MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY HỌC VĂN BẢN NHẬT DỤNG LỚP 8 PHẦN THỨ NHẤT: MỞ ĐẦUĐặc biệt trong chương trình Ngữ văn THCS được xây dựng theotinh thần tích hợp.. Văn bản Nhật dụng trong chương trì
Trang 1MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY HỌC VĂN BẢN NHẬT DỤNG LỚP 8 PHẦN THỨ NHẤT: MỞ ĐẦU
Đặc biệt trong chương trình Ngữ văn THCS được xây dựng theotinh thần tích hợp Các văn bản được lựa chọn theo tiêu chí kiểu văn bản vàtương ứng với kiểu văn bản là thể loại tác phẩm chứ không phải là sự lựachọn theo lịch sử văn học về nội dung Ngoài yêu cầu về tính tư tưởng, phùhợp với tâm lý lứa tuổi THCS còn có nội dung là tính cập nhật, gắn kết vớiđời sống, đưa học sinh trở lại những vấn đề quen thuộc, gần gũi hàng ngày,vừa có tính lâu dài mà mọi người đều quan tâm đến
Văn bản Nhật dụng trong chương trình ngữ văn THCS mang nội dung
“gần gũi, bức thiết đối với cuộc sống trước mắt của con người và cộng đồngtrong xã hội hiện đại”, hướng người học tới những vấn đề thời sự hằng ngày
mà mỗi cá nhân, cộng đồng đều quan tâm như môi trường, dân số, sức khoẻcộng đồng quyền trẻ em Do đó những văn bản này giúp cho người dạy dễdàng đạt được mục tiêu: tăng tính thực hành, giảm lý thuyết, gắn bài học vớithực tiễn
Xuất phát từ thực tế đó tôi muốn tìm hiểu, nghiên cứu sâu hơn để trang
bị cho mình PPDH có hiệu quả những văn bản nhật dụng Văn bản nhật dụngxuất hiện ở tất cả các lớp THCS với một số nội dung (đề tài) cơ bản các nộidung từ sự cập nhật gắn kết với đời sống, đưa học sinh đến với những vấn đề vừa quen thuộc, vừa gần gũi hàng ngày, vừa có ý nghĩa lâu dài trong đời sốngtất cả các dân tộc cùng quan tâm hướng tới Khi dạy các văn bản này, đặc biệt
là các Văn bản nhật dụng ở chương trình Ngữ văn 8, tôi thường gặp nhiều bỡngỡ, khó khăn bởi nội dung đề tài mới chủ yếu là mang tính giáo dục khôkhan Giờ học văn nặng nề, học sinh thiếu hứng thú Thông qua tham khảo ý
Trang 2kiến đồng nghiệp và quá trình tìm tòi, suy nghĩ của bản thân tôi mạnh dạntrình bày quan điểm của mình sau khi đã áp dụng vào bài dạy và thấy hiệuquả khi dạy các Văn bản nhật dụng ở chương trình Ngữ văn 8.
2 Mục đích nghiên cứu
Đưa ra hướng giải quyết một số khúc mắc về kiến thức và phương phápdạy học, từ đó có thêm kinh nghiệm để dạy tốt phần văn bản Nhật dụng, đápứng nhu cầu đổi mới chương trình Ngữ văn THCS hiện nay Đặc biệt đối vớiđiều kiện của một trường học vùng hai( xã Yên Thắng) như chúng tôi, trangthiết bị dạy học tương đối đầy đủ (có phòng máy chiếu và cả mạng internet rấttiện lợi trong việc tra cứu thụng tin và tài liệu tham khảo)
3.Đối tượng nghiên cứu:
-Văn bản Nhật dụng lớp 8
4 Giới hạn, phạm vi, nội dung nghiên cứu:
- Do trình độ và thời gian có hạn nên ở đây tôi chỉ đưa ra một vài kinh nghiệmdạy văn bản Nhật dụng lớp 8.Với mong muốn góp một phần công sức nhỏ bécủa mỡnh vào việc đổi mới phương pháp dạy học Làm cho mỗi tiết dạy vănbản Nhật dụng được học sinh đón nhận hào hứng hơn Các tri thức trong vănbản Nhật dụng thấm sâu vào trí óc các em một cách tự nhiên
5 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nhiệm vụ về lý luận: Nghiên cứu tài liệu, chương trình SGK, nghiêncứu về phương pháp dạy văn bản Nhật dụng
- Nhiệm vụ thực tiễn: Nghiên cứu thực trạng của việc dạy văn bản nhậtdụng trong trường THCS Lê Quý Đôn
6 Phương pháp nghiên cứu:
Để nghiên cứu đề tài này tôi đã sử dụng những phương pháp sau:
- Phương pháp quan sát: Hình thức chủ yếu của phương pháp này là dự giờđồng nghiệp Từ đó tôi có thể phát hiện ra những ưu nhược điểm trong bàidạy của các đồng nghiệp
- Phương pháp so sánh: với phương pháp này tôi có thể phân loại, đốichiếu kết quả nghiên cứu
- Ngoài ra tôi còn sử dụng những phương pháp hỗ trợ khác như: đọc tàiliệu, thống kê, thăm dò ý kiến của học sinh, trao đổi kinh nghiệm cùng đồngnghiệp
7 Thời gian-địa điểm:
a/ Thời gian: Bắt đầu nghiên cứu tháng 8/2014
Hoàn thành tháng 11/2014b/ Địa điểm: Trường THCS Lê Quý Đôn , xã Yên Thắng , huyện Lục Yên,tỉnh Yên Bái
Trang 3PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1 Cơ sở lí luận của đề tài:
Hiện nay học sinh có xu hướng xem nhẹ học những môn xã hội nóichung, môn ngữ văn nói riêng Cũng chính vì thế mà chất lượng học văn cóchiều hướng giảm sút Học sinh không say mê, yêu thích môn học mà say mêvào những môn mang xu hướng thời cuộc như tiếng Anh, Tin học Chính
vì thế đòi hỏi người giáo viên (đặc biệt là giáo viên Ngữ văn) phải tạo đượcgiờ học thu hút học sinh, làm cho học sinh mong chờ đến giờ học Điều nàyđòi hỏi người giáo viên phải có tâm huyết với nghề nghiệp, tìm ra được nhữngthuận lợi - khó khăn trong giờ học để kịp thời uốn nắn, rút kinh nghiệm chomình
Chương trình SGK THCS đưa vào học một số văn bản mới, đó là vănbản Nhật dụng Văn bản này chiếm số luợng không nhiều (chỉ chiếm 10%trong chương trình SGK THCS), nhưng trước đó lí luận dạy học chưa từngđặt vấn đề PPDH văn bản nhật dụng Cho nên giờ giảng dạy và học tập vănbản nhật dụng gặp không ít khó khăn Nhiều ý kiến cho rằng: “chất văn” trongvăn bản nhật dụng không nhiều, nếu không chú ý dễ biến giờ Ngữ văn thànhbài thuyết minh về một vấn đề lịch sử, sinh học hay pháp luật, dẫn đến hiệuquả các tiết dạy học các loại văn bản này chưa cao
Bản thân tôi đã trực tiếp giảng dạy chương trình Ngữ văn thay sách 8năm, tôi nhận thấy mình và các đồng nghiệp còn bộc lộ rất nhiều hạn chế cả
về phương pháp và kiến thức, nhất là phương pháp dạy các văn bản Nhậtdụng
Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “ Một
số kinh nghiệm trong giảng dạy văn bản Nhật dụng lớp 8” để góp phần nângcao hiệu quả giờ dạy văn bản Nhật dụng và để học sinh yêu thích giờ họcvăn
2 Những đóng góp về mặt lý luận, về mặt thực tiễn:
- Về lí luận: Sáng kiến kinh nghiệm của tôi góp phần tìm hiểu, nghiêncứu sâu hơn và bổ sung thêm lí luận về phương pháp dạy học văn bản Nhậtdụng
-Về thực tiễn: Như đã trình bày ở trên đây chỉ là một vài kinh nghiệmdạy văn bản Nhật dụng lớp 8 nhưng tôi thiết nghĩ nó có thể là tài liệu thamkhảo cần thiết phục vụ cho việc giảng dạy văn bản Nhật dụng ở các khối lớpkhác
3 Một số đặc điểm của văn bản nhật dụng:
Trang 43.1 Khái niệm văn bản nhật dụng:
Văn bản nhật dụng là gì? Văn bản Nhật dụng không phải là một khái niệm chỉ thể loại hay kiểu văn bản Nói đến văn bản Nhật dụng trước hết là nói đến tính chất nội dung của văn bản Đó là những bài viết có nội dung gần gũi, bức thiết đối với cuộc sống trước mắt của con người và cộng đồng xã hội hiện đại như: thiên nhiên, môi trường, năng lượng, dân số, quyền trẻ em, ma tuý Văn bản Nhật dụng có thể dùng tất cả các thể loại cũng như các kiểu văn bản
3.2 Các kiểu văn bản trong văn bản Nhật dụng
