Do đó, nghiên cứu sự tác động của các yếu tố sẽ có ý nghĩa rất quan trọng để hạn chế rủi ro thanh khoản trong hoạt động ngân hàng và đó cũng là lý do tác giả chọn đề tài: “ Nghiên cứu cá
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH
VÕ NGUYỄN THẢO QUỲNH
CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
VIỆT NAM
LU ẬN VĂN THẠC SĨ
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆTNAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH
VÕ NGUYỄN THẢO QUỲNH
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN RỦI RO THANH KHOẢN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM
Trang 3mục tiêu quan trọng của hoạt động kinh doanh ngân hàng mà các nhà quản lý luôn quan tâm đến Thanh khoản tốt là yếu tố quyết định sự an toàn trong hoạt động của NHTM Thiếu thanh khoản là một trong những nguyên nhân gây nên phá sản ngân hàng Vì thanh khoản của ngân hàng mang một ý nghĩa vô cùng quan trọng ở cả cấp
độ vĩ mô lẫn vi mô nên việc nghiên cứu các yếu tố tác động đến rủi ro thanh khoản
của ngân hàng là cần thiết
Trên thế giới đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về vấn đề rủi ro thanh khoản ở các ngân hàng tại nhiều nền kinh tế khác nhau Riêng đối với Việt Nam, cho đến nay nghiên cứu về các yếu tố tác động đến rủi ro thanh khoản cũng không
phải hoàn toàn mới mẽ Tuy nhiên, tác giả chọn đề tài “Các yếu tố tác động đến rủi
ro thanh khoản của các ngân hàng TMCP ở Việt Nam giai đoạn 2008 – 2017” vì đây là giai đoạn hệ thống ngân hàng Việt Nam có nhiều biến động, là giai đoạn đầu tiên của quá trình cơ cấu lại hệ thống ngân hàng Việt Nam Luận văn sử dụng dữ
liệu từ 20 ngân hàng TMCP ở Việt Nam trong khoảng thời gian từ 2008 – 2017 Tác giả sử dụng tỷ lệ tài sản thanh khoản so với tổng tài sản (LAR) để đo lường rủi
ro thanh khoản Kết quả ước lượng mô hình hồi quy như sau tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản, thu nhập lãi cận biên, tốc độ tăng trưởng kinh tế có tác động cùng chiều đến
rủi ro thanh khoản nhưng tỷ lệ lạm phát lại tác động ngược chiều đến rủi ro thanh khoản
Trang 4các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam” là bài nghiên cứu của chính tôi, được
thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Văn Thuận Luận văn này chưa từng được trình nộp để lấy học vị thạc sĩ tại bất cứ một trường đại học nào
Luận văn này là công trình nghiên cứu riêng của tác giả, kết quả nghiên cứu là trung
thực, trong đó không có các nội dung đã được công bố trước đây hoặc các nội dung
do người khác thực hiện ngoại trừ các trích dẫn được dẫn nguồn đầy đủ trong luận văn
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày….tháng….năm 2018
Tác giả luận văn
Trang 5
động viên để tôi có thể thực hiện và hoàn tất luận văn này
Tôi trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Văn Thuận đã tận tình hướng dẫn để tôi hoàn thành luận văn thạc sĩ của mình
Chân thành cảm ơn quý thầy cô khoa Sau Đại Học của trường Đại Học Ngân Hàng TP.HCM đã nhiệt tình giảng dạy, cung cấp những kiến thức quý báu cho tôi
học và thực hiện luận văn
Dù đã có nhiều cố gắng, song luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự chia sẻ, góp ý của thầy cô, bạn bè
Xin chân thành cảm ơn !
H ọc viên Võ Nguyễn Thảo Quỳnh
Trang 6BCTC Báo cáo tài chính
BCTN Báo cáo thường niên
FEM Mô hình hồi quy tác động cố định (Fixed Effects Model) GTCG Giấy tờ có giá
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
NHTMVN Ngân hàng thương mại Việt Nam
NLP Trạng thái thanh khoản ròng (Net liquidity Position)
REM Mô hình hồi quy tác động ngẫu nhiên (Random Effects Model) TCTD Tổ chức tín dụng
UBGSTCQG Ủy ban giám sát tài chính quốc gia
Trang 72.1 Tóm tắt các kết quả nghiên cứu trước đây 25
3.1 Biến phụ thuộc, biến độc lập và tác động dự kiến đến rủi ro
4.2 Bảng thống kê giá trị trung bình của các biến theo từng năm
4.9 Bảng kết quả phân tích hồi qui các yếu tố tác động đến rủi ro
Trang 84.1 Biểu đồ biểu diễn tỉ lệ tài sản thanh khoản so với tổng tài sản
4.2 Biểu đồ biểu diễn quy mô ngân hàng (SIZE) bình quân của 20
4.3 Biểu đồ biểu diễn quy mô ngân hàng (SIZE) bình quân của 20
ngân hàng theo từng năm giai đoạn 2008 – 2017 44
4.4 Biểu đồ biểu diễn tỷ lệ vốn tự có trên tổng nguồn vốn (ETA)
bình quân từng năm trong giai đoạn 2008 – 2017 45
4.5 Biểu đồ biểu diễn tỷ lệ vốn tự có trên tổng nguồn vốn (ETA)
bình quân từng ngân hàng trong giai đoạn 2008 – 2017 46
4.6 Biểu đồ biểu diễn tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản (TLA) bình
quân từng năm trong giai đoạn 2008 – 2017 47
4.7 Biểu đồ biểu diễn mức độ phụ thuộc vào nguồn tài trợ bên ngoài
bình quân (EFD) của các ngân hàng giai đoạn 2008 – 2017 48
4.8 Biểu đồ biểu diễn thu nhập lãi cận biên (NIM) bình quân của
từng ngân hàng trong giai đoạn 2008 – 2017 49
4.9 Biểu đồ biểu diễn thu nhập lãi cận biên (NIM) bình quân của các
4.10 Biểu đồ biểu diễn LLPTL qua các năm giai đoạn 2008 – 2017 50 4.11 Biểu đồ biểu diễn GDP qua các năm giai đoạn 2008 – 2017 51 4.12 Biểu đồ biểu diễn INF qua các năm giai đoạn 2008 – 2017 52
Trang 9LỜI CAM ĐOAN
… Trang 6 2.2.1 Khái niệm rủi ro thanh khoản Trang 6
Trang 102.2.4 Những nguyên nhân gây ra rủi ro thanh khoản ngân hàng thương mại Trang 7 2.2.5 Phương pháp đo lường rủi ro thanh khoản Trang 9 2.2.5.1 Phương pháp tiếp cận nguồn vốn và sử dụng vốn Trang 9 2.2.5.2 Phương pháp tiếp cận hệ số thanh khoản Trang 9 2.2.5.3 Phương pháp tiếp cận cấu trúc vốn Trang 10 2.2.6 Các yếu tố tác động đến rủi ro thanh khoản Trang 10 2.2.6.1 Các yếu tố bên trong Trang 10 2.2.6.2 Các yếu tố bên ngoài Trang 14 2.2.7 Ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản đối với hoạt động của các NHTM Trang 14 2.3 CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY Trang 15 2.3.1 Mô hình nghiên cứu trên thế giới Trang 15 2.3.2 Mô hình nghiên cứu trong nước Trang 19 2.3.2.1 Trương Quang Thông (2013) nghiên cứu các nhân tố tác động đến rủi ro thanh khoản của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam Trang 19 2.3.2.2 Trương Quang Thông và Phạm Minh Tiến (2014) nghiên cứu các nhân tố tác động đến rủi ro thanh khoản trường hợp các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Trang 20 2.3.2.3 Đặng Văn Dân (2015) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam Trang 22 2.3.2.4 Võ Xuân Vinh và Mai Xuân Đức (2017) nghiên cứu ảnh hưởng của sở
hữu nước ngoài đến rủi ro thanh khoản của 35 NHTM Việt Nam giai đoạn
2009-2015 Trang 22 TÓM TẮT CHƯƠNG 2 Trang 27 CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Trang 28 3.1 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU Trang 28
Trang 113.2.2 Đo lường các biến Trang 33 3.3 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH DỮ LIỆU Trang 36 3.3.1 Dữ liệu nghiên cứu Trang 36 3.3.2 Phân tích dữ liệu Trang 36 3.3.2.1 Các phương pháp ước lượng Trang 36 3.3.2.2 Lựa chọn phương pháp ước lượng Trang 37 3.3.2.3 Kiểm định sự phù hợp của mô hình Trang 38 TÓM TẮT CHƯƠNG 3 Trang 40 CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN Trang 41 4.1 PHÂN TÍCH THỐNG KÊ MÔ TẢ Trang 41 4.2 PHÂN TÍCH TƯƠNG QUAN Trang 53 4.3 PHÂN TÍCH HỒI QUY VÀ KIỂM ĐỊNH Trang 53 4.4 THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Trang 57 TÓM TẮT CHƯƠNG 4 Trang 62 CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ Trang 63 5.1 KẾT LUẬN Trang 63 5.2 GỢI Ý CHÍNH SÁCH Trang 64 5.3 NHỮNG HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO Trang 65 5.3.1 Những hạn chế của đề tài Trang 65 5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo Trang 66 TÓM TẮT CHƯƠNG 5 Trang 67 TÀI LIỆU THAM KHẢO Trang 68
