Được tiến hành lần đầu tiên vào 06/01/1946, tại Việt Nam, các cuộc bầu cử nói chung và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân HĐND các cấp có một vị trí quan trọng, là phương thức thể hiện ý
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ HOA LÊ
BẦU CỬ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 9 31 02 01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
Hà Nội - 2021
Trang 2Công trình được hoàn thành tại Học viện Khoa học Xã hội
Người hướng dẫn khoa học: GS, TS Dương Xuân Ngọc
Phản biện 1: PGS, TS Nguyễn Minh Phương
Phản biện 2: GS, TS Nguyễn Văn Tài
Phản biện 3: PGS, TS Hồ Việt Hạnh
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp
Họcviện họp tại Học viện Khoa học Xã hội
Vào hồi… … giờ … phút, ngày…… tháng ……năm
Có thể tìm hiểu luận án tại:
Thư viện Quốc gia và Thư viện Học viện Khoa học Xã hội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của luận án
Quyền lực chính trị là phạm trù cơ bản, giữ vị trí trung tâm của chính trị học Chính vì vậy mà chính trị học là khoa học của các quy luật, tính quy luật về đấu tranh giai cấp xoay quanh việc giành, giữ, tổ chức, thực thi và kiểm soát quyền lực chính trị trong xã hội được tổ chức thành nhà nước Ngày nay, nếu coi quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước là cái đích mà các chủ thể chính trị đều hướng đến thì bầu cử chính là con đường để đi đến cái đích quyền lực đó
Là một trong những chế định quan trọng trong hoạt động chính trị, bầu cử là quá trình đưa ra quyết định của người dân để chọn ra các cá nhân có những điều kiện cần
và đủ để nắm giữ các chức vụ của chính quyền nhà nước Bầu cử được xem là cơ chế thông qua đó, các nền dân chủ đương đại phân bổ chức vụ trong bộ máy lập pháp, hành pháp, tư pháp và ở chính quyền địa phương của các quốc gia Là cơ sở pháp lý cho việc hình thành ra các cơ quan đại diện cho quyền lực nhà nước, bầu cử có một vị trí quan trọng trong nền chính trị đương đại
Có thể khái quát các mô hình bầu cử trên thế giới đương đại, ngoại trừ tính đặc thù, bao gồm ba mô hình tiêu biểu: Mô hình bầu cử của thể chế quân chủ (gồm quân chủ đại nghị, quân chủ cộng hòa); mô hình bầu cử của thể chế cộng hòa tổng thống và
mô hình bầu cử của thể chế hỗn hợp Nhìn vào thể chế bầu cử người ta có thể hiểu được sự phát triển cũng như trình độ văn minh của một chế độ chính trị - xã hội nói chung và thể chế chính trị của các quốc gia nói riêng Cũng chính qua đây, tính chất dân chủ của hệ thống chính trị được thể hiện rõ nét, vì thông qua hoạt động bầu cử, các
cơ chế giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị được bộc lộ một cách sâu sắc nhất Trong nền chính trị hiện đại, các cuộc bầu cử tự do và công bằng chính là phương thức để đảm bảo cho việc tôn trọng các quyền tự do, dân chủ của công dân, bởi thuật ngữ bầu cử luôn gắn bó mật thiết với khái niệm dân chủ Trong một nền dân chủ, quyền lực của nhà nước chỉ được thực thi khi có sự nhất trí của người dân Cơ chế căn bản để chuyển sự nhất trí đó thành quyền lực nhà nước là tổ chức bầu cử tự
do và công bằng
Được tiến hành lần đầu tiên vào 06/01/1946, tại Việt Nam, các cuộc bầu cử nói chung và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp có một vị trí quan trọng, là phương thức thể hiện ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong việc xây dựng nhà nước nói chung và cơ quan đại diện – cơ quan quyền lực nhà nước từ Trung ương đến địa phương ở nước ta nói riêng Bầu cử chọn ra các đại biểu đại diện nắm giữ các chức vụ trong cơ quan dân cử của chính quyền theo quy định
Trang 4của hiến pháp và pháp luật Việc bầu cử ở Việt Nam hiện nay bao gồm bầu cử Quốc hội (ở Trung ương) và bầu cử đại biểu HĐND các cấp (ở địa phương) Như Điều 6 Hiến pháp Việt Nam năm 2013 đã khẳng định: “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, HĐND và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”
