1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân các cấp ở việt nam hiện nay

185 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 185
Dung lượng 1,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Được tiến hành lần đầu tiên vào 06/01/1946, tại Việt Nam, các cuộc bầu cử nói chung và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân HĐND các cấp có một vị trí quan trọng, là phương thức thể hiện ý

Trang 1

KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THỊ HOA LÊ

BẦU CỬ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THỊ HOA LÊ

BẦU CỬ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận án là trung thực, đảm bảo độ chuẩn xác cao nhất có thể Các tài liệu tham khảo, trích dẫn có xuất xứ rõ ràng

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình

Hà Nội, ngày… tháng… năm 2020

Tác giả

Trần Thị Hoa Lê

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

Thứ tự Chữ viết tắt Nghĩa đầy đủ

2 CHXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

Trang 5

ĐỀ LUẬN ÁN 8 1.1 Các công trình nghiên cứu lý luận về bầu cử, bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân 8 1.2 Các công trình nghiên cứu về thực trạng, giải pháp bầu cử, bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân các cấp ở Việt Nam 20 1.3 Đánh giá kết quả các công trình đã công bố liên quan đến đề tài và những nội dung luận án cần tiếp tục nghiên cứu 30

Chương 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẦU CỬ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP 34 2.1 Về Hội đồng nhân dân các cấp 34 2.2 Về bầu cử, bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp 43 2.3 Chất lượng và các nhân tố tác động đến chất lượng bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp 64

Chương 3: THỰC TRẠNG BẦU CỬ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP Ở VIỆT NAM 71 3.1 Thực trạng xác lập những quy định pháp lý về bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp 71 3.2 Thực trạng sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng và sự quản lý của chính quyền đối với bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp 77 3.3 Thực trạng về sự tham gia của công dân và vai trò của các tổ chức bầu cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân các cấp .88

Trang 6

3.4 Thực trạng công tác tuyên truyền, vận động bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp 99 3.5 Thực trạng thực hiện quy trình, thủ tục bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp ở nước ta 106 3.6 Nguyên nhân của thực trạng bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

ở nước ta hiện nay 114

Chương 4: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BẦU CỬ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP NHỮNG NHIỆM KỲ TỚI 119 4.1 Đổi mới, hoàn thiện pháp luật về bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp 119 4.2 Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, sự quản lý của chính quyền các cấp đối với bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp 125 4.3 Nâng cao ý thức, trách nhiệm của công dân; phát huy vai trò của các tổ chức bầu cử, Mặt trận tổ quốc đối với bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp 131

4.4 Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, vận động bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp 139 4.5 Hoàn thiện quy trình, thủ tục bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp 144 4.6 Kế thừa, tiếp thu có chọn lọc các giá trị, kinh nghiệm quốc tế về bầu cử phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam 146

KẾT LUẬN 154 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 156 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

biểu Hội đồng nhân dân các cấp 100

Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ tham gia hoạt động tìm hiểu và tiếp xúc cử tri trước khi tiến

hành bỏ phiếu bầu cử đại biểu HĐND các cấp của công dân 104

Bảng 4.1 Kết quả tỷ lệ khảo sát giải pháp nâng cao chất lượng bầu cử đại biểu

Hội đồng nhân dân các cấp ở Việt Nam hiện nay 132

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quyền lực chính trị là phạm trù cơ bản, giữ vị trí trung tâm của chính trị học Chính vì vậy mà chính trị học là khoa học của các quy luật, tính quy luật về đấu tranh giai cấp xoay quanh việc giành, giữ, tổ chức, thực thi và kiểm soát quyền lực chính trị trong xã hội được tổ chức thành nhà nước Ngày nay, nếu coi quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước là cái đích mà các chủ thể chính trị đều hướng đến thì bầu cử chính là con đường để đi đến cái đích quyền lực đó

Là một trong những chế định quan trọng trong hoạt động chính trị, bầu cử là quá trình đưa ra quyết định của người dân để chọn ra các cá nhân có những điều kiện cần và đủ để nắm giữ các chức vụ của chính quyền nhà nước Bầu cử được xem là cơ chế thông qua đó, các nền dân chủ đương đại phân bổ chức vụ trong bộ máy lập pháp, hành pháp, tư pháp và ở chính quyền địa phương của các quốc gia

Là cơ sở pháp lý cho việc hình thành ra các cơ quan đại diện cho quyền lực nhà nước, bầu cử có một vị trí quan trọng trong nền chính trị đương đại

Có thể khái quát các mô hình bầu cử trên thế giới đương đại, ngoại trừ tính đặc thù, bao gồm ba mô hình tiêu biểu: Mô hình bầu cử của thể chế quân chủ (gồm quân chủ đại nghị, quân chủ cộng hòa); mô hình bầu cử của thể chế cộng hòa tổng thống và mô hình bầu cử của thể chế hỗn hợp Nhìn vào thể chế bầu cử người ta có thể hiểu được sự phát triển cũng như trình độ văn minh của một chế

độ chính trị - xã hội nói chung và thể chế chính trị của các quốc gia nói riêng Cũng chính qua đây, tính chất dân chủ của hệ thống chính trị được thể hiện rõ nét, vì thông qua hoạt động bầu cử, các cơ chế giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị được bộc lộ một cách sâu sắc nhất

Trong nền chính trị hiện đại, các cuộc bầu cử tự do và công bằng chính là phương thức để đảm bảo cho việc tôn trọng các quyền tự do, dân chủ của công dân, bởi thuật ngữ bầu cử luôn gắn bó mật thiết với khái niệm dân chủ Trong một nền dân chủ, quyền lực của nhà nước chỉ được thực thi khi có sự nhất trí của người dân Cơ chế căn bản để chuyển sự nhất trí đó thành quyền lực nhà nước là

tổ chức bầu cử tự do và công bằng

Trang 9

Được tiến hành lần đầu tiên vào 06/01/1946, tại Việt Nam, các cuộc bầu cử nói chung và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp có một vị trí quan trọng, là phương thức thể hiện ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong việc xây dựng nhà nước nói chung và cơ quan đại diện – cơ quan quyền lực nhà nước từ Trung ương đến địa phương ở nước ta nói riêng Bầu cử chọn ra các đại biểu đại diện nắm giữ các chức vụ trong cơ quan dân cử của chính quyền theo quy định của hiến pháp và pháp luật Việc bầu cử ở Việt Nam hiện nay bao gồm bầu cử Quốc hội (ở Trung ương) và bầu cử đại biểu HĐND các cấp (ở địa phương) Như Điều 6 Hiến pháp Việt Nam năm 2013 đã khẳng định: “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, HĐND và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước” [27]

Thông thường, các cuộc bầu cử được tiến hành khi các cơ quan dân cử (cơ quan quyền lực nhà nước) hết nhiệm kỳ Theo quy định của Hiến pháp năm

2013, nhiệm kỳ của Quốc hội (QH) mỗi khóa là năm năm, tương tự, năm năm cũng là nhiệm kỳ của HĐND các cấp Chính vì vậy, cứ năm năm một lần, đất nước ta lại định kỳ tiến hành bầu cử QH và HĐND các cấp

Hội đồng nhân dân ở nước ta được thành lập từ cuối năm 1945 theo Sắc lệnh số 63 ngày 22 tháng 11 năm 1945 của Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (lúc đó là Hồ Chí Minh) Theo sắc lệnh này, HĐND được thành lập ở cấp xã và tỉnh bằng hình thức bầu trực tiếp của nhân dân với nhiệm kỳ khi đó chỉ 2 năm Theo điều 1 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ

ban nhân dân (năm 2003) quy định: "Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực

nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên” [73]

Hiện nay, Việt Nam đang đẩy mạnh đổi mới hệ thống chính trị, phát huy dân chủ, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa “của dân, do dân và vì dân” thích ứng với đổi mới kinh tế, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng đã nhấn mạnh “Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng lãnh

Trang 10

đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị ” [10] Nhiệm vụ này

đặt ra yêu cầu phải đổi mới, hoàn thiện thể chế bầu cử, trong đó có bầu cử đại biểu HĐND các cấp theo hướng đẩy mạnh phân quyền, phân cấp, bảo đảm tính thực quyền cho HĐND các cấp Bởi thông qua các cuộc bầu cử đại biểu QH và đại biểu HĐND, quyền công dân, quyền làm chủ của dân được thể hiện đúng với bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: Mọi quyền lực thuộc về

nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Từ năm 2001, Đảng ta đã chỉ rõ cần phải

“Nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, hoàn thiện những qui định về bầu cử, ứng cử và tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân trên cơ sở thật sự phát huy dân chủ” Để thực hiện được các mục tiêu này, một trong những giải pháp quan trọng, là xây dựng và cơ chế dân chủ, thực hiện quyền dân chủ của người dân thông qua hoạt động bầu cử nói chung và bầu

cử đại biểu HĐND nói riêng Bởi thực tế cho thấy, hoạt động bầu cử đại biểu HĐND các cấp ở nước ta mặc dù diễn ra rất sôi nổi, thu hút được đông đảo người dân tham gia, song vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế nhất định đang đặt ra và đòi hỏi phải giải quyết

Xuất phát từ những yêu cầu về mặt lý luận và thực tiễn trên, việc nghiên cứu

đề tài “Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp ở Việt Nam hiện nay” có ý

nghĩa quan trọng trong việc đánh giá và nhìn nhận đúng đắn cơ sở lý luận về bầu

cử đại biểu HĐND các cấp ở Việt Nam Phân tích thực trạng hoạt động này để chỉ

ra được những thành tựu và hạn chế để đề xuất những giải pháp phù hợp nâng cao chất lượng của hoạt động bầu cử nói chung và bầu cử đại biểu HĐND nói riêng Từ

đó, phát huy quyền và nghĩa vụ công dân trong việc bầu ra những đại biểu xứng đáng đại diện cho ý chí và nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong cơ quan quyền lực nhà nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở nước ta trong thời gian tới

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích

Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận về bầu cử và bầu cử đại biểu HĐND các cấp; đánh giá thực trạng của hoạt động bầu cử đại biểu HĐND các

Trang 11

cấp ở Việt Nam, luận án đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng

bầu cử đại biểu HĐND các cấp ở Việt Nam những nhiệm kỳ tới

2.2 Nhiệm vụ

Để hoàn thành mục đích nghiên cứu trên, đề tài có nhiệm vụ:

1) Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

2) Nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về HĐND các cấp và bầu

cử đại biểu HĐND các cấp

3) Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động bầu cử đại biểu HĐND các

cấp ở Việt Nam

4) Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng bầu cử đại biểu HĐND các

cấp ở Việt Nam những nhiệm kỳ tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án đó là những vấn đề lý luận và thực

tiễn về bầu cử đại biểu HĐND các cấp ở Việt Nam

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Nội dung của Luận án tập trung nghiên cứu hoạt động bầu cử đại biểu

HĐND các cấp ở Việt Nam

- Không gian nghiên cứu của Luận án: Hoạt động bầu cử đại biểu HĐND

các cấp ở Việt Nam (cấp tỉnh, huyện, xã)

- Thời gian nghiên cứu của Luận án: Luận án nghiên cứu hoạt động bầu cử

đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ: 2011 – 2016; 2016 – 2021 (từ 2011 đến nay)

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận của luận án

Luận án dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí

Minh, quan điểm của Đảng về bầu cử, bầu cử đại biểu HĐND các cấp

Bên cạnh đó, luận án cũng tiếp thu có chọn lọc những kết quả nghiên cứu về

bầu cử đại biểu HĐND các cấp của các công trình nghiên cứu đã công bố

Luận án cũng sử dụng cách tiếp cận nghiên cứu của một số lý thuyết về bầu cử;

lý thuyết dân chủ chính trị; lý thuyết về chủ quyền nhân dân; lý thuyết về xây dựng

nhà nước pháp quyền, về tự do, dân chủ, quyền con người…

Trang 12

4.2 Phương pháp nghiên cứu của luận

Trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết học Mác – Lênin, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp phân tích theo hệ thống, phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, phương pháp Logic- lịch sử; phương pháp so sánh để giải quyết những nhiệm vụ đặt ra trong Luận án

