1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC LÊNIN TRÌNH BÀY KHÁI NIỆM ,NỘI DUNG VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA GIÁ CẢ SẢN XUẤT,GIÁ CẢ THỊ TRƯỜNG ,GIÁ CẢ ĐỘC QUYỀN VỚI GIÁ TRỊ HÀNG HÓA

24 100 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 246,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1 Nội dung 3 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUY LUẬT GIÁ TRỊ VÀ VAI TRÒ CỦA QUY LUẬT GIÁ TRỊ VỚI NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG. 3 1.1. Nội dung cuả quy luật giá trị và sự vận động của quy luật giá trị 3 1.1.1. Các khái niệm 3 1.1.2. Khái niệm quy luật giá trị. 4 1.1.3. Nội dung và sự vận động của quy luật giá trị. 4 1.1.4. Mối quan hệ giữa giá cả, giá cả thị trường, giá cả độc quyền và giá trị hàng hoá. 5 1.2. Vai trò của quy luật giá trị đối với nền kinh tế thị trường 6 1.2.1 Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá 6 1.2.2 Thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển, tăng năng suất lao động: 7 1.2.3. Thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hoá người sản xuất thành kẻ giàu người nghèo: 7 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VIỆC ÁP DỤNG QUY LUẬT GIÁ TRỊ VÀO NỀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM 9 2.1. Tác động của Quy luật giá trị đến nền kinh tế nước ta trong thời gian qua. 9 2.1. Trước năm 1986 9 2.2. Từ sau 1986 đến nay 10 2.2. Quy luật giá trị và việc hình thành cơ chế thị trường ở Việt Nam 11 CHƯƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP CHO VIỆC VẬN DỤNG QUY LUẬT GIÁ TRI VÀO NỀN KINH TẾ VIỆT NAM 13 3.1 Đầu tư vào việc nghiên cứu, ứng dụng và triển khai khoa học công nghệ. 13 3.2 . Lưu thông hàng hoá, tăng khả năng cạnh tranh hàng hoá của Việt Nam. 13 KẾT LUẬN 15 TÀI LIỆU THAM KHẢO 16 PHẦN MỞ ĐẦU Nghiên cứu tích lũy tư bản qua đó loại bỏ những tiêu cực vận dụng sáng tạo mặt tích cực vào quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Tích lũy không chỉ còn là vấn đề về lý luận nó đã thực sư trở thành vấn đề thực tiễn mà mọi quốc gia đều phải giải quyết. Tích lũy vốn trong nước, thu hút vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành nhiệm vụ quan trọng với mọi quốc gia trong đó có cả Việt Nam. Chúng ta có 84 triệu dân với truyền thống tiết kiệmvấn đề là làm thế nào để huy động được nguồn vốn nhàn rỗi đó; chúng ta lại có vị trí địa lý thuận lợi, nguồn nhân công rẻ dồi dào là cơ sở thu hút vốn đầu tư. Những biện pháp khuyến khích hợp lý chính là động lực tăng cường nguồn vốn tạo điều kiện tiến hành công nghiệp hóa hiện đại hóa, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam. Tập trung khai thác tận dụng nguồn vốn nhàn rỗi trong nước, kết hợp thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư nước ngoài (cả trực tiếp và gián tiếp) chính là cơ sở của tích lũy ở nước ta. Với quá trình tích lũy hiệu quản cộng với chính sách chủ trương xây dựng kinh tế đúng đắn của nhà nước tin chắc rằng chúng ta sẽ nhanh chóng đưa nước ta trở thành một nước phát triển với nền công nghiệp hiện đại. Đứng trước xu thế phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới thì nước Việt Nam ta còn là một trong những nước có nền kinh tế chậm phát triển, nghèo nàn và lạc hậu. Cơ sở hạ tầng thấp kém, trình độ quản lý lạc hậu, khoa học kỹ thuật kém phát triển... hơn nữa nạn thất nghiệp, tham ô lạm phạt, ô nhiễm môi trường... vẫn luôn là một trong những vấn đề bức xúc chưa hạn chế được. Tuy vậy ta cũng không thể một sớm một chiều mà có thể khắc phục được những yếu điểm đó mà ta phải dần dần khắc phục. Song hành với nó ta phải liên tục vận dụng những thành tựu của khoa học kỹ thuật và kinh tế để phát triển đất nước. Đất nước Việt Nam ta đang đứng trước những khó khăn lớn về mọi mặt nhất là trong phát triển kinh tế, do đó chúng ta cần phải áp dụng những biện pháp phát triển kinh tế thật thận trọng, khẩn trương và làm sao để có hiệu quả nhất. Chính vì vậy việc áp dụng quy luật giá trị vào việc phát triển kinh tế là rất quan trọng. Chúng ta cần phải thật linh hoạt trong từng vấn đề, từng lĩnh vực của sự phát triển kinh tế. Tiểu luận được trình bày với nội dung chính là việc khẳng định lại một lần nữa tính tất yếu trong quản lý và phát triển kinh tế. Song do khuôn khổ có hạn nên em không thể đề cập tới tất cả các khía cạnh của vấn đề, em rất mong có được sự đóng góp ý kiến khoa học của các thầy cô giáo và của bạn đọc để cho bài viết này được thêm phần hoàn thiện hơn. Qua nghiên cứu và tìm hiểu em đã chọn đề tài: “phân tích khái niệm, nội dung và mối quan hệ giữa giá cả sản xuất, giá cả thị trường, giá cả độc quyền và giá trị hàng hóa”. Nội dung CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUY LUẬT GIÁ TRỊ VÀ VAI TRÒ CỦA QUY LUẬT GIÁ TRỊ VỚI NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG. 1.1. Nội dung cuả quy luật giá trị và sự vận động của quy luật giá trị 1.1.1. Các khái niệm  Giá cả sản xuất Giá cả sản xuất là phạm trù kinh tế tương đương với phạm trù giá cả. Nó cũng là cơ sở của giá cả trên thị trường. Hay nói cách khác giá cả sản xuất còn là Chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa là khái niệm kinh tế chính trị MarxLenin chỉ về phần giá trị bù lại giá cả của những tư liệu sản xuất và giá cả sức lao động đã tiêu dùng để sản xuất ra hàng hóa cho nhà tư bản.  