Thông thường, các cuộc bầu cử được tiến hành khi các cơ quan dân cử (cơ quan quyền lực nhà nước) hết nhiệm kỳ Theo quy định của Hiến pháp năm 2013, nhiệm
kỳ của Quốc hội (QH) mỗi khóa là năm năm, tương tự, năm năm cũng là nhiệm kỳ của HĐND các cấp Chính vì vậy, cứ năm năm một lần, đất nước ta lại định kỳ tiến hành bầu cử QH và HĐND các cấp
Hội đồng nhân dân ở nước ta được thành lập từ cuối năm 1945 theo Sắc lệnh
số 63 ngày 22 tháng 11 năm 1945 của Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (lúc đó là Hồ Chí Minh) Theo sắc lệnh này, HĐND được thành lập ở cấp xã và tỉnh bằng hình thức bầu trực tiếp của nhân dân với nhiệm kỳ khi đó chỉ 2 năm Theo điều 1 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân (năm 2003)
quy định: "Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại
diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên” [73]
Hiện nay, Việt Nam đang đẩy mạnh đổi mới hệ thống chính trị, phát huy dân chủ, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa “của dân, do dân và vì dân” thích ứng với đổi mới kinh tế, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng đã nhấn mạnh “Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ
trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị ” [10] Nhiệm vụ này đặt ra yêu cầu phải
đổi mới, hoàn thiện thể chế bầu cử, trong đó có bầu cử đại biểu HĐND các cấp theo hướng đẩy mạnh phân quyền, phân cấp, bảo đảm tính thực quyền cho HĐND các cấp Bởi thông qua các cuộc bầu cử đại biểu QH và đại biểu HĐND, quyền công dân, quyền làm chủ của dân được thể hiện đúng với bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: Mọi quyền lực thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Từ năm
2001, Đảng ta đã chỉ rõ cần phải “Nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội
đồng nhân dân, hoàn thiện những qui định về bầu cử, ứng cử và tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân trên cơ sở thật sự phát huy dân chủ” Để thực hiện được các mục tiêu này, một trong những giải pháp quan trọng, là xây dựng và cơ chế dân chủ, thực hiện quyền dân chủ của người dân thông qua hoạt động bầu cử nói chung và bầu cử
Trang 5đại biểu HĐND nói riêng Bởi thực tế cho thấy, hoạt động bầu cử đại biểu HĐND các cấp ở nước ta mặc dù diễn ra rất sôi nổi, thu hút được đông đảo người dân tham gia, song vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế nhất định đang đặt ra và đòi hỏi phải giải quyết Xuất phát từ những yêu cầu về mặt lý luận và thực tiễn trên, việc nghiên cứu đề tài
“Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp ở Việt Nam hiện nay” có ý nghĩa quan
trọng trong việc đánh giá và nhìn nhận đúng đắn cơ sở lý luận về bầu cử đại biểu HĐND các cấp ở Việt Nam Phân tích thực trạng hoạt động này để chỉ ra được những thành tựu
và hạn chế để đề xuất những giải pháp phù hợp nâng cao chất lượng của hoạt động bầu
cử nói chung và bầu cử đại biểu HĐND nói riêng Từ đó, phát huy quyền và nghĩa vụ công dân trong việc bầu ra những đại biểu xứng đáng đại diện cho ý chí và nguyện vọng
và quyền làm chủ của nhân dân trong cơ quan quyền lực nhà nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở nước ta trong thời gian tới
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích
Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận về bầu cử và bầu cử đại biểu HĐND các cấp; đánh giá thực trạng của hoạt động bầu cử đại biểu HĐND các cấp ở Việt Nam, luận án đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng bầu cử đại biểu HĐND các cấp ở Việt Nam những nhiệm kỳ tới
2.2 Nhiệm vụ