Chương 1: Tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, phương pháp phân tích tài liệu nhằm chỉ ra những giá trị mà các kết quả nghiên cứu đạt được, so sánh và khái quát thành những đánh giá và quan điểm của tác giả về vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Để xây dựng khung lý thuyết, tác giả luận án sử dụng các phương pháp phân tích theo hệ thống, phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn; phương pháp so sánh, tổng hợp

Chương 3: Để đánh giá thực trạng hoạt động bầu cử đại biểu HĐND các cấp, tác giả luận án sử dụng phương pháp logic - lịch sử, phân tích, so sánh, phương pháp nghiên cứu hệ thống; phương pháp cấu trúc chức năng, phương pháp thống kê để đánh giá thực hiện cơ chế pháp lý thực hiện hoạt động bầu cử đại biểu tại HĐND các cấp Đặc biệt là phương pháp điều tra xã hội học, lấy địa bàn khảo sát điểm là thành phố Hà Nội, thực hiện với 480 phiếu Với phương pháp và kết quả nghiên cứu này đã được tác giả sử dụng trong các nội dung thuộc chương 3 và chương 4 của luận án

Chương 4: Tác giả sử dụng phương pháp so sánh, phân tích tổng hợp, lý thuyết hệ thống nhằm chỉ ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động bầu cử đại biểu HĐND ở Việt Nam trong thời gian tới

5 Đóng góp mới của luận án

Luận án đã đóng góp một phần vào xây dựng hướng nghiên cứu mới và rõ hơn về bầu cử đại biểu HĐND các cấp ở Việt Nam trên các nội dung:

- Luận án nghiên cứu các công trình về bầu cử làm cơ sở trình bày có hệ thống cơ sở lý luận về hoạt động bầu cử gồm: khái niệm; vai trò, nguyên tắc Xây dựng khung lý thuyết về nguyên tắc, nội dung, quy trình bầu cử đại biểu HĐND, các nhân tố tác động; vai trò của bầu cử đại biểu HĐND các cấp

Trang 13

- Trên cơ sở phân tích, đánh giá quy trình, nội dung hoạt động bầu cử đại biểu HĐND các cấp ở Việt Nam đặc biệt chỉ ra bất cập, hạn chế trong hoạt động này cần xử lý giải quyết trong quá trình nâng cao hoạt động bầu cử, bầu cử đại biểu HĐND các cấp

- Luận án đề xuất hệ giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động bầu cử đại biểu HĐND ở Việt Nam trong thời gian tới đáp ứng yêu cầu phát huy vai trò của HĐND và dân chủ hóa xã hội

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Luận án là công trình có ý nghĩa trên các mặt sau đây:

6.1 Về lý luận

Những kết quả nghiên cứu và đóng góp mới của luận án góp phần trong việc hệ thống hoá các thông tin, các quan điểm, các học thuyết về chế độ bầu cử nói chung và bầu cử HĐND ở Việt Nam nói riêng, từ đó góp phần làm sáng tỏ

và phong phú thêm những vấn đề lý luận về hoạt động bầu cử HĐND và thực tế việc hoàn thiện cơ chế bầu cử HĐND các cấp ở nước ta

Luận án là công trình có ý nghĩa trong việc góp phần bổ sung những kiến thức lý luận về vị trí, vai trò, quy trình bầu cử đại biểu HĐND giúp người đọc thấy được ý nghĩa và tầm quan trọng của hoạt động này trong việc thực hiện quyền lực nhân dân, thực hành dân chủ và trong quá trình thành lập, hoạt động của nhà nước

6.2 Về thực tiễn

Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo đối với các nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách, quản lý hoặc giảng dạy về chính trị học, về nhà nước và pháp luật

Kết quả luận án có thể được sử dụng phục vụ cho hoạt động đào tạo học viên cao học, sinh viên đại học tại các cơ sở đào tạo ngành chính trị học và các ngành khoa học xã hội có liên quan

Những kết quả nghiên cứu và kết luận rút ra từ luận án có thể được các cơ quan hữu quan từ trung ương đến địa phương sử dụng làm luận cứ khoa học, tài liệu tham khảo phục vụ việc đề ra các giải pháp phát huy quyền làm chủ của nhân dân, trong nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung (hoặc xây dựng mới) các Luật bầu

cử nói chung và bầu cử đại biểu HĐND ở nước ta trong thời gian tới

Trang 14

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu nghiên cứu Luận án gồm 4 chương, 18 tiết

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Chương 2: Một số vấn đề lý luận về bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp Chương 3: Thực trạng bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp ở Việt Nam Chương 4: Giải pháp nâng cao chất lượng bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp ở Việt Nam nhưng nhiệm kỳ tới

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ LUẬN ÁN

1.1 Các công trình nghiên cứu lý luận về bầu cử, bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân

1.1.1 Các công trình nghiên cứu lý luận về bầu cử

Trên phạm vi thế giới, các cuộc bầu cử dân chủ bắt đầu được tổ chức từ thế

kỷ 17 ở Tây Âu và Bắc Mỹ Và ngay khi hoạt động này được tiến hành thì những nghiên cứu về bầu cử của các nhà khoa học cũng ra đời Bầu cử được xem là hoạt động gắn liền với chế độ dân chủ đại diện, nên vai trò của nó được

đề cao trong các nền dân chủ đương đại Tính đến nay, số lượng công trình nghiên cứu về bầu cử nói chung khá phong phú và đa dạng

Có thể kể đến một số ấn phẩm tiêu biểu về bầu cử của các học giả nước ngoài như:

Nghiên cứu của tập thể các tác giả Mark Anstey, Christopher Bennett, David Bloomfield, K M de Silva, Nomboniso Gasa, Yash Ghai, Peter Harris, Luc Huyse, Rasma Karklins, Michael Lund, Charles Nupen, David M Olson, Anthony J Regan, Ben Reilly, Andrew Reynolds, Carlos Santiso và Timothy D

Sisk (1998) với ấn phẩm “Democracy and Deep-Rooted Conflict: Options for

Negotiators” do International IDEA (International Institute for Democracy and

Electoral Assistance – Viện Quốc tế về dân chủ và hỗ trợ bầu cử) xuất bản Trên

cơ sở làm rõ bốn vấn đề của các chế độ chính trị - xã hội hiện nay: (1) – Bản chất thay đổi của xung đột và quản lý xung đột; (2) – Phân tích xung đột; (3) Quy trình đảm phán; (4) Các đòn bẩy dân chủ để quản lý xung đột Các nhà nghiên cứu của công trình này chỉ rõ rằng, việc lựa chọn một chế độ bầu cử phù hợp đối với từng quốc gia có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giải quyết mang tính gốc rễ các xung đột xã hội bằng phương pháp hòa bình

Denis Petit (2000), Resolving Election Disputes in the OSCE Area:

Towards a Standard Election Dispute Monitoring System, ODIHR Rule of Law Expert, Warsaw, 2000, © OSCE/ODIHR Tác giả cho rằng, trong những năm

Trang 16

gần đây, cộng đồng quốc tế ngày càng tập trung vào các cuộc tranh chấp bầu cử Điều này xuất phát từ kết quả của những tranh cãi về các hoạt động bầu cử chính trị và cảm giác không tin tưởng vào các thủ tục khiếu nại và khiếu nại ở nhiều quốc gia Không chỉ có hệ thống tư pháp và các cơ quan bầu cử mâu thuẫn với nhau mà sự khác biệt và sơ sở trong luật pháp của các quốc gia cũng là nguyên nhân dẫn đến việc không rõ ràng trong việc giải quyết các khiếu nại của cử tri Chính vì vậy, Báo cáo đã dựa trên kết quả của Chương trình Tiêu chuẩn Bầu cử quốc tế của OSCE cho các tổ chức dân chủ và quyền con người (1998) nhằm phác thảo các phương pháp tối ưu nhất trong việc giải quyết các tranh chấp, xung đột trong quá trình bầu cử và sau bầu cử taị các quốc gia

Các nhà nghiên cứu của International IDEA bao gồm: Andrew Reynolds,

Ben Reilly and Andrew Ellis With José Antonio Cheibub, Karen Cox, Dong Lisheng, Jørgen Elklit, Michael Gallagher, Allen Hicken, Carlos Huneeus, Eugene Huskey, Stina Larserud, Vijay Patidar, NigelS Roberts, Richard Vengroff, Jeffrey A Weldon, là đồng tác giả xuất bản ấn phẩm của chuyên khảo

“Electoral System Design: The New International IDEA Handbook” (2005) Đây

là công trình nghiên cứu chuyên sâu rất tiêu biểu về chế độ bầu cử Cuốn sách này đề cập một cách trực tiếp và toàn diện đến những vấn đề lý luận, thực tiễn

về hệ thống bầu cử ở 213 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới ở góc độ khái quát nhất về các hệ thống bầu cử phổ biến trên thế giới dựa trên tiêu chí của đơn

vị bầu cử; phân tích những ưu điểm, những hạn chế của từng hệ thống bầu cử Dựa trên cơ sở về đơn vị bầu cử, cuốn sách giới thiệu chế độ bầu cử của một số nước điển hình

Nhận thấy những hạn chế nhất định của phụ nữ trong việc tham gia vào các hoạt động và vị trí quyền lực trong hoạt động chính trị trên thế giới, Ấn phẩm

“Women and Elections: Guide to Promoting the Participation of Women in

Elections” (2005) do Liên hợp quốc xuất bản Trên cơ sở việc nhìn thấy sự hạn

chế nhất định của phụ nữ trong các cơ quan dân biểu và trong hệ thống chính trị, Nghiên cứu của Liên hợp quốc như một cẩm nang hướng dẫn việc thúc đẩy, tăng cường mở rộng sự tham gia của phụ nữ vào hoạt động bầu cử sau các xung đột chính trị - xã hội tại các quốc gia

Trang 17

Andrew Kaplan, IFES Consultant (2005), “A Guide Transparency in

Election Administration” Cuốn sách sách của tác giả có giá trị như một cẩm

nang cung cấp các thông tin nhằm phục vụ cho việc triển khai nguyên tắc minh bạch trong quá trình bầu cử và quản lý bầu cử Theo đó, tác giả khẳng định tính minh bạch rất cần thiết trong quá trình bầu cử vì nó giúp loại bỏ sự xuất hiện của khả năng gian lận trong bầu cử, làm cho các cuộc bầu cử trở nên “tự do và công bằng” hơn Tác giả cũng nói đến hai cách thức để góp phần minh bạch hơn trong quá trình bầu cử đó là phải rõ ràng, minh bạch ngay trong các điều khoản của bầu

cử, thứ hai là đi kèm với luật về bầu cử, quy tắc trong quá trình bầu cử phải luôn có

sự theo dõi, giám sát của các viên chức, cơ quan quản lý bầu cử

John S And Jame L Knight (2005), Buiding Confidence in U.S Election

Report of the Commission on Federal Election Reform, September Cuốn sách

với dung lượng 113 trang đã cung cấp một cái nhìn sâu sắc và toàn diện về cách thức xây dựng niềm tin trong các cuộc bầu cử tại Mỹ của Uỷ ban cải cách bầu cử Liên bang Công trình đã nêu lên 10 vấn đề quan trọng trong quá trình bầu cử tại Mỹ bao gồm: Mục tiêu và thách thức đối với chế độ bầu cử; Đăng

ký và Nhận diện cử tri; Công nghệ bầu cử; Cách thức để mở rộng quyền truy cập bầu cử; Cải thiện sự toàn vẹn của phiếu bầu cử; Quản lý bầu cử; Phạm vi truyền thông trong bầu cử Giám sát bầu cử; Lựa chọn các ứng cử viên và Tổng tuyển cử