Mục tiêu của môn Ngữ văn: góp phần hình thành những con người cótrình độ học vấn phổ thông cơ sở, chuẩn bị cho họ ra đời hoặc tiếp tục cho họhọc lên bậc cao hơn Đó là những người có ý thức tự tu dưỡng, biết yêuthương, qúy trọng gia đình, bạn bè; có lòng yêu nước, yêu Chủ nghĩa xã hội,biết hướng tới những tư tưởng, tình cảm cao đẹp như lòng nhân ái, tinh thầntôn trọng lẽ phải, sự công bằng, lòng căm ghét cái xấu, cái ác Đó là nhữngcon người biết rèn luyện để có tính tự lập, có tư duy sáng tạo, bước đâu cónăng lực cảm thụ các giá trị chân, thiện, mĩ trong nghệ thuật, có năng lực thựchành và năng lực sử dụng tiếng Việt như một công cụ để tư duy, giao tiếp Đócũng là những người có ham muốn đem tài trí của mình cống hiến cho sựnghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hệ thống văn bản nhật dụng trong SGK ngữ văn THCS tồn tại dướinhiều kiểu văn bản khác nhau Đó có thể là văn bản thuyết minh (Cầu LongBiên - chứng nhân lịch sử, Ca Huế trên sông Hương, Động Phong Nha),Vănbản biểu cảm (Bức thư của thủ lĩnh da đỏ, Mẹ tôi, Cổng trường mở ra), vănbản nghị luận (Đấu tranh cho một thế giới hoà bình, Tuyên bố thế giới về sựsống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em) Đó có thể là một bàibáo thuyết minh khoa học (Thông tin về ngày trái đất năm 2000, Ôn dịchthuốc lá), nhưng cũng có thể là một văn bản văn học thuộc loại tự sự (Cuộcchia tay của những con búp bê) Từ các hình thức đó, những vấn đề thời sựcập nhật của cá nhân và cộng đồng hiện đại được khơi dậy, sẽ đánh thức vàlàm giàu tình cảm và ý thức công dân, cộng đồng trong mỗi người học giúpcác em dễ hoà nhập hơn với cuộc sống xã hội mà chúng ta đang sống
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CỦA VIỆC GIẢNG DẠY
VĂN BẢN NHẬT DỤNG LỚP 8
1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Nghiên cứu về vấn đề này đó là cuốn : “Dạy học văn bản Ngữ vănTHCS theo đặc trưng phương thức biểu đạt” của tác giả Trần Đình Chung.Ngoài ra còn có một số định hướng dạy học trong SGV Ngữ văn 6,7,8,9
Trang 5Qua những tài liệu này tôi nhận thấy rằng người biên soạn sách đã đưa
ra những hướng dẫn về phương pháp dạy Tuy nhiên đó mới chỉ là phươngpháp chung không thể áp dụng đối với tất cả các vùng miền khác nhau.Vì vậykhi chọn đề tài này tôi đã cố gắng lĩnh hội các quan điểm tư tưởng từ các bàiviết mà các tác giả đề cập đồng thời đưa ra những ý kiến, quan điểm riêngnhằm góp phần làm cho người dạy có sự lựa chọn phương pháp phù hợp vớiđối tượng học sinh mà mình dạy
Khi dạy các văn bản này giáo viên cần hướng dẫn học sinh nắm đượctính chất, nội dung đặt ra từ văn bản từ đó liên hệ giáo dục tư tưởng, tình cảm
và ý thức cho học sinh trước những vấn đề mà cả xã hội quan tâm để học sinh
tự điều chỉnh trong quá trình hình thành nhân cách của bản thân
2 Thực trạng vấn đề giảng dạy văn bản Nhật dụng lớp 8 ở đơn vị:
+ Quá nhấn mạnh yêu cầu gắn kết tri thức trong văn bản với đời sống
mà giáo viên chú ý nhiều tới liên hệ thực tế, dẫn đến việc khai thác kiến thức
cơ bản chưa đầy đủ
+ Vốn kiến thức của GV còn hạn chế ,thiếu sự mở rộng
+ GV chưa vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học cũng như cácbiện pháp tổ chức dạy học nhằm gây hứng thú cho HS
+ Về phương tiện dạy học mới chỉ dừng lại ở việc dùng bảng phụ, tranhảnh minh hoạ trong khi đó có một số văn bản nếu học sinh được xem nhđoạn băng ghi hình sẽ sinh động hơn rất nhiều Nhưng do điều kiện thực tếnhà trường đó được trang bị thiết bị trình chiếu nên việc dạy học văn bản nhậtdụng càng thêm phần sinh động hơn
+ GV còn có tâm lý phân vân không biết có nên sử dụng phương phápgiảng bình khi dạy những văn bản này không và nếu có thì nên sử dụng ởmức độ như thế nào?