Trang 12CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN ĐỀ TÀI 1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ngày nay, thị trường tài chính đang trên đà phát triển mạnh mẽ, mở ra ngày càng nhiều cơ hội cho các ngân hàng thương mại, song đi cùng với nó cũng kéo theo rất nhiều rủi ro, nhiều ngân hàng phải đối mặt với tình trạng căng thẳng thanh khoản khi mà sự cạnh tranh khốc liệt về thu hút tiền gửi buộc các ngân hàng phải tìm kiếm các nguồn tài trợ khác Trong các loại rủi ro thì rủi ro thanh khoản được coi là nguy hiểm nhất, nguy hiểm của nó không những có thể làm cho chính bản thân ngân hàng lâm vào tình trạng phá sản mà còn gây ra hiệu ứng lan truyền nhanh chóng và rộng khắp khiến ngân hàng không có đủ nguồn vốn để đáp ứng khả năng chi trả, có thể làm ngân hàng mất khả năng thanh toán, mất uy tín và thậm chí dẫn đến sự đổ vỡ của toàn hệ thống ngân hàng
Hậu quả của rủi ro thanh khoản đối với mỗi ngân hàng nói riêng và cả hệ thống ngân hàng nói chung là vô cùng nghiêm trọng Rủi ro thanh khoản xảy ra nhẹ sẽ làm suy giảm mức sinh lợi của ngân hàng, còn nếu nặng có thể đưa ngân hàng đến
chỗ phá sản Chính vì vậy, một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của các nhà quản lý ngân hàng là phải đảm bảo khả năng thanh khoản hợp lý, dự phòng rủi
ro thanh khoản Một ngân hàng được xem là có khả năng thanh khoản tốt nếu nó
tiếp cận dễ dàng các nguồn vốn khả dụng với chi phí hợp lý và đúng lúc cần thiết Tuy nhiên, lượng vốn dự trữ quá lớn sẽ tác động trực tiếp làm giảm khả năng đầu tư sinh lời của ngân hàng Rủi ro thanh khoản chịu tác động của nhiều yếu tố, bao gồm
cả yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài ngân hàng Do đó, nghiên cứu sự tác động
của các yếu tố sẽ có ý nghĩa rất quan trọng để hạn chế rủi ro thanh khoản trong hoạt động ngân hàng và đó cũng là lý do tác giả chọn đề tài: “ Nghiên cứu các yếu tố tác động đến rủi ro thanh khoản tại các ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam giai đoạn 2008 – 2017” làm đề tài nghiên cứu
Trang 131.2 MỤC TIÊU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
1.2.1 M ục tiêu nghiên cứu
- Xác định các yếu tố tác động đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương
mại cổ phần ở Việt Nam
- Đo lường mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam
- Một số khuyến nghị nhằm hạn chế rủi ro thanh khoản đối với các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu
Để giải quyết mục tiêu trên, đề tài hướng vào các câu hỏi sau:
- Những yếu tố nào tác động đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương
mại cổ phần ở Việt Nam?
- Mức độ ảnh hưởng của những yếu tố đó đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam như thế nào?
- Làm thế nào để các ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam kiểm soát được
rủi ro thanh khoản?
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Phạm vi nghiên cứu: 20 ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam giai đoạn
2008 – 2017
Đối tượng nghiên cứu: các yếu tố tác động đến rủi ro thanh khoản của ngân hàng
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận văn sử dụng phương pháp định lượng để nhận diện các yếu tố tác động đến
rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thông qua việc phân tích mô hình hồi quy tuyến tính, sử dụng dữ liệu bảng cân bằng, đồng thời thông qua mô hình Pooled, Fem, Rem, kiểm định và lựa chọn mô hình phù hợp
Bộ dữ liệu được sử dụng để phân tích là dữ liệu bảng cân bằng, được thu thập từ báo cáo tài chính đã kiểm toán, báo cáo thường niên của 20 ngân hàng thương mại ở
Việt Nam trong giai đoạn 2008 – 2017 Tác giả sử dụng phần mềm Stata để hỗ trợ
Trang 14phân tích bộ dữ liệu Trước tiên, tác giả phân tích tương quan các biến để nhận thấy
sự tác động qua lại của các biến độc lập, các biến phụ thuộc trong mô hình Tiếp theo, tác giả phân tích hồi qui mô hình và kiểm định mô hình được đề xuất để từ đó đưa ra kết luận và gợi ý chính sách
1.5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
1.5.1 Ý nghĩa khoa học
Luận văn góp phần bổ sung bằng chứng thực nghiệm về các yếu tố tác động đến
rủi ro thanh khoản của ngân hàng, đặc biệt là ở các ngân hàng thương mại cổ phần
Việt Nam giai đoạn 2008 – 2017
1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn cũng giúp đánh giá tình hình thanh khoản, nhận diện các yếu tố tác động đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2008 – 2017, từ đó đưa ra các gợi ý chính sách cho các nhà quản trị giúp nâng cao công tác quản trị rủi ro thanh khoản ở các ngân hàng
1.6 K ẾT CẤU ĐỀ TÀI
Đề tài nghiên cứu gồm có 5 chương:
Chương 1: Giới thiệu đề tài
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị
Trang 15CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.1 THANH KHO ẢN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
2.1.1 Khái niệm thanh khoản
Thanh khoản là khả năng tiếp cận các khoản tài sản hoặc nguồn vốn có thể dùng
để chi trả với chi phí hợp lý ngay khi nhu cầu vốn phát sinh
Một nguồn vốn được gọi là có tính thanh khoản cao khi chi phí huy động thấp
và thời gian huy động nhanh
Một tài sản được được gọi là có tính thanh khoản cao khi chi phí chuyển hóa thành tiền thấp và có khả năng chuyển hóa ra tiền nhanh
Như vậy có thể nói ngân hàng được gọi là có tính thanh khoản khi có sẵn một lượng tài sản có thanh khoản cần thiết hoặc là có khả năng đi vay hay huy động tức
thời được nguồn vốn thanh khoản hay bán được các tài sản thuộc bên tài sản
2.1.2 Cung, cầu và trạng thái thanh khoản
2.1.2.1 Cung thanh kho ản (còn gọi là luồng tiền vào)
Cung thanh khoản là các khoản vốn làm tăng khả năng chi trả của ngân hàng, là nguồn cung cấp thanh khoản cho các ngân hàng, bao gồm:
Các khoản tiền gửi đang đến hạn
Doanh thu từ việc bán các khoản dịch vụ
Thu hồi tín dụng đã cấp
Bán các tài sản đang kinh doanh và sử dụng
Vay mượn từ thị trường tiền tệ
2.1.2.2 C ầu thanh khoản (còn gọi là luồng tiền ra)
Cầu thanh khoản là nhu cầu vốn cho các mục đích hoạt động của ngân hàng, các khoản làm giảm quỹ của ngân hàng, bao gồm:
Khách hàng rút các khoản tiền gửi
Yêu cầu cấp các khoản tín dụng có chất lượng cao
Hoàn trả các khoản vay mượn phi tiền gửi
Chi phí phát sinh khi kinh doanh các sản phẩm và dịch vụ
Trang 16Thanh toán cổ tức cho các cổ đông
2.1.2.3 Tr ạng thái thanh khoản ròng
Trạng thái thanh khoản ròng là chênh lệch giữa tổng cung và tổng cầu thanh khoản tại một thời điểm và được xác định như sau:
Trạng thái thanh khoản ròng (NLPt) = Tổng cung thanh khoản - Tổng cầu thanh khoản
Thặng dư thanh khoản khi NLPt >0 : ngân hàng ở trong tình trạng thừa thanh
khoản Khi đó, nhà quản trị phải đưa ra quyết định ở đâu và vào thời điểm nào cần
phải sử dụng nguồn thanh khoản thừa để đầu tư kiếm lời cho đến khi nguồn thanh khoản này được sử dụng để đáp ứng cho nhu cầu thanh khoản trong tương lai Đây
là trạng thái mất cân bằng của các ngân hàng thương mại, xảy ra khi nền kinh tế