Nghiên cứu của tác giả Guy S Goodwin - Gill với cuốn sách “Free and

Fair Elections-New Expanded Edition” (2006), do Liên minh Nghị viện thế giới

xuất bản, dưới sự tài trợ của International IDEA Công trình nghiên cứu đã dựa

trên trên cơ cở các văn kiện quốc tế, đặc biệt là Tuyên bố về tiêu chuẩn cho bầu

cử tự do và công bằng (The Declaration on Criteria for Free and Fair Elections)

do Liên minh Nghị viện thế giới thông qua tại phiên họp lần thứ 154 vào ngày 26/3/1994 tại Paris làm cơ sở để mang phân tích và mang đến một cái nhìn tương đối toàn diện về bầu cử tự do và công bằng Công trình cũng nói đến các biểu hiện cụ thể của hoạt động bầu cử dưới dạng các quyền, nghĩa vụ của các ứng cử viên, các đảng phái chính trị, các cách thức tổ chức bầu cử, trách nhiệm

và đảm bảo của nhà nước cho bầu cử tự do và công bằng

Trang 18

Các học giả Alan Wall, Andrew Ellis, Ayman Ayoub, Carl W Dundas,

Joram Rukambe, Sara Staino (2006) với công trình “Electoral Management

Design: The International IDEA Handbook” Cuốn sách khẳng định: Sự lựa

chọn của hệ thống bầu cử là một trong những quyết định thể chế quan trọng đối với bất kỳ nền dân chủ nào Trong hầu hết các trường hợp, sự lựa chọn của một

hệ thống bầu cử cụ thể có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống chính trị tương lai của đất nước; Từ đó, nghiên cứu đã đề cập đến các cách thức tổ chức bầu cử, những nguyên tắc tổ chức, quản lý để các cuộc bầu cử đảm bảo tính khách

quan, trung thực

Judith Large, Timothy D Sisk (2006) thể hiện trong tác phẩm “Democracy,

Conflict and Human Security: Pursuing Peace in the 21st Century” Nội dung

của công trình nghiên cứu chia thành hai tập, trong đó tập 1 các tác giả đi vào khám phá các cách thức thực hành dân chủ có thể góp phần vào việc quản lý xung đột đương thời và thúc đẩy việc thực hiện các mục tiêu an ninh và phát triển Tập 2 tập trung vào vấn đề bầu cử trong đóc các tác giả bàn về Vai trò của chế độ bầu cử trong việc phát huy dân chủ, xây dựng xã hội đồng thuận, đảm bảo quyền con người

Tác giả David Beetham(2006) thông qua tác phẩm “Parliament and

Democracy in The Twenty- First Century a Guide to Good Practice”(2006) Đây

là một cuốn sách có giá trị như một cuốn cẩm nang đã cung cấp một cái nhìn toàn diện và có hệ thống về vai trò trung tâm của nền dân chủ đó là Nghị viện (Quốc hội) đã phân tích vai trò của Nghị viện ( Quốc hội) - sản phẩm của chế độ bầu cử trong việc thực thi dân chủ với 5 tiêu chí đó là: tính đại diện, minh bạch, gần gũi, có trách nhiệm và hiệu quả

Ở Việt Nam, chế độ bầu cử phổ thông xuất hiện khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời vào 2/9/1945 Từ đó cho đến nay, bàn về bầu cử chính trị nói chung và bầu cử ở Việt Nam nói riêng bao gồm bầu cử Đại biểu quốc hội

và bầu cử đaị biểu Hội đồng nhân dân các cấp được các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu và các học giả giành nhiều thời gian và công sức nghiên cứu với các công trình, bài viết rất đa dạng và phong phú Có thể kể đến những công trình tiêu biểu như:

Trang 19

Vũ Hồng Anh (1997), “Chế độ bầu cử của một số nước trên thế giới”,

NXB chính trị quốc gia Hà Nội Trong cuốn sách giả Vũ Hồng Anh đã làm rõ khái niệm cơ bản đó là bầu cử và chế độ bầu cử: “Bầu cử là thủ tục mà theo đó, một nhóm người xác định (nhân dân, cử tri, tập thể, cá nhân) bầu ra một hay nhiều người để thực hiện chức năng xã hội nào đó”; Còn chế độ bầu cử là tổng thể các quan hệ xã hội có trật tự gắn với cuộc bầu cử vào cơ quan nhà nước Trung ương và địa phương Những quan hệ xã hội này hợp thành trình tự bầu

cử Bên cạnh đó, cũng trong công trình nghiên cứu này, Tác giả Vũ Hồng Anh

đã giới thiệu khái quát về các nguyên tắc cơ bản trong bầu cử cùng các phương pháp phân ghế đại biểu… để từ đó làm nền tảng cơ sở cho việc trình bày về chế độ bầu cử, của các 15 quốc gia điển hình trên thế giới như Anh, Ấn Độ,

Áo, Bỉ, Bồ Đào Nha…

Khoa Chính trị học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, “Chính trị học Việt

Nam”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009 Trong cuốn sách, ở chương 5 về

Đặc điểm thể chế chính trị Việt Nam hiện nay, bên cạnh việc phân tích về hiến pháp, Đảng Cộng sản Việt Nam, thể chế Nhà nước, các Đoàn thể nhân dân, các tác giả cũng đã bàn đến thể chế bầu cử của nước ta Trong đó nêu rõ các nguyên tắc bầu cử bao gồm: nguyên tắc phổ thông, nguyên tắc bầu cử trực tiếp, nguyên tắc bỏ phiếu kín; nguyên tắc bình đẳng; tiến trình của một cuộc bầu cử bao gồm các giai đoạn: thứ nhất, ấn định ngày bầu cử; thứ hai, thành lập hội đồng bầu cử; thứ ba, phân chia các đơn vị bầu cử; thứ tư, giới thiệu ứng cử viên; thứ năm, quá trình thành lập danh sách cử tri; thứ sáu, tiến hành bỏ phiếu; thứ bảy, kiểm phiếu

và xác định kết quả bầu cử Về bãi miễn đại biểu, khi có quá nửa tổng số cử tri đơn vị bầu cử bỏ phiếu bãi nhiệm, hoặc 2/3 tổng số đại biểu Quốc hội (đối với đại biểu Quốc hội) hoặc Hội đồng nhân dân (đối với đại biểu Hội đồng nhân dân) bỏ phiếu bãi nhiệm

Lưu Văn Quảng (2009): “Hệ thống bầu cử ở Anh, Mỹ và Pháp – lý thuyết

và hiện thực” NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Nội dung cuốn sách gồm ba

chương, chương 1 tác giả đã trình bày khái quát về những vấn đề lý luận về hệ thống bầu cử ở các nước phương tây như: khái niệm hệ thống bầu cử; chức năng của hệ thống bầu cử trong nền chính trị phương Tây hiện đại; các nguyên tắc và

Trang 20

trình tự tiến hành bầu cử; các hệ thống bỏ phiếu chính; hệ thống bỏ phiếu và những

hệ quả chính trị của nó Chương 2, tác giả đã phân tích hoạt động bầu cử ở Anh,

Mỹ và Pháp từ giai đoạn tổ chức và trình tự tiến hành bầu cử; các nhân tố tác động đến quá trình bầu cử; hành vi bầu cử của cử tri cùng những đặc trưng của những người được bầu Trên cơ sở đó, chương 3 tác giả nêu lên những giá trị phổ biến, những hạn chế của hệ thống bầu cử ở Anh, Mỹ, Pháp và những gợi mở cho việc đổi mới và hoàn thiện công tác bầu cử ở Việt Nam

Vũ Văn Nhiêm (2009), “Chế độ bầu cử ở nước ta những vấn đề lý luận và

thực tiễn", luận án Tiến sỹ ngành Lịch sử Nhà nước và Pháp luật Trên cơ sở

phân tích cơ sở lý luận về chế độ bầu cử trong xã hội dân chủ nói chung và ở Việt Nam nói riêng về: khái niệm, bản chất, vai trò của chế độ bầu cử; những nội dung cơ bản của chế độ bầu cử, như những nguyên tắc bầu cử, quyền bầu

cử, ứng cử, hiệp thương giới thiệu người ứng cử, vận động bầu cử, đơn vị bầu

cử, các tổ chức phụ trách bầu cử, phương pháp xác định kết quả bầu cử Tác giả Vũ Văn Nhiêm đã phân tích sự phát triển của chế độ bầu cử ở nước ta từ cuộc tổng tuyển cử bầu quốc dân đại hội năm 1946 đến nay Căn cứ vào những vấn đề lý luận này, đặc biệt là các nguyên tắc đã bầu cử, tác giả Vũ Văn Nhiêm làm rõ những thành tựu trong việc xây dựng, củng cố chính quyền nhân dân từ cuộc tổng tuyển cử ngày 6/1/1946 đến nay và những vấn đề còn tồn tại còn bất cập của chế độ bầu cử nước ta hiện nay Ở chương 3, tác giả phân tích tính tất yếu khách quan về sự đổi mới chế độ bầu cử, phương hướng đổi mới và hoàn thiện chế độ bầu cử, những giải pháp hoàn thiện chế độ bầu

cử trong điều kiện phát huy dân chủ, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của nước ta

Bùi Hải Thiêm (2011), “So sánh một số hệ thống bầu cử trên thế giới”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, 4/2011 Trên cơ sở khẳng định trong các nền dân

chủ đại diện hiện đaị, bầu cử là cơ chế phổ biến nhất để chọn lưạ ra người đại diện vào nắm giữu vị trí công quyền, thực thi quyền lực nhà nước Theo tác giả, xét tổng quan trên thế giới, các hệ thống bầu cử rất đa dạng và khác nhau theo từng quốc gia Tuy nhiên, dù có sự đa dạng như vậy, nhưng về đại thể, các hệ

Trang 21

thống bầu cử có thể được phân loại thành hai nhóm lớn là hệ thống bầu cử theo quy tắc tỉ lệ đại diện (Proportional Representation – PR) và hệ thống bầu cử theo quy tắc lấy đa số Trên cơ sở phân tích và so sánh hai hệ thống bầu cử này, tác giả rút ra kết luận, hai hệ thống bầu cử phổ biến trên thế giới này đều có những lợi thế và khiếm khuyết nhất định Do đó, các quốc gia nên cố gắng thiết kế hệ thống bầu cử của mình bằng cách khai thác tối đa những lợi thế của cả hai hệ thống và giảm thiểu điểm khiếm khuyết của chúng

Vũ Văn Nhiêm (2013), giáo trình“Bầu cử trong nhà nước pháp quyền”,

Trường Đại học Luật, TP Hồ Chí Minh Với công trình này, tác giả đã làm rõ những vấn đề lý luận về bầu cử, trong đó nêu lên khái niệm và bản chất của bầu cử, nguyên tắc bầu cử đương đại phổ biến, quyền bầu cử, ứng cử, đơn vị bầu cử; các tổ chức phụ trách bầu cử trong nhà nước pháp quyền Tác giả cũng phân tích những vai trò của bầu cử trong nhà nước pháp quyền như: hợp pháp hoá chính quyền, là nền tảng của dân chủ, là công cụ điều khiển mạnh mẽ của chính trị, công cụ quan trọng của nhân dân trong việc giám sát và thực hiện quyền lực nhà nước Bên cạnh những

lý luận này, tác giả chỉ ra mối quan hệ giữa đảng phái chính trị với bầu cử và các hệ thống bầu cử điển hình trên thế giới Đối với chế độ bầu cử ở Việt Nam, tác giả Vũ Văn Nhiêm đã cung cấp những kiến thức cơ bản về chế độ bầu cử ở Việt Nam từ

1945 đến nay: từ sự phát triển của chế độ bầu cử ở nước ta đến các nguyên tắc bầu cử; quyền ứng cử, hiệp thương giới thiệu người ứng cử, vận động bầu cử; đơn vị bầu cử; các tổ chức phụ trách bầu cử, công tác hướng dẫn bầu cử, phương pháp xác định bầu cử, thiết của việc đổi mới chế độ bầu cử theo phương hướng đổi mới của bộ máy nhà nước, phương hướng đổi mới chế độ bầu cử và những giải pháp đổi mới chế độ bầu cử trong điều kiện phát huy dân chủ, xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân và trong xu thế hội nhập quốc tế