Giá cả thị trường Giá cả thị trường là giá bán thực tế của hàng hóa trên thị trường, hoặc là giá cả hàng hóa được thoả thuận giữa người mua và người bán trên thị trường. Giá cả thị trường còn là mức giá ước tính của tài sản tại thời điểm, địa điểm thẩm định giá, giữa một bên là người mua sẵn sàng mua và một bên là người bán sẵn sàng bán, trong một giao dịch khách quan, độc lập, có đủ thông tin, các bên tham gia hành động một cách có hiểu biết, thận trọng và không bị ép buộc  Giá cả độc quyền Giá độc quyền là Giá hàng hoá, dịch vụ chỉ do một tổ chức, cá nhân bán, mua trên thị trường hoặc là giá hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân liên kết độc quyền chiếm phần lớn thị phần, có sức mạnh chi phối giá thị trường.  Giá trị hàng hóa Giá trị của hàng hoá là một thuộc tính của hàng hoá, đó chính là lao động hao phícủa người sản xuất để sản xuất ra nó đã được kết tinh vào trong hàng hoá. Để hiểu khái niệm này, phải đi từ sự trao đổi và giá trị trao đổi. Đặc trưng giá trị sử dụng của hàng hóa: Hàng hóa có thể có một hay nhiều giá trị sử dụng hay công dụng khác nhau. Số lượng giá trị sử dụng của một vật không phải ngay một lúc đã phát hiện ra được hết, mà nó được phát hiện dần dần trong quá trình phát triển của khoa học – kỹ thuật. Giá trị sử dụng là một phạm trù vĩnh viễn vì giá trị sử dụng hay công dụng của hàng hóa là do thuộc tính tự nhiên của vật thể hàng hóa quyết định. Giá trị sử dụng của hàng hóa chỉ thể hiện khi con người sử dụng hay tiêu dùng (tiêu dùng cho sản xuất, tiêu dùng cho cá nhân), nó là nội dung vật chất của của cải, không kể hình thức xã hội của của cải đó như thế nào. Hàng hóa ngày càng phong phú, đa dạng, hiện đại thì giá trị sử dụng càng cao. 1.1.2. Khái niệm quy luật giá trị. Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hóa, quy định bản chất của sản xuất hàng hóa, là cơ sở của tất cả các quy luật khác của sản xuất hàng hóa. Nội dung của quy luật giá trị là việc sản xuất và trao đổi hàng hóa dựa trên cơ sở giá trị của nó, tức là dựa trên hao phí lao động xã hội cần thiết. Trong sản xuất, tác động của quy luật giá trị buộc người sản xuất phải làm sao cho mức hao phí lao động cá biệt của mình phù hợp với mức hao phí lao động xã hội cần thiết có như vậy họ mới có thể tồn tại được. Trong trao đổi, hay lưu thông, phải thực hiện theo nguyên tắc ngang giá: Hai hàng hóa được trao đổi với nhau khi cùng kết tinh một lượng lao động như nhau hoặc trao đổi, mua bán hàng hoá phải thực hiện với giá cả bằng giá trị. Cơ chế tác động của quy luật giá trị thể hiện cả trong trường hợp giá cả bằng giá trị, cả trong trường hợp giá cả lên xuống xung quanh giá trị. và giá trị như cái trục của giá cả. 1.1.3. Nội dung và sự vận động của quy luật giá trị. Quy luật giá trị là quy luật kinh tế căn bản của sản xuất và lưu thông hàng hoá.Quy luật giá trị đòi hỏi việc sản xuất và lưu thông hàng hoá phải dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết,cụ thể là: Trong sản xuất thì hao phí lao động cá biệt phải phù hợpvới hao phí lao động xã hội cần thiết.Vì trong nền sản xuất hàng hóa ,vấn đề đặc biệt quan trọng là hàng hóa sản xuất ra có bán được hay không.Để có thể bán được thì hao phí lao động để sản xuất ra hàng hóa cuả các chủ thể kinh doanh phải phù hợp với mức hao phí lao động xã hội có thể chấp nhận được. Mức hao phí càng thấp thì họ càng có khả năng phát triển kinh doanh,thu được nhiều lợi nhuận,ngược lại sẽ bị thua lỗ,phá sản… Trong trao đổi hàng hoá cũng phải dựa vào hao phí lao động xã hội cần thiết,tức là tuân theo nguyên tắc trao đổi ngang giá,hai hàng hoá có giá trị sử dụng khác nhau,nhưng có lương giá trị bằng nhau thì phải trao đổi ngang nhau. Đòi hỏi trên của quy luật là khách quan ,đảm bảo sự công bằng ,hợp lí,bình đẳng giữa những người sản xuất hàng hoá. Quy luật giá trị bắt buộc những người sản xuất và trao đổi hàng hoá phải tuân theo yêu cầu hay đòi hỏi cuả nó thông qua “ mệng lệnh” của giá cả thị trường. Tuy nhiên trong thực tế do sự tác động cuả nhiều quy luật kinh tế ,nhất là quy luật cung cầu làm cho giá cả hàng hoá thường xuyên tách rời giá trị. Nhưng sự tách rời đó chỉ xoay quanh giá trị,C.mác gọi đó là vẻ đẹp của quy luật giá trị.Trong vẻ đẹp này ,giá trị hàng hoá là trục ,giá cả thị trường lên xuống quanh trục đó.