HOÀNG HƯNG: ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT NGÔN NGỮ TRONG THƠ HOÀNG HƯNGNgôn ngữ không chỉ là nghệ thuật ngôn từ mà còn phải được xem như là hệ quả một quan niệm thẩm mỹ đối với đời sống. Thế giới được quan niệm như thế nào sẽ có loại ngôn ngữ thơ tương ứng. Ý thức về một xã hội khuôn phép được phản ánh vào thơ trung đại trong hình thức câu thơ cách luật. Ý thức về tự do cá nhân thể hiện trong những câu thơ không chịu khuôn vào một mô hình nào của thơ hiện đại. Trong thơ, ngôn từ không đơn giản là công cụ để diễn nghĩa, tải ý tưởng. Sức hấp dẫn muôn thuở của thi ca là ở khả năng khêu gợi, đem đến cho chúng ta cảm giác về sự vật trong toàn thể tính sống động của nó thay vì chỉ biết về sự vật đó như là một ý niệm. Nghĩa là, địa hạt hoạt động chính của ngôn từ thi ca phải là địa hạt hình dung. Ngôn từ thi ca, do đó, phải cưỡng lại quá trình bị biến thành ký hiệu – một quá trình diễn ra không ngừng đối với ngôn từ trong đời sống giao tiếp hàng ngày. Và Hoàng Hưng là một trong số những nhà thơ sau 1975 đã có sự cách tân độc đáo về ngôn ngữ đặc sắc nhất. Nhờ có sự am hiểu về nhiều thứ tiếng, nhờ đó cách dùng từ của ông có nhiều sáng tạo mới mẻ.Đổi mới, cách tân thi pháp là cách các nhà thơ lấy lại lòng tin, vị thế trong lòng bạn đọc hiện nay. Đồng thời, điều đó cũng giúp những người sáng tác chúng ta tự tin hơn khi văn học Việt Nam hòa nhập với văn học các nước trong khu vực và thế giới. Trên bình diện đó, thơ cách tân sau 1975 nói chung và cách tân trong ngôn ngữ thơ Hoàng Hưng nói riêng thực sự đã đóng góp xứng đáng vào văn hóa tinh thần dân tộc, làm phong phú, đa dạng thêm nền văn học Việt đương đại. Hoàng Hưng đã góp phần gieo lên cánh đồng thơ Việt những hạt giống tâm hồn Việt, thấm đẫm cảm xúc, ẩn ức, tâm lý, lịch sử, văn hóa, hiện thực Việt, cùng những khao khát của con người đương thời để tạo nên những thành quả mới, giá trị mới.Có thể nói, ta đang được chứng kiến một sự biến động mạnh mẽ trong ngôn ngữ thơ Việt đương đại mà quan niệm nghệ thuật và thực tế sáng tác của những nhà thơ như Hoàng Hưng là một trong số những mũi nhọn đột phá. Cơn biến động này cho thấy thơ ca đang muốn thay lớp áo đã cũ của mình, muốn tạo cho mình một diện mạo mới. “Cuộc đi tìm mặt” của thơ ca đương đại chính là nỗ lực tìm kiếm cho mình một thứ ngôn ngữ mới. Hành trình tìm kiếm ngôn ngữ mới bao giờ cũng phức tạp, cam go song vì thế, những nỗ lực đột phá của những nhà thơ có ý thức cách tân lại càng cần phải được tôn trọng, nhìn nhận thỏa đáng.
Trang 1LỜI CẢM ƠN!
Thực tế luôn cho thấy, sự thành công nào cũng đều gắn liền với những sự
hỗ trợ, giúp đỡ của những người xung quanh dù cho sự giúp đỡ đó là ít hay
nhiều, trực tiếp hay gián tiếp Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu làm Tiểu luận
đến nay, em đã nhận được sự quan tâm, chỉ bảo, giúp đỡ của thầy cô, gia đình
và bạn bè xung quanh Với tấm lòng biết ơn vô cùng sâu sắc, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến quý Thầy Cô của trường Đại học Sư Phạm Huế đã dùng những tri thức và tâm huyết của mình để có thể truyền đạt cho chúng em
có được vốn kiến thức quý báu suốt thời gian học tập tại trường.
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn Cô giáo, PGS.TS Hoàng Thị Huế đã tận tâm chỉ bảo hướng dẫn em qua từng buổi học, từng buổi nói chuyện, thảo
luận về đề tài nghiên cứu Nhờ có những lời hướng dẫn, dạy bảo đó là bài Tiểu luận này của em có thể hoàn thành một cách xuất sắc nhất
Em xin chân thành cảm ơn!
MỤC LỤC
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bàn về ngôn từ- ngôn ngữ trong văn chương, Nguyễn Tuân đã từng nói:sáng tạo, không nên ăn bám vào người khác Giàu ngôn ngữ thì văn sẽ hay cũng cùng một vốn ngôn ngữ ấy nhưng sử dụng có sáng tạo thì văn sẽ có bề thế
và kích thước Có vốn mà không biết sử dụng chỉ như nhà giàu giữ của Dùng
chữ như đánh cờ tướng “Ở đâu có lao động thì có sáng tạo ra ngôn ngữ Nhà
văn không chỉ học tập ngôn ngữ của nhân dân mà còn là người phát triển ra ngôn ngữ , chữ nào để chỗ nào phải đứng đúng vị trí của nó Văn phải linh hoạt Văn không linh hoạt gọi là văn cứng đơ ” Thật vậy, một nhà văn chân
chính là một nhà văn có thể tạo cho mình một lối đi riêng mà không lẫn vàonhau trong thế giới đa sắc màu của nghệ thuật Văn học chính là mảnh đất màu
mỡ giúp nhà văn sáng tạo, phát huy khả năng cầm bút của mình, để rồi “Mỗi
tác phẩm phải là một phát minh về hình thức và khám phá về nội dung” Chính
vì đó mà văn học là nghệ thuật của ngôn từ.
H Markevich đã từng nói: “ Nếu chỉ đánh giá tác phẩm trên cơ sở quan
sát những thuộc tính khách quan của nó, không để ý đến sự tiếp nhận của nó như một đối tượng thẩm mỹ thì đó chỉ mới là phán đoán những tiềm năng về giá trị của tác phẩm ” Có thể nói, văn học chính là mảnh đất màu mỡ sản sinh
những tác phẩm nghệ thuật, là nơi giúp cho các nhà văn thảo sức vùng vẫy ngòibút của mình để tạo nên những đứa con tinh thần, chính vì lẽ đó mà văn học lànghệ thuật ngôn từ Vậy ngôn từ trong văn học có vai trò như thế nào, đảmnhiệm những chức năng ra sao cũng như sức ảnh hưởng và sự tác động củangôn từ có ảnh hưởng đến giá trị của một tác phẩm hay không, các tác phẩmvăn học sẽ là minh chứng làm sáng tỏ những luận điểm nói trên
Văn học chính là hình thái ý thức xã hội, môn nghệ thuật nhưng khác với
các ngành khác nhờ đặc trưng chất liệu sáng tác văn học “ ngôn từ” Ngôn từ
văn học có tính hình tượng, được sắp xếp theo một tổ chưcs nhất định để ngôn
từ phát huy giá trị của nó, đồng thời có tính chuẩn mực ( hàm súc, cô đọng, đanghĩa, biểu cảm, ) Ngôn ngữ văn học tạo nên tác phẩm và gây hiệu quả thẩm
mỹ cho văn bản Nhưng, giá trị của ngôn từ chỉ đạt giá trị tối đa khi nó đượcdùng đúng chỗ, đúng văn cảnh Từ đây ta có thể hiểu văn học là bộ môn nghệthuật, lấy con người làm đối tượng nhận thức trung tâm, lấy hình tượng làmphương thức biểu đạt nội dung và lấy ngôn ngữ làm chất liệu xây dựng hình
Trang 4tượng Theo từ điển Văn học, hình tượng là “ phương thức chiếm lĩnh, thể hiện
và tái tạo đời sống theo quy luật của nghệ thuật”.