+ Giờ dạy tẻ nhạt, không thực sự thu hút sự chú ý của học sinh
- Năm học 2014 - 2015, tôi được phân công giảng dạy chương trìnhNgữ văn 8 nghiên cứu các Văn bản nhật dụng ở lớp 8, tôi nhận thấy có các
Trang 6nội dung cơ bản như: Vấn đề dân số, các tệ nạn xã hội như phòng chống thuốc
lá, vấn đề tương lai dân tộc và thế giới
- Các văn bản nhật dụng trong SGK Ngữ văn 8.
“Thông tin về ngày trái đất năm 2000” là văn bản thuyết minh trình bày
về tác hại của bao bì ni lông đối với môi trường và sức khoẻ con người Đãđến lúc chúng ta phải nhìn nhận lại thói quen dùng bao bì ni lông để có hànhđộng thiết thực bảo vệ môi trường sống của chúng ta bằng cách hưởng ứnglời kêu gọi: “Một ngày không dùng bao bì ni lông” Thông điệp này chính lànội dung nhật dụng của văn bản “Thông tin về ngày trái đất năm 2000”
“Ôn dịch ,thuốc lá” là một bài thuyết minh cung cấp cho bạn đọc nhữngtri thức khách quan về tác hại của thuốc lá đối với sức khoẻ và có thể làm suythoái đạo đức con người Không dừng ở đó văn bản này còn thể hiện tinh thầntrách nhiệm của người viết đối với sức khoẻ cộng đồng khi ông trực tiếp bày
tỏ thái độ đối với thuốc lá mà ông gọi là một thứ “ôn dịch”, và kiến nghị “Đãđến lúc mọi người phải đứng lên chống lại, ngăn ngừa nạn ôn dịch này”
Tác giả đã sử dụng phương pháp thuyết minh quen thuộc như: liệt kê,
so sánh, lời văn vẫn sử dụng các thuật ngữ khoa học nhưng dễ hiểu do đượcgiải thích cụ thể, kết hợp trong đó là lời bình luận mang sắc thái biểu cảm rõrệt Tất cả được viết bằng tri thức và tâm huyết của của một nhà y học nổitiếng, và điều đó làm nên sức thuyết phục của bài văn này
Ý nghĩa nhật dụng của văn bản này không chỉ là cảnh báo cho mỗingười về một nạn dịch có sức tàn phá sức khoẻ cộng đồng, gây thành tệ nạnxã
hội mà còn góp phần cổ động cho chiến dịch truyền thông chống hút thuốc láđang diễn ra rộng khắp hiện nay
“Bài toán dân số” từ câu chuyện vui về một bài toán cổ liên hệ sangchuyện không vui về việc gia tăng dân số trên trái đất bằng một tính toánlogic sau: Một bàn cờ có 64 ô, nếu số thóc trong mỗi ô tăng theo cấp số nhâncông bội là 2 thì tổng số thóc nhiều tới mức có thể phủ kín bề mặt trái đất =>trái đất lúc đầu chỉ có 2 người, nếu loài người cũng tăng theo cấp số nhân ấythì tổng dân số sẽ đạt ô thứ 33 (năm1995) và ô thứ 34 (năm 2015) => nếu cứ
để dân số tăng như thế thì đến một ngày 64 ô của bàn cờ sẽ bị lấp kín và khi
đó mỗi người chỉ còn một chỗ ở với diện tích như một hạt thóc trên trái đất
Trang 7Mục đích của sự tính toán này là báo động về nguy cơ bùng nổ và giatăng dân số của thế giới Vì thế “Bài toán dân số” được xem là một văn bảnnhật dụng phục vụ cho chủ đề “dân số và tương lai của nhân loại” Bài toánnày càng có ý nghĩa thời sự đối với các nước chậm phát triển, trong đó có ViệtNam.