Đối với mỗi hàng hoá ,giá cả của nó có thể cao thấp khác nhau,nhưng khi xét trong một khoảng thời gian nhất định ,tổng giá cả phù hợp với tổng giá trị của nó Giá cả thị trường tự phát lên xuống xoay quanh giá trị là biểu hiện sự hoạt động của quy luật giá trị. 1.1.4. Mối quan hệ giữa giá cả, giá cả thị trường, giá cả độc quyền và giá trị hàng hoá. Quy luật giá trị biểu hiện qua các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản thành quy luật giá cả sản xuất( giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh) và thành quy luật giá cả độc quyền ( giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền). Nó tiếp tục tồn tại và hoạt động trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hộỉ các nước xã hội chủ nghĩa ở các nước và ở nước ta. Ta xét mối quan hệ giữa giá cả, giá cả thị trường, giá cả độc quyền với giá trị hàng hoá : Giá cả: là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá. Giá trị là cơ sở của giá cả. Khi quan hệ cung cầu cân bằng,giá cả hàng hoá cao hay thấp là ở giá trị của hàng hoá quyết định Trong diều kiện sản xuất hàng hoá, giá cả hàng hoá tự phát lên xuống xoay quanh giá trị tuỳ theo quan hệ cung cầu, cạnh tranh và sức mua của đồng tiền.Sự hoạt động của quy luật giá trị biểu hiện ở sự lên xuống của giá cả trên thị trường.Tuy vậy, sự biến động của giá cả vẫn có cơ sở là giá trị, mặc dầu nó thường xuyên tách rời giá trị.Điều đó có thể hiểu theo hai mặt: Không kể quan hệ cung cầu như thế nào, giá cả không tách rời giá trị xã hội. Nếu nghiên cứu sự vận động của giá cả trong một thời gian dài thì thấy tổng số giá cả bằng tổng só giá trị, vì bộ phận vượt quá giá trị sẽ bù vào bộ phận giá cả thấp hơn giá trị (giá cả ở đây là giá cả thị trường. Giá cả thị trường là giá cả sản xuấtgiữa người mua và người bán thoả thuận với nhau). Giá cả sản xuất là hình thái biến tướng của giá trị, nó bằng chi phí sản xuất của hàng hoá cộng với lợi nhuận bình quân.Trong giai đoạn tư bản tự do cạnh tranh do hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân nên hàng hoá không bán theo giá trị mà bán theo giá cả sản xuất Giá trị hàng hoá chuyển thành giá cả sản xuất không phải là phủ nhận quy luật giá trị mà chỉ là biểu hiện cụ thể của quy luật giá trị trong giai đoạn tư bản tự do cạnh tranh.Qua hai điểm dưới đây sẽ thấy rõ điều đó: Tuy giá cả sản xuất của hàng hoá thuộc nghành cá biệt có thể cao hơn hoặc thấp hơn giá trị, nhưng tổng giá trị sản xuất của toàn bộ hàng hoá của tất cả các ngành trong toàn xã hội đều bằng tổng giá trị của nó.Tổng số lợi nhuận mà các nhà tư bản thu được cũng bằng tổng số giá trị thặng dư do giai cấp công nhân sáng tạo ra. Giá cả sản xuất lệ thuộc trực tiếp vào giá trị. Giá trị hàng hoá giảm xuống, giá cả sản xuất giảm theo, giá trị hàng hoá tăng lên kéo theo giá cả sản xuất tăng lên. Giá cả độc quyền : Trong giai đoạn tư bản độc quyền, tổ chức độc quyền đã nâng giá cả hàng hoá lên trên giá cả sản xuất và giá trị. Giá cả độc quyền bằng chi phí sản xuất cộng với lợi nhuận độc quyền. Lợi nhuận độc quyền vượt quá lợi nhuận bình quân. Khi nói giá cả độc quyền thì thường hiểu là giá cả bán ra cao hơn giá cả sản xuất và giá trị, đồng thời cũng cần hiểu còn có giá cả thu mua rẻ mà tư bản độc quyền mua của người sản xuất nhỏ, tư bản vừa và nhỏ ngoài độc quyền. Giá cả độc quyền không xoá bỏ giới hạn của giá trị hàng hoá, nghĩa là giá cả độc quyền không thể tăng thêm hoặc giảm bớt giá trị và tổng giá trị thặng dư do xã hội sản xuất ra; phần giá cả độc quyền vượt quá giá trị chính là phần giá trị mà những người bán ( công nhân, người sản xuất nhỏ, tư bản vừa và nhỏ…) mất đi.Nhìn vào phạm vi toàn xã hội, toàn bộ giá cả độc quyền cộng với giá cả không độc quyền về đại thể bằng toàn bộ giá trị. 1.2 Vai trò của quy luật giá trị đối với nền kinh tế thị trường. 1.2.1 Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá : Vai trò đầu tiên phải nói đến của quy luật giá trị đối với nền kinh tế thị trường đó là vai trò điều tiết sản xuất: Điều tiết sản xuất tức là điều hoà, phân bổ các yếu tố sản xuất giữa các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế. Tác dụng này của quy luật giá trị thông qua sự biến động của giá cả hàng hoá trên thị trường dưới tác động của quy luật cung cầu: Nếu cung nhỏ hơn cầu, sản phẩm không đủ để thoả mãn nhu cầu xã hội, giá cả cao hơn giá trị, hàng hoá bán chạy với lãi cao, người sản xuất mở rộng quy mô sản xuất, nhiều người sản xuất trước đây sản xuất các mặt hàng khác sẽ đổ xô vào ngành ấy. Do đó tư liệu sản xuất và sức lao động được chuyển dịch vào ngành ấy tăng lên, nhiều hơn các ngành khác. Nếu cung vượt quá cầu, giá cả hàng hoá giảm xuống, hàng hoá bán không chạy và nhà sản xuất có thể lỗ vốn. Tình hình ấy buộc nhà sản xuất phải thu hẹp quy mô sản xuất lại hoặc chuyển sang đầu tư vào ngành có giá cả hàng hoá cao Như vậy, cùng với sự lên xuống của giá cả xoay quanh giá trị, làm cho các nhà sản xuất di chuyển tư liệu sản xuất và sức lao động từ ngành có lợi nhuận thấp hơn sang ngành có lợi nhuận cao hơn. Từ đó tạo nên những tỷ lệ cân đối nhất định giữa các ngành sản xuất . Quy luật giá trị không chỉ có vai trò điều tiết sản xuất mà còn có vai trò lưu thông hàng hoá. Sự biến động của giá cả thị trường đã thu hút luồng hàng hoá từ nơi có giá bán thấp đến nơi có giá bán cao hơn, do đó làm cho lưu thông hàng hoá thông suốt. Như vậy, sự biến động của giá cả xung quanh trục giá trị của nó không những chỉ rõ sự biến động về kinh tế mà còn có