Với luận điểm Văn học là nghệ thuật của ngôn từ đã cho ta nhận thức
rằng ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương nói chung và trong thơ có nói riêng
có chức năng khác với ngôn ngữ trong tác phẩm phi văn chương Nếu âm nhạcdùng âm thanh, hội họa dùng đường nét và màu sắc, điêu khắc dùng màng khối
thì văn học chọn ngôn từ làm chất liệu Ở mỗi thể loại văn học, ngôn ngữ có
chức năng, đặc trưng riêng Nếu văn xuôi lấy ngôn ngữ làm phương tiện biểuđạt ý nghĩa thì thơ lấy ngôn ngữ làm cứu cánh tự tại Sáng tạo thơ trước hết là
sáng tạo chữ nghĩa, làm hiển lộ vẻ đẹp chữ nghĩa, hay nói như Jacobson: “ Thơ
là chức năng thẩm mỹ của ngôn ngữ” Chính vì lẽ đó, người viết muốn đi sâu
phân tích ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ Hoàng Hưng để thấy được sự sáng tạo
mà người nghệ sĩ này đã dành trọn cuộc đời mình để viết
2 Lịch sử vấn đề
Có lẽ cũng không khó khăn lắm để nhận ra nhiều cây bút thơ hiện nay đãkhông còn thoả mãn với lối viết, với hệ thi pháp đã định hình và dường nhưđang biến thành lối mòn Khao khát bứt phá, đổi mới đã khiến nhiều nhà thơhoài nghi, muốn xem xét lại những định nghĩa tưởng chừng đã xong xuôi, ổnđịnh về thơ Đâu là những yếu tính của thơ? Câu hỏi mang tính bản thể đókhông dẫn đến những câu trả lời thống nhất và thực tế đó cho thấy những tìm tòithể nghiệm cách tân thơ hiện nay đang đi theo nhiều ngả đường khác nhau Đặcbiệt ở giai đoạn sau 1975, các nhà thơ Việt Nam đã có những thay đổi về cáchnhìn cũng như cách sử dụng ngôn ngữ của mình, nhờ đó họ đã sáng tạo ranhững thi phẩm đặc sắc và mới mẻ về cả nội dung và hình thức
Đổi mới tư duy nghệ thuật nói chung hay đổi mới nghệ thuật ngôn từ nóichung ở giai đoạn sau 1975, ta không thể không nhắc đến nhà thơ Hoàng Hưng.Nhờ có lối viết cũng như tư duy mới mẻ cùng cách nhìn cuộc sống tinh tế,Hoàng Hưng đã để lại cho bạn đọc một khối lượng thơ ca không nhỏ
Là một người được đánh giá là tiên phong- đi đầu trong công cuộc đổimới thơ ca đương đại, nên nhìn chung Hoàng Hưng cũng được giới phê bìnhvăn học, các nhà lý luận văn học làm đề tài nghiên cứu Nói về những côngtrình nghiên cứu về thơ ca cũng như phong cách thơ Hoàng Hưng mới đây nhất,
có thể nhắc đến công trình luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Minh Huệ Dấu ấn
hiện đại trong thơ Hoàng Hưng và Inrasara ( 2016) Ở công trình này, Nguyễn
Trang 5Thị Minh Huệ đã có cái nhìn sâu về đặc trưng dấu ấn hiện đại trong thơ HoàngHưng, từ đó làm cơ sở so sánh đối chiếu với thơ Inrasara.
Bên cạnh đó, cũng có nhiều bài viết, những bài bình luận về thơ Hoàng
Hưng Cụ thể ở tập “Thơ Hoàng Hưng 1961-2005, những bài viết về thơ Hoàng
Hưng” có những bài đánh giá sau: “Hoàng Hưng đi tìm mặt” của Thụy Khê; “ Thơ đến với người và thơ đi tìm mình” của Phong Lê; “ Người làm thơ khó tính” của Ngô Văn Phú; “ Hành trình Hoàng Hưng” của Vân Long; “Người đi tìm một cuộc trình” của Châu Diên- Ngân Xuyên; “ Vụt hiện của con Thạch Sùng” của Tam Lệ; “ Hành trình tinh thần của một nhà thơ” của Lê Tâm; “ Thơ Hoàng Hưng- một vuông tường một thế giới” của Lê Hồ Quang,
Trong phạm vi bài Tiểu luận này, người viết muốn góp sức vào những
công trình nghiên cứu về thơ Hoàng Hưng ở khía cạnh ngôn từ nghệ thuật
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu “ Đặc điểm nghệ thuật ngôn ngữ trong thơ Hoàng Hưng”
người viết tập trung vào ba phương diện chính sau:
- Khái lược về Hoàng Hưng và thơ Việt Nam sau 1986
- Khả năng kiến tạo hiện thực đời sống trong ngôn ngữ thơ Hoàng Hưng
- Các dạng thức ngôn ngữ trong thơ Hoàng Hưng
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của một Bài Tiểu luận, người viết hướng đề tài của
mình tập trung nghiên cứu tập trung ở cuốn “ Thơ Hoàng Hưng 1961-2005
những bài viết về thơ Hoàng Hưng”, EBOOK 2012
4 Phương pháp nghiên cứu
Với đề tài “ Đặc điểm nghệ thuật ngôn từ trong thơ Hoàng Hưng”, người
viết tiến hành nghiên cứu bằng một số phương pháp như:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu những vấn đề lý thuyết về
ngôn ngữ thơ
- Phương pháp liên ngành: Vận dụng các ngành khoa học kế cận: Lí luận văn
học, mỹ học,văn hóa học,…có liên quan đến đề tài nghiên cứu
Trang 6- Phương pháp phân tích- tổng hợp: Phương pháp này được người viết sử
dụng trong quá trình phân tích thơ, trích dẫn thơ làm nền tảng để triển khai vấnđề
- Phương pháp thống kê và phương pháp loại hình: Hai phương pháp này
được sử dụng trong tất cả các luận văn cũng như các đề tài Tiểu luận Vớiphương pháp này, các vấn đề nghiên cứu được trình bày một cách hệ thống vàlogic Qua đó, người viết rút ra nhận xét bao quanh vấn đề đặt ra
Ngoài những phương pháp trên, người viết còn kết hợp các thao tác như: chứngminh, giải thích, bình luận,…để làm sáng rõ vấn đề cũng như yêu cầu của đề tài
Tiểu luận của mình.