Để hoàn thành mục đích nghiên cứu trên, đề tài có nhiệm vụ:
1) Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
2) Nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về HĐND các cấp và bầu cử đại biểu HĐND các cấp
3) Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động bầu cử đại biểu HĐND các cấp ở Việt Nam
4) Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng bầu cử đại biểu HĐND các cấp
ở Việt Nam những nhiệm kỳ tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án đó là những vấn đề lý luận và thực tiễn về bầu
cử đại biểu HĐND các cấp ở Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung của Luận án tập trung nghiên cứu hoạt động bầu cử đại biểu HĐND các cấp ở Việt Nam
Trang 6- Không gian nghiên cứu của Luận án: Hoạt động bầu cử đại biểu HĐND các cấp ở
Việt Nam (cấp tỉnh, huyện, xã)
- Thời gian nghiên cứu của Luận án: Luận án nghiên cứu hoạt động bầu cử đại biểu
HĐND các cấp nhiệm kỳ: 2011 – 2016; 2016 – 2021 (từ 2011 đến
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Cơ sở lý luận của luận án
Luận án dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh,
quan điểm của Đảng về bầu cử, bầu cử đại biểu HĐND các cấp
Bên cạnh đó, luận án cũng tiếp thu có chọn lọc những kết quả nghiên cứu về bầu cử
đại biểu HĐND các cấp của các công trình nghiên cứu đã công bố
Luận án cũng sử dụng cách tiếp cận nghiên cứu của một số lý thuyết về bầu cử; lý
thuyết dân chủ chính trị; lý thuyết về chủ quyền nhân dân; lý thuyết về xây dựng nhà nước
pháp quyền, về tự do, dân chủ, quyền con người…
4.2 Phương pháp nghiên cứu của luận
Trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết
học Mác – Lênin, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp
phân tích, tổng hợp; phương pháp phân tích theo hệ thống, phương pháp kết hợp lý
luận với thực tiễn, phương pháp Logic- lịch sử; phương pháp so sánh để giải quyết
những nhiệm vụ đặt ra trong Luận án
5 Đóng góp mới của luận án
- Luận án nghiên cứu các công trình về bầu cử làm cơ sở trình bày có hệ thống cơ sở lý
luận về hoạt động bầu cử gồm: khái niệm; vai trò, nguyên tắc Xây dựng khung lý thuyết
về nguyên tắc, nội dung, quy trình bầu cử đại biểu HĐND, các nhân tố tác động; vai trò
của bầu cử đại biểu HĐND các cấp
- Trên cơ sở phân tích, đánh giá quy trình, nội dung hoạt động bầu cử đại biểu HĐND
các cấp ở Việt Nam đặc biệt chỉ ra bất cập, hạn chế trong hoạt động này cần xử lý giải quyết
trong quá trình nâng cao hoạt động bầu cử, bầu cử đại biểu HĐND các cấp
- Luận án đề xuất hệ giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động bầu cử đại biểu HĐND
ở Việt Nam trong thời gian tới đáp ứng yêu cầu phát huy vai trò của HĐND và dân chủ hóa
xã hội
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Về lý luận
Những kết quả nghiên cứu và đóng góp mới của luận án góp phần trong việc
hệ thống hoá các thông tin, các quan điểm, các học thuyết về chế độ bầu cử nói chung
và bầu cử HĐND ở Việt Nam nói riêng, từ đó góp phần làm sáng tỏ và phong phú
Trang 7thêm những vấn đề lý luận về hoạt động bầu cử HĐND và thực tế việc hoàn thiện cơ chế bầu cử HĐND các cấp ở nước ta
Luận án là công trình có ý nghĩa trong việc góp phần bổ sung những kiến thức lý luận về vị trí, vai trò, quy trình bầu cử đại biểu HĐND giúp người đọc thấy được ý nghĩa và tầm quan trọng của hoạt động này trong việc thực hiện quyền lực nhân dân, thực hành dân chủ và trong quá trình thành lập, hoạt động của nhà nước
Những kết quả nghiên cứu và kết luận rút ra từ luận án có thể được các cơ quan hữu quan từ trung ương đến địa phương sử dụng làm luận cứ khoa học, tài liệu tham khảo phục vụ việc đề ra các giải pháp phát huy quyền làm chủ của nhân dân, trong nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung (hoặc xây dựng mới) các Luật bầu cử nói chung và bầu