Ngọc Điệp (2014), với bài viết “Toạ đàm kinh nghiệm về bầu cử của Nhật

Bản”, đăng trên báo điện tử Đại biểu nhân dân – 4/21014 Bài viết khẳng định:

bầu cử không những là hoạt động bảo đảm quyền dân chủ của công dân mà còn bảo đảm tính chính đáng của chính quyền Chính quyền do nhân dân bầu lên mới được người dân công nhận và thực sự có quyền lực Thông qua bầu cử, phải lựa chọn ra được những người tài năng, đại diện cho quyền lợi của nhân dân và

Trang 22

quốc gia Bởi thế, tổ chức hoạt động bầu cử như thế nào cũng là vấn đề phức tạp

và có tính kỹ thuật cao Trong buổi “Toạ đàm kinh nghiệm về bầu cử Nhật Bản”, các đại biểu đã nghe giới thiệu và thảo luận về nguyên tắc bầu cử, chức năng của bầu cử, chế độ bầu cử, phương pháp bầu cử, việc quản lý và kiểm soát bầu cử, hoạt động bầu cử được thể hiện trong pháp luật về bầu cử của Nhật Bản Những kinh nghiệm thực tiễn về bầu cử ở Nhật Bản chia sẻ tại tọa đàm này là một trong những cơ sở để quốc hội và các cơ quan của QH nước ta nghiên cứu, chắt lọc, tham khảo trong quá trình sửa đổi, bổ sung các Luật bầu cử đại biểu

QH và Luật bầu cử đại biểu HĐND sắp tới

Lê Minh Thông (2016) “Vai trò của bầu cử trong việc xây dựng nhà nước

pháp quyền của dân, do dân và vì dân”, Báo điện tử Quân đội nhân, tháng 5/

2016 Trong bài viết, tác giả đã khẳng định vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghiã gắn bó mật thiết với toàn bộ chế độ bầu cử; chỉ khi tổ chức tốt bầu cử mới cho chúng ta những điều kiện căn bản để tiếp tục xây dựng nhà nước pháp quyền bởi cội nguồn của nhà nước pháp quyền bắt đầu từ bầu cử Chính vì vậy, để xây dựng được nhà nước pháp quyền, cần chăm lo, chỉ đạo để mọi người dân thực hiện tốt quyền bầu cử với tư cách là quyền chính trị quan trọng bậc nhất trong các quyền công dân quy định trong hiến pháp

Thái Vĩnh Thắng, Vũ Hồng Anh (2016), “Chế độ bầu cử (Chương X)”,

Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công

an nhân dân, Hà Nội Trong nội dung của một chương của cuốn giáo trình, các tác giả tập trung vào bốn nội dung: thứ nhất, làm rõ khái niệm chế độ bầu cử là gì

và khẳng định bầu cử là một trong những chế định pháp luật quan trọng của ngành luật hiến pháp, là cơ sở pháp lí cho việc hình thành ra các cơ quan đại diện quyền lực nhà nước Thứ hai, trên cơ sở khái niệm thể chế bầu cử, hai tác giả đã chỉ ra các nguyên tắc bầu cử đó là: nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bầu cử trực tiếp, nguyên tắc bỏ phiếu kín, nguyên tắc bầu cử bình đẳng Nội dung thứ ba, tác giả nêu lên quy trình của một cuộc bầu cử với các giai đoạn cụ thể như: ấn định ngày bầu cử, thành lập hội đồng bầu cử, phân chia đơn vị bầu cử, thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử; giới thiệu ứng cử viên; vận động bầu cử và lập danh sách

cử tri; Tiến hành bỏ phiếu; kiểm phiếu và xác định kết quả của cuộc bầu cử, công

Trang 23

bố kết quả Nội dung thứ tư tác giả bàn đến việc bãi nhiệm đại biểu, trong đó nêu

rõ trong trường hợp mất tín nhiệm, đại biểu quốc hội cũng như đại biểu HĐND sẽ

bị cử tri bãi nhiệm vào bất kỳ thời gian nào Quyền bãi miễn đại biểu được ghi nhận ngay từ hiến pháp năm 1946

Vũ Văn Phúc (2016): “Nguyên tắc cơ bản của bầu cử nước ta hiện nay”, tạp

chí Cộng sản Điện tử, 5/2016 Trong bài viết tác giả Vũ Văn Phúc khẳng định với

tư cách một thiết chế bảo đảm dân chủ, hoạt động bầu cử có những nguyên tắc chung nhất, mà thể chế bầu cử ở bất cứ quốc gia cũng đều phải tuân theo Ở nước

ta, bầu cử là một định chế quan trọng của dân chủ, nền tảng hợp pháp để hình thành các chức danh, cơ quan lãnh đạo của các tổ chức thành viên hệ thống chính trị Bầu

cử là một quá trình đưa ra quyết định của công dân hoặc của thành viên một tổ chức để chọn ra các cá nhân nắm giữ các chức vụ thuộc chính quyền, thuộc ban lãnh đạo của một tổ chức, cơ quan, đơn vị nào đó Trong văn bản pháp luật, thuật ngữ “bầu cử” được hiểu là thủ tục thành lập cơ quan nhà nước hay chức danh nhà nước Các nguyên tắc bầu cử là những quy định được áp dụng cho quyền bầu cử của chủ thể (quyền bầu cử chủ động và quyền bầu cử bị động) Tác giả khẳng định nguyên tắc bầu cử là điều kiện được quy định bởi luật bầu cử của mỗi nước, mà việc thực hiện và tuân thủ quy định đó trong quá trình bầu cử quyết định tính hợp pháp của cuộc bầu cử Từ đó, tác giả tập trung phân tích 4 nguyên tắc bầu cử cụ thể của Luật bầu cử đại biểu QH và đại biểu HĐND nước ta đó là: nguyên tắc phổ thông, nguyên tắc bình đẳng, nguyên tắc trực tiếp và nguyên tắc bỏ phiếu kín

Nguyễn Quốc Sửu (2016): “Quá trình hoàn thiện pháp luật về bầu cử ở

Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản Điện tử, 5/2016 Thông qua bài viết, tác giả

Nguyễn Quốc Sửu khẳng định, bầu cử được hiểu là cách thức nhân dân trao quyền cho nhà nước và với tư cách là một chế độ dân chủ tiên tiến, nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không thể bằng một phương pháp nào khác hơn là bầu cử để thành lập ra các cơ quan của mình Cuộc bầu cử là một trong những hình thức hoạt động chính trị- xã hội quan trọng của nhân dân Bầu

cử thu hút sự tham gia đông đảo của cử tri đại diện cho các giai cấp, tầng lớp, tôn giáo, giới tính… Bởi vậy, để đạt được kết quả, các cuộc bầu cử phải được tiến hành có tổ chức, theo những trình tự chặt chẽ do pháp luật quy định Nội

Trang 24

dung của bài viết, tác giả đã trình bày một cách khái quát các văn bản pháp luật

về bầu cử ở Việt Nam (từ Hiến pháp - văn bản có hiệu lực pháp luật cao nhất đến các đạo luật như Luật bầu cử đại biểu QH năm 1997 đã được sửa đổi bổ sung vào các năm 2001, 2007, 2010; Luật bầu cử đại biểu HĐND năm 2003), và phân tích những điểm mới trong Luật bầu cử đại biểu QH và Đại biểu HĐND năm 2015 (Ngày 25-6-2015 tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật bầu cử đại biểu QH và đại biểu HĐND, có hiệu lực từ ngày 01- 9 - 2015)

1.1.2 Các công trình nghiên cứu lý luận về bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân

Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia (2001) “Hồ Chí Minh với Quốc hội và Hội

đồng nhân dân”, Hà Nội Cuốn sách tập hợp các bài phát biểu của Chủ tịch Hồ

Chí Minh về QH và HĐND, hai bản Hiến pháp 1946, 1959 và các sắc lệnh, sắc luật liên quan đến bầu cử, tổ chức và hoạt động của QH và HĐND được Người ký ban hành từ năm 1945 đến 1969 Về Bầu cử nói chung và bầu cử HĐND nói riêng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: Bầu cử QH và HĐND là một cuộc vận động chính trị quan trọng, nhằm phát huy vai trò làm chủ thật sự của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân… Do ý nghĩa thực tiễn trọng đại đó, các cuộc vận động tổ chức bầu cử phải được chuẩn bị chu đáo, nghiêm túc trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta

Đặng Đình Tân (2006), “Nhân dân giám sát các cơ quan dân cử Việt Nam

trong thời kỳ đổi mới”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006 Qua công trình

nghiên cứu, tác giả khẳng định bầu cử là phương thức vô cùng quan trọng và hữu hiệu để thông qua đó, nhân dân có thể giám sát các cơ quan dân cử của mình như

QH hay HĐND các cấp Từ đó tác giả phân tích cơ sở lý luận và thực trạng của chế

độ bầu cử nói chung và chế độ bầu cử HĐND ở Việt Nam nói riêng và chỉ ra những kết luận hữu ích và những giải pháp để nâng cao sự giám sát của nhân dân đối với các cơ quan dân cử ở Việt Nam

Vũ Thị Loan (2010), “Một số vấn đề về hoàn thiện chế độ bầu cử đại biểu Hội

đồng nhân dân ở Việt Nam hiện nay”, NXB Chính trị quốc gia Cuốn sách chuyên

khảo với 255 trang được kết cấu thành 3 chương Chương 1: tác giả đã tập trung làm rõ lý luận chung về chế độ bầu cử và chế độ bầu cử đại biểu HĐND; chương 2:

Trang 25

trên cơ sở khẳng định vai trò quan trọng của HĐND trong việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân tác giả Vũ Thị Loan đã phân tích chế độ bầu cử đại biểu HĐND

ở nước ta về sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bầu cử và bầu cử đại biểu HĐND; những quy định của pháp luật bầu cử đại biểu HĐND ở Việt Nam; thực trạng về nhận thức, hành vi của cử tri và các cơ quan tổ chức tham gia bầu cử đại biểu HĐND Bằng việc phân tích thực trạng chế độ bầu cử HĐND ở nước ta trong thời gian qua ở chương 2, chương 3 tác giả đã nêu một số quan điểm và đề xuất một số giải pháp nhằm đổi mới và hoàn thiện chế độ bầu cử HĐND ở Việt Nam, đáp ứng yêu cầu của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Phan Trung Tuấn (2011), Bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XII và Hội đồng

nhân dân các cấp với xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, Báo

dangcongsanvietnam.vn (ngày 13/5/2011) Bài viết đã tổng kết công tác bầu cử

QH khoá XII và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ ( 2004 - 2009) Từ thực trạng những thành tựu đạt được và những hạn chế của hoạt động này, tác giả đưa ra những giải pháp hoàn thiện và nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác bầu cử này đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay

Oxfam (2015), “Thúc đẩy sự tham gia của nữ giới trong quy trình bầu cử

đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân Việt Nam” Ấn phẩm đặc biệt

của Tổ chức phi chính phủ Oxfam tại Việt Nam cho thấy, trong những nhiệm kỳ qua, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực nhằm tăng số lượng và chất lượng nữ đại biểu dân cử các cấp Tuy nhên, kết quả đạt được không như chỉ tiêu đề ra và chưa phản ánh bình đẳng thực chất cơ quan dân cử Tỉ lệ nữ đại biểu QH giảm qua ba nhiệm kỳ liên tiếp và tỉ lệ nữ đại biểu HĐND các cấp tăng chậm Biên soạn cuốn tài liệu “Thúc đẩy sự tham gia của nữ giới trong quy trình bầu cử Đại biểu QH và Đại biểu HĐND ở Việt Nam” đã trình bày những cơ sở pháp lý về việc bầu cử QH

và đại biểu HĐND, quy trình bầu cử QH và đại biểu HĐND ở Việt Nam với mục tiêu: góp phần thực hiện hiệu quả Luật bầu cử 2015, thúc đẩy sự tham gia bình đẳng của nữ giới và nam giới trong quy trình bầu cử, tăng số lượng, chất lượng nữ đại biểu QH khoá XIV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021