5 Cấu trúc Tiểu luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, đề tài Tiểu luận
bao gồm 3 chương:
Chương 1 Khái lược về Hoàng Hưng và thơ Việt Nam sau 1986
Chương 2 Khả năng kiến tạo hiện thực đời sống trong ngôn ngữ thơ Hoàng Hưng
Chương 3 Các dạng thức ngôn ngữ trong thơ Hoàng Hưng
Trang 7PHẦN NỘI DUNG
Chương 1 Khái lược về Hoàng Hưng và thơ Việt Nam sau 1986
1.1 Giới thiệu nhà thơ Hoàng Hưng
1.1.1 Cuộc đời và con người Hoàng Hưng
Nhà thơ Hoàng Hưng tên thật là Hoàng Thuỵ Hưng, sinh năm 1942 tại thị
xã Hưng Yên Ông tốt nghiệp khoa Văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm
1965 Từ năm 1973 đến năm 1982 ông là phóng viên, biên tập viên báo NgườiGiáo viên Nhân dân thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo
Hoàng Hưng sinh ngày 24/11/1942 tại thị xã Hưng Yên Từ năm
1960-1961 ông tình nguyện lên Tây Bắc phục vụ quân đội Tốt nghiệp Khoa văn, Đạihọc Sư phạm Hà Nội 1965 rồi về dạy văn cấp III tại Hải Phòng từ 1965-1973,sau đó ông tình nguyện vào Nam làm văn nghệ, nhưng ngành giáo dục giữ lại vì
là giáo viên giỏi lớp cuối cấp Nhưng vì đam mê sáng tác nên ông chuyển sanglàm phóng viên, biên tập viên báo Người Giáo viên Nhân dân (nay là báo Giáodục và Thời đại của Bộ Giáo dục và Đào tạo) từ năm 1973-1982 Ông bị bắtgiam và tập trung cải tạo từ 17/8/1982- 29/10/1985 vì tội lưu truyền bản thảoviết tay tập thơ Về Kinh Bắc của nhà thơ Hoàng Cầm Sau khi ra tù, ông miệtmài làm việc và cho ra mắt hàng trăm tác phẩm sáng tác cũng như dịch thuật
Từ năm 1987 ông tiếp tục làm ở nhiều báo khác nhau, cuối cùng là báo Laođộng trong 13 năm từ 1990 đến khi nghỉ hưu vào năm 2003 Sau khi nghỉ hưuông thường được mời nói chuyện thơ ở nhiều nước như Pháp, Đức, Hoa Kỳ
Bên cạnh đó, Hoàng Hưng cũng có hoạt động và đóng góp cho văn họcquốc tế, cụ thể như sau:
- 1999: Được Nhà Văn hoá Thế giới Berlin mời sang đọc thơ nhưngkhông được phép xuất ngoại
- 2000: Lưu trú dịch thuật tại Paris 3 tháng (9-11) do Bộ Văn hoá Pháp tàitrợ Trao đổi về dịch thơ Apollinaire tại lớp Việt Nam học, Đại học Paris 7
- 2002: Tổ chức dịch 4 nhà thơ VN cho tạp chí Europe (Paris), và 12 nhàthơ VN cho tạp chí Action Poétique (Paris)
- 2002: Người đề cử các nhà thơ VN tham dự Liên hoan Thơ Quốc tếVal de Marne, Pháp, lần VII
Trang 8- 2003: Nói chuyện về "Hiện đại hoá thơ VN" tại Trung tâm Đông Nam
Á, Đại học Washington, Seattle, Hoa Kỳ Đọc thơ tại Chicago (chương trình
"Đọc thơ mùa Xuân" của Columbia College - Chicago)
- 2005: Đọc thơ tại Khoa Viết văn và Trung tâm Thơ, Đại học Quốc gia
San Francisco Trao đổi về tập thơ "Ác mộng" tại Lớp Nghiên cứu Văn học Việt
Nam, Đại học Berkeley
- 2005: Đọc thơ tại Volk Buhne, Berlin
Ít ai trong số bạn đọc có thể biết được nhà thơ Hoàng Hưng từng bị ngồi
tù vì thơ Hoàng Cầm Trong thập niên tám mươi, không biết bao nhiêu vụ bắtgiữ người trái pháp luật mà không cần bằng chứng cụ thể xảy ra Một trongnhững nạn nhân của vụ bắt bớ này là nhà thơ Hoàng Cầm và thật khó tin khiông bị buộc tội chỉ vì cầm tập thơ của một người bạn vong niên là thi sĩ HoàngCầm trong một dịp vào miền Nam năm 1982 Công an cho rằng ông cố tìnhphát tán văn hóa phẩm phản động và kết quả là ông ngồi tù hơn ba năm sau đó.Nhưng ở khía cạnh khác, một cách nhìn nhận khác, có lẽ ở tù cũng là cơ hội đểHoàng Hưng có thể có những khung bậc thăng hoa trong sáng tác thơ Trong tù,ông đã viết được nhiều bài thơ hay, làm nên tên tuổi Hoàng Hưng lúc bấy giờ,
một trong số đó có thể nhắc đến đó là tập “ Ác mộng”, “ Người về”,
1.1.2 Sự nghiệp và phong cách sáng tác của Hoàng Hưng
Về sáng tác ông đã xuất bản các tập thơ Đất nắng (in chung với Trang Nghị, 1970), Ngựa biển (1988), Người đi tìm mặt (1994), Hành trình (2005) và
nhiều bài viết, bài nói chuyện, tiểu luận, nghiên cứu, trên báo, tạp chí, đài phátthanh trong và ngoài nước Một số bài thơ đã được dịch và in tại Pháp, Mỹ,Canada, Đức, Hungary, Hà Lan
Ông đã tham gia dịch và làm chủ biên 100 bài thơ tình thế giới (1988),
Thơ Federico Garcia Lorca (1988), Thơ Pasternak (cùng dịch với Nguyễn Đức
Dương, 1988), Thơ Apollinaire (1997), Các nhà thơ Pháp cuối thế kỷ XX (2002), 15 nhà thơ Mỹ thế kỷ XX (cùng dịch, tổ chức bản thảo, 2004), Mowgli-
Người sói (1988, 1989, 1999), Người đàn bà lạ lùng (1990), Từ điển Bách khoa Oxford cho thiếu niên (chủ biên, sắp ra mắt)
Hoàng Hưng được đánh giá như là một chú “gà chọi”, càng om, đá càng
hăng vì ông sinh ra như để hứng cái sự hành của cả trời lẫn đời Giả dụ rằngkhông có ba năm (17/8/1982- 29/10/1985) tạm đi công tác ở huyện Cẩm Thủy,
Trang 9Thanh Hóa, thì ông lấy đâu một núi tác phẩm sáng tác, dịch thuật và nhữngcuộc giao du khắp nhiều nước trên thế giới như vậy.
Minh chứng là từ năm 1999 thơ của ông đã được giới thiệu ở Nhà Vănhoá Thế giới Berlin Đến năm 2000 ông đã được Bộ Văn hoá Pháp tài trợ, traođổi về dịch thơ Apollinaire tại lớp Việt Nam học ở Đại học Paris 7, thủ đô Paris,Pháp Năm 2002 ông đã tổ chức dịch 4 nhà thơ Việt Nam cho tạp chí Europe(Paris), và 12 nhà thơ Việt Nam cho tạp chí Action Poetique (Paris) Cũng năm
đó ông được tham gia đề cử các nhà thơ Việt Nam tham dự Liên hoan Thơ Quốc
tế Val de Marne, Pháp, lần VII Từ năm 2003 đến nay Hoàng Hưng đã đi nóichuyện về Hiện đại hóa thơ Việt Nam tại Trung tâm Đông Nam Á, Đại họcWashington, Seattle, Hoa Kỳ, đọc thơ tại Chicago, đọc thơ tại Khoa Viết văn vàTrung tâm Thơ, Đại học Quốc gia San Francisco Trao đổi về tập thơ Ác mộngtại Lớp Nghiên cứu Văn học Việt Nam, Đại học Berkeley
Chỉ từng ấy công việc thôi, một người không được cả trời lẫn đời hànhnhư nhà thơ Hoàng Hưng chắc chắn là không thể làm được Thế mới biết ôngtrời và cuộc đời công bằng thật, chẳng cho ai tất cả và cũng chả lấy hết tất cảcủa ai Nhìn vào quãng đường sáng tác và hoạt động văn chương của nhà thơHoàng Hưng, tôi có cảm tưởng như cuộc đời này là ông chủ chơi gà chọi thật sựcao tay và chuyên nghiệp, biết chọn mặt gửi vàng, biết chọn những chú gà có tàitung ra những miếng đá có thể làm thay đổi cục diện một cuộc chơi để om, đủthời gian mới cho ra sàn đấu, khiến không ít bạn thơ phải ngưỡng mộ và ghinhận một phong cách thơ Hoàng Hưng không trộn lẫn vào đâu được
Và nếu Hoàng Hưng không có thời gian ở miền núi xứ thanh thì mãi mãibạn đọc trong nước và quốc tế mãi mãi không bao giờ biết đến thế nào là những
ác mộng bằng thơ và nhiều tác phẩm khác nhau của ông
Rõ ràng là bóng dáng một người thơ hiện sau những chữ thơ vừa kiêngan, vừa hoảng loạn thi sĩ của nhà thơ Hoàng Hưng cách đây hơn 30 năm vềtrước Nếu như được cả trời và đời hành như Hoàng Hưng để có thể làm nênnhững câu thơ buốt xé tâm can cho đến sau xa như vậy, tôi tin rằng sẽ có không
ít người thèm khát và ghen tị với ông Tôi thấy Hoàng Hưng hoàn toàn có lý khiông dám nhìn thẳng vào sự thật trong trả lời một nhà báo nước ngoài Ông nói:
Chiến tranh dù thiêng liêng đẹp đẽ mấy cũng chỉ là thời kỳ bất bình thường của xã hội Những cái được coi là quy luật của cuộc sống thời chiến chỉ là ngoại lệ so với quy luật phổ biến của đời sống con người Với nghệ thuật cũng vậy Trước sau gì thì người nghệ sĩ bôn ba trên những chốn ngoài mình cũng
Trang 10phải quay về ngôi nhà đích thực của mình là nghệ thuật và đối mặt với nhu cầu sống còn của anh và cũng là thử thách quyết liệt nhất đối với anh: đó là tự do sáng tạo.