Về hình thức, “Bài toán dân số” là một văn bản nghị luận sử dụngphương thức lập luận bằng hình thức luận cứ Nhưng bài nghị luận xã hội này
dễ hiểu bởi sự đan cài rất tự nhiên của phương thức tự sự
Căn cứ vào đặc trưng yêu cầu của các nội dung như vậy tôi đã thiết kếbài dạy theo định hướng như sau:
BÀI 10: TIẾT 39: THÔNG TIN VỀ NGÀY TRÁI ĐẤT NĂM 2000
A Mục tiêu bài học
Thông qua văn bản học sinh thấy được:
- Tác hại của việc dùng bao ni lông và lợi ích của việc giảm thiểu chấtthải ni lông từ đó thầy được ý nghĩa của việc bảo vệ môi trường là hết sức tolớn của hành động tưởng như bình thường: Một ngày không dùng bao ni lông
- Tích hợp với phần Tiếng Việt ở "Tình thái từ" và Tập làm văn ở Văn bảnthuyết minh
- Giáo dục học sinh ý thức bảo vệ môi trường ở địa phương
B Các hoạt động dạy học:
1) Ổn định:
2) Kiểm tra bài cũ:
3) Bài mới:
Hoạt động 1: Khởi động,giới thiệu
bài:
Hoạt động 2: Đọc, hiểu văn bản I TÌM HIỂU CHUNG:
Giáo viên hướng dẫn đọc, đọc mẫu
- Gọi học sinh đọc:
- HS Nhận xét
? Dựa vào nội dung( chủ đề và đề tài)
cho biết văn bản này thuộc kiểu văn
bản nào?
- Văn bản có thể chia thành mấy phần?
- Văn bản Nhật dụng
- 3 phần
Trang 8- Văn bản gồm 3 phần
Phần 1: Từ đầu đến "bao ni lông":
Thông báo về ngày trái đất
Phần 2: Tiếp đến "đối với môi trường":
Tác hại và biện pháp hạn chế việc sử
dụng bao ni lông
Phần 3: Phần còn lại: Kiến nghị về
việc bảo vệ môi trường trái đất
II TÌM HIỂU VĂN BẢN
1 Thông báo ngày trái đất
GV : Ngày trái đất là ngày nào hàng
năm?
GV: Tổ chức "ngày trái đất" có bao
nhiêu nước tham gia?
- Tổ chức ngày trái đất+ 22 - 4 hàng năm+ 141 nước tham gia + Việt Nam tham gia năm 2000 với chủđề: Một ngày không sử dụng bao ni lôngGV: Em có nhận xét gì về các sự kiện
GV: Việc sử dụng không có kế hoạch
có thể gây tới những tác hại gì?
Trang 9gây ung thư.
+ Gây khó thở và dị tật cho trẻ sơ sinhGV: Bài viết sử dụng nghệ thuật gì để
nói lên tác hại đó? Tác dụng của nghệ
GV: Sau khi tiếp thu những thông tin
này em thấy được tác hại của việc
dùng bao ni lông như thế nào?
- Ô nhiễm môi trường, phát sinh nhiềubệnh hiểm nghèo dẫn đến chết người
GV: Theo em làm cách nào để tránh
được những hiểm hoạ đó?
- Học sinh tự bộc lộ
GV: Để hạn chế những tác hại của bao
ni lông, người viết trong bài đã đưa ra
những biện pháp gì?
- Biện pháp hạn chế:
+ Thay đổi thói quen dùng bao ni lông.+ Không sử dụng khi không cần thiết+ Trình bày những hiểu biết về tác hạicủa bao ni lông cho mọi người
GV: Theo em biện pháp nào có hiệu
3 Kiến nghị về việc bảo vệ môi trường
GV: Bài viết đã đưa ra những kiến
nghị nào?
- Mọi người hãy bảo vệ trái đất trướcnguy cơ ô nhiễm môi trường đang giatăng
Hoạt động cụ thể của chúng ta: Mộtngày không dùng bao ni lông
GV: Tại sao nhiệm vụ chung lại đưa
lên trước, hành động cụ thể lại nêu
sau?