hoạt động kém hiệu quả, ngân hàng không tiếp cận với khách hàng hoặc không lựa
chọn được nhiều khách hàng để cho vay Trong phạm vi của một ngân hàng, đây là
việc không khai thác hết tiềm năng sinh lời của tài sản có, chiếm giữ qua nhiều tài
sản có ở dạng trực tiếp hay gián tiếp không có khả năng sinh lời, hoặc cũng có thể
do ngân hàng tăng vốn quá nhanh trong khi chưa có phương án sử dụng vốn hiệu
quả
Thiếu hụt thanh khoản khi NLPt <0 : ngân hàng đang trong tình trạng thiếu
vốn để hoạt động Khi ngân hàng không đủ vốn đáp ứng nhu cầu chi trả cho khách hàng, nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp, của nền kinh tế có thể gọi là thiếu
vốn tuyệt đối, nghĩa là thiếu vốn đối với nhu cầu cho vay và đầu tư cho nền kinh tế Thiếu vốn gây ra mất cơ hội đầu tư tốt cho ngân hàng, đồng thời cũng có thể gây
mất khách hàng khi không có thể cho vay Do vậy, khi xảy ra thiếu hụt thanh khoản các ngân hàng thường phải sử dụng các biện pháp như sử dụng dự trữ bắt buột dư
ra, bán dự trữ thứ cấp (các chứng khoán ngắn hạn do chính phủ phát hành), vay qua đêm, vay tái chiết khấu tại ngân hàng nhà nước, huy động từ thị trường tiền tệ, phát hành chứng chỉ tiền gửi lớn để huy động vốn
Trang 172.2 RỦI RO THANH KHOẢN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NHTM 2.2.1 Khái niệm rủi ro thanh khoản:
Rủi ro thanh khoản là nguy cơ không thể thực hiện các nghĩa vụ thanh toán, theo
đó việc không thể thực hiện này sẽ kéo theo những hậu quả không mong muốn (Rudolf Duttweiler, 2009)
2.2.2 Rủi ro thanh khoản ngân hàng thương mại cổ phần
Rủi ro thanh khoản là rủi ro mà ngân hàng thiếu khả năng thanh toán, do không
có khả năng chuyển đổi thành tiền, hoặc không có khả năng huy động, vay mượn để đáp ứng các hợp đồng đã cam kết trước đó (Trương Quang Thông, 2010)
Theo Trần Huy Hoàng (2011) rủi ro thanh khoản là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàng thiếu khả năng chi trả, không chuyển đổi kịp các loại tài sản
ra tiền hoặc không có khả năng vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán
Đây là loại rủi ro đặc trưng trong hoạt động ngân hàng, đặc biệt quan trọng đối
với các tổ chức tài chính Trong thực tế có không ít trường hợp, một tổ chức kinh tế
có tài sản nợ rất ít nhưng hoàn toàn có thể phá sản do yếu tố rủi ro thanh khoản của tài sản không bù đắp nổi khả năng thanh toán tại thời điểm đó Vì vậy, rủi ro thanh khoản là khả năng ngân hàng không đáp ứng được các nghĩa vụ tài chính một cách
tức thời hoặc phải huy động vốn bổ sung với chi phí cao hoặc bán tài sản với giá
thấp Rủi ro thanh khoản xảy ra khiến cho ngân hàng phải đình trệ hoạt động, gây thua lỗ, mất uy tín và nếu nghiêm trọng có thể dẫn đến phá sản (Nguyễn Văn Tiến, 2014)
2.2.3 Dấu hiệu nhận biết rủi ro thanh khoản
Bằng cách thu thập thông tin, nhận xét, đánh giá tình hình thực tế, các nhà quản
lý có thể nắm bắt kịp thời các tín hiệu sớm về khả năng xảy ra rủi ro thanh khoản Các tín hiệu thị trường này bao gồm:
a) Uy tín dân cư: khi uy tín giảm sút thì khả năng khách hàng rút tiền với số
lượng lớn là rất cao, dễ đẩy ngân hàng vào tình trạng rủi ro thanh khoản cao do đó ngân hàng cần nắm được các thông tin về mức độ tin cậy của các cá nhân và tổ
Trang 18chức, đặc biệt là khách gửi tiền, đánh giá mức độ này có giảm sút do họ mất lòng tin vào khả năng thanh toán của các khoản tiền gửi đến hạn của ngân hàng hoặc nghi ngờ ngân hàng đang thiếu tiền mặt hay không
b) Giá trị của cổ phiếu trên thị trường: vì tâm lý nhà đầu tư trước mỗi biến
động của thị trường đều được phản ánh qua thị giá cổ phiếu nên khi thị giá cổ phiếu ngân hàng giảm, thường ám chỉ niềm tin của nhà đầu tư vào ngân hàng giảm sút Từ
đó cần phải tìm hiểu xem liệu có phải họ lo ngại về tình hình hoạt động của ngân hàng và nguy cơ khủng khoảng trong tương lai hay không
c) Các mức lãi suất của ngân hàng đang sử dụng: Nếu lãi suất huy động của
ngân hàng áp dụng hoặc mức lãi suất đi vay ngân hàng chấp nhận cao hơn mức lãi
suất chung của thị trường một cách bất thường thì có thể đó là dấu hiệu ngân hàng đang thiếu vốn và phải huy động với chi phí cao
d) Giá tài sản của ngân hàng bán ra: việc ngân hàng chấp nhận bán tài sản vội
vàng và với giá thấp mặc dù phải chịu lỗ lớn để có thể bù đắp vào cung thanh khoản
là dấu hiệu cho thấy ngân hàng đang gặp rủi ro thanh khoản
e) Kh ả năng đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng: ngân hàng cần nắm rõ tình
hình cấp tín dụng để kịp thời phát hiện những trường hợp không thể giải quyết cấp tín dụng hoặc giải ngân cho khách hàng mặc dù đáp ứng đủ các điều kiện và có hệ
số tín nhiệm cao
f) T ần suất và khối lượng vay từ ngân hàng nhà nước: ngân hàng phải thường
xuyên vay từ ngân hàng nhà nước với khối lượng lớn để đáp ứng hoạt động kinh doanh sẽ tạo sự nghi ngờ từ phía ngân hàng nhà nước cũng như từ phía ban quản trị ngân hàng về khả năng thanh khoản của ngân hàng đó
2.2.4 Nh ững nguyên nhân gây ra rủi ro thanh khoản ngân hàng thương
m ại
Thứ nhất, sự mất cân bằng giữa kỳ hạn của tài sản và kỳ hạn của nguồn vốn: ngân hàng huy động một lượng lớn tiền gửi và dự trữ ngắn hạn từ cá nhân, doanh nghiệp và các tổ chức cho vay khác để chuyển chúng thành các khoản tín dụng trung và dài hạn Do đó, xảy ra tình trạng mất cân xứng giữa ngày đáo hạn của các
Trang 19khoản sử dụng vốn và ngày đáo hạn của các nguồn vốn huy động Rất hiếm khi dòng tiền từ tài sản cân đối hoàn toàn với dòng tiền cần thiết để đáp ứng việc thanh toán các nguồn vốn huy động Ngân hàng luôn có một tỷ lệ đáng kể tài sản nợ phải được hoàn trả tức thời như tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn có thế rút trước hạn Do đó, ngân hàng phải luôn sẵn sàng thanh khoản
Thứ hai, sự nhạy cảm của tài sản tài chính với thay đổi lãi suất Khi lãi suất tăng, người gửi tiền sẽ rút tiền từ nơi có lãi suất thấp để sang gửi ở nơi có lãi suất cao Người vay tiền có thể dừng các yêu cầu vay mới, tăng cường rút vốn từ hạn mức tín
dụng lãi suất thấp Như vậy, những thay đổi trong lãi suất tác động đồng thời đến nhu cầu gửi tiền và nhu cầu vay vốn Chính điều này gây ra những tác động rất lớn
tới trạng thái thanh khoản của ngân hàng Ngoài ra, lãi suất thay đổi sẽ ảnh hưởng đến thị giá của các tài sản mà ngân hàng đem bán để tăng thanh khoản và trực tiếp làm tăng chi phí khi vay trên thị trường tiền tệ
Thứ ba, ngân hàng luôn phải đáp ứng yêu cầu thanh khoản một cách hoàn hảo
Những trục trặc về thanh khoản sẽ làm xóa mòn niềm tin của dân chúng vào ngân hàng Một trong những công việc quan trọng đối với nhà quản lý ngân hàng là luôn liên hệ chặt chẽ với những khách hàng có số dư tiền gửi lớn và những khách hàng đang còn hạn mức tín dụng lớn chưa sử dụng để biết được kế hoạch của họ khi nào thì rút tiền và rút bao nhiêu để có phương án thanh khoản thích hợp
Thứ tư, chiến lược quản trị thanh khoản của ngân hàng không phù hợp và kém
hiệu quả: ngân hàng nắm giữ một tỷ lệ cao các nguồn vốn thanh khoản tức thời, như
tiền gửi thanh toán và các khoản vay trên thị trường tiền tệ Do vậy, yêu cầu tiền
mặt ở ngân hàng luôn phải sẵn sàng để đáp ứng tại một số thời điểm nhất định Nhưng ngân hàng lại đang nắm giữ chứng khoán, là tài sản có tính thanh khoản
thấp Như vậy, trong danh mục tài sản của ngân hàng, thay vì đầu tư vào danh mục