Khi người nghệ sĩ tìm được cho mình một cõi tự do sáng tạo, thì trướcsau anh ta cũng sẽ làm nên những mùa vàng nghệ thuật bội thu, dù trong quátrình cày cấy trên cánh đồng nghệ thuật ấy có gặp nhiều giông bão hay bất cứtrở lực nào, miễn là không được đánh mất đi tự do, bởi mất nó anh ta sẽ còn đâuthi hứng mà sáng tạo nữa Và Hoàng Hưng đã cảnh báo rằng: Tự nguyện để bịtước đoạt quyền tự do sáng tạo có nghĩa là người viết tự kiểm duyệt mình, nhiềukhi ý thức tự kiểm duyệt trở thành vô thức, vô hình trung anh chỉ còn là ngườithợ gia công sản xuất những mặt hàng theo mẫu mã được đặt sẵn của các báo,các nhà xuất bản, các ban giám khảo giải thưởng
Tự nguyện để bị tước đoạt quyền tự do sáng tạo cũng là lười nhác sảnxuất theo những mẫu mã đã thành công của chính mình, tự copy chính mình,không dám phiêu lưu tìm kiếm chân trời mới, cũng không dám thay đổi và theodõi những thay đổi bên trong của chính mình
Cuộc đời hoạt động nghệ thuật của nhà thơ Hoàng Hưng không chỉ đemlại cho đời những tác phẩm thơ độc đáo, có giá trị và đầy thi hứng sáng tạo, màcòn mang đến cho bạn thơ và những người hâm mộ những bài học quý về mộtbản lĩnh nghệ sĩ kiên gan trong lao khổ vẫn không ngừng thắp sáng ngọn lửacủa lòng đam mê sáng tạo thi ca Phải chăng đây chính là ngọn nguồn thànhcông trên con đường sáng tạo thi ca không chỉ của riêng nhà thơ Hoàng Hưng
mà là của chung cho tất cả mọi người
1.2 Khái quát về thơ Việt Nam sau 1986
1.2.1 Các chặng đường phát triển thơ ca sau 1986
Công cuộc đổi mới của Đảng được khởi xướng năm 1986 ở nước ta là sựkiện chính trị và xã hội quan trọng, kích hoạt sự đổi mới văn học, trong đó, có
sự khởi sắc và lên ngôi của tất cả các thể loại văn học, mà thơ được xem là thểloại xung kích, tiên phong, tiền trạm cho tâm hồn và nghệ thuật nhanh nhạy và
đa dạng nhất, xét từ đặc trưng thể loại trong sự vận động và phát triển của nóvới tương quan dân tộc – thế giới, hiện đại – hậu hiện đại, được các chủ thểsáng tạo ý thức thể hiện trong các bước ngoặt chuyển mình của đời sống xã hội
và đời sống văn học Đỗ Lai Thuý đã xác quyết: “Nếu xét như một hệ thống thể
loại, thì thơ bao giờ cũng là một thể loại mạnh, luôn chiếm ngôi vị đầu bảng Khác với văn xuôi, thơ một phần gắn chặt hơn với những yếu tố tự nhiên trong
Trang 11con người như cảm xúc, trực giác, phần khác tư duy thơ lại thuộc tư duy lựa chọn, theo trục dọc, trục của không gian” [28, 43]
Có thể tạm thời siêu hình trong cách tiếp nhận và không tính đến những
sự kiện, những chuyển biến nhỏ lẻ của đời sống xã hội và của thực tế văn học đểphân chia lịch sử thơ, thì các nhà phê bình và nghiên cứu văn học Việt Namtương đối thống nhất phân chia thơ sau 1975 thành 3 giai đoạn chính như sau:Giai đoạn 1975-1985, giai đoạn 1986-2000 và giai đoạn 2000 – nay Đây là mộtcách phân chia bên cạnh những cách phân chia khác Cụ thể, có người phân chialịch sử thi ca theo hệ hình tư duy; có người phân chia theo các mốc lịch sử đờisống và lịch sử văn học; có người phân chia theo những sự kiện quan trọng củaquá trình hiện đại hoá văn học… Dù vậy, cách phân chia nào cũng có tính hợp
lý của chúng, bởi vì, căn cứ vào tiêu chí nào cũng không thể không lấy thực tếđời sống văn học cụ thể của nó là tác giả và tác phẩm để xét tiến trình và đặcđiểm thi pháp của chính nó trong tương quan với hiện thực đời sống
Trong bài viết này, tôi muốn nhìn thơ Việt Nam ba mươi năm đổi mới(1986-2016) từ chính bản chất thơ ca đó là nghệ thuật ngôn từ mà cụ thể là
hướng nghiên cứu về Đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ Hoàng Hưng.
1.2.2 Cảm hứng chính của nền thơ ca sau 1986
Đây là giai đoạn từ thời chiến chuyển sang thời bình Đất nước đượcthống nhất về pháp lý, nhân dân sum họp, niềm vui hoà hợp và hàn gắn vếtthương chiến tranh diễn ra sôi nổi và kịp thời trên toàn quốc, đặc biệt là cácvùng bị chiến tranh tàn phá nặng nề Những thuận lợi và khó khăn đan xen,nhưng cuộc sống hoà bình đã nhanh chóng đem lại màu xanh trên những vùngquê trước đây từng là vùng trắng, vùng chết Nhưng không lâu sau hoà bình, haicuộc chiến tranh ở biên giới phía Bắc và phía Tây Nam tổ quốc diễn ra đã gâynên khó khăn và tác hại đến đời sống dân sinh và kinh tế của đất nước Hai cuộcchiến tranh biên giới nói trên kết thúc, nhân dân ta lại gặp phải những khó khănmới về thiên tai, bão lũ, hạn hán diễn ra trong nhiều năm, ảnh hưởng không nhỏđến đời sống mọi mặt của đất nước Bên cạnh đó, còn có những thiếu sót và hạnchế về nhiều mặt trong quản lý và điều hành đất nước của Đảng và Chínhquyền Để khắc phục những khó khăn trong, Đảng ta đã kịp thời đề ra chínhsách đổi mới Năm 1986 là mốc quan trọng đánh dấu sự sáng suốt về sách lược
và chiến lược của Đảng để đưa đất nước thoát khỏi khó khăn, nhanh chóng khôiphục kinh tế, tạo ra không khí dân chủ tối đa cho toàn xã hội Công nghiệp hoá
và hiện đại hoá là bệ phóng để đất nước từng bước phát triển kinh tế, hội nhập
Trang 12quốc tế Từ đầu thế kỷ XXI đến nay, đất nước bước vào một thời kỳ mới – thời
kì khôi phục, xây dựng và phát triển
Sự chuyển biến của đời sống xã hội, văn hóa, tư tưởng nói trên sẽ dẫn đếnnhu cầu đổi mới thơ ca, mà trước tiên là đổi mới quan niệm thẩm mĩ về hiệnthực và con người Vào cuối những năm 70 của thế kỷ XX, đã xuất hiện nhu cầunhìn lại giai đoạn văn học thời chiến, chỉ ra những thành tựu và giới hạn của nó;
từ đó, xác lập hướng đi mới cho thơ Nhu cầu này đã được nêu ra trong Báo cáo
đề dẫn của Đảng đoàn Hội Nhà văn Việt Nam tại Hội nghị các nhà văn đảngviên (1979) Tuy nhiên, sự thay đổi từ nhận thức đến thực tiễn là một quá trìnhkhông đồng hành như mong muốn Sang những năm 80, nhất là từ sau Đại hội
VI của Đảng (1986), nhu cầu đổi mới văn học đã dần trở thành đòi hỏi chungcủa cả giới sáng tác, lý luận phê bình lẫn công chúng Tư duy nghệ thuật đổimới, buộc phải đổi mới toàn diện các quan niệm về lý luận và mỹ học cũng như
về công chúng văn học Đường lối mở cửa, hội nhập quốc tế của Đảng đã tạo cơhội mở rộng giao lưu văn hóa, văn học giữa nước ta với các nước trên thế giới,đặc biệt với Phương Tây Nhờ vậy mà nhiều trào lưu, khuynh hướng và lý luậnnghệ thuật hiện đại của thế giới đã được giới thiệu ở Việt Nam, tác động tíchcực đến nền văn học nước nhà