Vũ Công Giao, Đặng Minh Tuấn (2016), “Hỏi đáp về luật bầu cử Quốc hội

và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội,

Trang 26

2016 Với 139 trang, hai tác giả đã tập trung trình bày những nội dung cơ bản của Luật bầu cử đại biểu QH và đại biểu HĐND, thể hiện dưới hình thức hỏi - đáp, có lồng ghép giới thiệu những kiến thức cơ bản về vị trí, chức năng của QH

và HĐND với tính chất là cơ quan của QH và HĐND với tính chất là cơ quan quyền lực nhà nước, đồng thời làm rõ những nội dung mới của Luật bầu cử đại biểu QH và đại biểu HĐND năm 2015, những tình huống thường gặp khi tổ chức cuộc bầu cử và cách thức giải quyết

Ngoài ra, có thể kể đến tác giả Trần Ngọc Đường với một loạt các bài viết

và các công trình nghiên cứu như: “Bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ

nghĩa Việt Nam” tập 2, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000; “Bàn về quyền con người quyền công dân”, NXB Chính trị Quốc gia, 2004; “Bàn về thực trạng

và nhu cầu pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước và pháp luật về quyền con người theo Nghị quyết 48 của Bộ chính trị”, tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Văn

phòng Quốc hội, 2010, Số 14(175), tr.5-1; "Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

Việt Nam do Nhân dân làm chủ thể hiện xuyên suốt, nhất quán trong toàn bộ nội dung của Hiến pháp năm 2013, tạp chí Khoa học pháp lý, Đại học Luật TP Hồ

Chí Minh, 2013, Số 02(81), tr.3-7 Dù không đề cập một cách trực tiếp về bầu

cử, bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhưng khi bàn về các vấn đề như bộ máy nhà nước, quyền công dân tác giả đã ít nhiều nói đến tầm quan trọng của việc quyền lực của công dân trong bầu cử, trong kiểm tra và giám sát để xây dựng bộ máy nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và vai trò của việc phát huy dân chủ trong bộ máy nhà nước ta

Lê Trọng Hanh, Nguyễn Mạnh Hùng (2021): “Tham gia bầu cử Quốc hội

và Hội đồng nhân dân là phương thức thể hiện ý chí, nguyện vọng, quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”, Tạp

chí Tuyên giáo, 4/2021 Các tác giả khẳng định bầu cử đại biểu QH và đại biểu HĐND các cấp là các cuộc bầu cử được tiến hành dựa trên hệ thống thiết chế pháp luật vững chắc Các quy trình tổ chức đều được xây dựng một cách chặt chẽ, khoa học, đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân cũng như phù hợp với xu thế phát triển của thế giới Việc tham gia vào hoạt động bầu cử của

Trang 27

công dân dù là với tư cách là cử tri đi bầu cử hay trực tiếp tham gia ứng cử đều không chỉ là quyền lợi mà còn là nghĩa vụ của mỗi công dân; bản thân các cử tri đều có thể tự quyết định lựa chọn những đại biểu xứng đáng đại diện cho quyền lợi của mình và thực hiện các nhiệm vụ của đất nước và thay mình quyết định những vấn đề trọng đại của quốc gia, dân tộc

Qua tham khảo các công trình nêu trên cho thấy, theo cách tiếp cận ở những góc độ khác nhau, các nghiên cứu về bầu cử nói chung và bầu cử HĐND

là vô cùng cần thiết Một số nội dung, quan điểm trong các công trình là những tài liệu có giá trị tham khảo cho luận án

1.2 Các công trình nghiên cứu về thực trạng, giải pháp bầu cử, bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân các cấp ở Việt Nam

Bùi Xuân Đức (2001), “Pháp luật bầu cử: một số vấn đề cần hoàn thiện”,

Tạp chí Nghiên cứu lập pháp 7/2001 Trên cơ sở trình bày những cơ sở pháp lý của nhà nước về hoạt động bầu cử, đặc biệt trong đó, bài viết đã chú trọng phân tích khá cụ thể về những hạn chế của chế độ bầu cử hiện hành và đưa ra một số giải pháp khắc phục sự bất cập trong pháp luật bầu cử ở nước ta ở một số vấn đề như về đơn vị bầu cử, về tính đại diện, về cách thức xác định kết quả bầu cử

Lê Vương Long (2004), “Góp phần hoàn thiện quy trình bầu cử đại biểu

Hội đồng nhân dân ở nước ta hiện nay”, tạp chí Luật học, 4/2004 Bài viết đã

nêu lên những vấn đề cơ bản có liên quan đến quy trình bầu cử đại biểu HĐND các cấp ở Việt Nam đó là quyền bầu cử của cử tri trong trường hợp cử tri thay đổi nơi cư trú; ai được quyền ghi tên vào danh sách cử tri; xử lý trường hợp nhiều người có số phiếu bằng nhau; vấn đề kê khai tài sản của ứng cử viên đại biểu HĐND; vấn đề vận động bầu cử và vấ đề lập danh sách đại biểu được bầu cho các đơn vị bầu cử

Nguyễn Đăng Dung (2006), “Sự hạn chế quyền lực Nhà nước”, NXB Đại học

Quốc gia, Hà Nội, 2006 Cuốn sách bàn về cách thức hướng đến sự hạn chế đối với quyền lực nhà nước Trong đó, tác giả cũng chỉ ra rằng, bầu cử chính là phương thức quan trọng để ngăn ngừa sự độc đoán, chuyên quyền đối với các thiết chế quyền lực Nhà nước Đây cũng là lý do tại sao các cơ quan nhà nước cũng như các đại biểu do nhân dân bầu ra phải chịu trách nhiệm trước nhân dân

Trang 28

Trần Thanh Hương (2006), “Ý chí của nhân dân trong bầu cử và một vài

ý kiến góp phần bảo đảm ý chí của nhân dân trong bảo đảm bầu cử ở nước ta”,

tạp chí Khoa học pháp luật, 4/ 2006 Tác giả bài viết khẳng định ý chí nhân dân

là bản chất của dân chủ bầu cử Ý chí nhân dân là vấn đề quan trọng của bầu

cử bởi chỉ khi bầu cử mang ý chí nhân dân thì ý nghĩa dân chủ đích thực của nó mới đạt được Nhân dân thực hiện quyền lực của mình thông qua bầu cử để lựa chon những đại biểu xứng đáng vào các cơ quan nhà nước Tuy nhiên, để bầu

cử thực sự dân chủ, bảo đảm ý chí nhân dân và góp phần hoàn thiện các nguyên tắc bầu cử ở nước ta, cần hoàn thiện nhiều hơn nữa về mặt nội dung

của pháp luật về bầu cử và phải giải quyết đồng bộ nhiều vấn đề

Trần Thanh Hương (2007), “Hiệp thương và tác động của hiệp thương đến

việc phát huy tính tích cực của công dân trong việc thực hiện quyền bầu cử”, tạp

chí Nghiên cứu lập pháp, số 4/2007 Tác giả Trần Thanh Hương đã có một bài viết rất sâu sắc về tác động của hoạt động hiệp thương trong bầu cử và ảnh hưởng, tác động của hiệp thương đối với công dân trong việc thực hiện quyền bầu cử Đây là một trong các giai đoạn thủ tục bầu cử, là quá trình cơ cấu thành phần, chọn lựa, sàng lọc và phân bổ số ứng cử viên, thống nhất danh sách đại biểu cho cử tri bầu và vận động tranh cử của ứng cử viên (tiếp xúc cử tri) trong hoạt động bầu cử QH và HĐND Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã chỉ ra những ảnh hưởng của quy trình hiệp thương giới thiệu người ứng cử đến quyền bầu cử và ứng cử của công dân Trên cơ sở phân tích những ảnh hưởng đó, tác giả đã đưa ra những kiến nghị có ý nghĩa thiết thực nhằm đổi mới hiệp thương theo hướng dân chủ hơn để phát huy một cách tối đa tính tích cực của công dân trong thực hiện quyền bầu cử

An Khánh (2007), “Bầu cử: bầu ai và ai bầu”, tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số

23, 5/2017 Ngay từ tiêu đề của bài viết, tác giả An Khánh đã nêu lên ba vấn đề quan trọng của nội dung bài viết đó là về hoạt động bầu cử, những người được bầu cử và những người bầu cử Cũng trong bài viết này, tác giả chỉ ra những bất cập trong bầu

cử QH ở nước ta hiện nay như về tiêu chuẩn của đại biểu QH; mối quan hệ giữa cơ cấu và chất lượng đại biểu, việc cung cấp thông tin về ứng cử viên cho cử tri, quyền bầu cử của cử tri, số dư trong các đơn vị bầu cử, tình trạng bỏ phiếu thay

Trang 29

Lưu Đức Quang (2007), Tự do, công bằng trong bầu cử và những liên hệ

với bầu cử ở Việt Nam”, tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 1/2007 Cùng với việc

đưa ra những tiêu chuẩn về các giá trị cơ bản cần được đảm bảo trong chế độ bầu cử, đặc biệt là hai giá trị tự do và công bằng, Tác giả Lưu Đức Quang đã liên hệ và phân tích tự do và công bằng trong các cuộc bầu cử dân biểu ở Việt Nam, đồng thời đưa ra một số giải pháp nhằm đổi mới nhận thức về bầu cử và hoàn thiện hệ thống pháp luật bầu cử ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Lưu Văn Quảng (2007), “Đổi mới công tác bầu cử để có một Quốc hội

mang tính đại diện cao”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, 21/2007 Bài viết với

việc xác định mục tiêu rõ ràng của việc đổi mới công tác bầu cử để có một QH mang tính đại điện cao, Tác giả của nghiên cứu đã chỉ ra một số giải pháp nhằm đổi mới hoạt động bầu cử ở nước ta nói chung và bầu cử QH nói riêng Trong đó, theo Tác giả, việc đổi mới nhận thức về bầu cử được xem là giải pháp quan trọng hàng đầu Bên cạnh đó, việc tạo ra cơ chế cạnh tranh, bình đẳng giữa các ứng cử viên đến việc đặt giả thiết áp dụng hình thức đơn vị bầu cử một đại diện thay thế cho đơn vị bầu cử đa đại diện hiện nay

Lưu Văn Quảng (2007), “Làm gì để đổi mới công tác bầu cử Quốc hội ở

nước ta hiện nay”, Tạp chí Mặt trận, 41/2017 Với cách đặt tiêu đề như công

trình nghiên cứu “Đổi mới công tác bầu cử để có một QH mang tính đại diện cao”, ở bài viết này, tác giả Lưu Văn Quảng một lần nữa chỉ ra những giải pháp nhằm đổi mới và nâng cao chất lượng của công tác bầu cử ở nước ta hiện nay Trong nội dung của bài viết, tác giả đã đề xuất năm giải pháp nhằm đổi mới công tác bầu cử ở nước ta hiện nay, đó là: đổi mới phương thức vận động bầu cử; tăng cường đối thoại rộng rãi, trực tiếp giữa ứng cử viên với cử tri; các ứng

cử viên cần đầu tư thời gian và trí tuệ cho việc xây dựng chương trình hành động; kiên quyết chống gian lận; chống bệnh hình thức trong bầu cử; đa dạng hoá các hình thức bỏ phiếu hướng tới cuộc bầu cử QH các khoá

Phan Xuân Sơn (2007), “Thực trạng và giải pháp đổi mới công tác bầu cử

ở nước ta”, tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 1 /2017 Trên cơ sở nêu lên các vấn

đề lý luận về bầu cử và khẳng định vị trí quan trọng của hoạt động bầu cử trong

hệ thống chính trị Việt Nam, tác giả đã phân tích sâu sắc thực trạng của công tác