tac động điều tiết nền kinh tế hàng hoá. 1.2.2 Thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển, tăng năng suất lao động: Một nguyên tắc căn bản của nền kinh tế thị trường là trao đổi ngang giá tức là thực hiện sự trao đổi hàng hoá thông qua thịu trường, sản phẩm phải trở thành hàng hoá. Nguyên tắc này đòi hỏi tuân thủ quy luật giá trị : sản xuất và trao đổi hàng hoá phải dựa trên cơ sở thời gian lao động xã hội cần thiết. Trong nền kinh tế hàng hoá mỗi người sản xuất hàng hoá là một chủ thể kinh tế độc lập, tự quyết định hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Nhưng do điều kiện sản xuất khác nhau nên hao phí lao động cá biệt khác nhau, người sản xuất nào có hao phí lao động cá biệt nhỏ hơn hao phí lao động xã hội của hàng hoá sẽ thu được lãi cao. Người sản xuất nào có hao phí lao động cá biệt lớn hơn hao phí lao động xã hội cần thiết sẽ ở thế bất lợi, lỗ vốn. Để giành ưu thế trong cạnh tranh và tránh nguy cơ vỡ nợ phá sản, họ phải hạ thấp lao động cá biệt của mình, sao cho bằng hao phí lao động xã hội cần thiết. Muốn vậy họ phải luôn tìm cách cải tiến kỹ thuật, cải tiến tổ chức quản lí, thực hiện tiết kiệm chặt chẽ tăng năng suất lao động. Sự cạnh tranh quyết liệt càng thúc đẩy quá trình này diễn ra mạnh mẽ hơn, mang tính xã hội. Kết quả là lực lượng sản xuất xã hội được thúc đẩy phát triển mạnh mẽ. Bên cạnh đó là sự chuyên môn hóa lực lượng sản xuất cũng được phát triển. 1.2.3. Thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hoá người sản xuất thành kẻ giàu người nghèo: Trong nền kinh tế hàng hoá quá trình cạnh tranh theo đuổi giá trị tất yếu dẫn đến kết quả là : những người có điều kiện sản xuất thuận lợi, có trình độ kiến thức cao được trang bị kỹ thuật tốt nên có hao phí lao động cá biệt thấp hơn hao phí lao động xã hội cần thiết nhờ đó giàu lên nhanh chóng. Họ mua sắm thêm tư liệu sản xuất , mở rộng sản xuất kinh doanh. Ngược lại những người không có điều kiện thuận lợi, làm ăn kém cỏi hoặc gập rủi ro trong kinh doanh nên bị thua lỗ dẫn tới phá sản trở thành nghèo khó. Kết quả là quy luật này không những đã chi phối sự lựa chọn tự nhiên, đào thải các yếu kém, kích thích các nhân tố tích cực phát triển, mà còn phân hoá xã hội thành kẻ giàu người nghèo, tạo ra sự bất bình đẳng trong xã hội. CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VIỆC ÁP DỤNG QUY LUẬT GIÁ TRỊ VÀO NỀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM 2.1. Tác động của Quy luật giá trị đến nền kinh tế nước ta trong thời gian qua. Nền kinh tế Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn khác nhau , quy luật giá trị được áp dụng theo nhiều cách khác nhau phù hợp đặc điểm của từng thời kì. 2.1. Trước năm 1986 Trước cải cách kinh tế năm 1986 thì nước ta vẫn trong chế độ bao cấp: nhà nước điều khiển nền nền kinh tế bằng hệ thống pháp lệnh về số lượng , về thu nhập ,về nộp ngân sách , về vốn và lãi suất tín dụng … Giá cả do Nhà nước quyết định. Mà giá cả lại là biểu hiện bằng tiền của giá trị. Chính vì vậy có thể nói trong thời kỳ này quy luật giá trị được áp dụng một cách cứng nhắc , áp đặt vào nền kinh tế thông qua việc định giá theo những chỉ tiêu có sẵn mà không để ý đến thực trạng của nền kinh tế Việt Nam. Những năm 1964 , ở miền Bắc, hệ thống giá được sự chỉ đạo của Nhà nước đã được hình thành trên cơ sở lấy giá thóc sản xuất trong nước làm căn cứ xác định giá chuẩn và tỷ lệ trao đổi hiện vật . Tuy nhiên khi thị trường trong nước đã có nhiều biến đổi theo giời gian mà hệ thống giá chỉ đạo của Nhà nước ngày càng thấp xa so với giá thị trường tự do đã làm rối loạn phân phối lưu thông , gây khó khăn cho ngân sách Nhà nước. Suốt thời kì Nhà nước chỉ đạo giá cho đến trước cải cách giá năm 1991 , trên thị trường có hai hệ thống giá : giá chỉ đạo của Nhà nước áp dụng trên thị trường có tổ chức và giá thị trường tự do biến động theo quan hệ cung cầu. Đặc điểm của giá chỉ đạo là không chú ý đến quan hệ cungcầu và gần như bất biến. Những năm 1975, với quá trình thống nhất đất nước về chính trị và quân sự, việc thống nhất về thể chế kinh tế cũng được xúc tiến. Quá trình thống nhất về thể chế kinh tế trong cả nước , trên thực tế là sự dập khuôn gần như toàn bộ thể chế kinh tế đã tồn tại trước đó ở miền Bắc. Như vậy, lịch sử phát triển kinh tế nước ta một lần nữa lại lặp lại thời kỳ trì trệ. Việc duy trì chính sách tài chính, tín dụng, chính sách giá cả và tiền lương theo kiểu cấp phát, giao nộp hiện vật bình quân của nền kinh tế thời chiến gây ra tác hại nghiêm trọng đối với nền kinh tế. Cuối năm 1980, chính phủ đã đưa ra quyết định 96 CP về bãi bỏ chế độ giao nghĩa vụ nộp nông sản theo giá thấp và chuyển sang thu mua theo hợp đồng kinh tế hai chiều. Chính sách này chưa phát huy tác dụng ngay Như vậy trước khi đổi mới, cơ chế kinh tế tập trung bao cấp của nước ta đã phủ nhận tính khách quan của quy luật giá trị làm triệt tiêu những nhân tố tích cực của nền xã hội. Nền kinh tế rơi vào tình trạng kém phát triển.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP HCM