cử đại biểu HĐND ở nước ta trong thời gian tới
7 Kết cấu của luận án: Ngoài Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, Danh mục các công
trình đã công bố liên quan đề tài luận án và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận án gồm 4 chương, 18 tiết
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1 Các công trình nghiên cứu lý luận về bầu cử, bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân
1.1.1 Các công trình nghiên cứu lý luận về bầu cử
Bầu cử được xem là hoạt động gắn liền với chế độ dân chủ đại diện, nên vai trò của nó được đề cao trong các nền dân chủ đương đại Tính đến nay, số lượng công trình nghiên cứu về bầu cử nói chung khá phong phú và đa dạng
Có thể kể đến một số ấn phẩm tiêu biểu về bầu cử của các học giả nước ngoài như:
“Democracy and Deep-Rooted Conflict: Options for Negotiators”; “Electoral System
Design: The New International IDEA Handbook” (2005); “Women and Elections: Guide
to Promoting the Participation of Women in Elections”; “A Guide Transparency in
Trang 8Election Administration”; Buiding Confidence in U.S Election Report of the Commission
on Federal Election Reform, September; “Free and Fair Elections-New Expanded Edition”; “Electoral Management Design: The International IDEA Handbook”;
“Democracy, Conflict and Human Security: Pursuing Peace in the 21st Century”;
“Parliament and Democracy in The Twenty- First Century a Guide to Good Practice”;
Các công trình của các tác giả trong nước là: “Chế độ bầu cử của một số nước
trên thế giới”, “Chính trị học Việt Nam”; “Hệ thống bầu cử ở Anh, Mỹ và Pháp – lý thuyết và hiện thực”; “Chế độ bầu cử ở nước ta những vấn đề lý luận và thực tiễn",
“So sánh một số hệ thống bầu cử trên thế giới”, “Bầu cử trong nhà nước pháp quyền”, “Toạ đàm kinh nghiệm về bầu cử của Nhật Bản”, “Vai trò của bầu cử trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân”, “Chế độ bầu cử
(Chương X)”, Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, “Nguyên tắc cơ bản của bầu cử
nước ta hiện nay”, “Quá trình hoàn thiện pháp luật về bầu cử ở Việt Nam”…
Kết quả của các công trình nghiên cứu đã cung cấp một lượng kiến thức quan trọng về bầu cử, là nguồn tư liệu vật chất cần thiết và có thể tham khảo để triển khai nghiên cứu sâu về những nội dung trọng yếu của đề tài luận án
1.1.2 Các công trình nghiên cứu lý luận về bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân
Những tác phẩm viết về lý luận bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân phải kể
đến như: “Hồ Chí Minh với Quốc hội và Hội đồng nhân dân”, “Nhân dân giám sát
các cơ quan dân cử Việt Nam trong thời kỳ đổi mới”, “Một số vấn đề về hoàn thiện chế độ bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở Việt Nam hiện nay”, Bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XII và Hội đồng nhân dân các cấp với xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, Thúc đẩy sự tham gia của nữ giới trong quy trình bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân Việt Nam”, “Hỏi đáp về luật bầu cử Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015”, “Bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” “Bàn về quyền con người quyền công dân”, “Bàn về thực trạng và nhu cầu pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước và pháp luật về quyền con người theo Nghị quyết 48 của Bộ chính trị”, “Tham gia bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân là phương thức thể hiện ý chí, nguyện vọng, quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”…