Trong bối cảnh chung đó, văn học nói chung, thơ ca nói riêng không thểkhông bị tác động từ nhiều phía và diễn ra theo quy luật của chính nó Thơ ca đãnhanh chóng chuyển mình để đáp ứng nhu cầu phản ánh những hiện thực mớicủa đất nước và con người trong tính chân thật, cụ thể và tính nhân văn, nhân ái
đa dạng, sinh động Những biểu hiện sinh động và đa dạng ấy của thi ca đượcdiễn ra liên tục trong tính kế thừa và cách tân ở từng giai đoạn với từng hệ hình,từng quan niệm nghệ thuật về hiện thực và con người cũng như các phươngthức thể hiện cách tân đa dạng của chúng Mà nhân tố quyết định làm nên diệnmạo thơ ba mươi năm đổi mới đó, chính là nhân vật – chủ thể sáng tạo
Sau 1975, nền thơ Việt Nam hội tụ nhiều thế hệ nhà thơ đông vui và giàunhiệt huyết sáng tạo Các thế hệ nhà thơ trong cuộc đại đoàn viên lần này đadạng, đa thanh và đa khu vực Có các thế hệ ở miền Bắc, các thế hệ ở miềnNam Ở miền Nam, còn có các thế hệ ở chiến trường từ những cánh rừng trở vềsau chiến tranh, có các thế hệ ở trong lòng các đô thị miền Nam, bên cạnh cácthế hệ là học sinh sinh viên yêu nước ở đô thị miền Nam, rồi các thế hệ trưởngthành trong hòa bình từ 1975 đến nay… Điều đặc biệt là các thế hệ sáng tác này,bằng kinh nghiệm và phong cách riêng, khuynh hướng riêng đã tạo ra sự đathanh, phức điệu cho tổng thể phong trào Những tiếng nói thi ca theo phong
Trang 13cách riêng ấy không loại biệt nhau, trái lại cộng hưởng nhau, tạo nên dàn hợpxướng ngôn từ thi ca âm vang, độc đáo, tươi sáng; tích hợp thành những giọngđiệu và tư duy sáng tạo khác nhau Đặc biệt, càng về sau, nhất là bước sang thế
kỷ XXI, các khuynh hướng hiện đại chủ nghĩa được các thế hệ nhà thơ trẻ thế
hệ 7X, 8X vận dụng và thể nghiệm bước đầu thành công, đem lại cho nền thơnhững thông điệp thi ca mới mẻ Không thể không thừa nhận có sự khác biệt vềngôn ngữ, giọng điệu thi ca ở các thế hệ cầm bút, ở các lứa tuổi thi sĩ và ở cácvùng miền, nhưng cũng không thể không thừa nhận sự ảnh hưởng và học hỏilẫn nhau ở các thế hệ cầm bút – từ thế hệ các nhà thơ thuộc Phong trào Thơ mớiđến thế hệ các nhà thơ sau 1975 Một nền thi ca bao giờ cũng cần những phongcách và bản sắc khác nhau ấy Chính sự đa dạng và đa thanh này tạo nên sự đaphong cách, đa thi pháp cho cả phong trào Thực tế là ta có một Chế Lan Viênsau 1975 rất triết lý, trí tuệ; có một Bùi Giáng từ thơ trang nghiêm đến trò chơingôn ngữ; có một Hoàng Hưng đổi mới và vụt hiện ngôn từ; có một Hữu Thỉnhvăn hoá dân gian mà hiện đại và dân tộc một cách nghệ thuật, có một XuânQuỳnh đa cảm, tự hát giàu thiên tính nữ; có một Nguyễn Duy bụi bã và hoàivãng đến day dứt; có một Thanh Thảo luôn mới và quay tròn bứt phá như nhữngrubic thơ; có một Hoàng Cầm tuổi càng cao càng trẻ lại trong âm tính và dục
tính; có một Lê Đạt phu chữ tạo ra nhiều “bóng chữ”; có một Trần Dần “đơn
giản đồng nhất thơ vào chữ”, đưa con âm thành âm thanh, ý nghĩa và thị giác;
có một Đặng Đình Hưng văn xuôi hoá thi ca thành âm nhạc tuôn chảy tràn dòngthơ; có một Dương Tường với thơ âm bồi và con âm và cuối cùng là thơ khônglời/ thơ hình vẽ, thơ trình diễn, sắp đặt; có một Đoàn Thị Lam Luyến khát yêu
và khát sống trong tình yêu ly tan; có một Dư Thị Hoàn tan vỡ tình trong vănhoá và bao dung; có một Bùi Chí Vinh bụi bặm mà tự nhiên như phố thị; mộtNguyễn Khắc Thạch thiền lý và Phật lý; có một Nguyễn Quang Thiều kết tinhthơ thành cổ mẫu; có một Mai Văn Phấn liên tục hiện hữu thơ không cần máiche ngôn ngữ để tạo sinh nghĩa mới; có một Đồng Đức Bốn thi hoá ca daothành đồng dao hiện đại, có một Đinh Thị Như Thuý mênh mông cao nguyên vàdịu dàng như cỏ; có một Nguyễn Quốc Chánh căn cước của những ẩn dụ thơ, cómột Nguyễn Thuý Hằng với những khoái cảm và điên rồ ngôn ngữ; có một ViThuỳ Linh bản năng đến tận cùng bản thể; có một Phan Huyền Thư trẻ trung màđằm lắng khát khao… Và còn biết bao nhiêu gương mặt thơ có cá tính sáng tạođặc sắc khác Không thể nói giọng điệu nào hơn giọng điệu nào, nhưng tổng sốthành thi pháp thơ của chính họ đã làm nên “một thời đại thi ca Việt” ba mươinăm đổi mới 1986-2016 Dù vậy, chúng ta vẫn chờ đợi và hy vọng thành tựucủa thế hệ cầm bút trưởng thành sau 1986 và thế hệ xuất hiện từ đầu thế kỷ XXI
Trang 14đến nay Nhà thơ có nhiều khát vọng và nhiều dự cảm, nhiều tiềm lực, nhưnggiữa hy vọng và thành tựu vẫn còn một khoảng cách rất xa với những gì màngười đọc đang mong đợi Cách viết của họ có tìm tòi, đổi mới, nhưng chưa đạtđến cái hay, đúng hơn, như cách nói của Đỗ Lai Thuý, chưa đạt đến cái Khác
hay hơn, nghệ thuật hơn cái cũ Mã Giang Lân thì cho rằng: “Hội nhập, giao
lưu với văn hoá nghệ thuật thế giới, thơ Việt đã có nhiều thể nghiệm, cách tân táo bạo, tạo nên diện mạo mới cho thơ và làm thay đổi thị hiếu thẩm mỹ truyền thống Nhưng đề cao và mê mải với việc chơi chữ, theo tôi, sẽ có không ít phân vân”(1, 16) Những nhà thơ thời kỳ này hô hào đổi mới, viết theo tâm thức và
hệ hình thơ hậu hiện đại, viết theo ngôn ngữ “trò chơi”, “vụt hiện”, “mở
miệng”… thì vẫn chưa xuất hiện những tài năng đủ để tạo thành phong trào với
hệ thi pháp thật sự mới mẻ và đa dạng Và đặc biệt là công chúng không đónnhận nồng nhiệt, không mặn mà với những cách tân thơ không đạt tầm nghệthuật hậu hiện đại như họ mong muốn Bên cạnh những nhà thơ lớp trước nhưChế Lan Viên, Hoàng Cầm, Lê Đạt, Dương Tương, Trần Dần, Đặng ĐìnhHưng…Có thể nhận thấy, thế hệ những nhà thơ trưởng thành thời chống Mỹtrong đó có Hoàng Hưng là những chủ thể chủ chốt của thi đàn 30 năm từ sauĐổi mới, được công chúng đánh giá cao
1.3 Đặc điểm ngôn ngữ trong thơ Việt Nam hiện đại sau 1986
Nỗ lực khám phá sự phong phú của “cái tôi ẩn giấu”, dám phơi bày
những bi kịch nhân sinh, hoài nghi những giá trị vốn đã quá ổn định để đi tìm
những giá trị mới Đây là lý do nhiều tác phẩm xuất hiện cảm hứng “giải
thiêng” và khát vọng muốn tìm đến những hình thức tổ chức ngôn từ mới lạ.