Trang 30

bầu cử ở nước ta về cả những mặt đã đạt được và những hạn chế còn tồn tại để

từ đó nêu lên những giải pháp cơ bản để đổi mới công tác bầu cử ở nước ta Phan Văn Ngọc (2010), “Một số ý kiến xung quanh việc sửa đổi, bổ sung

luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân”, tạp

chí Nghiên cứu lập pháp, số 16, 8/2010 Bài viết khẳng định bầu cử đại biểu QH

và bầu cử HĐND là cách thức quan trọng để xác lập chính quyền nhà nước, là cơ chế dân chủ để thực hiện quyền lực của nhân dân Bằng chế độ bầu cử, nhân dân trực tiếp thực hiện quyền làm chủ của mình đối với việc tham gia xây dựng bộ máy nhà nước Tác giả cho rằng, Luật bầu cử đại biểu QH, Luật bầu cử đại biểu HĐND hiện hành là cơ sở pháp lý để tổ chức thắng lợi các cuộc bầu cử đại biểu

QH khoá XI và khoá XII và cuộc bầu cử HĐND các cấp nhiệm kỳ 2004 – 2009 Tuy nhiên, quá trình áp dụng các văn bản pháp luật này trong thực tiễn hai cuộc bầu cử đó cho thấy vẫn còn những hạn chế, bất cập nhất định Chính vì lẽ đó, việc sửa đổi, bổ sung Luật bầu cử đại biểu QH và Luật bầu cử HĐND hiện hành là hết sức cần thiết nhằm khắc phục những bất cập này, bảo đảm tổ chức thành công các cuộc bầu cử đại biểu QH và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ tiếp theo Tác giả nêu lên các phương án sửa đổi, bổ sung Luật bầu cử đại biểu QH và Luật bầu cử đại biểu HĐND; về quyền bầu cử, quyền ứng cử; về tổ chức Hội nghị hiệp thương; về đơn vị bầu cử, số dư người ứng cử; về ngày bầu cử và trình tự ứng cử;

về cách xác định kết quả bầu cử…

Trần Ngọc Nhẫn (2010), “Một số giải pháp nhằm đổi mới công tác hiệp

thương lựa chọn giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân - cơ sở lý luận và thực tiễn”, tạp chí Mặt trận, số 84, 10/2010 Tác giả

bài viết cho rằng, trong nhiệm vụ tham gia xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là tham gia công tác bầu cử đại biểu QH, đại biểu HĐND Trong công tác bầu cử thì công tác hiệp thương lựa chọn giới thiệu người ứng cử là nhiệm vụ hàng đầu, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì công tác hiệp thương được xem là hoạt động trung tâm cốt lõi của tất cả các cuộc bầu cử đại biểu QH cũng như bầu cử đại biểu HĐND Bản chất và ý nghĩa của chế độ hiệp thương trong tất cả các cuộc bầu cử ở nước ta là dân chủ xã hội chủ nghĩa, đó là tổ chức để nhân dân tham gia trực tiếp vào quá

Trang 31

trình xây dựng chính quyền nhân dân, nay là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân Tác giả cũng đã chỉ ra những kết quả nhất định và những hạn chế, tồn tại của công tác hiệp thương trog các cuộc bầu cử đại biểu QH và đại biểu HĐND Từ đó khẳng định, việc xây dựng một văn bản hướng dẫn về quy trình hiệp thương giới thiệu người ứng cử chung cho cả hai cuộc bầu cử là phù hợp và rất cần thiết Tuy nhiên, cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung những vấn đề liên quan trực tiếp đến việc hiệp thương, lựa chọn giới thiệu người ứng cử đại biểu QH, đại biểu HĐND nhằm đổi mới công tác hiệp thương của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hồng Ngọc (2010), “Cần xây dựng một luật qui định chung về bầu cử đại biểu

Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân”, báo điện tử dangcongsanvietnam.vn,

(ngày 08/09/2010) Bài viết trên cơ sở nhấn mạnh tầm quan trọng của hoạt động bầu cử Đại biểu QH và Bầu cử Đại biểu HĐND ở nước ta trong quá trình thực hiện dân chủ và xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân đã đề xuất những quy định chung đối với các đại biểu được bầu cử nói riêng và đối với hoạt động bầu cử đại biểu QH và đại biểu HĐND nói chung

Kỷ yếu Hội thảo khoa học (2010): “Bầu cử đại biểu quốc hội và bầu cử

Hội đồng nhân dân cùng thời điểm - những vấn đề cần giải quyết” (Chủ nhiệm

đề tài: Nguyễn Đăng Dung) Trong nội dung của kỷ yếu, các bài viết của các nhà nghiên cứu đã khẳng định, từ cuộc tổng tuyển cử 1946 đến nay pháp luật về bầu

cử với nguyên tắc phổ thông bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín đã từng bước phát triển, đáp ứng yêu cầu phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước ta trong từng giai đoạn lịch sử Tuy nhiên, trong qua trình áp dụng các văn bản phát luật này trong thực tiễn bầu cử vẫn còn nhiều hạn chế, tồn tại như: về quyền bầu cử, quyền ứng cử; về phân bố người ứng cử ở các đơn vị bầu cử, số dư người ứng cử; về cách thức xác định kết quả bầu cử; về cách thức đơn vị bầu cử theo địa dư; về công tác hiệp thương

Qua những điểm đạt được và chưa đạt được của hệ thống pháp luật về bầu cử, các bài viết trong Kỷ yếu cũng đã nêu lên những kiến nghị chung về việc hoàn thiện pháp luật về bầu cử Hầu hết các tác giả đều khẳng định, về lâu dài cần phải nghiên cứu xây dựng một luật quy định chung về bầu cử đại biểu QH và bầu cử đại

Trang 32

biểu HĐND trên nền tảng hợp nhất hai luật hiện hành, tạo hành lang pháp lý thống nhất cho các cuộc bầu cử ở các nhiệm kỳ tiếp theo PGS,TS Phan Xuân Sơn đề xuất: “Đổi mới công tác bầu cử theo hướng đảm bảo nguyên tắc dân uỷ quyền có điều kiện và có thời hạn Đồng thời, cần phải xây dựng luật trưng cầu dân ý Mục đích để làm sao dân thực sự đựơc thực sự làm chủ quá trình tìm kiếm, lựa chọn người đại diện cho mình” Nghiên cứu về các nguyên tắc bầu cử, PGS, TS Vũ Văn Nhiêm cho rằng: “cần khôi phục nguyên tắc bỏ phiếu tự do, mở rộng và chú trọng hiệu quả nguyên tắc bầu cử phổ thông, bảo đảm nguyên tắc bầu cử bình đẳng” Trên cơ sở nghiên cứu về việc sửa đổi cơ sở lý luận và tổng kết những kinh nghiệm từ thực tiễn bầu cử đại biểu QH và bầu cử đại biểu HĐND hiện nay, các tác giả đã đưa ra nhiều kiến nghị về việc sửa đổi một số điều của Luật bầu cử đại biểu QH và Luật bầu cử đại biểu HĐND phục vụ cuộc bầu cử năm 2011 Cụ thể gồm các nội dung như: về danh sách cử tri; về tổ chức đơn vị bầu cử; về các tổ chức phụ trách bầu cử, về ngày bầu cử và trình tự bầu cử; về phân bố người ứng

cử ở các đơn vị bầu cử, số dư người ứng cử; về xác định kết quả bầu cử; về hiệp thương trong bầu cử

Nguyễn Minh Đoan (2011), “Hoàn thiện hơn nữa chế độ bầu cử đại biểu

dân cử”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp 2011, tr 16 – 20 Bài viết trên cơ sở chỉ ra

những nguyên nhân dẫn đến tình trạng thiếu dân chủ hoặc chưa công bằng trong bầu cử nói chung đồng thời khẳng định chế độ bầu cử, đặc biệt là bầu cử đại biểu

QH và đại biểu HĐND ở Việt Nam được xây dựng và quy định khá chặt chẽ Chế

độ bầu cử này đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển kể từ ngày thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà năm 1945 và ngày càng hoàn thiện từ việc xây dựng pháp luật đến thực tế tổ chức các cuộc bầu cử Nhìn từ các quy định pháp luật về quyền bầu cử, ứng cử của công dân, các nguyên tắc bầu cử, số lượng cử tri tham gia bầu cử và tỷ lệ số phiếu trúng cử của các đại biểu, thì có thể khẳng định chế

độ bầu cử ở Việt Nam là rất dân chủ Bài viết cho rằng để nâng cao chất lượng các cuộc bầu cử ở nước ta, cần hoàn thiện hơn nữa chế độ bầu cử, mà trước hết là các quy định pháp luật về bầu cử, từ các quy định, nguyên tắc chọn ứng cử viên, tăng số lượng ứng viên ở mỗi đơn vị bầu cử; bầu đại biểu chính thức kết hợp bầu đại biểu dự bị; tăng cường phổ biến, giáo dục cho công dân ý thức, trách nhiệm

Trang 33

trong việc lựa chọn người đại biểu cho mình; nên hạn chế chế độ kiêm chức của các đại biểu QH và đại biểu HĐND trong bộ máy nhà nước; nâng cao chất lượng của ứng cử viên đại biểu QH và đại biểu HĐND cả về năng lực và phẩm chất chính trị, đạo đức

Thái Vĩnh Thắng (2011), “Một số suy nghĩ về đổi mới chế độ bầu cử đảm

bảo quyền bầu cử và ứng cử của công dân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” ,

tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 4/2011 Công trình nghiên cứu của tác giả Thái Vĩnh Thắng đã phân tích thực trạng của chế độ bầu cử ở Việt Nam với những hạn chế bất cập, nhất định Tác giả của nghiên cứu đã chỉ ra chín vấn đề như sau: về thành lập Hội đồng bầu cử; về các ứng cử viên tự ứng cử; về vận động tranh cử; về đơn vị bầu cử; về phương pháp xác định kết quả bầu cử; về nguyên tắc bỏ phiếu tự do; về đại biểu ngoài Đảng; về mối quan hệ hiệp thương

và bầu cử trực tiếp; về tính bình đẳng của lá phiếu cử tri Trên cơ sở phân tích những hạn chế ở các giai đoạn của chế độ bầu cử, tác giả cũng đề xuất một số kiến nghị đổi mới chế độ nhằm đảm bảo quyền bầu cử, ứng cử của công dân Việt Nam trong điều kiện xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và nhà nước pháp quyền hiện nay

Nguyễn Thị Phương (2012), “Vấn đề đổi mới chế độ bầu cử hiện nay”, tạp

chí Luật học, 10/2012 Tác giả đã nêu lên quan điểm đổi mới bầu cử cần tập trung vào những nội dung cơ bản đó là: về quy định của pháp luật về quyền bầu

cử, ứng cử của công dân; về hiệp thương, giới thiệu người ứng cử đại biểu QH, đại biểu HĐND các cấp; về quyền vận động bầu cử; về các nguyên tắc bầu cử;

về kê khai tài sản của người ứng cử…

Vũ Công Giao (2013), “Quản lý bầu cử trên thế giới và những gợi ý cho

Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 20 (252) tháng 10/2013 Tác giả

Vũ Công Giao đã trình bày một cách khái quát về một số vấn đề lý luận và mô hình, tổ chức hoạt động bầu cử và quản lý tổ chức bầu cử ở một số quốc gia tiêu biểu trên thế giới như: Campuchia, Na Uy; Ấn Độ, Gruzia; để từ đó đưa ra những những gợi ý cho việc quản lý bầu cử ở Việt Nam để chọn ra những đại biểu tốt, đảm bảo chất lượng, đảm bảo tuân thủ đúng các nguyên tắc bầu cử: phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín, và đảm bảo 7 nguyên tắc định

Trang 34

hướng: độc lập, vô tư, công bằng, liêm chính, minh bạch, hiệu quả, chuyên nghiệp, khả năng cung cấp dịch vụ