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ



TIỂU LUẬN MÔN HỌC: KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN

ĐỀ TÀI: TRÌNH BÀY KHÁI NIỆM ,NỘI DUNG VÀ MỐI QUAN

HỆ GIỮA GIÁ CẢ SẢN XUẤT,GIÁ CẢ THỊ TRƯỜNG ,GIÁ CẢ

ĐỘC QUYỀN VỚI GIÁ TRỊ HÀNG HÓA

Thành Phố Hồ Chí Minh, tháng 6 năm 2021

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN

……….

……….

……….

……….

……….

……….

……….

……….

……….

……….

……….

……….

……….

……….

Điểm: ………

KÝ TÊN Contents MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1

Nội dung 3 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUY LUẬT GIÁ TRỊ VÀ VAI TRÒ CỦA QUY LUẬT GIÁ TRỊ VỚI NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

Trang 3

3 1.1.Nội dung cuả quy luật giá trị và sự vận động của quy luật giá trị 3

1.1.1.Các khái niệm 3

1.1.2.Khái niệm quy luật giá trị 4

1.1.3.Nội dung và sự vận động của quy luật giá trị 4

1.1.4.Mối quan hệ giữa giá cả, giá cả thị trường, giá cả độc quyền và giá trị hàng hoá 5

1.2 Vai trò của quy luật giá trị đối với nền kinh tế thị trường 6

1.2.1 Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá 6

1.2.2 Thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển, tăng năng suất lao động: 7

1.2.3 Thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hoá người sản xuất thành kẻ giàu người nghèo: 7

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VIỆC ÁP DỤNG QUY LUẬT GIÁ TRỊ VÀO NỀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM

9 2.1 Tác động của Quy luật giá trị đến nền kinh tế nước ta trong thời gian qua 9

2.1 Trước năm 1986 9

2.2 Từ sau 1986 đến nay 10

2.2 Quy luật giá trị và việc hình thành cơ chế thị trường ở Việt Nam 11

CHƯƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP CHO VIỆC VẬN DỤNG QUY LUẬT GIÁ TRI VÀO NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

13 3.1 Đầu tư vào việc nghiên cứu, ứng dụng và triển khai khoa học công nghệ 13

3.2 Lưu thông hàng hoá, tăng khả năng cạnh tranh hàng hoá của Việt Nam 13

KẾT LUẬN 15

TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

Nghiên cứu tích lũy tư bản qua đó loại bỏ những tiêu cực vận dụng sáng tạo mặttích cực vào quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Tích lũy không chỉ còn làvấn đề về lý luận nó đã thực sư trở thành vấn đề thực tiễn mà mọi quốc gia đều phảigiải quyết

Tích lũy vốn trong nước, thu hút vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành nhiệm vụquan trọng với mọi quốc gia trong đó có cả Việt Nam Chúng ta có 84 triệu dân vớitruyền thống tiết kiệmvấn đề là làm thế nào để huy động được nguồn vốn nhàn rỗi đó;chúng ta lại có vị trí địa lý thuận lợi, nguồn nhân công rẻ dồi dào là cơ sở thu hút vốnđầu tư Những biện pháp khuyến khích hợp lý chính là động lực tăng cường nguồn vốntạo điều kiện tiến hành công nghiệp hóa -hiện đại hóa, xây dựng thành công chủ nghĩa

xã hội tại Việt Nam

Tập trung khai thác tận dụng nguồn vốn nhàn rỗi trong nước, kết hợp thu hút và

sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư nước ngoài (cả trực tiếp và gián tiếp) chính

là cơ sở của tích lũy ở nước ta Với quá trình tích lũy hiệu quản cộng với chính sáchchủ trương xây dựng kinh tế đúng đắn của nhà nước tin chắc rằng chúng ta sẽ nhanhchóng đưa nước ta trở thành một nước phát triển với nền công nghiệp hiện đại