Trong nghệ thuật, không phải mọi nhận thức chung về tư tưởng xã hội đều đồngnhất với những suy nghĩ cá nhân và văn bản văn học không phải là những vănbản tuyên huấn có tính hình ảnh Với tư cách là một nghệ sĩ, cái quan trọng nhất
là nhà thơ phải tạo ra được quan niệm riêng về đời sống Quan niệm ấy khônghiện lên qua những lời thuyết lý khô khan mà phải hoá thân vào chữ nghĩa vàhình tượng Đó là lý do khiến các nhà thơ sau 1986 chú ý nhiều hơn đến tính đanghĩa của ngôn ngữ thơ ca Bên cạnh xu hướng đưa thơ gần với đời sống là mộtcực khác: ý thức tạo ra tính nhòe mờ trong ngôn ngữ và biểu tượng Xu hướngnày muốn gia tăng chất ảo trong thơ, buộc người đọc phải giải mã các sinh thểnghệ thuật qua nhiều chiều liên tưởng văn hóa khác nhau
Thơ như một ngôn ngữ Công cuộc đổi mới đã mở rộng cánh cửa giaolưu, hội nhập với thế giới, và thơ ca, trước vận hội này, không thể nằm yêntrong mô hình nghệ thuật cũ Bắt đầu xuất hiện những giọng thơ lạ, đậm chất
Trang 15“Tây” Điều đó đã dẫn tới những cuộc tranh luận về “ta” và “tây” trong thơ kéo dài đến mấy năm sau sự kiện “Sự mất ngủ của lửa” ( Nguyễn Quang Thiều) và
thơ của một số nhà thơ khác như Lê Đạt, Dương Tường, Đặng Đình Hưng Cáccây bút này có ý thức phá vỡ các chiều tuyến tính, tạo nên những dòng chảy đứtnối và gia tăng tính đồng hiện của các hình ảnh thơ hoặc cố gắng tỉnh lược cácmối quan hệ bề nổi, đặt những hiện tượng khác nhau bên cạnh nhau và buộcngười đọc tự xác lập mối liên hệ giữa chúng
Thơ ca sau 1975 không còn êm mượt như thơ ca giai đoạn 1945-1975 màtrở nên trúc trắc hơn, ngôn ngữ thơ phong phú, giọng điệu thơ đa dạng hơn.Thậm chí, tính trong suốt và sáng rõ của ngôn ngữ thơ nhiều khi được cố ý mờhóa nhằm tạo nên tính đa nghĩa trong thơ Chính sự đa dạng về tư duy nghệthuật và sự phong phú về giọng điệu đã khiến cho ngôn ngữ thơ có sự phân hoá
và phân cực về cả bề nổi và về cả tầng sâu: bên cạnh thứ ngôn ngữ gần gũi vớiđời thường là loại ngôn ngữ mờ nhoè, đậm chất tượng trưng, siêu thực, bêncạnh thứ ngôn ngữ bình dị là những văn bản thơ ngôn ngữ chắp vá một cách cố
ý nhằm tạo nên sự lạ hóa… Tuy nhiên, trên đại thể, có thể nhận thấy một số loạihình ngôn ngữ nổi bật như sau:
- Ngôn ngữ đậm chất đời thường
Gắn với đời sống thường nhật, không ít nhà thơ có ý thức đưa ngôn ngữđời thường vào thơ Nhiều nhà thơ thích sử dụng cách nói dân gian, khiến chothơ vừa dễ nhập vào người đọc, vừa có khả năng tạo nên tiếng cười trong thơ.Như đã nói, thơ ca Việt Nam trước đây có phần quá nghiêm trang và đậm chất
giáo huấn nên việc tạo nên những cách nói kiểu “xẩm ngọng” và giọng điệu
“bụi bặm” đã khiến cho thơ trở nên “tếu táo” hơn và cũng gần gũi với người đọc hơn Tiêu biểu cho hướng đi này là Nguyễn Duy: Tạnh men là tạnh la đà -
Tạnh cơn một bóng ảo ra chính hình - Phàm trần bớt chút lung linh - Các em bớt xỉnh xình xinh mấy phần (Kiêng)
Màu sắc đời thường trong thơ đã giúp cho thơ trở nên đời hơn, gần gũihơn với cuộc sống Tuy nhiên, hướng đi này rất dễ “sảy chân” ngả sang vè.Không ít người cho rằng việc đưa ngôn ngữ thơ quá gần với tiếng cười dân gian
và ngôn ngữ đời thường sẽ làm giảm tính nghệ thuật của thi ca Sự lo lắng nàykhông phải không có cơ sở Vận dụng cách nói thường ngày vào thơ, gia tăngtính giễu nhại trong thơ là một nhu cầu của đời sống dân chủ nhưng nếu rơi vàolạm dụng, thơ sẽ trở thành dễ dãi và quay trở lại với tính đơn nghĩa trong khibản chất của ngôn ngữ thi ca là đa nghĩa, mơ hồ
Trang 16- Ngôn ngữ giàu chất tượng trưng
Đây là loại ngôn ngữ thường gặp trong những nhà thơ có ý hướng cáchtân, hiện đại thơ mà tiêu biểu là các cây bút như Lê Đạt, Nguyễn QuangThiều… Lê Đạt là một trong những cây bút chủ trương tạo sinh ngữ nghĩa, tỉnhlược từ ngữ tối đa để gia tăng tính biểu đạt của ngôn ngữ và buộc người đọc
phải có một “lỗ tai mới” khi đọc thơ Ngôn ngữ tượng trưng khiến cho nghĩa thơ
trở nên mờ nhòe, độ mở của hình tượng thơ được nhân lên Màu sắc lạ hóatrong ngôn ngữ trở nên nổi bật
Tất nhiên, không phải đến thơ ca sau 1986 thì ngôn ngữ thơ giàu chấttượng trưng mới xuất hiện Ngay từ thời Thơ mới loại ngôn ngữ này đã xuấthiện trong thơ của nhiều người như Nguyệt Cầm của Xuân Diệu, Nhạc củaBích Khê, Màu thời gian của Đoàn Phú Tứ… Vấn đề nằm ở chỗ, ngôn ngữ giàuchất tượng trưng trong thơ sau 1986 mang tâm thế của một hành trình văn hóakhác: văn hóa công nghiệp và hậu công nghiệp
- Những “trò chơi” ngữ nghĩa trong thơ
Khi mà vai trò của ngôn ngữ trong nghệ thuật thơ ca được chú ý nhiềuhơn tất yếu sẽ xuất hiện các quan niệm khác nhau Có người cho rằng vănchương là một trò chơi, có người khẳng định thơ là một vũ khí, lại có người chorằng thơ là sự biểu đạt tâm trạng cá nhân một cách riêng tư nhất… Ở đây, tôimuốn nói đến hiện tượng nhiều cây bút có ý thức xếp đặt ngữ âm như một tròchơi Điều đáng chú ý là với những cây bút này, những trò chơi ấy cần đượchiểu như một hình thức biểu đạt thế giới, một quan niệm của chủ thể về nghệthuật và nhân sinh Nhìn rộng ra, những trò chơi ngôn ngữ không còn quá mới
lạ đối với thơ ca nhân loại Người ta có thể nhìn thấy loại thơ thị giác củaApollinaire hay các loại xếp đặt âm thanh, hình khối khác lạ trong thơ châu Âucuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Nhưng rõ ràng, ở ta, sự xuất hiện của loại thơlấy thanh điệu, ngôn ngữ, cấu trúc ngôn bản như một “tiếng nói” đã góp phầntạo nên sự thú vị trong thưởng thức và sự rộng mở trong tiếp nhận nghệ thuật.Các cây bút như Hoàng Hưng, Đặng Đình Hưng, Lê Đạt, Dương Tường… lànhững cây bút có nhiều bài thơ tiêu biểu cho cách tổ chức trò chơi âm/ nghĩanày Với họ, thơ cần được cảm hơn là dùng để hiểu Loại thơ này ít khi nhậnđược sự đồng cảm của số đông thích ổn định nhưng lại được những độc giả có