Thái Vĩnh Thắng (2013): “Hiến pháp năm 2013 và việc đổi mới chế độ

bầu cử nhằm hoàn thiện chế độ dân chủ đại diện ở Việt Nam hiện nay”, tạp chí

Luật học – Đặc san 9/2014 Bài viết khẳng định vần đề đổi mới tư duy về bầu

cử được coi là vấn đề cấp bách nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng xã hội thực sự dân chủ Đổi mới chế độ bầu cử là điều kiện tiên quyết để xây dựng hệ thống

cơ quan đại diện có đủ trí tuệ và bản lĩnh đưa Việt Nam tiến lên ngang tầm các quốc gia tiên tiến trên thế giới Tác giả cũng đã nêu lên những hạn chế và bất cập của bầu cử Việt Nam hiện nay như bất cập trong thành lập hội đồng bầu cử; quy định tự ứng cử; vận động tranh cử; thiết kế đơn vị bầu cử; phương pháp xác định kết quả bầu cử; nguyên tắc bầu cử; quan hệ giữa hiệp thương và bầu cử trực tiếp… Từ những phân tích này, tác giả cho rằng cần thiết phải có những đổi mới trong nhận thức về bầu cử đồng thời phải đổi mới chế độ bầu cử

và tăng cường các điều kiện đảm bảo quyền làm chủ của người dân để hoàn thiện chế độ dân chủ ở nước ta

Uỷ ban Pháp luật của Quốc hội (2013), đề tài nghiên cứu khoa học “Cơ sở

lý luận và thực tiễn hoàn thiện chế độ bầu cử ở nước ta phù hợp với Hiến pháp mới” Nội dung nghiên cứu đề tài chỉ ra chế độ bầu cử ở nước ta được hình

thành và phát triển sau cách mạng tháng Tám năm 1945, gắn với sự ra đời, trưởng thành của chính quyền dân chủ nhân dân qua các giai đoạn cách mạng Mỗi giai đoạn được đánh dấu bằng một bản Hiến pháp mới, tiếp đó là các văn bản pháp luật, trong đó có pháp luật về bầu cử được ban hành Văn bản sau có những đổi mới, tiến bộ, hoàn thiện hơn văn bản trước, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ hơn, cụ thể hơn, phát huy dân chủ nhiều hơn để tiến hành các cuộc bầu cử đại biểu QH, đại biểu HĐND đạt kết quả tốt đẹp Kết quả nghiên cứu của hội thảo cũng chỉ ra rằng trong các cuộc bầu cử, các tổ chức phụ trách bầu cử được thành lập đúng trình tự, thủ tục, thời gian, số lượng và thành phần góp phần triển khai các công tác bầu cử kịp thời, bảo đảm tiến độ Tuy nhiên, tổ chức, hoạt động của các tổ chức phụ trách bầu cử theo quy định hiện này còn tồn tại một số hạn chế như thành phần của các tổ chức phụ trách bầu cử chưa có sự tham gia của đại

Trang 35

diện khối cơ quan tư pháp, các tổ chức xã hội- nghề nghiệp Bên cạnh đó, việc các thành viên của hội đồng bầu cử quốc gia đều hoạt động kiêm nhiệm được cho là chưa thực sự phù hợp với yêu cầu của cuộc bầu cử khách quan, công bằng

và bình đẳng Việc phân chia đơn vị bầu cử còn một số hạn chế như số lượng dân cư (cử tri) trong nhiều đơn vị bầu cử không đồng đều, số lượng đại biểu được ấn định cho một đơn vị bầu cử cũng khác nhau, số người ứng cử trong đơn

vị bầu cử cũng chênh lệch nhau về điều kiện, dẫn đến tình trạng thiếu công bằng, bình đẳng trong bầu cử Nhóm nghiên cứu đã phân tích, đánh giá một cách khái quát và tương đối đầy đủ các nội dung của chế độ bầu cử từ công bố ngày bầu cử; quyền bầu cử, ứng cử; về tiêu chuẩn đại biểu; về tổ chức phụ trách bầu cử; về đơn vị bầu cử, khu vực bỏ phiếu; cơ cấu, thành phần, phân bổ đại biểu; lập danh sách cử tri; về hiệp thương giới thiệu người ứng cử; về tuyên truyền, vận động bầu cử; về bỏ phiếu, kiểm phiếu, xác định kết quả bầu cử; đến công bố kết quả bầu cử; xác nhận tư cách đại biểu trúng cử và giải quyết khiếu nại tố cáo, xử lý vi phạm Qua những nghiên cứu sâu về thực tiễn triển khai bầu cử các nhà khoa học đã đưa ra những kiến nghị nhằm góp phần nâng cao hiệu quả, tính dân chủ trong bầu cử ở nước ta hiện nay

Nguyễn Văn Quang (2014) “Thi hành Hiến pháp và yêu cầu hoàn thiện

pháp luật về bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân”, báo Điện tử Người đại biểu

nhân dân, 4/2014 Tác giả cho rằng, trong những năm qua hoạt động của HĐND các cấp tuy đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận nhưng vẫn còn nhiều bất cập, chưa phát huy tốt vai trò cơ quan đại diện dân cử, chất lượng, hiệu quả hoạt động của đại biểu chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ Một trong những nguyên nhân ấy là do pháp luật về bầu cử đại biểu HĐND hiện nay Thực tế cho thấy, việc thực hiện pháp luật về bầu cử đại biểu HĐND đã bộc lộ những hạn chế Trước hết là chưa bảo đảm tính đồng bộ; chưa bảo đảm tính hợp lý, thống nhất, cụ thể; chưa bảo đảm kỹ thuật lập pháp, lập quy, tính khoa học Chính vì vậy, việc nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật về bầu cử đại biểu HĐND là việc làm hết sức cần thiết, nhằm thông qua bầu cử, nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình, lựa chọn được những đại biểu tiêu biểu về đạo đức, năng lực và trí tuệ - yếu tố quan trọng quyết định chất lượng, hiệu quả

Trang 36

hoạt động của HĐND - cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho

ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân địa phương như Hiến pháp

đã tiếp tục khẳng định Theo tác giả bài viết, để hoàn thiện pháp luật về bầu cử đại biểu HĐND cần: bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng đối với việc hoàn thiện pháp luật bầu cử đại biểu HĐND; nghiên cứu xây dựng bộ luật bầu cử ĐBQH và bầu cử đại biểu HĐND; hoàn thiện về đơn vị bầu cử, quy trình hiệp thương; đổi mới phương pháp xác định kết quả bầu cử đại biểu HĐND; hoàn thiện quy định về quyền ứng cử, vận động bầu cử; hoàn thiện các tổ chức phụ trách bầu cử và việc quản trị bầu cử đại biểu HĐND; nâng cao vai trò của tư pháp trong bầu cử đại biểu HĐND

Nguyễn Sĩ Dũng (2017) “Bàn về Quốc hội và những thách thức của khái

niệm”, NXB Chính trị quốc gia Sự thật”, Hà Nội, 2017 Cuốn sách đã trình bày

những quan điểm độc đáo, sáng tạo và mới mẻ đối với những vấn đề có liên quan đến sự vận hành QH để làm cơ sở cho việc suy nghĩ về việc cải cách hệ thống chính trị, xây dựng nền quản trị quốc gia hiệu quả và hiện đại Trong đó, tác giả cũng bàn đến những vấn đề có liên quan đến thực trạng của công tác bầu cử cùng những giải pháp đặt ra với hoạt động này của nước ta để hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân do dân và vì dân

Nguyễn Thị Thanh (2021) “Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng trong

bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp”, Tạp chí Cộng

sản điện tử, 4/2021 Bài viết khẳng định tính tất yếu và nội dung sự lãnh đạo của Đảng trong công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp

Thanh Ngọc (2021) “Những vấn đề thực tiễn khi tiếp xúc cử tri vận động

bầu cử”, Tạp chí Cộng sản điện tử, 4/2021 Bài viết khẳng định yêu cầu khách

quan của việc tiếp xúc cử tri để nắm kiến nghị, mong muốn của cử tri, đồng thời

để qua đó các ứng cử viên thông qua chương trình hành động bộc lộ năng lực và trách nhiệm của mình trước nhân dân

Với các cách tiếp cận khác nhau, trên cơ sở trình bày các vấn đề lý luận cơ bản về bầu cử để làm cơ sở cho việc phân tích, đánh giá khái quát về quy trình, thực trạng hoạt động bầu cử hay là một vấn đề nào đó có liên quan, tác động đến hoạt động bầu cử, các nghiên cứu các nhà khoa học cũng cho thấy việc cần phải

Trang 37

đổi mới, hoàn thiện và nâng cao chất lượng của bầu cử nói chung và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nói riêng ở nước ta hiện nay Các giải pháp đã được các tác giả trình bày rõ ràng, logic và có giá trị tham khảo cao

1.3 Đánh giá kết quả các công trình đã công bố liên quan đến đề tài và những nội dung luận án cần tiếp tục nghiên cứu

1.3.1 Đánh giá kết quả các công trình đã công bố liên quan đến đề tài luận án

Trên cơ sở nghiên cứu và tìm hiểu về tình hình nghiên cứu trong và ngoài

nước liên quan đến chủ đề luận án, có thể rút ra một số nhận xét sau:

Thứ nhất, có thể thấy số lượng các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án khá phong phú và đa dạng, được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau

Kết quả của các công trình nghiên cứu đã cung cấp một lượng kiến thức quan trọng về bầu cử, bầu cử đại biểu HĐND các cấp ở Việt Nam, là nguồn tư liệu vật chất cần thiết và có thể tham khảo để triển khai nghiên cứu sâu về những nội dung trọng yếu của đề tài luận án

Dù tiếp cận vấn đề ở những khía cạnh khác nhau nhưng các công trình nghiên cứu đều khẳng định vị trí quan trọng của bầu cử trong nền chính trị hiện đại, thể hiện bản chất dân chủ của hệ thống chính trị Đặc biệt, các công trình nghiên cứu nước ngoài thống nhất trong cơ chế chính trị cạnh tranh, vai trò của bầu cử được đề cao; thậm chí, bầu cử được ví như “trái tim của dân chủ”

Ở Việt Nam, các nghiên cứu đều thống nhất cho rằng bầu cử được sử dụng là một phương thức phổ biến và dân chủ để nhân dân lựa chọn và uỷ thác quyền lực cho các thiết chế đại diện, thể hiện rõ nhất nhà nước pháp quyền của dân, do dân,

và vì dân Hoạt động bầu cử có ý nghĩa quan trọng quyết định phương thức hoạt động của nhà nước dân chủ để hướng tới mục đích vì nhân dân, góp phần xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Nghiên cứu của các tác giả đi trước cung cấp một cái nhìn cơ bản, khái quát về những vấn đề bầu cử, như khái niệm, vị trí, vai trò, nguyên tắc của bầu cử, hệ thống bầu cử của các quốc gia trên thế giới Đối với riêng bầu cử ở Việt Nam, có khá nhiều công trình nghiên cứu về chế độ, về hoạt động này ở nước ta, kết quả nghiên cứu của các tác giả đã cung cấp cho đề tài những cơ sở lý luận sâu sắc để có cái nhìn khách quan, thấu đáo về vấn đề bầu cử, bầu cử ở Việt Nam và từ đó đi nghiên cứu về bầu

cử đại biểu HĐND các cấp ở Việt Nam hiện nay

Trang 38

Khá nhiều vấn đề liên quan đến chủ đề luận án đã được làm sáng tỏ và đề tài

có thể tiếp thu, không cần phải trở lại để phân tích, lập luận làm sáng tỏ thêm

Thứ hai, các thông tin đa chiều từ các công trình nghiên cứu tạo nên những thuận lợi, đồng thời cũng là một thách thức lớn trong việc tìm kiếm khoảng trống cho nghiên cứu

