợp đến năm 2020
Tác giả: Dũng T.T
Năm: 2015
23. Tuấn L.N. (2009), “Nghiên cứu hiện trạng và dự báo khối lượng chất thải rắn công nghiệp - chất thải nguy hại tại thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020”.Science & Technology Development, Vol 12, (No.09 - 2009) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hiện trạng và dự báo khối lượng chất thảirắn công nghiệp - chất thải nguy hại tại thành phố Hồ Chí Minh đến năm2020”
Tác giả: Tuấn L.N
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w