xu hướng tìm đến sự cách tân chia sẻ
Trang 17- “Ngôn ngữ thân thể” trong thơ
Nếu như việc miêu tả những yếu tố tính dục trong thơ sau 1986 ở giaiđoạn đầu được coi là dấu hiệu cởi mở để phá bỏ cấm kỵ thì ở những năm cuốithế kỉ XX đầu thế kỷ XXI việc miêu tả tính dục được đẩy lên đến mức nhiều
người coi đó là quá trình “sinh dục hoá thơ ca” Nhiều cây bút không những nói đến các bộ phận thân thể mà còn diễn tả các hành vi tính giao một cách “hiện
thật” như thơ của nhóm Mở miệng hoặc Dự báo phi thời tiết của nhóm Ngựa
trời Sài Gòn Thực tế này khiến các nhà nghiên cứu băn khoăn trong việc địnhdanh Đây cũng là loại thơ làm phân rã người đọc sâu sắc, trong đó sự phản ứngthuộc về số đông Tôi nghĩ, sự phản ứng trên đây có lý ở chỗ, nếu quan niệmrằng thơ chỉ cốt miêu tả tính dục và coi sex như một hình thức cao nhất để giảiphóng tinh thần và như một phương diện để chứng minh tính hiện đại trongnghệ thuật là điều bất ổn Ngay cả học thuyết Freud từ khi ra đời đến nay cũng
đã có nhiều thay đổi và cấu trúc tâm lý ba tầng của ông cũng được nhìn nhậnsâu hơn dưới ánh sáng của tinh thần nhân bản Vì thế, nếu viết về sex và nhữngvấn đề tính dục một cách hợp lý thì sẽ tạo nên khoái cảm thẩm mĩ (bản thân sexcũng được coi là hình thức xả stress hiệu nghiệm trong đời sống hậu côngnghiệp) nhưng nếu quá đà tất sẽ trượt sang phản cảm Đáng tiếc là loại ngônngữ thân thể này đang bị lạm dụng và bị nhầm tưởng đó là thứ nghệ thuật tiềnphong chủ nghĩa Ngay cả Trung Quốc hiện nay, loại ngôn ngữ thân xác nàycũng không còn được chào đón như cách đây khoảng mười năm về trước Đây
là một thông số đáng để các nhà “tiền phong” nói riêng và các nhà thơ của
chúng ta suy ngẫm để có những cách thức biểu đạt giàu tính nghệ thuật và giàutính nhân văn hơn khi viết về sex và sử dụng có hiệu quả ngôn ngữ thân xác Tóm lại, , thơ ca Việt Nam sau 1975 nói chung và từ 1986 đến nay nóiriêng đã trải qua một thời kỳ dài vận động và đổi mới Việc đổi mới thi hứngcũng như thi pháp trong thơ là một thành tựu quan trọng trong quá trình vậnđộng của văn học Việt Nam hiện đại
Trang 18Chương 2 Khả năng kiến tạo hiện thực đời sống trong ngôn ngữ thơ
Hoàng Hưng
2.1 Ngôn ngữ gắn với phong tục tập quán
Đầu tiên, người viết sẽ làm rõ khái niệm phong tục, tập quán từ đó lấy cơ
sở để soi xét vào ngôn ngữ trong thơ Hoàng Hưng
- Phong tục: Phong tục được hiểu là những hoạt động sống của con người, đượchình thành trong suốt chiều dài lịch sử và ổn định thành nề nếp, được mọi thànhviên trong cộng đồng thừa nhận và tự giác thực hiện có tính kế thừa từ thế hệnày sang thế hệ khác trong cộng đồng nhất định
Phong tục được vận dụng linh hoạt và nó không phải là một nguyên tắcbắt buộc, nhưng phong tục không thể tuỳ tiện, nhất thời và thay đổi mạnh mẽnhư các quan hệ đời thường Khi phong tục được coi là một chuẩn mực ổn địnhtrong cách xử sự, thì nó trở thành tập quán xã hội mang tính bền vững Vì vậy,phong tục còn được hiểu là một bộ phận của văn hoá, đóng vai trò trong việchình thành truyền thống của một địa phương, của một dân tộc nhằm điều chỉnhhành vi xử sự của cá nhân trong các quan hệ xã hội về tài sản và về nhân thân
Vì vậy, Luật tục và Hương ước có sự tác động mạnh mẽ đến phong tục Tuynhiên, không phải mọi phong tục đều có thể tồn tại mãi mãi và phù hợp với sựphát triển kinh tế - xã hội của các thời kỳ kế tiếp Thời gian sẽ đào thải nhữngphong tục không còn phù hợp với các quan niệm mới, nền sản xuất mới và theo
đó, quan hệ mới phát sinh, những phong tục không phù hợp tự nhiên cũng maimột, mất đi trong sự phát triển không ngừng của quan hệ sản xuất mới
- Tập quán: Xét về mặt dân tộc và văn hoá - xã hội thì tập quán được hiểu dựatrên những nét cơ bản là những phương thức ứng xử giữa người với người đãđược định hình và được xem như một dấu ấn, một điểm nhấn tạo thành nề nếp,trật tự trong lối sống của cá nhân trong quan hệ nhiều mặt tại một cộng đồngdân cư nhất định
Tập quán có đặc điểm là bất biến, bền vững, do vậy, rất khó thay đổi.Trong những quan hệ xã hội nhất định, tập quán được biểu hiện và định hìnhmột cách tự phát hoặc được hình thành và tồn tại ổn định thông qua nhận thứccủa chủ thể trong một quan hệ nhất định và tập quán được bảo tồn thông qua ýthức của quá trình giáo dục có định hướng rõ nét Như vậy, tập quán được hiểunhư những chuẩn mực xử sự của các chủ thể trong một cộng đồng nhất định vàcòn là tiêu chí để đánh giá tính cách của một cá nhân tuân theo hay không tuântheo những chuẩn mực xử sự mà cộng đồng đã thừa nhận và áp dụng trong suốt
Trang 19quá trình sống, lao động, sinh hoạt tạo ra vật chất và những quan hệ liên quanđến tài sản, đến tình cảm của con người trong cộng đồng Việt Nam có 54 dântộc, mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hoá riêng và bản lĩnh văn hoá có tính độclập tương đối giữa các dân tộc Do vậy, tập quán của mỗi dân tộc đều có những
nét đặc thù, khác nhau Câu ngạn ngữ: “Luật vua thua lệ làng” đã phản ánh
đúng thực trạng về tập quán của mỗi dân tộc ở Việt Nam
Đặc trưng ngôn ngữ mà Hoàng Hưng chọn lọc thường gắn với phong tụctập quán của người Việt Một trong những phong tục tập quán của người Việt từ
xa xưa được Hoàng Hưng đưa vào vần thơ của mình một cách ngọt ngào đầy
tinh tế trong bài Thanh minh
Thanh minh hoa xoan Thanh minh u sầu Con gái cầm hoa cười, chơi phố