an toàn với lợi nhuận thấp như trái phiếu chính phủ để có thể tái chiết khấu tại NHNN để bù đắp thanh khoản khi cần thiết thì ngân hàng lại đầu tư vào danh mục
có rủi ro cao hơn Đây chính là nguyên nhân xảy ra rủi ro thanh khoản ở các ngân hàng
Trang 20Bên cạnh đó, hoạt động ngân hàng chịu sự điều chỉnh rất lớn từ các chính sách
của chính phủ và NHNN, đặc biệt là chính sách tiền tệ Những thay đổi trong điều hành chính sách tiền tệ của NHNN thông qua các công cụ như tỷ lệ dự trữ bắt buộc, các loại lãi suất như lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn , hoạt động thị trường mở, các quy định về đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng đều có tác động đến tính thanh khoản của ngân hàng
2.2.5 Phương pháp đo lường rủi ro thanh khoản
Theo Rose (2001), ngân hàng đã phát triển một số phương pháp để đánh giá yêu
cầu thanh khoản thực tế Những phương pháp đó bao gồm:
2.2.5 1 Phương pháp tiếp cận nguồn vốn và sử dụng vốn
Cách đo lường này bắt đầu với thực tế là khả năng thanh khoản tăng khi tiền gửi tăng và cho vay giảm, và khả năng thanh khoản giảm khi tiền gửi giảm và cho vay tăng Bất cứ khi nào nguồn thanh khoản và sử dụng thanh khoản không cân bằng, ngân hàng phải đối mặt với khe hở tài trợ hay nói một cách khác đó chính là trạng thái thanh khoản ròng (NPLt)
Theo Vodová (2013), khe hở tài trợ là chênh lệch giữa tài sản và nguồn vốn đối
với cả thời điểm hiện tại và tương lai
NPLt = Tổng cung thanh khoản - Tổng cầu thanh khoản
2.2.5 2 Phương pháp tiếp cận hệ số thanh khoản
Phương pháp này đánh giá tính thanh khoản của một ngân hàng thông qua các
hệ số thanh khoản và so sánh với các hệ số bình quân của ngành hoặc theo các hệ số được quy định Các hệ số thanh khoản là các hệ số khác nhau được tính toán từ
bảng cân đối kế toán ngân hàng
o T ỷ lệ tài sản thanh khoản so với tổng tài sản (LAR)
LAR = TIỀN MẶT + TIỀN GỬI TẠI NHNN + GTCG
TỔNG TÀI SẢN
Hệ số này đo lường mức độ thanh toán cao nhất của ngân hàng Hệ số này càng
lớn thì khả năng chống đỡ với áp lực thanh khoản càng cao Tuy nhiên, do tài sản
Trang 21thanh khoản cao thì khả năng sinh lời sẽ thấp Do đó, ngân hàng sẽ mất chi phí cơ
hội khi không đầu tư vào tài sản khác có mức sinh lời cao hơn
o Hệ số an toàn vốn tối thiểu (CAR)
TỔNG TÀI SẢN CÓ RỦI RO
Hệ số an toàn vốn tối thiểu phản ánh mức đủ vốn của TCTD trên cơ sở giá trị
vốn tự có và mức độ rủi ro trong hoạt động của TCTD
o Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR)
LDR = TỔNG DƯ NỢ CHO VAY
TỔNG TIỀN GỬI
Hệ số này nhằm đảm bảo các ngân hàng không cho vay quá mức so với nguồn
vốn huy động nhằm đảm bảo cho các ngân hàng chủ động trong việc thanh toán
o Tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn (SLR)
SLR = (TỔNG DƯ NỢ CHO VAY TDH – NGUỒN VỐN TDH)
Hệ số này nhằm mục đích giới hạn vốn huy động của ngân hàng để tránh tình
trạng ngân hàng huy động vốn quá nhiều vượt mức bảo vệ của vốn tự có làm cho ngân hàng mất khả năng chi trả
Ngoài các hệ số trên, ngân hàng có thể sử dụng kết hợp với các hệ số khác tùy theo đặc điểm của từng ngân hàng để đánh giá tính thanh khoản Trong quá trình đánh giá, các ngân hàng nên so sánh với các hệ số chuẩn, hệ số bình quân ngành, hệ
số của ngân hàng khác có cùng quy mô để đạt được kết quả tốt nhất
Trang 222.2.5 3 Phương pháp tiếp cận cấu trúc vốn
Phương pháp này được tiến hành theo trình tự 2 bước
Bước 1 : chia các khoản tiền gửi và các nguồn khác thành các loại trên cơ sở
ước lượng xác suất rút tiền của khách hàng Chẳng hạn như chia tiền gửi và các khoản phi tiền gửi của ngân hàng làm 3 loại như sau : ổn định thấp, ổn định vừa
phải, ổn định cao
Bước 2 : xác định mức dự trữ thanh khoản cho từng loại trên cơ sở ấn định tỷ lệ
dự trữ thích hợp với trạng thái của chúng
Riêng đối với các khoản tiền vay thì ngân hàng phải sẵn sàng mọi lúc một khi khách hàng nộp đơn xin vay và thoả mãn các tiêu chuẩn tín dụng theo yêu cầu của ngân hàng Sau khi được chấp thuận, hạn mức cho vay có thể ra khỏi ngân hàng bất
cứ lúc nào khi khách hàng có nhu cầu Do vậy, tổng nhu cầu thanh khoản chính là
dự trữ thanh khoản tài sản nợ huy động và nhu cầu tiền vay tiềm năng
2.2.6 Các yếu tố tác động đến rủi ro thanh khoản
2.2.6 1 Các yếu tố bên trong
Quy mô ngân hàng (SIZE)
Về mặt lý thuyết kinh tế, quy mô ngân hàng có tổng tài sản càng lớn thì sẽ ít gặp
rủi ro thanh khoản hơn Các ngân hàng lớn có thể được hỗ trợ thanh khoản từ NHNN hay từ thị trường liên ngân hàng (Vodová, 2013) Đồng thuận cho lập luận này, Delechat và cộng sự (2012) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng ở các nước Trung Mỹ cũng cho rằng quy mô ngân hàng càng lớn thì rủi ro thanh khoản càng ít Trong nghiên cứu của Fredrick Ogilo và Leonard Oscar Mugenyah (2015) cũng chứng minh được rằng quy mô ngân hàng có tác động trái chiều với rủi ro thanh khoản
Tuy nhiên, có những tranh luận trái chiều, các ngân hàng lớn có lợi thế là có thể
giảm chi phí huy động vốn và điều đó cho phép họ mạnh dạn đầu tư vào các tài sản nhiều rủi ro hơn chẳng hạn những khoản cho vay (Iannotta và cộng sự, 2007) Như
vậy, các ngân hàng lớn có khả năng đầu tư nhiều hơn vào các khoản vay và từ đó gia tăng khe hở tài trợ, nghĩa là sẽ có thể xảy ra rủi ro thanh khoản lớn hơn Trong
Trang 23nghiên cứu của Bunda và Desquilber (2008) cũng chỉ ra rằng quy mô tổng tài sản
của ngân hàng có tác động cùng chiều với rủi ro thanh khoản, nghĩa là ngân hàng có quy mô tổng tài sản càng lớn thì rủi ro thanh khoản càng lớn
Tóm lại có thể có mối quan hệ phi tuyến tính giữa quy mô tổng tài sản ngân hàng và rủi ro thanh khoản
Các nguồn tài trợ bên ngoài (EFD)
Đây là một trong những chiến lược quản trị thanh khoản dựa vào phía nguồn
vốn của ngân hàng (Asphachs và cộng sự, 2005) Khi thiếu hụt thanh khoản, ngân hàng có thể vay mượn từ thị trường liên ngân hàng để bù đắp nhu cầu thanh khoản Tuy nhiên, chiến lược này sẽ gặp rủi ro thanh khoản thị trường rất lớn Đặc biệt trong thời kỳ khủng hoảng, ngân hàng có thể phải vay mượn trên thị trường liên ngân hàng với một mức lãi suất rất cao Điều này làm tăng thêm chi phí và giảm
hiệu quả hoạt động của ngân hàng Bên cạnh đó, việc ngân hàng vay mượn để đáp ứng nhu cầu rút tiền cho người gửi tiền có thể làm gia tăng hệ số nợ trên vốn chủ sở
hữu, và tác động đến cấu trúc vốn tối ưu của ngân hàng (Arif A and Anees A.N., 2012) Do đó, các nguồn tài trợ bên ngoài càng cao càng làm gia tăng rủi ro thanh khoản
Vốn tự có (ETA)
Vốn tự có chính là tấm đệm, là phòng tuyến cuối cùng để chống đỡ các rủi ro khác nhau của ngân hàng (Trương Quang Thông, 2012) Các ngân hàng hay tính toán tỷ lệ vốn tự có trên tổng nguồn vốn để đánh giá mức độ an toàn vốn của các ngân hàng (hay có thể gọi đó là hệ số an toàn vốn tối thiểu) Tỷ lệ vốn tự có trên
tổng nguồn vốn thường ngược chiều với rủi ro thanh khoản
Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản (TLA)
Cho vay là hoạt động kinh doanh chính của hầu hết các ngân hàng thương mại Danh mục cho vay thường là tài sản lớn nhất và là nguồn thu chính của ngân hàng
Do đó, nó cũng là một trong những nguồn rủi ro lớn nhất đến an toàn và sự lành
mạnh của ngân hàng Bởi vì các khoản cho vay là tài sản có tính thanh khoản thấp, tăng khối lượng cho vay đồng nghĩa với việc tăng tài sản kém thanh khoản trong