Đứng trước xu thế phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới thì nước ViệtNam ta còn là một trong những nước có nền kinh tế chậm phát triển, nghèo nàn và lạchậu Cơ sở hạ tầng thấp kém, trình độ quản lý lạc hậu, khoa học kỹ thuật kém pháttriển hơn nữa nạn thất nghiệp, tham ô lạm phạt, ô nhiễm môi trường vẫn luôn làmột trong những vấn đề bức xúc chưa hạn chế được Tuy vậy ta cũng không thể mộtsớm một chiều mà có thể khắc phục được những yếu điểm đó mà ta phải dần dần khắcphục Song hành với nó ta phải liên tục vận dụng những thành tựu của khoa học kỹthuật và kinh tế để phát triển đất nước

Đất nước Việt Nam ta đang đứng trước những khó khăn lớn về mọi mặt nhất làtrong phát triển kinh tế, do đó chúng ta cần phải áp dụng những biện pháp phát triểnkinh tế thật thận trọng, khẩn trương và làm sao để có hiệu quả nhất Chính vì vậy việc

áp dụng quy luật giá trị vào việc phát triển kinh tế là rất quan trọng Chúng ta cần phảithật linh hoạt trong từng vấn đề, từng lĩnh vực của sự phát triển kinh tế Tiểu luận đượctrình bày với nội dung chính là việc khẳng định lại một lần nữa tính tất yếu trong quản

lý và phát triển kinh tế Song do khuôn khổ có hạn nên em không thể đề cập tới tất cả

Trang 5

các khía cạnh của vấn đề, em rất mong có được sự đóng góp ý kiến khoa học của cácthầy cô giáo và của bạn đọc để cho bài viết này được thêm phần hoàn thiện hơn.

Qua nghiên cứu và tìm hiểu em đã chọn đề tài: “phân tích khái niệm, nội dung vàmối quan hệ giữa giá cả sản xuất, giá cả thị trường, giá cả độc quyền và giá trị hànghóa”

Trang 6

Nội dung

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUY LUẬT GIÁ TRỊ VÀ VAI TRÒ CỦA

QUY LUẬT GIÁ TRỊ VỚI NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.

1.1 Nội dung cuả quy luật giá trị và sự vận động của quy luật giá trị

1.1.1 Các khái niệm

Giá cả sản xuất

Giá cả sản xuất là phạm trù kinh tế tương đương với phạm trù giá cả Nócũng là cơ sở của giá cả trên thị trường Hay nói cách khác giá cả sản xuất còn là Chiphí sản xuất tư bản chủ nghĩa là khái niệm kinh tế chính trị Marx-Lenin chỉ về phầngiá trị bù lại giá cả của những tư liệu sản xuất và giá cả sức lao động đã tiêu dùng đểsản xuất ra hàng hóa cho nhà tư bản

Giá cả thị trường

Giá cả thị trường là giá bán thực tế của hàng hóa trên thị trường, hoặc là giá

cả hàng hóa được thoả thuận giữa người mua và người bán trên thị trường

Giá cả thị trường còn là mức giá ước tính của tài sản tại thời điểm, địa điểm thẩmđịnh giá, giữa một bên là người mua sẵn sàng mua và một bên là người bán sẵn sàngbán, trong một giao dịch khách quan, độc lập, có đủ thông tin, các bên tham gia hànhđộng một cách có hiểu biết, thận trọng và không bị ép buộc

Giá cả độc quyền

Giá độc quyền là Giá hàng hoá, dịch vụ chỉ do một tổ chức, cá nhân bán, muatrên thị trường hoặc là giá hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân liên kết độcquyền chiếm phần lớn thị phần, có sức mạnh chi phối giá thị trường

Giá trị hàng hóa

Giá trị của hàng hoá là một thuộc tính của hàng hoá, đó chính là lao động haophícủa người sản xuất để sản xuất ra nó đã được kết tinh vào trong hàng hoá Để hiểukhái niệm này, phải đi từ sự trao đổi và giá trị trao đổi

Đặc trưng giá trị sử dụng của hàng hóa:

* Hàng hóa có thể có một hay nhiều giá trị sử dụng hay công dụng khác nhau Sốlượng giá trị sử dụng của một vật không phải ngay một lúc đã phát hiện ra được hết,

mà nó được phát hiện dần dần trong quá trình phát triển của khoa học – kỹ thuật

* Giá trị sử dụng là một phạm trù vĩnh viễn vì giá trị sử dụng hay công dụng củahàng hóa là do thuộc tính tự nhiên của vật thể hàng hóa quyết định

* Giá trị sử dụng của hàng hóa chỉ thể hiện khi con người sử dụng hay tiêu dùng(tiêu dùng cho sản xuất, tiêu dùng cho cá nhân), nó là nội dung vật chất của của cải,

Trang 7

không kể hình thức xã hội của của cải đó như thế nào.

*Hàng hóa ngày càng phong phú, đa dạng, hiện đại thì giá trị sử dụng càng cao

1.1.2 Khái niệm quy luật giá trị.

Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hóa, quy định bảnchất của sản xuất hàng hóa, là cơ sở của tất cả các quy luật khác của sản xuất hànghóa Nội dung của quy luật giá trị là việc sản xuất và trao đổi hàng hóa dựa trên cơ sởgiá trị của nó, tức là dựa trên hao phí lao động xã hội cần thiết

Trong sản xuất, tác động của quy luật giá trị buộc người sản xuất phải làm saocho mức hao phí lao động cá biệt của mình phù hợp với mức hao phí lao động xã hộicần thiết có như vậy họ mới có thể tồn tại được Trong trao đổi, hay lưu thông, phảithực hiện theo nguyên tắc ngang giá: Hai hàng hóa được trao đổi với nhau khi cùng kếttinh một lượng lao động như nhau hoặc trao đổi, mua bán hàng hoá phải thực hiện vớigiá cả bằng giá trị Cơ chế tác động của quy luật giá trị thể hiện cả trong trường hợpgiá cả bằng giá trị, cả trong trường hợp giá cả lên xuống xung quanh giá trị và giá trịnhư cái trục của giá cả