- Đây là nhiệm vụ to lớn, thường xuyên,lâu dài còn việc hạn chế sử dụng bao nilông là việc trước mắt
GV : Từ "hãy" có tác dụng gì? - Tạo ra những câu cầu khiến nhằm
khuyên bảo, yêu cầu mọi người hạn chế
Trang 10dùng bao ni lông góp phần giữ gìn sựtrong sạch của môi trường.
GV : Các phần của văn bản được nối
với nhau bằng những từ nào? Có tác
GV: Dựa vào cách trình này, em thấy
văn bản này có khác với các văn bản
đã học không?
- Khác
Giáo viên: Đó chính là văn bản thuyết
minh Một thể loại mới các em sẽ được
2 Nội dung:
GV: Nêu nội dung chính của văn bản? - Tác hại của việc sử dụng bao ni lông
- Hạn chế sử dụng bao ni lông, góp phầnvào việc bảo vệ môi trường
Hoạt động 4: Luyện tập, củng cố.
- Hệ thống lại kiến thức toàn bài
Làm các bài tập
Chuẩn bị bài kiểm tra
- Hệ thống lại kiến thức toàn bài
Làm các bài tập
Chuẩn bị bài kiểm tra
Sau khi dạy xong văn bản này Trong giờ tự chọn văn tôi đã thử tự khảo sátchất lượng Qua khảo sát tôi đã có kết quả như sau:
Trang 1151 Yếu 8 7,2 %
2.2 Đánh giá thực trạng
Nguyên nhân của thực trạng trên là:
- Văn bản nhật dụng mới được đưa vào giảng dạy, số lượng văn bảnkhông nhiều nên GV còn thấy rất mới mẻ, ít có kinh nghiệm, lúng túng vềphương pháp
- Nhà trường có máy chiếu nhưng việc mở rộng kiến thức cho các em bằnghình ảnh cũn hạn chế.( chủ yếu thông qua tranh ảnh giáo viên tự sưu tập – inảnh trên mạng về- chỉ dừng lại ở việc khai thác ảnh “câm”)
- Chưa xác định đúng mục tiêu đặc thù của bài học văn bản Nhật dụng
- Chưa có ý thức sưu tầm tư liệu có liên quan đến văn bản như tranh ảnh,văn thơ để bổ sung cho bài học thêm phong phú
CHƯƠNG III: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
Với một mong muốn các tiết dạy văn bản Nhật dụng được các em đón nhậnmột cách hào hứng, các em thực sự nâng cao sự hiểu biết của mình với cácvấn đề xã hội, hình thành cho các em thế giới quan, nhân sinh quan… chuẩn
bị hành trang cho thế hệ tương lai bước vào đời một cách vững chắc mongmuốn thì nhiều và vô cùng tốt đẹp song mong muốn gần nhất và dị nhất… đổimới cải tiến phương pháp trong các giờ dạy văn bản Nhật dụng vv
Qua các tiết dạy văn bản Nhật dụng của bản thân và đồng nghiệp, tôi đã nhìnnhận và thấy được một số nguyên nhân giảng dạy văn bản Nhật dụng chưa đạtđược kết quả như mong muốn vì:
1 Khó khăn:
Việc dạy các Văn bản nhật dụng chưa đem lại kết quả khả quan vì khigiáo viên giảng dạy thường gặp phải một số khó khăn nhất định:
Thứ nhất: Đây không phải là một tác phẩm văn học tiêu biểu cho một
thời kỳ hay một tác giả mà ta thường bắt gặp
Thứ hai: Chương trình Ngữ văn được xây dựng theo tinh thần tích hợp
- Các văn bản được lựa chọn theo tiêu chí kiểu văn bản (Tập làm văn) vàtương ứng với kiểu văn bản là thể loại (Tác phẩm văn học) Điều đó có nghĩa
là việc lựa chọn các văn bản căn cứ trước hết vào tính chất tiêu biểu của kiểuvăn bản và thể loại tác phẩm Về phương diện nội dung ngoài yêu cầu chung
về tư tưởng sự phù hợp với tâm lý lứa tuổi trong sáng, giản dị còn có nội dung
là sự cập nhật gắn với đời sống đưa học sinh trở lại với những vấn đề gần gũihàng ngày, vừa có ý nghĩa lâu dài, trọng đại đối với tất cả các dân tộc Khi
Trang 12dạy các giáo viên thường chưa nắm được mục đích và vai trò của loại văn bảnnày.