Trang 24danh mục tài sản ngân hàng Theo Pilbeam (2005), trong thực tế dự trữ thanh khoản
của ngân hàng bị ảnh hưởng nhiều bởi nhu cầu vay vốn và đó là cơ sở của tăng trưởng tín dụng Nếu nhu cầu vay vốn thấp, ngân hàng có xu hướng nắm giữ nhiều tài sản thanh khoản hơn (tài sản ngắn hạn), ngược lại, nếu nhu cầu vay vốn cao thì ngân hàng giữ ít tài sản thanh khoản bởi vì các khoản cho vay dài hạn thường mang
lại lợi nhuận cao hơn Vì thế, tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản càng cao thì rủi ro thanh khoản càng lớn
Dự phòng rủi ro tín dụng (LLPTL)
Yếu tố rủi ro tín dụng được đề cập ở rất nhiều các nghiên cứu về tính thanh khoản của ngân hàng Nghiên cứu của Bonfirm & Kim (2011) đã đưa ra kết luận:
rủi ro tín dụng có tác động ngược chiều đến khả năng thanh khoản tại ngân hàng,
kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, nếu NHTM gánh chịu rủi ro tín dụng cao, thì khả năng thanh khoản của ngân hàng bị giảm sút nghiêm trọng Những ngân hàng có tỷ
lệ nợ xấu cao là những ngân hàng bị sụt giảm uy tín trong lòng công chúng Hơn thế
nữa, một khi tỷ lệ nợ xấu cao bị công bố, những ngân hàng này sẽ phải tìm mọi cách để giảm tỷ lệ nợ xấu, tăng trích lập dự phòng rủi ro Điều này khiến cho khả năng thanh khoản sụt giảm Hơn thế nữa, một khi hứng chịu rủi ro tín dụng cao, đồng nghĩa với việc khả năng thu hồi vốn để thanh toán các khoản tiền gửi khi đến
hạn cũng bị ảnh hưởng, các ngân hàng có thể phải bán bớt các chứng khoán thanh khoản để có tiền chi trả cho người gửi tiền
Thu nhập lãi cận biên (NIM)
Thu nhập lãi cận biên là một trong những thước đo quan trọng để đo lường hiệu
quả tài chính trong một định chế nhận tiền gửi Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng được định nghĩa là chênh lệch giữa thu nhập lãi và chi phí lãi chia cho
tổng tài sản của ngân hàng
Trong nghiên cứu của Mohamed Aymen Ben Moussa (2015) đã chỉ ra rằng có
mối quan hệ cùng chiều giữa thu nhập lãi cận biên với rủi ro thanh khoản của ngân hàng Khi ngân hàng cho vay nhiều do vậy làm tăng thu nhập lãi cận biên nhưng tài
Trang 25sản thanh khoản sẽ giảm xuống làm cho rủi ro thanh khoản tăng Do vậy, thu nhập
lãi cận biên cao thì rủi ro thanh khoản ngân hàng cao
2.2.6 2 Các yếu tố bên ngoài
Tăng trưởng kinh tế
Aspachs và cộng sự (2005) cho rằng ngân hàng sẽ giữ nhiều thanh khoản trong
thời kỳ kinh tế suy thoái, khi mà các cơ hội để cho vay sẽ ít hơn và cho vay sẽ gặp nhiều rủi ro hơn, ngược lại, trong thời kỳ tăng trưởng kinh tế, ngân hàng thường
giảm dự trữ thanh khoản để có thể cho vay nhiều hơn, trong khi huy động có thể
giảm sút, từ đó làm gia tăng rủi ro thanh khoản Dinger (2009) cho rằng việc giữ tài
sản thanh khoản có quan hệ ngược chiều với tăng trưởng kinh tế Do đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế càng cao thì rủi ro thanh khoản càng lớn
Tỷ lệ lạm phát
Lạm phát cao và khó đoán trước làm cho các ngân hàng khó tiếp cận được các nguồn vốn dài hạn với lãi suất cố định, đồng thời các NHTM cũng rất thận trọng trong việc trả lãi suất cao cho các khoản huy động dài hạn Do vậy, các khoản tiền huy động được của các NHTM tại thời điểm này thường mang tính ngắn hạn Điều này tạo ra sự lệch pha giữa lượng tiền gửi huy động được mang tính ngắn hạn với các khoản cho vay hoặc đầu tư mang tính dài hạn của ngân hàng Mặt khác, do lãi
suất huy động tăng cao, thì lãi suất cho vay cũng cao, điều này đã làm xấu đi về môi trường đầu tư của ngân hàng, rủi ro đạo đức sẽ xuất hiện Do đó, khi lạm phát càng cao thì áp lực thanh khoản mà các ngân hàng phải đối diện càng lớn
2.2.7 Ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản đối với hoạt động của các NHTM
Rủi ro thanh khoản là rủi ro nguy hiểm nhất của ngân hàng, có liên quan đến sự
sống còn của một ngân hàng Một ngân hàng hoạt động bình thường là phải đảm
bảo khả năng thanh toán của mình tức là đáp ứng nhu cầu thanh toán trong hiện tại, tương lai và các nhu cầu thanh toán đột xuất Một khi rủi ro thanh khoản xuất hiện thì không những nó ảnh hưởng đến hoạt động của một ngân hàng mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển của kinh tế xã hội
Trang 26Thứ nhất, nếu rủi ro thanh khoản xảy ra, tùy theo mức độ nghiêm trọng mà ngân hàng có thể chịu chuyển hoá các tài sản có thanh khoản thành tiền với chi phí cao;
tiếp cận với thị trường tiền tệ để tăng vốn với những điều kiện khắt khe hơn cụ thể như phải có tài sản thế chấp, chịu mức lãi suất cao, không được tuần hoàn nợ cũ,
hạn mức tín dụng bị xem xét lại thường xuyên hoặc bị từ chối cho vay; đình trệ hoạt động dẫn đến giảm thu nhập; mất uy tín dẫn đến mất khách hàng
Thứ hai, trong trường hợp đặc biệt, rủi ro thanh khoản có thể đẩy ngân hàng tới tình trạng mất khả năng thanh toán, là trạng thái bên bờ vực phá sản ngân hàng Khi
một ngân hàng mất đi khả năng thanh khoản thì sẽ gây nên tâm lý lo ngại đối với không chỉ chính bản thân ngân hàng mà còn đối với khách hàng của các ngân hàng khác Họ sợ rằng, ngân hàng nơi mình gửi tiền cũng có thể phá sản nên tìm mọi cách để rút tiền khỏi ngân hàng đó Nếu niềm tin của công chúng bị lung lay thì có
thể dẫn đến hàng loạt ngân hàng mất khả năng thanh toán chỉ trong một thời gian
ngắn và khiến cá hệ thống ngân hàng rơi vào tình trạng hỗn loạn Sự hỗn loạn này
của hệ thống ngân hàng có thể dẫn đến khủng hoảng kinh tế xã hội chính trị của một
quốc gia
2.3 CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
2.3.1 Các nghiên cứu nước ngoài
Agnieszka Wojcik-Mazur, Marek Szajt (2015) nghiên cứu các nhân tố tác động đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại ở các nước liên minh Châu
Âu thông qua so sánh độc lập hoạt động của các ngân hàng ở các nước liên minh Châu Âu cũ như Pháp, Bỉ, Đức, Đan Mạch và các ngân hàng ở các nước liên minh Châu Âu mới như Bungari, Cộng hoà Séc, Slovenia Trên cơ sở hai hệ số rủi ro thanh khoản, nghiên cứu đã chỉ ra có hai nhóm nhân tố là vi mô (rủi ro tín dụng, quy mô tổng tài sản ngân hàng, đòn bẩy tài chính, sự tham gia trên thị trường liên ngân hàng) và nhân tố vĩ mô (GDP, lạm phát, lãi suất tiền gửi trên thị trường liên ngân hàng) Các nhân tố tác động đến rủi ro thanh khoản ở của các ngân hàng tại các nước thuộc Liên Minh Châu Âu cũ thì có chút khác biệt so với các ngân hàng
tại các nước thuộc Liên Minh Châu Âu mới Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng
Trang 27một nhóm nhân tố bên trong tác động đến mức độ thanh khoản bất kể phương pháp
đo lường rủi ro thanh khoản như thế nào và ở các nước mà họ nghiên cứu (lợi nhuận, mức độ rủi ro thanh khoản, và sự tham gia trên thị trường liên ngân hàng)
Một sự khác biệt quan trọng đó là sự tác động của lãi suất bình liên ngân hàng đối
với mức độ rủi ro thanh khoản, ở các ngân hàng thương mại nằm trong khu vực liên minh Châu Âu cũ, lãi suất bình quân liên ngân hàng sẽ khuyến khích tăng cường tham gia nhiều hơn nữa trên thị trường tiền tệ Hay có thể nói cách khác, ở các nước trong khối liên minh Châu Âu mới, sự tăng lên về lãi suất bình quân liên ngân hàng không đồng nghĩa với sự tăng lên của toàn bộ tài sản thanh khoản
Ghenimi và Omri (2015): quản trị rủi ro thanh khoản, một nghiên cứu so sánh