Phải thừa nhận số lượng các công trình nghiên cứu về bầu cử, cơ chế bầu

cử là khá phong phú, song các công trình nghiên cứu về bầu cử đại biểu HĐND các cấp ở Việt Nam còn khá khiêm tốn và đa phần chỉ là dưới dạng lồng ghép, bổ sung cho vấn đề bầu cử Nội dung các công trình cũng mới chỉ dừng lại ở việc trình bày khái quát các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn mang tính kỹ thuật về bầu cử hoặc về chế độ, quy trình bầu cử hoặc vai trò của Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam, vai trò của hệ thống các cơ quan quản lý trong bầu cử…

Những công trình nghiên cứu tổng quan đã cung cấp một lượng kiến thức, thông tin lớn về bầu cử và quản lý bầu cử, tuy nhiên, vẫn còn thiếu vắng những công trình nghiên cứu riêng biệt, chuyên sâu về lý luận và thực tiễn hoạt động bầu cử đại biểu HĐND các cấp ở Việt Nam hiện nay

Thứ ba, các công trình nghiên cứu về bầu cử, bầu cử đại biểu HĐND còn phân tán, dàn trải thậm chí còn trái chiều gây khó khăn cho việc kế thừa, tham khảo

Trong nhiều công trình nghiên cứu đã công bố, có khá nhiều thông tin chưa thống nhất, thậm chí trái ngược là những trở ngại không nhỏ cho thực hiện đề tài luận án nhằm tạo ra sự nhận thức chung về bầu cử đại biểu HĐND, đặc biệt là rất khó khăn trong việc tìm ra những giải pháp nâng cao chất lượng của hoạt động bầu

cử ở nước ta

Như vậy, các công trình nghiên cứu về bầu cử, bầu cử đại biểu HĐND các cấp ở Việt Nam khá phong phú và đa dạng song vẫn chưa có những chuyên khảo có tính hệ thống và toàn diện về lý luận và thực trạng bầu cử đại biểu HĐND trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt là sự thiếu vắng những công trì đánh giá về thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động bầu cử đại biểu HĐND các cấp Chính sự thiếu vắng này đã tạo ra khoảng trống về tri thức đòi hỏi phải lấp đầy Đây cũng là lý do để tác giả lựa

Trang 39

chọn và thực hiện luận án: “Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp ở

Việt Nam hiện nay”

1.3.2 Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu

Trên cơ sở khảo sát và tìm hiểu về tình hình nghiên cứu có liên quan đến chủ đề luận án, tác giả nhận thấy còn rất nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

cử đại biểu HĐND các cấp ở Việt Nam hiện nay Nhìn chung, khi khái quát những vấn đề lý luận phải xây dựng được khung lý thuyết của hoạt động bầu

cử đại biểu HĐND các cấp ở Việt Nam, đưa ra nội dung, quy trình hoạt động bầu cử làm cơ sở để khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động bầu cử đại biểu HĐND các cấp ở Việt Nam; đồng thời cũng đề xuất tiêu chí đánh giá chất lượng bầu cử đại biểu HĐND các cấp định hướng cho hoạt động bầu cử đại biểu HĐND trong tương lai

Thứ hai, những vấn đề liên quan đến thực trạng hoạt động bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp ở Việt Nam

Nghiên cứu cần phân tích đánh giá toàn diện về quá trình tiến hành hoạt động bầu cử đại biểu HĐND các cấp ở nước ta từ việc công bố ngày bầu cử, các tổ chức,

cơ quan phụ trách bầu cử, lập danh sách cử tri, ứng cử và hiệp thương giới thiệu người ứng cử; tuyên truyền, vận động bầu cử; bỏ phiếu bầu cử; công bố kết quả bầu cử… Từ đó, kết quả nghiên cứu phải chỉ ra những thành tựu và hạn chế, bất cập, cùng với các nguyên nhân của các thành tựu, hạn chế và những vấn đề đặt ra đối với hoạt động bầu cử đại biểu HĐND ở nước ta hiện nay làm cơ sở đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động bầu cử đại biểu HĐND các cấp

Trang 40

Thứ ba, thiếu vắng những công trình có tính tổng thể về hệ giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

đề lý luận và thực tiễn như bầu cử, khái niệm, vị trí, vai trò, nguyên tắc của bầu

cử trên thế giới và bầu cử, bầu cử đại biểu HĐND ở Việt Nam Kết quả nghiên cứu đã cung cấp một cái nhìn khái quát, cơ bản về những nội dung có liên quan đến bầu cử và bầu cử đại biểu HĐND các cấp, khẳng định được vị trí quan trọng của hoạt động này trong đời sống chính trị đương đại của Việt Nam

2 Qua tổng quan cũng cho thấy, công trình nghiên cứu một cách sâu sắc và toàn diện về bầu cử đại biểu HĐND các cấp chưa có Mặc dù những công trình được tác giả khảo cứu đã cung cấp một lượng thông tin, kiến thức đa dạng về bầu cử, tuy nhiên phải khẳng định, chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên biệt, sâu sắc và toàn diện về lý luận và thực tiễn về bầu cử đại biểu HĐND các cấp ở Việt Nam hiện nay Các công trình mới chỉ dừng lại ở việc trình bày khái quát các quy định pháp luật về bầu cử đại biểu HĐND các cấp hoặc các vấn đề riêng lẻ có liên quan đến một khía cạnh của đề tài

3 Những khoảng trống của đặt ra yêu cầu đề tài luận án có nhiệm vụ cung cấp một cái nhìn toàn diện, sâu sắc về bầu cử, bầu cử đại biểu HĐND các cấp với những vấn đề như các nguyên tắc, nội dung, quy trình tổ chức của hoạt động này cùng với các nhân tố tham gia vào quá trình thực tiễn bầu cử Trên cơ sở đó để tìm

ra được những giải pháp tối ưu phát huy những ưu điểm, khắc phục những hạn chế của bầu cử đại biểu HĐND các cấp để làm cơ sở cho việc xây dựng và hoàn thiện

bộ máy nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân ở nước ta hiện nay

Ngày đăng: 18/09/2021, 10:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Hồng Anh (1997), Chế độ bầu cử của một số nước trên thế giới, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ bầu cử của một số nước trên thế giới
Tác giả: Vũ Hồng Anh
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
2. Vũ Hồng Anh (1999), Chế độ bầu cử (Chương III), Giáo trình Luật Hiến pháp nước ngoài, Trường Đại học Luật Hà Nội (PTS. Thái Vĩnh Thắng chủ biên), Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ bầu cử (Chương III), Giáo trình Luật Hiến pháp nước ngoài
Tác giả: Vũ Hồng Anh
Nhà XB: Nhà xuất bản Công an nhân dân
Năm: 1999
3. Phạm Đức Bảo (1991), “Chế độ bầu cử nước ta” (Chương IX), Giáo trình Luật Nhà nước Việt Nam, Trường Đại học Pháp lý Hà nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ bầu cử nước ta
Tác giả: Phạm Đức Bảo
Năm: 1991
4. Ban Chấp hành trung ương Đảng khoá XI (2013), Kết luận số 64 – KL/ TW ngày 28/5/2013 “Kết luận Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành trung ương khoá XI: Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới , hoàn thiện hệ thống chính trị từ trung ương đến cơ sở” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kết luận Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành trung ương khoá XI: Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới , hoàn thiện hệ thống chính trị từ trung ương đến cơ sở
Tác giả: Ban Chấp hành trung ương Đảng khoá XI
Năm: 2013
5. Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc thành phố Hà Nội (2011), Hỏi đáp về bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp
Tác giả: Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc thành phố Hà Nội
Năm: 2011
10. Khoa Chính trị học (2009), Học viện Báo chí và Tuyên truyền, “Chính trị học Việt Nam”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chính trị học Việt Nam
Tác giả: Khoa Chính trị học
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2009
11. NXB Công an nhân dân, Giáo trình Luật Hiến pháp nước ngoài, Hà Nội, 1999 12. NXB Chính trị Quốc gia (1997), Chế độ bầu cử ở các nước trên thế giới,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Hiến pháp nước ngoài", Hà Nội, 1999 12. NXB Chính trị Quốc gia (1997), "Chế độ bầu cử ở các nước trên thế giới
Tác giả: NXB Công an nhân dân, Giáo trình Luật Hiến pháp nước ngoài, Hà Nội, 1999 12. NXB Chính trị Quốc gia
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 1997
13. NXB Chính trị Quốc gia (1996) Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ) Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia (1996") Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII
14. NXB Chính trị Quốc gia (2001), Hồ Chí Minh với Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh với Quốc hội và Hội đồng nhân dân
Tác giả: NXB Chính trị Quốc gia
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia (2001)
Năm: 2001
15. NXB Chính trị Quốc gia (2001) Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ) Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia (2001") Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX"
16. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia (2006), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia (2006)"
Năm: 2006
17. NXB Chính trị Quốc gia (2015), Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân
Tác giả: NXB Chính trị Quốc gia
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia (2015)
Năm: 2015
18. NXB Chính trị Quốc gia Sự thật (2016), Xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong văn kiện Đại hội XII của Đảng. Hà Nội, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong văn kiện Đại hội XII của Đảng
Tác giả: NXB Chính trị Quốc gia Sự thật
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia Sự thật (2016)
Năm: 2016
20. Nguyễn Đăng Dung (2001), Tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương (sách chuyên khảo), Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương (sách chuyên khảo)
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Năm: 2001
21. Nguyễn Đăng Dung (2002), Hiến pháp và bộ máy nhà nước, Nhà xuất bản Giao thông vận tải, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp và bộ máy nhà nước
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: Nhà xuất bản Giao thông vận tải
Năm: 2002
22. Nguyễn Đăng Dung (2005), “Sự hạn chế quyền lực Nhà nước”, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Sự hạn chế quyền lực Nhà nước”
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
23. Nguyễn Lân Dũng (2007), Đại biểu Quốc hội - suy nghĩ từ một nhiệm kỳ, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 22(96), tháng 4/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại biểu Quốc hội - suy nghĩ từ một nhiệm kỳ
Tác giả: Nguyễn Lân Dũng
Năm: 2007
24. Bùi Xuân Đức (2004), “Chế độ bầu cử (Chương XIII)”, Giáo trình Luật hiến pháp Việt Nam của Viện Đại học Mở Hà Nội, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội . 25. Bùi Xuân Đức (2001), “Pháp luật bầu cử: một số vấn đề cần hoàn thiện”,Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 6, 07/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ bầu cử (Chương XIII)"”, Giáo trình Luật hiến pháp Việt Nam của Viện Đại học Mở Hà Nội, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội . 25. Bùi Xuân Đức (2001), “"Pháp luật bầu cử: một số vấn đề cần hoàn thiện
Tác giả: Bùi Xuân Đức (2004), “Chế độ bầu cử (Chương XIII)”, Giáo trình Luật hiến pháp Việt Nam của Viện Đại học Mở Hà Nội, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội . 25. Bùi Xuân Đức
Nhà XB: Nhà xuất bản Tư pháp
Năm: 2001
26. Bùi Xuân Đức (2007), Đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước trong giai đoạn hiện nay, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Bùi Xuân Đức
Nhà XB: Nhà xuất bản Tư pháp
Năm: 2007
27. Nguyễn Minh Đoan (2011), Hoàn thiện hơn nữa chế độ bầu cử đại biểu dân cử, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, tr. 16 – 20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện hơn nữa chế độ bầu cử đại biểu dân cử
Tác giả: Nguyễn Minh Đoan
Năm: 2011

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Cả 3 hình thức 84 17.5 - Bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân các cấp ở việt nam hiện nay
3 hình thức 84 17.5 (Trang 103)
4. Hình thức khác 1 0.2 - Bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân các cấp ở việt nam hiện nay
4. Hình thức khác 1 0.2 (Trang 182)
6. Hình thức khác 8 1.7 - Bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân các cấp ở việt nam hiện nay
6. Hình thức khác 8 1.7 (Trang 183)
đã dành thời gian để hoàn thành bảng khảo sát. - Bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân các cấp ở việt nam hiện nay
d ành thời gian để hoàn thành bảng khảo sát (Trang 185)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w