Thứ ba: Thực tế cho thấy giáo viên tổ chức các tiết dạy chưa thực sự đổi
mới khiến học sinh nhàm chán không tạo được sự hấp dẫn sôi nổi để lĩnh hộiđược kiến thức bài học
Thứ tư: Các tài liệu hướng dẫn hiện nay cho bài dạy chưa có nhiều - Các
sách chưa có sự hướng dẫn định hướng cụ thể, việc trao đổi học tập ở đồngnghiệp lại còn hạn chế
2 Cách tiến hành đổi mới giảng dạy văn bản Nhật dụng:
Để dạy học có hiệu quả không còn cách nào khác là đổi mới phươngpháp dạy học Qua việc đổi mới ở hai năm học 6,7 ta đã thấy "Linh hồn củaphương pháp dạy học mới là bằng mọi con đường nhằm phát huy tối đa tínhnăng động của người học, tích cực hóa hoạt động của học sinh (Thế giới trong
ta số 11 - 2002 - Tiến sĩ Đỗ Ngọc Thống) Từ đó buộc giáo viên phải thay đổicách dạy mới dạy theo hướng tích hợp, dạy cách học, cách đọc, hiểu văn bảncho học sinh Trước khi giảng dạy văn bản Nhật dụng, giáo viên phải nắmđược một số yêu cầu tiên quyết sau:
2.1 Xác định mục tiêu đặc thù của bài học văn bản nhật dụng
Nhấn mạnh vào hai khía cạnh chính: Trang bị kiến thức và trau dồi tưtưởng , tình cảm thái độ cho học sinh Nghĩa là qua văn bản, cung cấp và mởrộng hiểu biết cho học sinh về những vấn đề gần gũi, bức thiết đang diễn ratrong đời sống xã hội hiện đại, từ đó tăng cường ý thức công dân đối với cộngđồng
VD: Mục tiêu của văn bản “ Ôn dịch thuốc lá được xác định rất rõ:
- Xác định quyết tâm phòng chống thuốc lá trên cơ sở nhận thức đượcnhững tác hại to lớn, nhiều mặt của thuốc lá đối với đời sống cá nhân, cộngđồng
- Từ đó có ý thức tránh xa tệ nạn này, kêu gọi,tuyên truyền cho mọingười biết về những tác hại ghờ gớm do thuốc lá gây ra
- Thấy được sự kết hợp hài hoà chặt chẽ giữa hai phương thức lập luận
và thuyết minh
2.2 Xác định rõ các phương pháp dạy họcvăn bản nhật dụng:
+Dạy học phù hợp với phương thức biểu đạt của mỗi văn bản
Trong dạy học văn bản, không thể hiểu nội dung tư tưởng văn bản nếukhông đọc từ các dấu hiệu hình thức của chúng Nên dạy học văn bản nhật
Trang 13dụng cũng phải theo nguyên tắc đi từ dấu hiệu hình thức tới khám phá mụcđích giao tiếp trong hình thức ấy – Với văn bản được tạo lập bằng phươngthức thuyết minh như “Ôn dịch, thuốc lá” thì hoạt động dạy học tương ứng sẽ
là tổ chức cho học sinh tìm hiểu nội dung văn bản từ các dấu hiệu hình thức
của bài thuyết minh khoa học như: tiêu đề bài văn (Em hiểu như thế nào về đầu đề “Ôn dịch, thuốc lá”? Có thể sửa nhan đề này thành “Ôn dịch thuốc lá” hoặc “Thuốc lá là một loại ôn dịch” được không? Vì sao?); vai trò của tác giả trong văn bản thuýêt minh (Theo em, tác giả có vai trò gì trong văn bản này?); đặc điểm của lời văn thuyết minh (Đoạn văn nào nói về tác hại của thuốc lá đến sức khoẻ con người? Tác hại này được phân tích trên những chứng cớ nào?Các chứng cớ được nêu có đặc điểm gì? Từ đó cho thấy mức
độ tác hại như thế nào của thuốc lá đến sức khoẻ con người? ở đây tri thức nào về tác hại của thuốc lá hoàn toàn mới lạ đối với em?)