Các công trình nghiên cứu đã tiếp cận vấn đề dưới nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn về bầu cử đại biểu HĐND ở Việt Nam Kết quả nghiên cứu đã cung cấp một cái nhìn khái quát, cơ bản về những nội dung có liên quan đến bầu cử và bầu cử đại biểu HĐND các cấp, khẳng định được vị trí quan trọng của hoạt động này trong đời sống chính trị đương đại của Việt Nam
Trang 91.2 Các công trình nghiên cứu về thực trạng, giải pháp bầu cử, bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp ở Việt Nam
Các tác phẩm tập trung bàn về thực trạng, giải pháp bầu cử đại biểu Hội đồng
nhân dân các cấp ở Việt Nam đó là: “Pháp luật bầu cử: một số vấn đề cần hoàn
thiện”, “Góp phần hoàn thiện quy trình bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở nước
ta hiện nay”, “Sự hạn chế quyền lực Nhà nước”, “Ý chí của nhân dân trong bầu cử và một vài ý kiến góp phần bảo đảm ý chí của nhân dân trong bảo đảm bầu cử ở nước ta”, “Hiệp thương và tác động của hiệp thương đến việc phát huy tính tích cực của công dân trong việc thực hiện quyền bầu cử”, “Bầu cử: bầu ai và ai bầu”, “Tự do, công bằng trong bầu cử và những liên hệ với bầu cử ở Việt Nam”, “Đổi mới công tác bầu cử để có một Quốc hội mang tính đại diện cao”, “Làm gì để đổi mới công tác bầu
cử Quốc hội ở nước ta hiện nay”, “Thực trạng và giải pháp đổi mới công tác bầu cử
ở nước ta”, “Một số ý kiến xung quanh việc sửa đổi, bổ sung luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân”, “Một số giải pháp nhằm đổi mới công tác hiệp thương lựa chọn giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân - cơ sở lý luận và thực tiễn”, “Cần xây dựng một luật qui định chung về bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân”, “Bầu cử đại biểu quốc hội và bầu cử Hội đồng nhân dân cùng thời điểm - những vấn đề cần giải quyết, “Hoàn thiện hơn nữa chế độ bầu cử đại biểu dân cử”, “Một số suy nghĩ về đổi mới chế độ bầu cử đảm bảo quyền bầu cử và ứng cử của công dân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” , “Vấn đề đổi mới chế độ bầu cử hiện nay”, “Quản lý bầu cử trên thế giới và những gợi ý cho Việt Nam”, “Hiến pháp năm 2013 và việc đổi mới chế độ bầu cử nhằm hoàn thiện chế độ dân chủ đại diện ở Việt Nam hiện nay”, “Cơ
sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện chế độ bầu cử ở nước ta phù hợp với Hiến pháp mới”, “Thi hành Hiến pháp và yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân”, “Bàn về Quốc hội và những thách thức của khái niệm”,
Trên cơ sở trình bày các vấn đề cơ bản về thực trạng bầu cử đại biểu HĐND các cấp làm cơ sở cho việc phân tích, đánh giá khái quát về quy trình, thực trạng hoạt động bầu cử hay là một vấn đề nào đó có liên quan, tác động đến hoạt động bầu cử, các nghiên cứu các nhà khoa học cũng cho thấy việc cần phải đổi mới, hoàn thiện và nâng cao chất lượng của bầu cử nói chung và bầu cử HĐND nói riêng ở nước ta hiện nay Các giải pháp đã được các tác giả trình bày rõ ràng, logic và có giá trị tham khảo cao
1.3 Đánh giá kết quả các công trình đã công bố liên quan đến đề tài và những nội dung luận án cần tiếp tục nghiên cứu
1.3.1 Đánh giá kết quả các công trình đã công bố liên quan đến đề tài luận án
Trang 10Thứ nhất, có thể thấy số lượng các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án khá phong phú và đa dạng, được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau
Thứ hai, các thông tin đa chiều từ các công trình nghiên cứu tạo nên những thuận lợi, đồng thời cũng là một thách thức lớn trong việc tìm kiếm khoảng trống cho nghiên cứu
Thứ ba, các công trình nghiên cứu về bầu cử, bầu cử đại biểu HĐND còn phân tán, dàn trải thậm chí còn trái chiều gây khó khăn cho việc kế thừa, tham khảo
Như vậy, các công trình nghiên cứu về bầu cử, bầu cử đại biểu HĐND các cấp