giữa các ngân hàng hồi giáo và các ngân hàng thông thường Nghiên cứu đã chỉ ra các nhân tố tác động đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng hồi giáo, và các ngân hàng thông thường tại các nước ở vùng vịnh thông qua phân tích dữ liệu bảng
của 11 ngân hàng hồi giáo và 33 ngân hàng thông thường Kết quả nghiên cứu chỉ
ra rằng tỷ suất sinh lợi (ROE), thu nhập lãi thuần (NIM), lạm phát (INF), hệ số an toàn vốn tối thiểu (CAR) có tác động cùng chiều với rủi ro thanh khoản ở các nước
hồi giáo trong khi đó, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA), tỷ lệ nợ xấu (NPL), quy mô ngân hàng (SIZE), tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) thì có tác động ngược chiều Còn ở các ngân hàng thông thường thì SIZE, NIM, ROE, CAR, GDP, INF có tác động cùng chiều với rủi ro thanh khoản trong khi ROA, NPL thì có tác động ngược chiều với rủi ro thanh khoản
Fredrick Ogilo, Leonard Oscar Mugenyah (2015) nghiên cứu các yếu tố tác động đến thanh khoản của các ngân hàng thương mại ở Kenya Biến phụ thuộc là tỷ
lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) Các biến độc lập là các biến tỷ lệ an toàn vốn (CAR), tỷ lệ tài sản thanh khoản (LAR), loại hình sở hữu (OWNT), LEV (tỷ lệ vốn cổ phần trên tổng tài sản), SIZE (quy mô ngân hàng) Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng rủi ro thanh khoản có quan hệ cùng chiều với CAR và ngược chiều
với LAR, OWTP, SIZE, LEV Đồng thời, các biến tỷ lệ an toàn vốn, tỷ lệ vốn cổ
phần trên tổng tài sản là yếu tố quan trọng tác động đến rủi ro thanh khoản
Trang 28Mohamed Aymen Ben Moussa (2015) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến rủi
ro thanh khoản của các ngân hàng ở Tunisia với mẫu được chọn là 18 ngân hàng ở Tunisia trong giai đoạn 2000 - 2010 Nghiên cứu sử dụng hai cách đo lường rủi ro thanh khoản là tỷ lệ giữa tài sản thanh khoản so với tổng tài sản và tổng dư nợ cho vay so với tổng nguồn vốn huy động Thông qua phương pháp phân tích dữ liệu
bảng, nghiên cứu chỉ ra rằng vốn tự có so với tổng tài sản, chi phí hoạt động so với
tổng tài sản, tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ lạm phát, khả năng thanh khoản chậm tác động vào thanh khoản của ngân hàng Trong khi đó, các yếu tố khác như quy
mô tổng tài sản, tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tài sản, chi phí tài chính so với tổng
dư nợ, tổng các khoản huy động so với tổng tài sản thì không có tác động vào thanh khoản của ngân hàng
Vodová (2011, 2013) nghiên cứu các yếu tố tác động đến thanh khoản của các
ngân hàng thương mại ở Czech, Hungary và Phần Lan Các biến độc lập được khảo sát bao gồm bốn biến bên trong (tỷ lệ vốn chủ sỡ hữu (CAP), tổng tài sản ngân hàng (TOA), tỷ lệ nợ xấu (NPL), tỷ suất sinh lợi (ROE) và tám biến bên ngoài ngân hàng (tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát (INF), lãi suất liên ngân hàng (IRB), tỷ lệ thất nghiệp (UNE), lãi suất cận biên (IRM), lãi suất tín dụng (INF) và biến giả khủng
hoảng tài chính (FIC) Biến phụ thuộc (đo lường thanh khoản của ngân hàng) được
đo lường bởi bốn tỷ số thanh khoản, bao gồm tỷ số tài sản thanh khoản trên tổng tài
sản (L1), tỷ số tài sản thanh khoản trên tiền gửi và các khoản vay mượn (L2), tỷ số tín dụng trên tổng tài sản (L3) và tỷ số tín dụng trên tiền gửi & các khoản tài trợ
ngắn hạn (L4) Riêng nghiên cứu Vodová (2011), biến độc lập là tỷ lệ tài sản thanh khoản trên tổng tiền gửi (L3) Kết quả nghiên cứu cho thấy thanh khoản có quan hệ cùng chiều với tỷ lệ vốn chủ sở hữu, lãi suất tín dụng ở cả ba quốc gia; tỷ lệ nợ xấu, lãi suất liên ngân hàng ở Czech và Phần Lan Ngược lại, khủng hoảng tài chính, tỷ
lê lạm phát, tốc độ tăng trưởng kinh tế có quan hệ ngược chiều với thanh khoản ở Czech trong khi quan hệ cùng chiều ở Phần Lan Trong khi đó, tổng tài sản ngân hàng và thanh khoản có quan hệ ngược chiều ở Slovakia và Phần Lan trong khi ở Czech là quan hệ phi tuyến Ngoài ra, nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ thất nghiệp,
Trang 29lãi suất cận biên, tỷ suất sinh lợi của vốn và lãi suất chính sách tiền tệ không có tác động đến thanh khoản ở Czech; lãi suất cận biên và lãi suất chính sách tiền tệ có quan hệ ngược chiều ở Hungary và Phần Lan; tỷ suất sinh lợi của vốn có quan hệ cùng chiều ở Hungary và ngược chiều ở Phần Lan; tỷ lệ thất nghiệp có quan hệ cùng chiều với thanh khoản ở Phần Lan
Delechat và cộng sự (2012) nghiên cứu các yếu tố tác động đến dự trữ thanh
khoản ở các nước Trung Mĩ, Panama và Dominica Dự trữ thanh khoản được đo lường bằng tỷ số tài khoản trên tiền gửi và tài trợ ngắn hạn Các biến giải thích được chia thành bốn nhóm bao gồm các biến thuộc ngân hàng như tỷ lệ vốn, thu
nhập lãi ròng, dự phòng tổn thất tín dụng, tài sản, loại hình sở hữu (trong nước,
ngoài nước), quan hệ sở hữu (nhà nước, tư nhân); các biến kinh tế vĩ mô như tốc độ tăng trưởng kinh tế, biên độ lãi suất; các biến quốc gia như thay đổi tiền gửi, thay đổi lạm phát, khủng hoảng kinh tế, tỷ lệ tín dụng trên tốc độ tăng trưởng kinh tế, các
biến thuộc rủi ro đạo đức và an toàn hệ thống như tình trạng đô la hóa tiền gửi, dự
trữ quốc gia, vai trò của NHNN Kết quả nghiên cứu cho thấy các ngân hàng nhỏ,
vốn thấp, hiệu quả và lợi nhuận thấp có xu hướng dự trữ nhiều thanh khoản hơn Ngân hàng nước ngoài dự trữ ít thanh khoản hơn ngân hàng trong nước Ngân hàng
với danh mục tín dụng nhiều rủi ro lại dự trữ ít thanh khoản hơn
Nigist Melese và Dr Laximikantham (2015) nghiên cứu các yếu tố tác động đến
rủi ro thanh khoản, bằng chứng thực nghiệm tại các ngân hàng thương mại ở Ethiopian Dữ liệu được nghiên cứu là của 10 ngân hàng thương mại tại Ethiopian trong giai đoạn 2007 - 2013 Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng hệ số an toàn vốn tối thiểu và lợi nhuận có tác động đến thanh khoản của các ngân hàng thương mại tại Ethiopian trong khi đó, quy mô tổng tài sản của ngân hàng có tác động cùng chiều đến thanh khoản Tăng trưởng tín đụng có ý nghĩa thống kê nhưng không có tác động đến thanh khoản của các ngân hàng tại Ethiopian
Tariq Alzoubi (2017) nghiên cứu các yếu tố quyết định rủi ro thanh khoản trong các ngân hàng Hồi Giáo Nhà nghiên cứu sử dụng phân tích dữ liệu bảng được tiến hành dựa trên mẫu nghiên cứu bao gồm 42 ngân hàng Hồi giáo từ 15 quốc gia trong
Trang 30giai đoạn 2007 và 2014 Kết quả cho thấy mối tương quan nghịch giữa rủi ro thanh khoản và tỷ lệ tiền mặt nắm giữ, vì số dư tiền mặt có thể được sử dụng để đáp ứng
mọi nhu cầu thanh khoản từ khách hàng của ngân hàng Có sự tương quan nghịch
giữa rủi ro thanh khoản và chứng khoán do ngân hàng nắm giữ, vì các ngân hàng
cần thanh khoản có thể bán những tài sản này để đáp ứng bất kỳ sự thiếu hụt thanh khoản mà họ phải đối mặt Quy mô ngân hàng cũng có mối quan hệ ngược chiều
với rủi ro thanh khoản, vì các ngân hàng lớn hơn có xu hướng ổn định hơn và khách hàng cảm thấy an toàn hơn khi giao dịch với các ngân hàng lớn Vốn chủ sở hữu
của ngân hàng cũng có mối tương quan nghịch với rủi ro thanh khoản vì vốn chủ sở
hữu là nguồn tài trợ ổn định hơn cho các ngân hàng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu cao hơn làm giảm rủi ro thanh khoản Mặt khác, có một mối quan hệ cùng chiều giữa việc
nắm giữ tài sản có khả năng sinh lợi nhuận cao với rủi ro thanh khoản Như vậy, trong danh mục tài sản của ngân hàng, thay vì đầu tư vào danh mục an toàn với lợi nhuận thấp thì ngân hàng lại đầu tư vào danh mục có rủi ro cao hơn để tăng thu