1.1.3 Nội dung và sự vận động của quy luật giá trị.

Quy luật giá trị là quy luật kinh tế căn bản của sản xuất và lưu thông hànghoá.Quy luật giá trị đòi hỏi việc sản xuất và lưu thông hàng hoá phải dựa trên cơ sởhao phí lao động xã hội cần thiết,cụ thể là:

-Trong sản xuất thì hao phí lao động cá biệt phải phù hợpvới hao phí lao động xãhội cần thiết.Vì trong nền sản xuất hàng hóa ,vấn đề đặc biệt quan trọng là hàng hóasản xuất ra có bán được hay không.Để có thể bán được thì hao phí lao động để sảnxuất ra hàng hóa cuả các chủ thể kinh doanh phải phù hợp với mức hao phí lao động

xã hội có thể chấp nhận được Mức hao phí càng thấp thì họ càng có khả năng pháttriển kinh doanh,thu được nhiều lợi nhuận,ngược lại sẽ bị thua lỗ,phá sản…

-Trong trao đổi hàng hoá cũng phải dựa vào hao phí lao động xã hội cần thiết,tức

là tuân theo nguyên tắc trao đổi ngang giá,hai hàng hoá có giá trị sử dụng khácnhau,nhưng có lương giá trị bằng nhau thì phải trao đổi ngang nhau

Đòi hỏi trên của quy luật là khách quan ,đảm bảo sự công bằng ,hợp lí,bình đẳnggiữa những người sản xuất hàng hoá

Quy luật giá trị bắt buộc những người sản xuất và trao đổi hàng hoá phải tuântheo yêu cầu hay đòi hỏi cuả nó thông qua “ mệng lệnh” của giá cả thị trường

Tuy nhiên trong thực tế do sự tác động cuả nhiều quy luật kinh tế ,nhất là quy luật

Trang 8

cung cầu làm cho giá cả hàng hoá thường xuyên tách rời giá trị.

Nhưng sự tách rời đó chỉ xoay quanh giá trị,C.mác gọi đó là vẻ đẹp của quy luậtgiá trị.Trong vẻ đẹp này ,giá trị hàng hoá là trục ,giá cả thị trường lên xuống quanhtrục đó.Đối với mỗi hàng hoá ,giá cả của nó có thể cao thấp khác nhau,nhưng khi xéttrong một khoảng thời gian nhất định ,tổng giá cả phù hợp với tổng giá trị của nó

Giá cả thị trường tự phát lên xuống xoay quanh giá trị là biểu hiện sự hoạt động của quy luật giá trị

1.1.4 Mối quan hệ giữa giá cả, giá cả thị trường, giá cả độc quyền và giá trị hàng hoá.

Quy luật giá trị biểu hiện qua các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản thànhquy luật giá cả sản xuất( giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh) và thành quyluật giá cả độc quyền ( giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền) Nó tiếp tục tồn tại vàhoạt động trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hộỉ các nước xã hội chủ nghĩa ở cácnước và ở nước ta

Ta xét mối quan hệ giữa giá cả, giá cả thị trường, giá cả độc quyền với giá trị hàng hoá :

Giá cả: là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá Giá trị là cơ sở của giá cả Khiquan hệ cung cầu cân bằng,giá cả hàng hoá cao hay thấp là ở giá trị của hàng hoáquyết định

Trong diều kiện sản xuất hàng hoá, giá cả hàng hoá tự phát lên xuống xoayquanh giá trị tuỳ theo quan hệ cung cầu, cạnh tranh và sức mua của đồng tiền.Sự hoạtđộng của quy luật giá trị biểu hiện ở sự lên xuống của giá cả trên thị trường.Tuy vậy,

sự biến động của giá cả vẫn có cơ sở là giá trị, mặc dầu nó thường xuyên tách rời giátrị.Điều đó có thể hiểu theo hai mặt: Không kể quan hệ cung cầu như thế nào, giá cảkhông tách rời giá trị xã hội Nếu nghiên cứu sự vận động của giá cả trong một thờigian dài thì thấy tổng số giá cả bằng tổng só giá trị, vì bộ phận vượt quá giá trị sẽ bùvào bộ phận giá cả thấp hơn giá trị (giá cả ở đây là giá cả thị trường Giá cả thị trường

là giá cả sản xuấtgiữa người mua và người bán thoả thuận với nhau)

Giá cả sản xuất là hình thái biến tướng của giá trị, nó bằng chi phí sản xuất củahàng hoá cộng với lợi nhuận bình quân.Trong giai đoạn tư bản tự do cạnh tranh dohình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân nên hàng hoá không bán theo giá trị mà bántheo giá cả sản xuất

Trang 9

Giá trị hàng hoá chuyển thành giá cả sản xuất không phải là phủ nhận quy luật giá

Trang 10

trị mà chỉ là biểu hiện cụ thể của quy luật giá trị trong giai đoạn tư bản tự do cạnhtranh.Qua hai điểm dưới đây sẽ thấy rõ điều đó:

- Tuy giá cả sản xuất của hàng hoá thuộc nghành cá biệt có thể cao hơn hoặc thấphơn giá trị, nhưng tổng giá trị sản xuất của toàn bộ hàng hoá của tất cả các ngànhtrong toàn xã hội đều bằng tổng giá trị của nó.Tổng số lợi nhuận mà các nhà tư bảnthu được cũng bằng tổng số giá trị thặng dư do giai cấp công nhân sáng tạo ra

- Giá cả sản xuất lệ thuộc trực tiếp vào giá trị Giá trị hàng hoá giảm xuống, giá cảsản xuất giảm theo, giá trị hàng hoá tăng lên kéo theo giá cả sản xuất tăng lên