ở Việt Nam khá phong phú và đa dạng song vẫn chưa có những chuyên khảo mang tính hệ thống và toàn diện về lý luận và thực trạng bầu cử đại biểu HĐND trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt là sự thiếu vắng những công trình đánh giá về thực trạng và
đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động bầu cử đại biểu HĐND các cấp Chính sự thiếu vắng này đã tạo ra khoảng trống về tri thức đòi hỏi phải lấp đầy
Đây cũng là lý do để tác giả lựa chọn và thực hiện luận án: “Bầu cử đại biểu Hội
đồng nhân dân các cấp ở Việt Nam hiện nay”
1.3.2 Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu
Trên cơ sở khảo sát và tìm hiểu về tình hình nghiên cứu có liên quan đến chủ đề
luận án, tác giả nhận thấy còn rất nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ:
Thứ nhất, những vấn đề lý luận có liên quan đến hoạt động bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp ở Việt Nam
Thứ hai, những vấn đề liên quan đến thực trạng hoạt động bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp ở Việt Nam
Thứ ba, thiếu vắng những công trình có tính tổng thể về hệ giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp ở Việt Nam
Kết quả nghiên cứu phải đảm bảo xác lập đầy đủ cơ sở xác định quan điểm, giải pháp; nội dung và điều kiện thực hiện quan điểm, giải pháp Đồng thời luận án cũng cần đề xuất những kiến nghị với các cơ quan hữu quan một số vấn đề liên quan đến bầu cử đại biểu HĐND các cấp ở nước ta
Tiểu kết chương 1
Các công trình nghiên cứu lý luận về bầu cử, bầu cử đại biểu HĐND các cấp
và các công trình nghiên cứu về thực trạng, giải pháp bầu cử đại biểu HĐND các cấp
ở Việt Nam khá phong phú và đa dạng Song công trình nghiên cứu một cách sâu sắc
và toàn diện về bầu cử đại biểu HĐND các cấp chưa có Những khoảng trống của đặt
ra yêu cầu đề tài luận án có nhiệm vụ cung cấp một cái nhìn toàn diện, sâu sắc về bầu
cử, bầu cử đại biểu HĐND các cấp với những vấn đề như các nguyên tắc, nội dung,
Trang 11quy trình tổ chức của hoạt động này cùng với các nhân tố tham gia vào quá trình thực tiễn bầu cử Trên cơ sở đó để tìm ra được những giải pháp tối ưu phát huy những ưu điểm, khắc phục những hạn chế của bầu cử đại biểu HĐND các cấp để làm cơ sở cho việc xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân
ở nước ta hiện nay
Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẦU CỬ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP 2.1 Về Hội đồng nhân dân các cấp
2.1.1 Vị trí, tính chất pháp lý của Hội đồng nhân dân
113 của Hiến pháp 2013:
1 HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do dhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên
2 HĐND quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của HĐND [45]
Về tính chất pháp lý của của HĐND thể hiện ở 2 phương diện:
Một là, tính chất đại diện của Hội đồng nhân dân
Hai là, Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương
Tính chất đại diện và vị trí cơ quan quyền lực nhà nước của HĐND có quan hệ biện chứng với nhau Tính đại diện là tiền đề đảm bảo để HĐND trở thành cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương Và chỉ có thể là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, HĐND mới có đủ quyền năng thực hiện tính chất đại diện cho nhân dân, thay mặt nhân dân quyết định những vấn đề quan trọng ở địa phương
2.1.2 Chức năng của Hội đồng nhân dân
Theo Hiến pháp năm 2013, HĐND thực hiện hai loại chức năng:
Một là, quyết định những vấn đề quan trọng ở địa phương
HĐND quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước
Hai là, chức năng giám sát của Hội đồng nhân dân
Theo Luật tổ chức Chính quyền địa phương 2019 - đánh dấu một bước phát triển mới về chức năng giám sát của HĐND, góp phần nâng cao vị thế, vai trò của HĐND đó
Trang 12là: Giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của HĐND.