nhập của họ Đây chính là nguyên nhân xảy ra rủi ro thanh khoản ở các ngân hàng Ngoài ra, nghiên cứu cho thấy mối quan hệ phi tuyến tính giữa quy mô ngân hàng
và rủi ro thanh khoản
2.3.2 Các nghiên cứu trong nước
2.3.2.1 Trương Quang Thông (2013) nghiên cứu các nhân tố tác động đến rủi
ro thanh kho ản của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam
Bài nghiên cứu này chỉ ra những nguyên nhân của rủi ro thanh khoản đối với hệ
thống NHTM Việt Nam, tác giả sử dụng dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ báo cáo thường niên của 27 NHTM Việt Nam từ năm 2002 đến 2011 Biến phụ thuộc là
rủi ro thanh khoản (khe hở tài trợ) Các biến độc lập chính là các nhân tố tác động đến biến phụ thuộc được chia thành hai nhóm: nhóm các nhân tố bên trong ngân hàng bao gồm quy mô tổng tài sản, tỷ lệ dự trữ thanh khoản trên tổng tài sản, sự phụ thuộc các nguồn tài trợ bên ngoài, tỷ lệ vốn tự có trên tổng nguồn vốn, tỷ lệ tổng cho vay trên tổng tài sản, dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng dư nợ; và nhóm các nhân tố bên ngoài ngân hàng bao gồm tăng trưởng kinh tế, lạm phát và cung tiền,
Trang 31đặc biệt tác động của độ trễ chính sách Tác giả sử dụng 3 cách ước lượng mô hình
gồm: mô hình kết hợp tất cả các quan sát (Pooled), mô hình tác động cố định (FEM)
và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) hay còn gọi là mô hình các thành phần sai
số (ECM) để tìm hiểu các yếu tố trên ảnh hưởng như thế nào đến rủi ro thanh khoản Từ đó, dựa vào các phân tích hệ sổ R2, thống kê Durbin - Watson, kiểm định Hausman, phân tích tương quan giữa thành phần sai số và các biến độc lập để lựa
thống kê dương (lúc đầu khi tăng SIZE sẽ làm giảm rủi ro thanh khoản nhưng nếu tăng liên tục đến một mức nào đó sẽ làm tăng rủi ro thanh khoản) Riêng yếu tố LLPTL không có ý nghĩa thống kê trong mối tương quan với FGAP
Các yếu tố bên ngoài ngân hàng cũng có ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản, GDP ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê âm đến FGAP, còn GDPt-1 ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê dương, về tỷ lệ lạm phát, kết quả phân tích cũng cho thấy sự tăng tỷ
lệ lạm phát của năm trước INFt-1 sẽ ảnh hưởng làm giảm rủi ro thanh khoản của năm nay Tuy nhiên, tác giả phát hiện yếu tố thay đổi cung tiền M2 không có tác động đến rủi ro thanh khoản của hệ thống ngân hàng Việt Nam
Qua việc phân tích các kết quả kiểm định, tác giả lựa chọn mô hình tác động cố định (FEM) là lựa chọn tốt nhất
2.3.2.2 Trương Quang Thông và Phạm Minh Tiến (2014) nghiên cứu các nhân
t ố tác động đến rủi ro thanh khoản trường hợp các ngân hàng thương mại cổ phần
Vi ệt Nam
Nghiên cứu này nằm trong chuỗi các nghiên cứu của tác giả và cộng sự nhằm
mục đích nhận diện những nhân tố tác động đến rủi ro thanh khoản đối với hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam nói chung Tác giả sử dụng dữ liệu nghiên cứu
Trang 32được thu thập và xử lý từ báo cáo thường niên của 29 NHTMCP Việt Nam từ năm
2002 đến 2012 Rủi ro thanh khoản được sử dụng trong mô hình là khe hở tài trợ và các biến độc lập, tức các nhân tố tác động đến rủi ro thanh khoản và được chia thành hai nhóm: nhóm các nhân tố bên trong ngân hàng và bên ngoài ngân hàng, bao gồm quy mô tổng tài sàn, dự trữ thanh khoản trên tổng tài sản, cho vay liên ngân hàng trên tổng tài sản, sự phụ thuộc các nguồn tài trợ bên ngoài, và tỷ lệ vốn
tự có trên tổng nguồn vốn, tỷ lệ tổng cho vay trên tổng tài sản, dự phòng rủi ro tín
dụng trên tổng dư nợ, tăng trưởng kinh tế, lạm phát và cung tiền
Kết quả ước lượng các mô hình bằng phương pháp GMM sai phân cho thấy, rủi
ro thanh khoản ngân hàng không những phụ thuộc vào các yếu tố bên trong hệ
thống ngân hàng như tổng tài sản, quy mô vay nợ và vốn tự có của ngân hàng mà còn chịu sự tác động bởi các điều kiện kinh tế vĩ mô và chính sách kinh tế Kết quả ước lượng cho thấy các yếu tố ETA, EFD, GDP, INF có tác động cùng chiều đến
rủi ro thanh khoản, và các yếu tố IBLOAN, LATA, LPTL, GDPt-1, M2t-1 có tác động ngược chiều
Ngoài ra, tác giả cũng phát hiện ra rằng quy mô tổng tài sản (SIZE) của ngân hàng có mối quan hệ phi tuyến tính với rủi ro thanh khoản Riêng yếu tố M2 không
có ý nghĩa thống kê trong mối tương quan với FGAP
Đối với các yếu tố bên ngoài ngân hàng, GDP ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê dương đến FGAP, trong khi đó GDPt-1 có tương quan âm với rủi ro thanh khoản, về
tỷ lệ lạm phát, kết quả phân tích cũng cho thấy tỷ lệ lạm phát của năm hiện hành không chỉ ảnh hưởng làm tăng rủi ro thanh khoản của năm hiện tại mà tác động của
nó còn ảnh hưởng đến năm tiếp theo
Từ các nghiên cứu thực nghiệm trên của một số tác giả ở các quốc gia khác nhau trên thế giới cho chúng ta thấy rằng các tác giả đã không đưa ra một mô hình chung
về các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản tại các NHTMCP, mà mỗi bài nghiên cứu của các tác giả đều chú trọng đến một số yếu tố khác nhau nhưng đều ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại ở mỗi thị trường tại mỗi giai đoạn khác nhau Vì vậy, trong nghiên cứu này không thể xem
Trang 33xét được hết toàn bộ các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản như tất cả các nghiên cứu trước mà chỉ tập trung vào một số yếu tố được xem là có khả năng giải thích cao nhất với rủi ro thanh khoản
Với các nghiên cứu trên, các tác giả đã làm rõ được các lý thuyết giải thích rủi
ro thanh khoản, một số thước đo thanh khoản đối với NHTM, các chính sách của NHNN trong việc quản lý thanh khoản Đồng thời nghiên cứu cũng cho thấy thực
trạng về tính thanh khoản của các NHTMVN dựa trên mô hình nghiên cứu Cái mới
của các công trình nghiên cứu trên là các tác giả đã sử dụng thước đo mới để đo lường rủi ro thanh khoản đó là khe hở tài trợ và các hệ số thanh khoản
2.3.2.3 Đặng Văn Dân (2015) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng rủi ro thanh kho ản của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam
Tác giả đã chứng minh được là ngân hàng nào có quy mô càng lớn thì khả năng
xảy ra rủi ro thanh khoản càng thấp Ngoài ra, tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản cao thì
khả năng thanh khoản thấp Điều này đồng nghĩa với việc các ngân hàng dễ xảy ra
rủi ro thanh khoản Tác giả không nghiên cứu sự tác động của các yếu tố khác như GDP, lạm phát
2.3.2.4 Võ Xuân Vinh và Mai Xuân Đức (2017) nghiên cứu ảnh hưởng của sở
h ữu nước ngoài đến rủi ro thanh khoản của 35 NHTM Việt Nam giai đoạn
2009-2015
Kết quả cho thấy, sở hữu nước ngoài càng cao thì rủi ro thanh khoản của NHTM càng thấp và ngược lại Bên cạnh đó, rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản năm trước có quan hệ cùng chiều với rủi ro thanh khoản của NHTM trong năm hiện tại
Kết quả của nghiên cứu có hàm ý quan trọng trong việc cung cấp thêm bằng chứng
thực nghiệm chứng minh vai trò của cổ đông nước ngoài trong việc quản trị rủi ro thanh khoản và các hoạt động khác ở các NHTM Việt Nam Nghiên cứu dựa trên
mô hình và các nghiên cứu của Aspachs & cộng sự (2005), Rychtárik (2009), Praet
và Herzberg (2008), Vodová (2011) Thông qua dữ liệu thuộc nội bộ các NHTM được thu thập thủ công từ báo cáo tài chính đã kiểm toán và báo cáo thường niên