Giá cả độc quyền :

Trong giai đoạn tư bản độc quyền, tổ chức độc quyền đã nâng giá cả hàng hoálên trên giá cả sản xuất và giá trị Giá cả độc quyền bằng chi phí sản xuất cộng với lợinhuận độc quyền Lợi nhuận độc quyền vượt quá lợi nhuận bình quân

Khi nói giá cả độc quyền thì thường hiểu là giá cả bán ra cao hơn giá cả sản xuất

và giá trị, đồng thời cũng cần hiểu còn có giá cả thu mua rẻ mà tư bản độc quyền muacủa người sản xuất nhỏ, tư bản vừa và nhỏ ngoài độc quyền

Giá cả độc quyền không xoá bỏ giới hạn của giá trị hàng hoá, nghĩa là giá cả độcquyền không thể tăng thêm hoặc giảm bớt giá trị và tổng giá trị thặng dư do xã hội sảnxuất ra; phần giá cả độc quyền vượt quá giá trị chính là phần giá trị mà những ngườibán ( công nhân, người sản xuất nhỏ, tư bản vừa và nhỏ…) mất đi.Nhìn vào phạm vitoàn xã hội, toàn bộ giá cả độc quyền cộng với giá cả không độc quyền về đại thể bằngtoàn bộ giá trị

1.2 Vai trò của quy luật giá trị đối với nền kinh tế thị trường.

1.2.1 Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá :

Vai trò đầu tiên phải nói đến của quy luật giá trị đối với nền kinh tế thị trường đó

là vai trò điều tiết sản xuất:

Điều tiết sản xuất tức là điều hoà, phân bổ các yếu tố sản xuất giữa các ngành,các lĩnh vực của nền kinh tế Tác dụng này của quy luật giá trị thông qua sự biến độngcủa giá cả hàng hoá trên thị trường dưới tác động của quy luật cung cầu:

- Nếu cung nhỏ hơn cầu, sản phẩm không đủ để thoả mãn nhu cầu xã hội, giá cảcao hơn giá trị, hàng hoá bán chạy với lãi cao, người sản xuất mở rộng quy mô sảnxuất, nhiều người sản xuất trước đây sản xuất các mặt hàng khác sẽ đổ xô vào ngành

ấy Do đó tư liệu sản xuất và sức lao động được chuyển dịch vào ngành ấy tăng lên,nhiều hơn các ngành khác

Trang 11

- Nếu cung vượt quá cầu, giá cả hàng hoá giảm xuống, hàng hoá bán không chạy

và nhà sản xuất có thể lỗ vốn Tình hình ấy buộc nhà sản xuất phải thu hẹp quy mô sảnxuất lại hoặc chuyển sang đầu tư vào ngành có giá cả hàng hoá cao

Như vậy, cùng với sự lên xuống của giá cả xoay quanh giá trị, làm cho các nhàsản xuất di chuyển tư liệu sản xuất và sức lao động từ ngành có lợi nhuận thấp hơnsang ngành có lợi nhuận cao hơn Từ đó tạo nên những tỷ lệ cân đối nhất định giữa cácngành sản xuất

Quy luật giá trị không chỉ có vai trò điều tiết sản xuất mà còn có vai trò lưuthông hàng hoá Sự biến động của giá cả thị trường đã thu hút luồng hàng hoá từ nơi

có giá bán thấp đến nơi có giá bán cao hơn, do đó làm cho lưu thông hàng hoá thôngsuốt

Như vậy, sự biến động của giá cả xung quanh trục giá trị của nó không nhữngchỉ rõ sự biến động về kinh tế mà còn có tac động điều tiết nền kinh tế hàng hoá

1.2.2 Thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển, tăng năng suất lao động:

Một nguyên tắc căn bản của nền kinh tế thị trường là trao đổi ngang giá tức làthực hiện sự trao đổi hàng hoá thông qua thịu trường, sản phẩm phải trở thành hànghoá Nguyên tắc này đòi hỏi tuân thủ quy luật "giá trị" : sản xuất và trao đổi hàng hoáphải dựa trên cơ sở thời gian lao động xã hội cần thiết

Trong nền kinh tế hàng hoá mỗi người sản xuất hàng hoá là một chủ thể kinh tếđộc lập, tự quyết định hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Nhưng do điều kiệnsản xuất khác nhau nên hao phí lao động cá biệt khác nhau, người sản xuất nào có haophí lao động cá biệt nhỏ hơn hao phí lao động xã hội của hàng hoá sẽ thu được lãi cao.Người sản xuất nào có hao phí lao động cá biệt lớn hơn hao phí lao động xã hội cầnthiết sẽ ở thế bất lợi, lỗ vốn Để giành ưu thế trong cạnh tranh và tránh nguy cơ vỡ nợphá sản, họ phải hạ thấp lao động cá biệt của mình, sao cho bằng hao phí lao động xãhội cần thiết Muốn vậy họ phải luôn tìm cách cải tiến kỹ thuật, cải tiến tổ chức quản

lí, thực hiện tiết kiệm chặt chẽ tăng năng suất lao động Sự cạnh tranh quyết liệt càngthúc đẩy quá trình này diễn ra mạnh mẽ hơn, mang tính xã hội Kết quả là lực lượngsản xuất xã hội được thúc đẩy phát triển mạnh mẽ Bên cạnh đó là sự chuyên môn hóalực lượng sản xuất cũng được phát triển

1.2.3 Thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hoá người sản xuất thành kẻ giàu người nghèo:

Trang 12

Trong nền kinh tế hàng hoá quá trình cạnh tranh theo đuổi giá trị tất yếu dẫn đếnkết quả là : những người có điều kiện sản xuất thuận lợi, có trình độ kiến thức caođược

Ngày đăng: 18/09/2021, 01:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w