HĐND không chỉ là cơ quan đại diện cho đại phương mà trong hệ thống tổ chức CQĐP, HĐND còn phải thực hiện những quy định cùng những nhiệm vụ với tư cách của một cơ quan trong hệ thống các cơ quan nhà nước nói chung
2.1.3 Nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân
Với tư cách là CQĐP, HĐND các cấp có nhiệm vụ tổ chức và bảo đảm việc thi hành hiến pháp và pháp luật tại địa phương; quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước cấp trên Nhiệm vụ, quyền hạn của CQĐP được xác định trên cơ sở phân định thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương và của mỗi cấp CQĐP
Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2019 đã quy định rõ hơn về cơ cấu
tổ chức của HĐND tạo cơ sở pháp lý để củng cố, hoàn thiện tổ chức và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của HĐND các cấp Luật quy định HĐND thành phố trực thuộc trung ương được thành lập thêm Ban đô thị ở những đô thị tập trung, có quy
mô lớn, mức độ đô thị hóa cao và có nhiều điểm đặc thù khác với các địa bàn đô thị thị xã, thành phố thuộc tỉnh
2.1.4 Đại biểu Hội đồng nhân dân
2.1.4.1 Quan niệm đại biểu Hội đồng nhân dân
Hiến pháp năm 2013 quy định: Đại biểu HĐND là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa phương; liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, thực hiện chế độ tiếp xúc, báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của HĐND, trả lời những yêu cầu, kiến nghị của cử tri; xem xét, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo Bên cạnh đó, theo quy định mới của Luật Tổ chức CQĐP 2019, đại biểu HĐND phải đáp ứng điều kiện có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam
Quyền và trách nhiệm của đại biểu Hội đồng nhân dân được thực hiện Theo quy định của Luật Tổ chức HĐND và UBND, tại các điều 36, 38, 39, 40, 41 và 42 của Luật này
2.2 Về bầu cử, bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp
2.2.1 Một số vấn đề về bầu cử
2.2.1.1 Khái niệm bầu cử và hệ thống bầu cử
Hiện nay, có nhiều các quan niệm, định nghiã khác nhau về bầu cử, song các quan điểm này đều thống nhất ở những vấn đề bản chất nhất của bầu cử đó là:
Thứ nhất, bầu cử chính là một phương thức lựa chọn của người dân
Trang 13Thứ hai, bầu cử là là phương thức lựa chọn để trao quyền lực (uỷ quyền) của người dân cho những người đại diện cho mình
Có thể hiểu, bầu cử là quá trình đưa ra quyết định của người dân để chọn ra một hoặc nhiều người nắm giữ các chức vụ trong hệ thống các cơ quan nhà nước Bầu cử là cơ sở pháp lý cho việc hình thành ra các cơ quan đại diện cho quyền lực của nhà nước
Như vậy, hệ thống bầu cử và chế độ bầu cử hay hệ thống bỏ phiếu, các khái niệm này về cơ bản đồng nhất với nhau Theo đó, khi nói về chế độ bầu cử, hệ thống bầu cử có thể hiểu đó là một chỉnh thể các nguyên tắc, quy định bầu cử và các quan
hệ xã hội được hình thành trong quá trình này Chỉnh thể này có sự tham gia của rất nhiều các yếu tố có thể khái quát như sau:
Thứ nhất, các quy định, các nguyên tắc về trình tự, cách thức tiến hành, cách xác định kết quả bầu cử
Thứ hai, các nhân tố tham gia vào bầu cử như: đảng chính trị, các phương tiện truyền thông đại chúng, các nhóm lợi ích, cử tri (hoặc đại cử tri như một số quốc gia đặc biệt trên thế giới), các lực lượng xã hội, vấn đề tài chính trong vận động bầu cử
Thứ ba, các nhân tố khách quan khác: truyền thống lịch sử, môi trường kinh tế - văn hoá – xã hội… cũng là các yếu tố tham gia và có ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả cuối cùng của cuộc bầu cử
2.2.1.2 Vai trò của bầu cử
Bầu cử có vai trò đặc biệt quan trọng trong nền chính trị Được thể hiện trên các mặt sau:
Thứ nhất, bầu cử có vai trò thực hiện sự uỷ quyền của công dân và hợp pháp hoá chính quyền
Thứ hai, bầu cử là cơ sở của nền dân chủ, là nội dung và biểu hiện của nhà nước pháp quyền
Thứ ba, bầu cử là công cụ quan trọng để nhân dân giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước
Thứ tư, bầu cử là phương thức quan trọng để giải quyết mâu thuẫn, xung đột
xã hội bằng phương pháp hoà bình