của 31 NHTM Việt Nam giai đoạn 2007-2016 từ cơ sở dữ liệu của Bankscope, tác
Trang 34giả xây dựng mô hình các yếu tố tác động đến rủi ro thanh khoản tại các NHTM cổ
tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng i ở năm t; LLRit là biến đo lường tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng của ngân hàng i ở năm t và εit là sai số không quan sát được
Kết quả nghiên cứu cho thấy, các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản
của các NHTM Việt Nam bao gồm: Tỷ lệ vốn chủ sở hữu (CAP), Tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR), Tỷ lệ lợi nhuận (ROE), Tỷ lệ nợ xấu (NPL) Nghiên cứu chỉ ra,
vốn chủ sở hữu, lợi nhuận sau thuế sẽ có tác động mạnh mẽ đến khả năng thanh khoản của các NHTM Việt Nam Cụ thể là, nếu ngân hàng có thể duy trì ổn định nguồn vốn chủ sở hữu thì khả năng thanh khoản của ngân hàng có thể được đảm
bảo, mỗi sự suy giảm của nguồn vốn chủ sở hữu dù là ít chăng nữa cũng có thể gây nên hậu quả là ngân hàng thiếu thanh khoản và có thể dẫn đến sự đổ vỡ Bên cạnh
đó, lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng thanh khoản Tiếp đó, sự so sánh giữa tổng cho vay và tổng huy động được trong
ngắn hạn cũng cho thấy, có những ảnh hưởng lớn tới khả năng thanh khoản Nếu các ngân hàng chỉ quan tâm đến việc cho vay nhiều mà không quan tâm đến nguồn huy động được thì chắc chắn trong một giai đoạn nào đó sẽ gây ra thiếu hụt thanh khoản và từ đó có thể gây ra những hậu quả rất nghiêm trọng Điều đó cũng có nghĩa là nếu các ngân hàng có những biện pháp cân đối giữa nguồn huy động được
và cho vay trong ngắn hạn thì có thể tháo gỡ được rất nhiều khó khăn liên quan đến
khả năng thanh khoản Cuối cùng, nợ xấu cũng là vấn đề rất quan trọng khi nghiên
cứu khả năng thanh khoản của các NHTM Việt Nam Kết quả nghiên cứu cho thấy, quan hệ đồng biến giữa tỷ lệ nợ xấu và khả năng thanh khoản, cũng có nghĩa là khi
Trang 35phát sinh nợ xấu thì các ngân hàng mới thực sự quan tâm đến việc trung hòa nó
bằng các tài sản thanh khoản
Trang 36Bảng 2.1 Tóm tắt các kết quả nghiên cứu trước
CAR + Fredrick Ogilo,
Leonard Oscar Mugenyah (2015) LAR, OWPT,
-
Mohamed Aymen Ben Moussa (2015) ROE, Tdeposit, ALA-1 +
Mô hình 2
CD
ROA, NIM, SIZE, CAP, CEA, CFC, Tpib, ROE - Tdeposit, CD-1, TLA,
ETA, INR, DCR, INF,
Mô hình 2
NLC
Các nước thuộc Châu Âu cũ
NIM, DCR, INF, GDP +
INR, ETA, ROA, LLR -
Các nước thuộc Châu Âu mới
DCR, INF, GDP +
Trang 37STT Biến phụ thuộc Biến độc lập động Tác Nghiên cứu
ETA, NIM, ROA, INR,
Ở các ngân hàng hồi giáo
Ghenimi and Omri (2015)
CAR, NIM, INF, ROE + ROA, NPL, SIZE, GDP -
Ở các ngân hàng thông thường
CAR, NIM, INF, ROE
LRA, SIZE, GDP, INF, INFt-1 - LLPTL, M2, M2t-1
SIZE2, ETA, EFD, GDP, INF, INFt-1 +
Trương Quang Thông và Phạm Minh Tiến (2014)
SIZE, IBLOAN, LATA, LPTL, GDPt-1, M2t-1 -
M2
CAP, ROE, SIZE, NPL + Võ Xuân Vinh và
Mai Xuân Đức (2017)
Trang 38và xây dựng cơ sở đánh giá rủi ro thanh khoản tại đây Đồng thời, nêu ra kết quả nghiên cứu của những mô hình nghiên cứu trong và ngoài nước trước đây để đưa ra hướng nghiên cứu cho đề tài của tác giả
Tổng quan lý thuyết trong chương này sẽ là cơ sở lý luận phục vụ cho việc phân tích mô hình nghiên cửu rủi ro thanh khoản của các NHTM ở những chương tiếp theo
Trang 39CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 GI Ả THUYẾT NGHIÊN CỨU
Việc lựa chọn các biến độc lập đưa vào mô hình nhằm mục đích giải thích tác động đến biến phụ thuộc (rủi ro thanh khoản) dựa trên các nghiên cứu tương tự đã được thực hiện Ngoài ra, do đặc điểm của hệ thống ngân hàng Việt Nam cũng như nguồn dữ liệu có sẵn, tác giả chỉ đưa vào các biến được đánh giá là có tác động lớn đến rủi ro thanh khoản
Quy mô ngân hàng (SIZE)
Như đã trình bày ở những nội dung trước, có hai lập luận trái ngược nhau về
mối quan hệ giữa thanh khoản và quy mô ngân hàng Quan điểm thứ nhất cho rằng
mối quan hệ giữa thanh khoản và quy mô ngân hàng là quan hệ ngược chiều theo
kiểu “quá lớn nên khó sụp đổ” Nghĩa là các ngân hàng có quy mô ngân hàng càng
lớn thì ít gặp rủi ro thanh khoản hơn những ngân hàng có quy mô nhỏ Theo Vodová (2013), quy mô ngân hàng có tác động ngược chiều đến rủi ro thanh khoản Nhưng trong quan điểm truyền thống thì ngược lại, Bunda và Desquilber (2008) cũng chỉ ra rằng quy mô ngân hàng có tác động cùng chiều với rủi ro thanh khoản, nghĩa là ngân hàng có quy mô càng lớn thì rủi ro thanh khoản càng lớn
Trong bối cảnh Việt Nam, phần lớn các ngân hàng nhỏ có xu hướng tập trung vào các hoạt động truyền thống của NHTM là hoạt động tín dụng Tuy nhiên, các ngân hàng nhỏ thường không có lợi thế để huy động vốn tốt như những ngân hàng
lớn Chính vì vậy, trong bài luận văn này tác giả kỳ vọng mối quan hệ ngược chiều
giữa quy mô ngân hàng và rủi ro thanh khoản Để đo lường quy mô ngân hàng, tác
giả sử dụng logarit tự nhiên của mục tổng tài sản
Gi ả thuyết H1: quy mô ngân hàng có tác động ngược chiều đến rủi ro thanh kho ản ngân hàng
Tỷ lệ vốn tự có trên tổng nguồn vốn (ETA)
Theo Gul (2011), vốn tự có cho thấy sức mạnh của nguồn vốn ngân hàng chống
chọi lại trước những thay đổi của môi trường kinh tế tài chính Nói chung là nguồn
vốn này có liên quan đến hiệu quả hoạt động tài chính của ngân hàng mình
Trang 40Theo kết quả nghiên cứu của Mohamed Aymen Ben Moussa (2015) tác động ngược chiều với rủi ro thanh khoản ngân hàng Trong nghiên cứu của Trương Quang Thông (2013) thì tỷ lệ vốn tự có trên tổng nguồn vốn có quan hệ ngược chiều với rủi ro thanh khoản
Trong bài này tác giả sử dụng tỉ lệ vốn tự có trên tổng nguồn vốn để thay thế cho
hệ số an toàn vốn tối thiểu (CAR) của Basel để đo lường mức độ an toàn vốn của ngân hàng Tác giả kỳ vọng mối quan hệ ngược chiều giữa tỷ lệ vốn tự có trên tổng nguồn vốn và rủi ro thanh khoản của ngân hàng
Gi ả thuyết H2: Tỉ lệ vốn tự có trên tổng nguồn vốn có tác động ngược chiều đến
r ủi ro thanh khoản ngân hàng
T ỉ lệ cho vay trên tổng tài sản (TLA)
Cho vay là một trong những chức năng chính của ngân hàng Các khoản cho vay thường có tính thanh khoản thấp nhưng tạo ra nguồn thu chính cho ngân hàng Do
đó, tăng trưởng tính dụng ở các ngân hàng đồng nghĩa với việc tăng các tài sản có tính thanh khoản thấp và làm giảm tài sản thanh khoản cao hoặc tài sản ngắn hạn Trương Quang Thông (2013) cho rằng trong điều kiện kinh tế Việt Nam cũng như
hệ thống ngân hàng các nền kinh tế mới nổi, các ngân hàng tập trung sử dụng các nguồn vốn vào hoạt động cho vay Các khoản cho vay thường có tính thanh khoản
thấp Do đó, những khoản rút tiền lớn và không dự tính trước thường có thể dẫn đến
mất khả năng thanh khoản của ngân hàng (Bonin & cộng sự, 2008) Theo nghiên
cứu này, Trương Quang Thông (2013) chỉ ra rằng tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản và
rủi ro thanh khoản ngân hàng có mối quan hệ cùng chiều Theo nghiên cứu của Mohamed Aymen Ben Moussa (2015) cũng chỉ ra rằng có mối quan hệ cùng chiều
giữa tỉ lệ cho vay trên tổng tài sản và rủi ro thanh khoản ngân hàng Do đó, tác giả
kỳ vọng mối quan hệ cùng chiều giữa tỉ lệ cho vay trên tổng tài sản và rủi ro thanh khoản ngân hàng
Gi ả thuyết H3: tỉ lệ cho vay trên tổng tài sản có tác động cùng chiều đến rủi ro thanh kho ản ngân hàng
Các nguồn tài trợ bên ngoài (EFD)