+ Mặc dù các phương thức biểu đạt chủ yếu của văn bản nhật dụng làthuyết minh và nghị luận nhưng các văn bản này thường đan xen các yếu tốcủa phương thức khác như: tự sự, biểu cảm Khi đó GV cũng cần chú ý đếnyếu tố này
2.3- Vận dụng linh hoạt các phương pháp đặc trưng của phân môn văn học như:
- Phương pháp đàm thoại, đọc diễn cảm, giảng bình Trong đó chú
trọng nhất phương pháp đàm thoại bằng hệ thống câu hỏi dẫn dắt theo mức độ
từ dễ đến khó rồi liên hệ với đời sống
Khi dạy văn bản nhật dụng, GV không nên quá coi trọng phương phápgiảng bình Bởi bình văn là tỏ lời hay ý đẹp về những điểm sáng thẩm mĩtrong văn chương, đối tượng bình phải là những tác phẩm mang vẻ đẹp văn
chương Theo tôi, một số văn bản giàu chất văn chương (như: Mẹ tôi, Cổng trường mở ra, Ca Huế trên sông Hương, Cuộc chia tay của những con búp bê) giáo viên có thể sử dụng lời bình giảng nhưng không nên đi quá sâu Còn
đối với những văn bản nhật dụng ở chương trình ngữ văn lớp 8 mục đích
không nhằm cảm thụ văn chương thẩm mĩ (như Bài toán dân số, Thông tin về ngày trái đất năm 2000; Ôn dịch, thuốc lá) thì GV không thể bình phẩm được
những vẻ đẹp hình thức nào cũng như những nội dung sâu kín nào trong
đó.Do vậy, khi dạy GV cần chú ý điều này để tránh sa vào tình trạng khai thác
kĩ lưỡng văn bản mà giảm đi tính chất thực tiễn, gần gũi và cập nhật của vănbản Nhật dụng
Từ đó tôi đã áp dụng vào việc giảng dạy và đã đúc rút ra được một sốkinh nghiệm để dạy văn bản nhật dụng lớp 8 như sau:
Trang 14Trước hết khi dạy văn bản nhật dụng ở chương trình lớp 8 giáo viên cầnlưu ý:
Thứ nhất: Không nêu quan niệm đây là những sáng tác tiêu biểu cho
các tác phẩm văn học của một thời kỳ hay một tác giả nào đó để đặt ra đòi hỏiquá cao khi yêu cầu về nghệ thuật của văn bản
Thứ hai: Cần nắm chắc đặc điểm và ý nghĩa của các nội dung đặt ra
trong mỗi văn bản nhật dụng để hướng dẫn học sinh tự liên hệ và rút ra bàihọc cho chính bản thân mình và tuyên truyền cho tất cả mọi người
Thứ ba: Giáo viên cần tìm hiểu gia đình, sở thích, đặc điểm tâm lý lứa
tuổi Ví dụ đối với bài "Ôn dịch, thuốc lá" giáo viên cần tìm hiểu gia đình họcsinh nếu ông, bà, cha, mẹ, cô chú… Các em có ai hút thuốc lá giáo viên phải
có cách dạy tế nhị để các em không ghét bỏ, không xa lánh hay kết tội nhữngngười thân của mình để hình tượng của các em không bị sụp đổ
Thứ tư: Trong quá trình giảng dạy giáo viên phải chú ý đến tính tích
hợp đặc biệt là đối với phân môn Tập làm văn
Tôi mạnh dạn tiến hành những đổi mới trên vào cụ thể tiết dạy học dưới đây
2.4- ỨNG DỤNG SOẠN MỘT GIÁO ÁN DẠY
MỘT VĂN BẢN NHẬT DỤNG
BÀI 12: TIẾT 45: ÔN DỊCH, THUỐC LÁ
A Mục tiêu bài học
- Thông qua tìm hiểu, phân tích văn bản giúp học sinh
+ Hiểu rõ tác hại của thuốc lá đối với đời sống cá nhân, gia đình vàcộng đồng
+ Xác định quyết tâm, không hút thuốc lá, vận động những người thân
bỏ thuốc lá
+ Tích hợp với phần Tiếng Việt ở "Tình thái từ" và ở Tập làm văn ởphương pháp thuyết minh
B Chuẩn bị
1 Tài liệu: Sách giáo khoa, sách giáo viên, thế giới trong ta số 11 - 2002
2 Phương tiện, thiết bị: Bảng phụ, phiếu học tập
3 Bài cũ: Kiểm tra việc học bài cũ của học sinh