Thanh minh trái tiết Mưa dầm dở mưa rào Gội mưa thăm mộ mẹ Khum che lòng thương [ ]
Theo phong tục của người Việt Nam nói chung và của người dân tộc Tày,Nùng nói riêng, Tết Thanh Minh còn gọi là tết Hàn thực được tổ chức vào ngày3/3 âm lịch hàng năm, người dân miền núi ở Cao Bằng có phong tục truyềnthống đi tảo mộ tổ tiên vào 3/3 âm lịch Tết Thanh Minh được đồng bào các dântộc Tày, Nùng rất quan tâm Mỗi năm chỉ có một ngày, dù ai đi đâu, ở đâu đếnngày 3/3 âm lịch cũng về với gia đình để được đi tảo mộ, báo hiếu với người đãkhuất; theo tiếng địa phương tảo mộ có nghĩa là “slan mạ” hay “slan phằn”.Công việc chính của tảo mộ là sửa sang các ngôi mộ của tổ tiên cho được sạch
sẽ Nhân ngày Thanh minh, người ta mang theo xẻng, cuốc để đắp lại nấm mồcho đầy đặn, rẫy hết cỏ dại và những cây hoang mọc trùm lên mộ cũng nhưtránh không để cho các loài động vật hoang dã như rắn, chuột đào hang, làm tổ
mà theo suy nghĩ của họ là có thể chạm tới linh hồn người đã khuất Sau đó,người tảo mộ thắp vài nén hương, đốt vàng mã hoặc đặt thêm bó hoa cho linhhồn người đã khuất Trong ngày Thanh minh, khu nghĩa địa trở nên đông đúc vànhộn nhịp Các cụ già thì lo khấn vái tổ tiên nơi phần mộ Trẻ em cũng được
Trang 20theo cha mẹ hay ông bà đi tảo mộ, trước là để biết dần những ngôi mộ của giatiên, sau là để tập cho chúng sự kính trọng tổ tiên qua tục viếng mộ Nhữngngười quanh năm đi làm ăn xa cũng thường trở về vào dịp này (có thể sớm hơnmột, hai ngày vì nhiều lý do khác nhau) để tảo mộ gia tiên và sum họp với giađình Bên cạnh những ngôi mộ được trông nom, chăm sóc cẩn thận, còn cónhững ngôi mộ vô chủ, không người thăm viếng Những người đi viếng mộthường cũng cắm cho các ngôi mộ này một nén hương.
Và trong những câu thơ của mình, Hoàng Hưng đã làm bật lên hoạt động
phong tục trong ngày này “ Con gái cầm hoa chơi phố”; “ Gội mưa thăm mộ
mẹ”; “ Những cô gái cậu trai không chịu ở với đời” Tiết Thanh minh từng
được Nguyễn Du nhắc tới khi sáng tác truyện Kiều:
“ Thanh minh trong tiết tháng ba
Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh Gần xa nô nức yến anh Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân”
Viết về tiết thanh minh, cả Nguyễn Du và Hoàng Hưng đều làm bật lênnhững đặc trưng và hoạt động chính của con người trong dịp đó Xong, khi đọcnhững câu thơ của Hoàng Hưng và Nguyễn Du, ta cảm nhận rõ ngôn ngữ khácbiệt mà hai nhà thơ này sử dụng Ngôn ngữ của Nguyễn Du mang tính chất trừutượng, sắc thái cổ xưa và trang trọng còn ngôn ngữ Hoàng Hưng sử dụng kháthân thuộc, dễ hiểu mang tính chất đương đại
Bên cạnh đó, Hoàng Hưng cũng sử dụng ngôn ngữ của mình để nói vềphong tục tập quán của người Việt dựa trên những thành ngữ:
“ Tiếng đàn bầu Một xóm nhỏ mái nghèo
Một cánh đồng vất vả cuốc bẫm cày sâu ”
( Nghe đàn bầu trong xe xích)
Xưa nay người Việt chúng ta luôn mang trong mình đức tính cần cù siêngnăng Hoạt động chủ yếu của người nông dân là trồng lúa nước, vì vậy việc càysâu cuốc bẫm để chuẩn bị khởi đầu cho vụ mùa là điều hiển nhiên trong cuộc
Trang 21sống của họ Vì vậy, thành ngữ “ cày sâu cuốc bẫm” ý chỉ những người nông
dân tay lấm chân bùn, tảo tần mưa nắng để làm những việc đồng áng
Có thể thấy rằng Hoàng Hưng đã rất am hiểu cuộc sống, hoạt động,những phong tục tập quán của người Việt nói chung và những người dân tộcthiểu số nói riêng Từ việc am hiểu cũng như vận dụng vốn sống của mình,Hoàng Hưng đã đem đến cho bạn đọc những áng thơ văn gần gũi, mộc mạc, gắn
bó với bản sắc văn hóa người Việt xưa nay
2.2 Ngôn ngữ gắn với những biểu tượng
Khi nói về thơ Hoàng Hưng, nhiều người thường sử dụng ngay nhữngbiểu tượng trong thơ ông để khái quát hóa cảm nhận của mình, chẳng hạn
Hoàng Hưng đi tìm mặt (Hoàng Cầm); Người chỉ đếm đến một (Thanh Thảo); Người đi tìm mặt, người đi tìm… thơ (Nguyễn Thị Minh Thái); Hành trình Hoàng Hưng (Vân Long), “Hành trình” đến giấc mơ “tràn ánh sáng” (Nhật
Lệ), v.v Điều đó không phải ngẫu nhiên
Quả thực, nhà thơ này đã tạo nên trong các sáng tác của mình một hệ biểutượng khá đặc biệt, vừa giàu cảm giác trực tiếp vừa giàu khả năng khêu gợi liên
tưởng, tưởng tượng Được cấu trúc như một thứ “ngôn ngữ”, ý nghĩa và giá trị
của những biểu tượng ấy, nói theo ý của Gilbert Durand, không phải nằm ở chỗ
“những sao chép thực dụng do tri giác cung cấp” mà là khả năng làm “biến
dạng” chúng, nhằm đánh thức xúc cảm và trí tưởng tượng, và làm lộ ra, theo
một cách thức bí ẩn nào đó, một thực tại khác, ẩn tàng sau cái hiện thực bề mặt
Nếu tập thơ đầu tay của Hoàng Hưng - Đất nắng (1970, in chung với
Trang Nghị) vẫn nghiêng về một lối diễn tả trực tiếp, mộc mạc, như phần lớn
thơ cùng thời, thì từ Ngựa biển (1988), cách “nói” bằng những hình ảnh giàu
tính biểu trưng trở nên nổi bật Đó là kết quả của một quá trình tìm tòi và thửnghiệm nghệ thuật, sự trầm tích vốn sống, vốn đọc, đồng thời là sự tích chứa vàbùng vỡ của những dồn nén, ẩn ức thông qua sáng tạo Như một dấu hiệu đã
được mã hóa bằng ngôn từ, ngay trong tên của các tập như Ngựa biển, Người đi
tìm mặt, Hành trình đã báo trước cái thông điệp thẩm mĩ mà rồi sẽ được biểu lộ
một cách khá đậm nét trong những hình ảnh và câu chữ phía sau Bản thân mỗi
tiêu đề ấy cũng chính là một biểu tượng, chúng “tiết lộ mà che giấu, che giấu
mà tiết lộ” một ý nghĩa nào đó rộng lớn hơn chính bản thân chúng Những biểu
tượng này tồn tại trong sự liên kết với vô số hình tượng, hình ảnh khác, tạo nênmột ấn tượng đa dạng nhưng khá thống nhất của bầu sinh quyển thơ HoàngHưng